Có một cảnh trong phim Phán Quyết Cuối Cùng Viết Bằng Nước Mắt, bộ phim mà Karl Blaughton vào vai một công tố viên vứt bó hồng đi, và thật chậm rãi máy quay di xuống những nụ hoa và cuống hoa, lướt qua những lá và gai, tới dải ruy-băng buộc bó hoa-thấy nói là màu da trời, nhưng đấy là phim đen trắng rồi đi từ cái bàn đầy ắp sách của vị luật sư tới sàn nhà lát gỗ, thật chậm, thật chậm lia tới bục nhân chứng. Và trong suốt đoạn người ta lắng nghe Amelia Hardwick lắp bắp nào phẫn nộ, nào bất công, nào buộc tội, nào công lí, nào kích động, và khi ống kính lia tới cô, nỗi xấu hổ, một nỗi xấu hổ sâu sắc và kinh hoàng khi nhận ra đó là sự thật. Cô là kẻ sát nhân. Cô đã ở ban-công vào buổi chiều im ắng đó. Chứng quên của cô là thật, chứ không phải một phần gài bẫy, dựng chuyện của mẹ chồng cô. Và cuối bộ phim, những tiếng khóc của cô vỡ òa đầy bất lực, những bằng chứng chẳng thể chối cãi, như tấm màn sân khấu khép lại.
Em cũng mắc chứng quên với phim Những Kẻ Dở Hơi III. Nếu Karl Blaughton, với hai ngón cái ngoắc vào dây đeo quần, mà nói với em rằng, “Min Green, em có thể là em chưa hề xem bất cứ một cảnh nào trong sê-ri Những Kẻ Dở Hơi không?” thì đầu tiên em sẽ nhìn vào bồi thẩm đoàn, sau đó đến Sidney Juno-anh ấy không đóng phim này nhưng vì anh ấy rất tuyệt nên em sẽ cho anh ấy vào-và em sẽ trả lời là có, có, em sẽ nói thế, vì những bộ phim ấy dở hơi đến độ răng em phát đau chỉ vì nghiến lại. Nhưng đây là mấy cái vé được ném vào mặt em từ cái hộp đồ chất chứa nỗi tức giận. Vậy nên hãy mở to mắt ra xem em vứt bỏ nó thế nào.
Al chỉ có nhìn và nói “Những Kẻ Dở Hơi III á?!” trong nỗi bàng hoàng không tin nổi. Em định tán cho hắn một cái nhưng cũng may, đến giờ bọn em vẫn chưa động thủ với nhau lần nào.
Anh đã muốn đi xem, Ed ạ, để em nói cho anh biết, và vì thế mà hai đứa mình mới đi. Em cứ nhìn quanh cái rạp chiếu phim lèo tèo vài mống người cho đến khi anh hỏi xem em có muốn cái áo Buốc-ca[1] không để không một ai trong đám bạn từ-mà-anh-không-được-phép-hé-răng nhìn thấy em ở đây ngồi xem bộ phim Những Kẻ Dở Hơi đầu tiên của mình. (Em đoán là giờ anh phải nói cái từ đấy suốt ngày ấy chứ, đúng không Ed? ẻo lả ẻo lả ẻo lả.) Thực sự thì em không hề tìm kiếm bạn bè, em chỉ muốn xem có khán giả nữ nào trong rạp chiếu không. Và có thật. Bà ấy đang đi theo trông chừng sinh nhật của đám nhóc mười một tuổi. Vụ này thì em nhớ, nhưng bộ phim thì đã bị bay vào quên lãng từ lâu rồi vì, Ed ạ, vì những gì anh đã nói với em ngay khi ánh đèn vụt tắt và bắt đầu cả mớ thảm họa của các quảng cáo ô-tô, trường cao đẳng cộng đồng và những gì mà có đến cả triệu năm nữa thì rạp Carnelian cũng sẽ không bao giờ thèm bật trước mỗi suất chiếu trong khi rạp Metro lại hăm hở làm không thèm suy tính, mặc dù từ quan điểm thẩm mĩ thuần túy, em phải thừa nhận rằng cái quảng cáo cho món Burly Soda cũng khá hay. Anh quay sang em và nói, hình ảnh chiếc xe chiến đấu lấp loáng trên mặt anh, “Nhớ nhắc anh lúc nào bọn mình ăn là anh cần nói với em một việc nhé.”
“Cái gì cơ?”
“Nhắc anh lúc nào bọn mình ăn thì…”
“Không, việc gì cơ?”
