XXXVII
Bây giờ, chỉ cần nhắm mắt lại. Những sự kiện xảy ra trước khi cả bọn chúng tôi đi Megève trở lại trong trí nhớ tôi, từng mẩu một. Chính những cửa sổ lớn sáng đèn của khách sạn Zaharoff cũ ở đại lộ Hoche, những câu nói rời rạc của Wildmer, những cái tên – đỏ tía lấp lánh như Rubirosa hay bảng lảng như Oleg de Wredé cùng nhiều chi tiết không sờ mó thấy được – bản thân cái giọng của Wildmer, khàn khàn và gần như không nghe rõ được – chính tất cả những cái đó đã làm kim chỉ nam cho tôi.
Hôm qua, vào quãng cuối chiều, tôi thấy mình ở đúng đại lộ Hoche, trên tầng một khách sạn Zaharoff cũ. Rất đông người. Như mọi khi, họ không rời áo pa-đơ-xuy. Tôi thì không mặc áo khoác. Tôi đi qua gian phòng chính,ở đấy tôi thấy khoảng mười lăm người đứng quanh những máy điện thoại hoặc ngồi trên những chiếc ghế bành da xử lý công chuyện, và tôi lẻn vào một văn phòng nhỏ, đóng cửa lại sau lưng. Người mà tôi phải gặp đã ở đó. Y kéo tôi vào góc phòng và chúng tôi ngồi vào hai chiếc ghế bành cách nhau bằng một cái bàn thấp. Tôi đặt lên đó những đồng tiền lu-y gói trong giấy báo. Y đưa ngay cho tôi nhiều xấp giấy bạc mà tôi không cất công đếm. Cứ thế cất vào túi. Đồ nữ trang thì y không thiết. Chúng tôi cùng rời khỏi căn phòng rồi gian phòng lớn, nơi tiếng chuyện trò lao xao và sự loay hoay đi đi lại lại của tất cả những con người mặc pa-đơ-xuy này có cái gì thật đáng lo ngại. Ra đến hè, y cho tôi địa chỉ của một bà có thể mua món đồ nữ trang ở mạn quãng trường Malesherbes và gợi ý tôi bảo bà đó là y giới thiệu tôi đến. Chúng tôi thường đi theo con đường này luôn, Denise và tôi, vào hồi đầu. Thời gian đã đổi thay. Tuyết rơi và tôi phải khó khăn mới nhận ra đại lộ này với những cây trụi cành lá, những mặt tiền đen xạm của các chung cư. Không còn hương hoa râm dọc hàng rào sát công viên Monceau nữa, mà chỉ thấy một mùi đất ẩm và mục nát.
Một nhà trệt trong cùng một ngõ cụt thuộc loại người ta gọi là “phương viên” hay “vila”. Gian phòng nơi bà ta tiếp tôi không bày biện đồ đạc. Duy nhất một cái đivăng nơi chúng tôi ngồi và một chiếc máy điện thoại trên đi-văng ấy. Một phụ nữ trạc tuổi bốn mươi, tóc hung và nóng nảy. Chuông điện thoại réo không ngừng và không phải lần nào bà cũng trả lời, bà đều ghi những điều người ta dặn vào một cuốn sổ tay. Tôi đưa cho bà xem những đồ nữ trang. Tôi để lại cho bà viên ngọc xafia và hai chiếc trâm cài với nửa giá tiền với điều kiện là y trả ngay bằng tiền mặt. Bà chấp nhận.
Ra ngoài, trong khi đi về phía ga xe điện ngầm Courcelless, tôi nhĩ đến gã thanh niên đã đến phòng chúng tôi ở khách sạn Castille mấy tháng trước đây. Gã bán được rất nhanh cả chiếc cặp cùng đôi vòng kim cương và đã có nhã ý chia đôi số lãi với tôi. Một con người hảo tâmTôi đã tâm sự đôi chút với gã, thổ lộ dự định ra đi của tôi, thậm chí cả nỗi sợ khiến tôi đôi khi không dám ra ngoài. Gã bảo tôi là chúng ta đang sống một thời kỳ lạ lùng.
Sau đó, tôi đến tìm Denise ở công viên Edouard VII, trong căn hộ mà Van Allen, người bạn Hà Lan của nàng, đã đặt một xưởng khâu may: trên lầu một khu chung cư, ngay bên trên tiệm Cintra. Tôi nhớ vậy bởi vì Denise và tôi thường lui tới tiệm bar này do nó có gian dưới tầng hầm từ đó người ta có thể thoát ra bằng một cửa khác ngoài lối vào chính. Tôi tin rằng mình biết tất cả những nơi công cộng, tất cả những khu nhà chung cư ở Paris có hai lối ra.
Trong cái xưởng khâu may nhỏ xíu này, cũng tràn ngập một sự náo động tương tự như ở đại lộ Hoche, có khi lại còn cuống cuồng hơn. Van Allen chuẩn bị bộ sưu tập quần áo mùa hè và chừng nấy cố gắng, chừng nấy lạc quan làm tôi ngạc nhiên vì tôi đang băn khoăn không biết có còn mùa hè nữa hay không. Cậu ta đang thử một chiếc áo dài bằng thứ hàng nhẹ và trắng trên một cô gái tóc nâu, trong khi nhiều cô chiêu mẫu hàng khác ra ra vào vào những buồng thay đồ. Một số người chuyện trò quanh một chiếc bàn giấy Louis XV trên đó vương vãi những kí họa và những mảnh vải. Trong một góc phòng khách, Denise nói chuyện với một bà tóc vàng rơm trạc năm mươi tuổi và một thanh niên tóc nâu xoăn thành búp. Tôi xen vào góp chuyện. Bà này và chàng trai đi về mạn Bờ Biển Xanh. Không ai nghe thấy ai nữa trong cái ồn ào chung. Những ly sâm banh được truyền khắp mà không ai hiểu lý do tại sao.
Denise và tôi rẽ lấy một lối ra đến phòng ngoài. Van Allen tiễn chúng tôi. Tôi thấy lại đôi mắt màu xanh rất sáng của cậu ta cùng nụ cười khi cậu ta ló đầu ra khe mở và vẫy tay hôn gửi theo chúng tôi với lời chúc may mắn.
Denise và tôi qua phố Cambaxérès một lần cuối. Chúng tôi đã gói ghém hành lý, một va-li và hai cái túi da đang đợi trước cái bàn lớn, đầu phòng khách. Denise đã đóng các cánh cửa sổ và kéo các rèm che. Nàng lấy nắp đậy cái máy khâu và cất tấm vải trắng ghim vào thân giá gỗ man-nơ-canh. Tôi nghĩ đến những tối chúng tôi đã sống ở đây. Nàng làm theo mẫu cắt của Van Allen giao hoặc ngồi khâu, còn tôi nằm dài trên trường kỷ, đọc một cuốn hồi kí nào đó hoặc một quyển trinh thám loại sách “Mặt Nạ” mà nàng rất mê. Những buổi tối đó là những khoảnh khắc nghỉ ngơi duy nhất tôi từng biết, những khoảng khắc duy nhất trong đó tôi có thể nuôi các ảo tưởng rằng chúng tôi đang sống một cuộc sống không có chuyện gì rắc rối trong một thế giới yên bình.
Tôi mở va-li và nhét những xấp giấy bạc căng phồng các túi tôi vào giữa những áo săng đay, sơ-mi và dưới đáy một đôi giày. Denise kiểm lại các thứ trong một chiếc túi du lịch xem có quên gì không. Tôi đi theo hành lang đến phòng ngủ. Tôi không bật đèn và đứng rình bên cửa sổ. Tuyết vẫn rơi. Viên cảnh sát đứng canh ở hè bên kia đường chui vào trong một chòi gác được đặt ở đó mấy hôm trước vì mùa đông. Một viên cảnh sát khác, từ phía quãng trường Sausaies bước vôi về phía chòi gác. Gã bắt tay người bạn đồng nghiệp, đưa cho y một cái phích và họ lần lượt uống nước bằng một cái cốc.
Denise bước vào. Nàng đến chỗ tôi bên cửa sổ. Nàng mặc một chiếc áo măngtô lông thú và nép sát người vào tôi. Nàng tỏa một mùi thơm hắc. Dưới chiếc măngtô, nàng mặc một chiếc sơ-mi nữ. Chúng tôi trở lại trên chiếc giường chỉ còn dát lò xo.
Ga Lyon, Gay Orlow và Freddie đợi chúng tôi ở cửa vào ke tàu đi. Trên một chiếc xe rùa bên cạnh họ chồng đống bao nhiêu va-li. Gay Orlow có cả một hòm tủ. Freddie bàn bạc với người phu khuân vác và mời bác ta một điếu thuốc lá. Denise và Gay Orlow nói chuyện với nhau, Denise hỏi Gay liệu căn nhà gỗ Freddie thuê có đủ rộng cho cả bọn tôi không. Ga tối om, trừ sân ke nơi chúng tôi đứng, tràn ngập một ánh sáng vàng. Wildmer đến nhập vào với bọn tôi, trong một chiếc măngtô đỏ hoe, vạt đập đập vào bọng chân, như mọi khi. Một chiếc mũ phớt che lấp trán y. Chúng tôi thuê mang hành lý lên toa giường nằm của mình. Chúng tôi đứng ngoài, trước cửa toa, đợi thông báo khởi hành. Gay Orlow nhận ra một người trong số hành khách đi chuyến tàu này, nhưng Freddie yêu cầu nàng không được nói với ai và đừng để người ta chú ý đến chúng tôi.
Tôi lưu lại một lát với Denise và Gay Orlow trong buồng toa của họ. Màng cửa sổ hạ xuống một nửa và khi cúi xuống, tôi thấy qua cửa kính là tàu đang qua ngoại ô. Tuyết vẫn tiếp tục rơi. Tôi hôn Denise và Gay Orlow rồi quay về buồng toa của mình, nơi Freddie đã yên vị. Lát sau, Wildmer đến thăm chúng tôi. Lúc này, một mình y chiếm lĩnh cả một buồng toa và y hy vọng sẽ không có ai đến chung chạ cho tới cuối cuộc hành trình. Thật ra, y sợ người ta nhận ra y vì nhiều người đã thấy ảnh y trên các báo về thể thao ngựa mấy năm trước đây, và hồi y bị tai nạn trên đường đua Auteuil. Chúng tôi cố trấn an y, nói rằng người ta thường rất chóng quên mặt các jô-kề.