“À, có một việc sẽ không thể tránh khỏi trung tuần tới, và anh nghĩ bọn mình cần phải xem nên xử lí thế nào.”
Đó đúng là một cái xẻng xúc khổng lồ xọc xuống thật mạnh và táp thẳng lên em. Em ngồi xụi lơ, như miếng thịt bị lạng mỏng một cách đường đột và kinh hoàng, một lát thịt trong rạp chiếu phim lèn chặt lũ con trai. Không thể tránh khỏi? Hai đứa mình sẽ làm chuyện ấy ư? Chuyện chúng ta ấy thật là ấy, không thể tránh khỏi ư? Cứ như em không thể tránh được ấy, tuần tới ư? Anh vòng tay ôm em. Em cố gắng giữ hai chân mình khép kín, kể cả đầu gối, cái chân ở gần anh lật bật và run rẩy. Làm chuyện ấy thế nào? Em thấy bồn chồn và cồn cào nhưng cũng thấy một điều gì khác nữa-dịu dàng và yêu anh, một điều gì đó-để nói gì đó. Những Kẻ Dở Hơi III bị bỏ rơi, em chẳng xem được gì cả. Không một khung hình nào, bồi thẩm đoàn, không một cảnh quay nào. Nếu em có bĩu môi hay chu miệng lúc đó thì chắc anh sẽ nghĩ đấy là do bộ phim, thế nên em đã ngồi im thít, cố gắng tạm ngưng hoạt động của não, chẳng nghĩ ngợi gì cả, v.v… Em cố gắng không có cảm giác, rằng em đã không hề biết anh cũng có lúc nào đó sẽ như thế này, khi là Ed Slaterton và mọi thứ, được quyền làm chuyện không thể tránh khỏi ấy. Nhưng bộ phim đó, một bộ phim đầy rẫy những câu chuyện đùa đáng ăn đấm, nó đã bị xóa sạch và quên lãng. Và giờ, khi Al đang chằm chằm nhìn máy tấm vé này như thể hắn phát hiện ra thẻ hội viên KKK của em, em ngộ ra rằng mình không phải là đứa đãng trí như hồi xưa. Chính anh, em cá đấy, mới là kẻ đã quên chuyện này, suất chiếu ba giờ rưỡi ở rạp Metro, anh đã mua vé, em nghĩ thế. Và Ed ạ, anh đã quên mọi thứ khác nữa.
• • •
“Em đã nghĩ gì thế?” anh hỏi. Hai đứa mình ngồi ở Tiệm Bên Sườn Đồi, quay lại cảnh đi thó đường, nhét vào miệng bất cứ thứ gì tụi con trai hay nhồm nhoàm vào bữa ăn buổi chiều dở dở ương ương chẳng ra bữa trưa hay bữa tối hay bịch bắp rang bơ cỡ lớn trong các rạp chiếu phim, hôm nay là bánh mì kẹp thịt và khoai tây chiên, còn em là trà, tự nhắc mình lần thứ n là phải nhét mấy gói trà ngon vào ví để dành khi hai đứa đi ăn tối. “Ngay trước khi bộ phim bắt đầu em thực sự đã nghĩ anh là cái loại, rằng tuần tới em sẽ,” anh hạ giọng và nhoài người về phía trước để tránh bị ai đó trong quán hóng hớt được, “phải ngủ với anh? Vậy, đằng nào thì cũng đã nói đến vụ này rồi, thế em nghĩ anh bệnh đến cỡ nào đấy?”
“Cỡ nói ra toàn thứ bệnh hoạn.”
“Ra là em đã như thế trong suốt lúc xem phim. Đấy là lí do sao? Chẳng trách mà em lại không thích nó.”
Em thở phào nhẹ nhõm và để cho hơi thở ấy lan tỏa khắp người, như thể vừa mới nhảy vào một bể bơi hoàn hảo và tận hưởng giây phút ngưng đọng đầy đáng yêu ấy trước khi bắt đầu sải tay bơi. “Vâng. Đấy là lí do em không thích
Những Kẻ Dở Hơi III. Cẩn Thận Phía Dưới! đấy.”
“Anh không ngại xem lại đâu.”
“Anh đừng có nói linh tinh.”
“Anh xem lại thật mà! Là cho em thôi, để em tập trung được.”
“Nghe ngọt thấy ớn luôn á. Em không cần.”
“Có khi em nên kiểm tra trong cái cuốn sách quý giá về phim ảnh nhà em để xem trước xem thích cái phim ấy thì có sành điệu không.”
“Có khi anh cũng nên kiểm tra trước với ông huấn luyện viên nhà anh xem cái phim này có tốt cho trận đấu của bọn anh không.”