Freddie và tôi nằm dài trên giường toa của mình. Tàu đã tăng tốc độ. Chúng tôi để đèn ngủ và Freddie bồn chồn hút thuốc. Cậu ta hơi lo vì có thể có những cuộc kiểm soát. Tôi cũng vậy, nhưng tôi có giấy. Nhờ Rubirosa, bọn tôi – Freddie, Gay Orlow, Wildmer và tôi – có những hộ chiếu Đôminích, nhưng chúng tôi không thể tin tưởng thực sự vào tính hiệu quả của chúng. Chính bản thân Rubi cũng bảo tôi thế. Số phận chúng tôi tùy thuộc vào một viên cảnh sát hay một kiểm tra viên kĩ tính hơn những người khác. Chỉ riêng Denise là không có nguy cơ gì hết. Nàng là người Pháp chính cống.
Tàu đỗ lại lần đầu. Dijon. Tiếng loa phóng thanh bị tuyết làm nghẹt lại. Chúng tôi nghe thấy có ai đi dọc theo hành lang. Người ta mở cửa một buồng toa của Wildmer, bấy giờ, Freddie và tôi bỗng phá lên cười điên khùng.
Tàu đỗ lại nửa giờ ở Ga Chalon – trên sông Saine, Freddie đã ngủ và tôi tắt ngọn đèn ngủ của buồng toa. Tôi không hiểu tại sao tôi thấy yên tâm hơn trong bóng tối.
Tôi cố nghĩ sang chuyện khác, không lắng tai nghe những bước chân vang lên trong hành lang. Trên sân ga, mấy người trò chuyện và tôi nghe lõm bõm được mấy câu. Chắc họ đứng dưới cửa sổ chúng tôi. Một người trong bọn họ ho, kiểu ho có đờm. một người khác huýt sáo khe khẽ. Tiếng xình xịch của một đoàn tàu đi qua trùm lên bọn họ.
Cửa mở đột ngột và bóng một người mạc pa-đơ-xuy in lên nền ánh sáng của hành lang. Y lia đèn bấm soi từ trên xuống dưới buồng toa để kiểm xem chúng tôi có mấy người. Freddie choàng dậy.
- Giấy tờ các ông.
Chúng tôi chìa cho y xem những tấm hộ chiếu Đôminích của mình. Y xem xét bằng con mắt lơ đãng rồi đưa cho một người nào khác bên cạnh mà chúng tôi không nhìn thấy vì cánh cửa che lấp. Tôi nhắm mắt lại. Họ trao đổi với nhau mấy câu gì nghe không rõ.
Y dấn một bước vào buồng toa. Y cầm những hộ chiếu của chúng tôi trong tay.
- Các ông là nhà ngoại giao?
- Vâng, tôi trả lời như cái máy.
Sau mấy giây, tôi mói nhớ ra rằng Rubirosa đã cho chúng tôi những hộ chiếu ngoại giao.
Chẳng nói chẳng rằng, y trả hộ chiếu cho chúng tôi và đóng cửa lại.
Chúng tôi nín thở trong đêm tối. Cứ im lặng thế cho đến khi tàu khởi hành. Tàu chuyển bánh. Tôi nghe thấy tiếng Freddie cười. Cậu ta bật đèn lên.
- Ta đến thăm các bạn kia chăng? Cậu ta hỏi tôi.
Buồng toa của Denise và Gay Orlow không bị kiểm soát. Chúng tôi đánh thức hai nàng dậy. Họ không hiểu tại sao chúng tôi nháo nhác thế. Rồi Wildmer đến gặp chúng tôi, mặt mày nghiêm trọng. Cu cậu vẫn còn run. Người ta cũng hỏi cậu có phải là “nhà ngoại giao Đôminích” không, khi cậu triềng hộ chiếu ra và cậu không dám trả lời, sợ trong số cảnh sát vận thường phục và kiểm soát viên, ngộ nhỡ có tay chơi cá ngựa nào nhận ra cậu.
Đoàn tàu lướt qua một quang cảnh trắng xóa tuyết, cái quang cảnh ấy sao mà êm dịu và thân ái. Nhìn những ngôi nhà đang ngủ yên đó, tôi cảm thấy một niềm say sưa và tin cậy trước nay chưa từng thấy.
Khi chúng tôi đến Sallaches, trời hãy còn tối. Một chiếc xe car và một chiếc xe nhà lớn đỗ trước ga. Freddie, Wildmer và tôi mang các vali,trong khi hai gã đàn ông phụ trách cái hòm tủ của Gay Orlow. Có độ một chục hành khách, kể cả bọn tôi, sẽ lên xe car đi Megève, người tài xế và hai gã phu khuân vác đang chất các vali vào sau xe thì một người đàn ông tóc vàng rơm tiến lại gần Gay Orlow – vẫn là cái gã mà nàng đã nhận thấy ở ga Lyon hôm qua. Họ nói với nhau vài câu bằng tiếng Pháp. Về sau, nàng giải thích cho chúng tôi hay đó là một chỗ sơ giao, một gã người Nga tên là Kyril. Gã này chỉ chiếc xe nhà lớn màu đen có một người đang chờ ở tay lái và ngỏ ý muốn đưa chúng tôi về Megève. Nhưng Freddie từ chối lời mời ấy, nói là mình ưng đi xe car hơn.