“Huấn luyện viên thích những phim kiểu này. Chính ông ấy đã dẫn cả đội đi xem Những Kẻ Dở Hơi III lúc cuối mùa giải.”
Em nhìn anh, tất cả những gì em có khi ấy. Al đã không thèm gọi cho em, kể cả khi em đã gọi và dập máy khi hắn nhấc máy. Em không thể hạ mình và sẽ không bao giờ hạ mình. “Đều đáng buồn là em không biết có phải anh đang đùa hay không ấy.”
“Ừa, chắc chắn là em không thể hiểu được những gì anh nói trong hôm nay rồi. Không thể tránh khỏi, cưng ạ. Anh đã nói với em từ trước rồi, nếu bọn anh không theo lịch thì còn lâu mới mơ có giải.”
“OK, thế anh có ý gì nào? Cuối tuần sau thì có cái gì chứ?”
“Halloween, ngốc ạ.”
“Sao cơ?”
“Thì em sẽ muốn làm điều mà hội của em vẫn làm, đầy nghệ sĩ và từ-mà-anh-không-được-phép-hé-răng.”
“Chỉ là một bữa tiệc thôi mà.”
“Thì của anh cũng thế.”
“Vầng, trên sân vận động, và năm này cũng có ba tên bị đuổi học ấy hả?” Anh gật đầu, cười, thở dài và thật buồn thảm nhìn cái đĩa thức ăn sạch bách như thể anh muốn chén tiếp một cái bánh kẹp và khoai tây chiên: “Anh vẫn thấy nhớ Andy.”
Em cũng thở dài, còn anh thì chọc chọc que tăm bóng bẩy vô vị vào phần ranh giới giữa hai đứa. Ai mà biết được vì sao Trái Đất lại quay như nó vốn thế, nhưng sau hàng năm trời sống cùng những lễ Halloween lướt khướt say sưa và thác loạn ăn chơi tổ chức vào các cuộc gặp mặt cấp ba thường niên thì cái Hiệp hội Dân sự Khỉ gió gì đó đã quyết định đứng lên giương cờ, ngăn chặn những lễ Halloween lướt khướt say sưa và thác loạn ăn chơi bằng cách dồn tất tần tật mấy cuộc gặp mặt cấp ba ấy lại thành một mớ ăn chơi thác loạn và say sưa lướt khướt trên một sân vận động, năm nay đến phiên sân vận động trường Hellman “đăng cai”, và đặt cho nó một cái tên mĩ miều là Đại Tiệc Halloween Toàn Thành, với sự góp mặt của tất cả các đội thể thao đến từ tất cả các trường, trừ đội bơi lội, trong màu cờ sắc áo và tranh đấu vì mấy cái giải thưởng chứng nhận quà ngớ ngẩn của trò thi thố tranh danh hiệu “người tiên phong” mà thường sẽ bị biến tướng thành cảnh lũ con gái cởi bỏ áo xống còn bãi đỗ xe thì chìm trong biển nôn mửa từ mấy cái thùng rượu xếp trên những chiếc xe tải rõ ràng là “được” cố tình ngó lơ trước mấy ông huấn luyện viên kiêm giữ trẻ mập tròn trong bộ đồ siêu nhân với đám cơ bắp ‘dổm’ bằng xốp lổn nha lổn nhổn như tế bào ung thư dưới ánh đèn pha sân vận động. Ấy là những gì em đã nhìn thấy trong các bức ảnh kỉ yếu vì em chưa bao giờ đến những buổi ấy, vì em đứng dưới lá cờ khác, một hội ăn chơi thác loạn và say sưa lướt khướt trong lễ Halloween khác, liên minh của những câu lạc bộ kịch và nghệ thuật từ tất cả các trường cấp ba góp tiền kiếm được từ việc bán kẹo hàng năm trong giờ tạm nghỉ ở các khán phòng và các phòng đa năng trong cả thành phố khi các câu lạc bộ này diễn các vở Đừng Nói Với Mẹ! rồi Mây Mùa Hè rồi Thị Trấn Tôi, Thị Trấn Em và Úi Zồi Ôi! để thuê được một chỗ và lùa hết đám hội đồng học sinh ngốc xít ở tất cả các trường ngốc xít vào mà thay phiên nhau ngồi trực phòng và “phím chiến” qua e-mail về chủ đề, trang trí và áp-phích ở khắp nơi và thậm chí đừng có nghĩ đến trang phục mà làm gì, sửa soạn với thiết bị sân khấu xịn và lông vũ thật, các đoạn hội thoại diễn trên sân khấu tự chế để giành giật mấy cái giải chứng nhận quà ngớ ngẩn trong một cuộc thi luôn biến tướng thành một ổ phóng đãng với các điệu nhảy ngẫu hứng ứng biến mà thường sẽ là nhóm Sọ Được Liệm chiếm sân khấu cho đến tận khi mặt trời nổ tung thành những xoáy đá khô và quả bóng gương và bắt đầu chơi bản “Gầm Gừ với Anh Đi, Em yêu,” tay sĩ quét mắt quanh phòng hòng tìm kiếm cô gái ngây thơ với đôi cánh thiên thần mà gã sẽ dẫn tới chiếc xe tang của gã trong đám mây mù khơi đinh hương khi phần biểu diễn của gã kết thúc. Em ngấy các màn này tới tận cổ, em chưa bao giờ thích nó cả, nhưng dĩ nhiên em đã đến, cũng giống như anh đến Đại Tiệc Halloween Toàn Thành, Vũ Hội và Đại Tiệc, và mọi người chọn phe.