Tuyết rơi. Chiếc xe car đi chậm và chiếc xe nhà màu đen đã vượt chúng tôi. Chúng tôi theo một con đường dốc và khung xe car mỗi lúc lại rung lên. Tôi không biết liệu xe có hỏng trước khi đến Megève. Quan trọng gì! Khi bóng đêm dần dà nhường chỗ cho một màn sương mù trắng như bông mà những đám lá bách phải khó khăn mới xuyên thủng, tôi tự nhủ rằng sẽ chẳng có ai đến tìm chúng tôi ở đây. Chúng tôi không có gì đe dọa. Dần dần chúng tôi trở nên ô hình. Ngay cả những bộ y phục tỉnh thành của chúng tôi vốn có thể thu hút sự chú ý – chiếc măngtô đỏ hoe của Wildmer và chiếc mũ dạ màu xanh nước biển của y, chiếc măngtô da báo của Gay, chiếc áo lông lạc đà của Freddie, chiếc khăn quàng màu xanh lục và đôi giày golf lớn hai màu đen, trắng của cậu ta – cũng hòa trong sương mù. Biết đâu, cuối cùng chúng tôi lại chẳng bay hơi đi hết? Hoặc giả chúng tôi sẽ chỉ còn là cái mạng hơi nước đọng lại trên những ô kính, cái mạng hơi nước dai dẳng không thể lấy tay xóa đi được. Làm sao người tài xế thấy ra được đường đi? Denise đã ngủ thiếp đi và ngả đầu lên vai tôi.
Chiếc xe car dừng lại giữa quảng trường, trước cửa tòa thị chính. Freddie thuê chất hành lý của chúng tôi lên một chiếc xe trượt tuyết đợi ở đây và chúng tôi đi uống chút gì ấm nóng trong một phòng trà – bánh ngọt ngay cạnh nhà thờ. Hiệu vừa mở cửa và bà chủ phục vụ chúng tôi có vẻ ngạc nhiên về sự có mặt sớm sủa thế của chúng tôi. Hoặc giả vì cái giọng lơ lớ của Gay Orlow và y phục tỉnh thành của chúng tôi? Wildmer ngỡ ngàng thích thú với mọi cái. Cu cậu chưa hề biết miền núi và những môn thể thao núi. Áp trán vào cửa kính, miệng há hốc, y ngắm đài kỷ niệm liệt sĩ và tòa thi chính Megève. Y hỏi bà chủ hệ thống chuyên chở bằng cáp treo vận hành như thế nào và liệu y có thể ghi tên vào một trường dạy trượt tuyết được không.
Ngôi nhà gỗ tên là “Thập Tự Phương Nam”. Rộng lớn, làm bằng gỗ sẫm màu, có những cánh cửa sổ xanh lá cây. Tôi chắc là Freddie thuê của một người bạn ở Paris. Nhà nhô cao trên một chỗ ngoặt đường và từ đường cái khó thấy được vì nó khuất sau một rặng bách. Từ đường cái, người ta đi vào theo một chữ chi. Cả con đường cái cũng dẫn lên một nơi nào đó, song tôi không tò mò muốn biết nó tới đâu. Phòng của Denise và tôi ở lầu một và từ cửa sổ, bên trên rặng bách, chúng tôi có thể nhìn bao quát cả vùng Megève. Những ngày đẹp trời, tôi nhận ra gác chuông nhà thờ, các vệt màu đất son tạo nên bởi một khách sạn dưới chân núi Đá Nâu, nhà ga đường bộ, sân trượt băng và nghĩa địa ở mãi tận phía cuối. Freddie và Gay Orlow chiếm một phòng ở dưới nhà, cạnh phòng nghỉ, và muốn tới phòng Wildmer, còn phải đi xuống một tầng nữa vì nó ở dưới hầm và các cửa sổ của nó – sát ngay mặt đất. Nhưng chính Wildmer chọn nơi nương náu ở đó – trong hang của mình, như y nói.
Thoạt đầu, chúng tôi không rời khỏi căn nhà gỗ. Chúng tôi chơi bài liên miên trong phòng nghỉ. Tôi còn nhớ khá cụ thể về gian phòng này. Một tấm thảm len. Một ghế dài bọc da trên đó chạy suốt một giá sách. Một bàn thấp. Hai cửa sổ trông ra ban công. Một người đàn bà ở gần đấy nhận đi mua giúp các thứ ở Megève. Denise đọc các cuốn tiểu thuyết trinh thám nàng tìm thấy trên giá sách Tôi cũng vậy. Freddie để râu mọc dài và mỗi lối, Gay Orlow nấu cho chúng tôi một món xúp bortsch Nga. Wildmer yêu cầu mang về điều đặn cho mình báo Paris-Sport (Paris Thể Thao) và trốn vào đáy “hang” của mình và đọc. Một buổi chiều, chúng tôi đang chơi bài bridge thì y xuất hiện, mặt mày nhăn nhó, tay vung tờ báo. Một người viết thời luận phát lại những sự kiện nổi bật trong lĩnh vực đua ngựa mười năm gần đây trong đó có nhắc đến: “Tai nạn li kì của tay jô-kề người Anh André Wildmer ở trường đua Auteuil nhỏ xíu, bé hơn cả một con tem. Và đó là điều làm y cuống cuồng lên: y sợ ai đó ở ga Sallanches hay ở Megève, trong hiệu bánh gần nhà thờ có thể nhận ra ySợ người đàn bà vẫn mang đồ ăn đến cho chúng tôi và lo phần nào công việc nội trợ, nhận ra y là “tay jô-kề người Anh André Wildmer”. Một tuần trước khi chúng tôi lên đường, y đã chẳng nhận được một cú điện thoại nặc danh gọi đến nhà y ở công viên Aliscamps đó sao? Một giọng nhỏ nhẹ đã nói với y: “Alô? Vẫn ở Paris đấy à, Wildmer?” Rồi phá lên cười rồi gác máy.
Tha hồ cho chúng tôi nhắc đi nhắc lại rằng y chẳng có gì phải sợ vì y là công dân Đôminích, y vẫn tỏ ra hết sức bồn chồn.
Một đêm, vào quãng ba giờ sáng, Freddie đập “hang” của Wildmer rất mạnh, miệng gào lên: “Chúng tôi biết anh ở đây, André Wildmer… Chúng tôi biết anh là jô-kề người Anh André Wildmer… Ra ngay…”
Wildmer không khoái cái trò đùa ấy và suốt hai ngày trời không thèm nói với Freddie. Thế rồi họ làm lành với nhau.
Trừ cái sự kiện vặt vãnh ấy, những ngày đầu ở căn nhà gỗ, mọi sự diễn ra hết sức bình lặng.
Nhưng dần dần, Freddie và Gay Orlow đâm chán cái đơn điệu trong cách dùng thì giờ của chúng tôi. Ngay cả Wildmer, tuy sợ bị nhận ra là “tay jôkề người Anh” cũng loanh quanh lẩn quẩn bứt rứt. Là một tay thể thao, y không có thói quen nằm khan. Freddie và Gay gặp gỡ “người nọ người kia” trong những cuộc dạo chơi ở Megève. Nhiều “người” hình như cũng đến đây lánh nạn như chúng tôi, họ tổ chức những cuộc “hội hè”. Chúng tôi nghe thuật lại qua Freddie, Gay Orlow và Wildmer, chẳng bao lâu ba người này cũng tham gia vào sinh hoạt ban đêm đó. Tôi thì cảnh giác dè chừng. Tôi ưng ở lại căn nhà gỗ với Denise hơn.
Tuy nhiên cũng có khi chúng tôi xuống làng. Chúng tôi rời căn nhà gỗ vào quãng mười giờ sáng và đi theo một con đường hai bên có những miếu thờ nhỏ. Đôi khi chúng tôi tạt vào một miếu và Denise thắp một ngọn nến. Một số miếu đóng cửa. Chúng tôi đi chậm để khỏi trượt chân trong tuyết.
Dưới nữa, một cây thập tự bằng đá sừng sững giữa một thứ bùng binh, khởi điểm của một con đường rất dốc. Trên một nửa đoạn đường này, người ta đã dặt những bậc gỗ, nhưng tuyết đã phủ lên tất cả. tôi đi trước Denise để có thể đỡ nàng nếu nàng trượt chân. Xuống hết đường là đến làng. Chúng tôi đi dọc phố chính cho đến quãng trường tòa thị chính và trước cửa khách sạn Mint-Blanc. Quá chút nữa, trên hè phải, sừng sững tòa nhà bê-tông xam xám của bưu điện. Tại đó, chúng tôi gửi mấy bức thư cho các bạn của Denise: Léon, Hélène, người đã cho chúng tôi mượn căn hộ ở phố Cambacarès… Tôi viết cho Rubirosa một bức thư ngắn báo cho anh ta biết chúng tôi đã tới nơi tới chốn nhờ những tấm hộ chiếu của anh ta và khuyên anh ta nên đến với chúng tôi vì lần cuối cùng gặp nhau ở công sứ quán, anh ta có bảo tôi là anh ta cũng có ý định “về nông thôn nương náu”. Tôi cho anh ta địa chỉ của chúng tôi.
Chúng tôi đi lên phía núi Đá Nâu. Từ khắp các khách sạn trên đường, túa ra những tốp trẻ em đi giữa những nữ huấn luyện viên mặc quần áo thể thao màu xanh nước biển. Các em mang trên vai những ván trượt tuyết, hoặc giày trượt băng. Quả vậy, từ mấy tháng nay, người ta đã trưng dụng các khách sạn ở nơi này để phục vụ những trẻ em nghèo nhất của thành phố lớn. Trước khi quay đằng sau, chúng tôi nhìn từ xa đám người chen chúc nhau ở cửa bán vé xe vận chuyển bằng cáp treo.
Phía trên căn nhà gỗ “Thập Tự Phương Nam”, nếu theo con đường dốc qua đám cây bách, ta sẽ tới một căn nhà gỗ rất thấp, có độc một tầng. Đó là chỗ ở của người đàn bà vẫn giúp chúng tôi đi lại mua hàng. Chồng bà có mấy con bò cái, ông là người bảo vệ căn nhà “Thập Tự Phương Nam” khi vắng chủ và trong nhà mình, ông đã bố trí một gian phòng lớn, kê bàn, đặt một quầy rượu và một bàn bi-a. Một buổi chiều, Denise và tôi lên nhà ông kiếm sữa. Ông ta không hòa nhã lắm với chúng tôi, nhưng Denise khi trông thấy bàn bi-a dã hỏi ông là nàng có được phép chơi không. Mới đầu ông có vẻ ngạc nhiên, rồi ông dịu đi. Ông bảo nàng khi nào thích thì cứ lên chơi.
Buổi tối, chúng tôi thường lên đó, sau khi Freddie, Gay Orlow và Wildmer bỏ chúng tôi để đi tham quan vào cuộc sống của Megève thời bấy giờ. Họ đề nghị chúng tôi đến tìm gặp họ ở “Ê kíp” hoặc ở một căn nhà gỗ nào đó để dự một cuộc hội giữa thân hữu, nhưng chúng tôi thích lên nhà trên hơn. Georges – đó là tên ông ta – và bà vợ chờ chúng tôi. Tôi cho rằng họ rất mến chúng tôi. Chúng tôi chơi bi-a với ông và hai, ba người bạn của ông. Denise là người chơi khá nhất. Tôi thấy lại hình ảnh nàng duyên dáng, tay cầm gậy bi-a, tôi thấy lại gương mặt dịu hiền đậm chất Á Đông của nàng, đôi mắt trong sáng, mái tóc màu hạt dẻ lóng loáng ánh đồng xõa xuống đến tận ngang hông… Nàng mặc một chiếc săng-đay cũ màu đỏ của Freddie cho mượn.
Chúng tôi nói chuyện rất khuya với Georges và vợ ông. Georges bảo chúng tôi là một ngày kia, chắc chắn sẽ có chuyện gay go và kiểm soát giấy tờ vì những người đến nghỉ ở Megève cứ tiệc tùng liên hoan, chuốc lấy sự chú ý vào mình. Chúng tôi thì không giống bọn họ. Trong trường hợp khó khăn, hai vợ chồng ông sẽ lo cho chúng tôi.
Denise tâm sự với tôi rằng Georges làm nàng nhớ đến ông thân sinh. Chúng tôi thường hay lấy củi nhóm một đống lửa. Giờ khắc trôi qua, êm đềm và nồng ấm, và chúng tôi cảm thấy như trong gia đình.
Đôi lúc, khi những người kia đi khỏi, chúng tôi còn lại một mình ở “Thập Tự Phương Nam. Căn nhà gỗ thuộc về chúng tôi. Tôi những muốn sống lại một số đêm trong vắt khi chúng tôi ngồi ngắm cảnh làng phía dưới in rõ nét trên nền tuyết và tưởng chừng như đó là một làng thu nhỏ lại, một thứ đồ chơi mà người ta bày ở tủ kính vào dịp lễ Giáng Sinh. Những đêm ấy mọi sự đều có vẻ đơn giản, làm ta yên tâm và chúng tôi mơ tới tương lai. Chúng tôi sẽ định cư ở đây, con cái chúng tôi sẽ đi học ở trường làng, mùa hè sẽ tới trong tiếng lục lạc của những đàn gia súc đi lang thang gặm cỏ… Chúng tôi sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc, không có những bất ngờ.
Có những đêm khác, tuyết rơi và một cảm giác ngột ngạt chụp lấy tôi. Denise và tôi hẳn không bào giờ thoát ra khỏi. Chúng tôi bị cầm tù ở đáy cùng con thung này và tuyết sẽ dần dần chôn vùi chúng tôi. Chẳng có gì đáng nản hơn những dãy núi chắn ngang chân trời kia. Nỗi kinh hoàng xâm chiếm tôi. Tôi bèn mở cửa và chúng tôi ra ban công. Toi thở hít làn không khí lạnh thơm ngát mùi cây bách. Tôi không thấy sợ nữa. Trái lại, tôi cảm thấy một niềm thanh thoát, một nỗi buồn thanh tịnh tỏa ra từ cảnh vật. Còn chúng tôi bên trong đó thì sao? Vang âm của những cử chỉ và cuộc đời chúng tôi tôi thấy dường như nó bị nghẹt bởi cái đám bông đang rơi thành từng cục nhẹ lâng quanh chúng tôi, trên gác chuông nhà thờ, trên sân trượt băng và nghĩa địa, trên cái nét vạch sẫm hơn vẽ ngang bởi con đường xuyên ngang thung lung.
Thế rồi Gay Orlow và Freddie bắt đầu mời khách tới nhà vào buổi tối. Wildmer thôi không sợ bị nhận ra nữa và tỏ ra là một tay đầy trò vui nhộn rất xuất sắc. Thông thường, độ một chục người, nhiều khi hơn nữa, đến bất thần vào quãng nửa đêm và cuộc liên hoan khởi đầu ở một nhà gỗ khác lại tiếp tục rôm rả. Chúng tôi – Denise và tôi – né tránh họ nhưng Freddie yêu cầu chúng tôi ở lại một cách dễ thương đến nỗi đôi khi chúng tôi đành phải nghe theo.
Tôi hãy còn hình dung trong lờ mờ một số người. Một gã tóc nâu linh hoạt không ngừng đề nghị làm một ván pôcơ, gã đi lại di chuyển trong một chiếc xe mang số đăng ký ở Luuxembour; một gã “André-Kari” nào đó, tóc vàng rơm, mặc áo săng-đay đỏ, mặt sạm vì những cuộc thi trượt tuyết đường dài, một tay khác rất to con, mặc đồ nịt bằng nhung đen và trong ký ức tôi, anh ta không ngừng quay cuồng như một con ong đực… Những hoa khôi thể thao, trong đó, có một “Jacqueline” và một “Bà Campan”.
Có khi giữa tối vui, người ta đột nhiên thổi tắt đèn phòng khách, hoặc một cặp tách khỏi mọi người, vào một phòng riêng.
Cuối cùng, về cái tay”Kuril” mà Gay Orlow đã gặp ở Sallanches, người đã mời chúng tôi lên xe của mình. Một người Nga lấy một cô vợ Pháp rất xinh đẹp. Tôi đồ rằng hắn kinh doanh các hộp sơn và nhôm. Từ căn nhà gỗ của chúng tôi, hắn hay “phôn” về Paris và tôi thường nhắc đi nhắc lại với Freddie rằng những lần gọi điện thoại ấy có thể khiến chúng tôi bị chú ý, nhưng ở Freddie, cũng như ở Wilmer, mọi sự thận trọng đã biến đâu mất.
Chính “Kyril” và vợ hắn, một buổi tối, đã đưa Bob Beson và một gã “Oleg de Wredé” nào đó đến căn nhà gỗ, Beson là huấn luyện viên trượt tuyết và nhiều khách hàng của hắn là nhân vật nổi tiếng. Hắn thực hành môn nhảy cầu và nhiều lần hắn ngã nguy hiểm, đã làm mặt hắn chằng chịt những sẹo. Hắn đi hơi tập tễnh. Một con người nhỏ bé tóc nâu, gốc gác ở Megève. Hắn nghiện rượu, song điều đó không ngăn hắn trượt tuyết từ tám giờ sáng. Ngoài nghề huấn luyện viên, hắn giữ một chân trong sở tiếp tế và với danh nghĩa đó được sử dụng một ô tô, chiếc xe hòm đen mà tôi đã nhìn thấy khi chúng tôi tới Sallanches. Wrédé, một người Nga mà Gay Orlow đã gặp ở Paris, thường xuyên lưu trú ở Megève. Hình như hắn sống bằng mưu mẹo xoay sở, bằng việc mua đi bán lại lốp xe và những phụ tùng rời, vì hắn cũng hay “phôn” từ căn nhà gỗ về Paris và lần nào tôi cũng nghe thấy hắn gọi một địa điểm bí ẩn là “Xưởng sửa chữa xe Sao Chổi”.
Tại sao, buổi tối hôm đó, tôi lại bắt chuyện với Wrédé nhỉ? Có lẽ bởi tại hắn dễ chan hòa. Hắn có cái nhìn thẳng thắn và một vẻ hồn nhiên vui tươi. Một chuyện không đâu cũng làm hắn cười. Một thái độ chăm chút ân cần khiến hắn luôn luôn hỏi han “Ông có thấy dễ chịu không?” hoặc “Ông có muốn dùng một ly rượu không?”, nào là “Ông có thích ngồi cái trường kỹ này hơn là cái cái ghế tựa kia không?” hoặc “Đêm qua ông ngủ có ngon không?”… Một cung cách uống từng lời nói của anh, mắt tròn xoe, trán nhăn lại, như thể anh đang thốt ra những sấm truyền.
Hắn hiểu tình cảnh chúng tôi như thế nào và rất mau chóng hỏi tôi xem chúng tôi có muốn ở lại lâu “trong những dãy núi này” không. Thấy tôi trả lời rằng chúng tôi không có cách nào khác, hắn thì thầm tuyên bố với tôi rằng hắn biết có một cách bí mật vượt qua biên giới Thụy Sĩ. Chẳng biết điều đó có khiến tôi quan tâm hay không?
Tôi lưỡng lự một lát, rồi trả lời là có.
Hắn bảo tôi phải chi 60.000 Frăng mỗi người và Besson cũng can dự vào. Besson và hắn chịu trách nhiệm dẫn chúng tôi đến một điểm gần biên giới, ở đó một người đưa đường vượt biên dày dạn kinh nghiệm, bạn của chúng, sẽ thay phiên chúng. Bằng cách ấy, chúng đã đưa sang Thụy Sĩ cả chục người mà chúng kể tên ra. Tôi còn thì giờ để suy nghĩ. Hắn trở về Paris, nhưng tuần sau sẽ quay lại. Hắn cho tôi một số điện thoại ở Paris: Anteuil 54 – 73 để trong trường hợp tôi sớm quyết định, tôi có thể gọi hắn ở đó.
Tôi nói chuyện ấy với Gay Orlow, với Freddie và với Wildmer. Gay Orlow có vẻ ngạc nhiên là “Wrédé” lại lo chuyện vượt biên, nàng vốn chỉ nhìn hắn dưới dạng vẻ một thanh niên lông bông, sống lay lắt bằng buôn gian bán lận. Freddie cho rằng không cần rời khỏi nước Pháp vì chúng tôi đã có những tấm hộ chiếu Đôminich che chở. Còn Wildmer thì thấy Wrédé có một bộ mặt đĩ đực, nhưng cái chính là y không ưa Besson. Y khẳng định rằng những vết sẹo trên mặt Besson là giả, chính hắn tự vẽ lấy mỗi sáng bằng cách hóa trang. Kèn cựa tranh đua giữa hai nhà thể thao? Không, thật tình, y không thể chịu được Besson mà y gọi là “Các-tông bột đúc”. Denise thì thấy Wrédé “dễ có cảm tình”.
Chuyện được quyết định rất nhanh. Vì mưa tuyết. Từ một tuần nay, tuyết không ngừng rơi. Tôi lại có cảm giác ngạt thở như đã từng trải qua ở ParisTôi tự nhủ là nếu tôi ở lại đây lâu hơn, chúng tôi sẽ mắc vào bẫy. Tôi cắt nghĩa điều ấy cho Denise hiểu.
Tuần sau, Wrédé quay lại. Chúng tôi nhất trí và chúng tôi bàn việc vượt biên cùng với hắn và Besson. Chưa bao giờ tôi thấy Wrédé nhiệt tình như thế, đáng tin cậy như thế. Cái cách vỗ vai thân mật của hắn, đôi mắt trong sáng, hàm răng trắng, thái độ vồn vã của hắn, tất cả đều làm tôi ưa thích, mặc dù Gay Orlow thường cười bảo tôi là đối với bọn Nga và Ba Lan, cần phải đề phòng.
Từ rất sớm, sáng hôm ấy, chúng tôi đã đóng gói xong hành lý, Denise và tôi. Những người kia còn ngủ và chúng tôi không muốn đánh thức họ dậy. Tôi để lại mấy chữ cho Freddie.
Họ đợi chúng tôi ở ven đường, trong chiếc xe hòm đen của Besson, chiếc xe tôi đã thấy ở Sallanches. Wrédé cầm lái, Besson ngồi bên cạnh hắn. Tôi tự tay mở hòm xe để chất hành lý, rồi Denise và tôi ngồi ghế sau.
Suốt chặng đường, chúng tôi không nói gì. Wrédé có vẻ bồn chồn.
Tuyết rơi: Wrédé lái từ từ: Chúng tôi theo những đường núi. Cuộc hành trình kéo dài hai tiếng đồng hồ.
Chính vào lúc Wrédé dừng xe và hỏi tiền tôi, tôi có một linh cảm mơ hồ. Tôi đưa những xấp giấy bạc cho hắn. Hắn đếm. Rồi quay về phía chúng tôi, hắn mỉm cười với tôi. Hắn bảo bây giờ, vì lý do thận trọng, chúng tôi sẽ tách ra để vượt biên giới. Tôi sẽ đi với Besson, còn hắn đi cùng Denise và hành lý. Trong vòng một giờ, chúng tôi sẽ gặp lại nhau tại nhà các bạn hắn ở phía bên kia… Hắn mỉm cười. Một nụ cười kỳ dị mà tôi vẫn còn thấy lại trong mơ.
Tôi xuống xe với Besson. Denise lên ngồi trước, bên cạnh Wrédé. Tôi nhìn nàng và một lần nữa, linh cảm lại làm nhói tim tôi. Tôi muốn mở cửa xe và bảo nàng xuống để cùng đi cả hai. Nhưng tôi tự nhủ là mình bản tính quá đa nghi, hay tưởng tượng ra mọi chuyện. Denise thì có vẻ tin tưởng và trong tâm trạng vui tươi. Nàng giơ tay hôn gửi tôi.
Sáng hôm ấy, nàng mặc một chiếc măng-tô da lông chồn, một áo đen chui đầu Jacquard và một quần trượt tuyết của Freddie cho mượn. Nàng hai mươi sáu tuổi, tóc màu hạt dẻ, mắt xanh màu lá cây và cao 1,65m. Chúng tôi, chẳng có bao nhiêu hành lý: hai túi da và một vali nhỏ màu hạt dẻ thẫm.
Wrédé, miệng vẫn mỉm cười cho xe nổ máy. Tôi khoa tay làm hiệu với Denise đang cúi đầu qua cửa kính đã hạ xuống. Tôi nhìn theo chiếc xe xa dần. Đằng kia, nó chỉ còn là một chấm đen nhỏ xíu.
Tôi bắt đầu bước theo Besson. Tôi quan sát lưng hắn và những dấu chân hắn trong tuyết. Đột nhiên, hắn bảo tôi là hắn đi lên trước thám thính vì đã đến gần biên giới. Hắn đề nghị tôi chờ hắn.
Được độ mươi phút, tôi hiểu ra rằng hắn sẽ không quay lại. Tại sao tôi lại kéo cả Denise vào cái bẫy này? Tôi cố hết sức gạt cái ý nghĩ rằng Wrédé cũng sẽ bỏ mặt nàng và sẽ chẳng còn lại dấu tích gì của hai chúng tôi.
Tuyết vẫn rơiTôi tiếp tục bước, hoài công tìm một điềm mốc. Tôi cứ thế hàng giờ, hàng giờ liền. Rồi cuối cùng, tôi nằm gục trên tuyết. Khắp xung quanh tôi, chỉ còn toàn màu trắng.