“Năm nay bên em tổ chức ở đâu?” anh hỏi em.
“Hội trường Scandinavia.”
“Chủ đề gì thế?”
“Thuần Quỷ Dữ. Các anh có, bên anh có bao giờ đặt chủ đề không đấy?”
“Không.” Hai đứa mình nhìn nhau cười gian giảo, anh thì nghĩ sẽ còn gớm hơn nếu có chủ đề còn em thì lại nghĩ sẽ gớm hơn nếu không có chủ đề nhưng ít nhất thì cả hai đứa đều nghĩ rằng gì thì gì vụ này cơ bản là gớm.
“Bạn em có tá hỏa bên không,” anh hỏi, “nếu em không…”
“Em phải đến,” em nói. “Bạn em đã ghét em rồi, em phải đến. Nhưng anh sẽ không bị phát hiện ra nếu anh không có mặt đúng không?”
“Min, đội đã có trang phục rồi đấy.”
“Em đùa thôi mà,” em nói, chẳng vui vẻ gì và dối trá. “Thế các anh là gì?”
“Dây tù nhân bị xiềng.”
“Như thế không phải là rất phân biệt chủng tộc sao?”
“Anh nghĩ ai cũng được cho vào đây thôi, Min. Thế em là gì?”
“Em chưa biết, lúc nào em cũng phải đến phút chót mới nghĩ được. Năm ngoái em là tờ báo lá cải, nhưng không phải là vai đẹp nhất của em. Mọi người nghĩ em là tờ báo bị chó tè vào.”
Anh cắm mặt vào cốc nước mát mà cười rồi rút ra từ túi sau hai thứ, một thứ có vẻ rất đáng yêu với anh, thứ kia là một cái bút. “Bọn mình lên kế hoạch đi.”
“Bọn mình chỉ cần cáo ốm với bạn bè là xong. Rạp Canerlian lúc nào cũng chiếu sê-ri Kinh dị Kramer vào dịp Halloween.”
“Chẳng có ma nào tin đâu. Không được, ý anh là cần phải có kế hoạch.” Anh rút ba tờ khăn ăn ra khỏi hợp và trải một tờ ra. Thêm một ranh giới nữa. Vừa cắn môi theo thói quen, anh vừa phác họa vài thứ, dứt khoát và gọn ghẽ, mặc dù em mới là người dịch cái đĩa của anh ra chỗ khác để anh có chỗ mà nhìn cho rõ. Em mỉm cười và mỉm cười với anh và liên tục quên mất phải nhìn vào tờ khăn ăn cho đến khi anh bắt quả tang được em và gõ gõ cái bút ra hiệu. “OK, đây là trường.”
“Anh trông rất đáng yêu khi vẽ sơ đồ.”
“Min.”
“Thật mà. Anh có hay vẽ như thế này không?”
“Em nhìn thấy anh làm rồi mà. Giống như mấy bức phác thảo của anh cho bữa tiệc ấy.”
“Anh phác thảo cho bữa tiệc?”
“Chết cha, không phải là em. Anh đã cố hình dung xem đèn đóm sẽ treo như thế nào. Đấy là, em, à đúng rồi, trong giờ chính trị, chắc là với Annette. Nhưng ừ, anh hay làm thế này, như thế anh sẽ nghĩ được. Em biết anh với môn toán và mấy thứ tương tự như thế nào rồi đấy.”
“Anh biết không, em yêu anh,” em nói. “OK, đây là trường. Từ từ đã, thế phòng thể chất đâu?”
“Không quan trọng, nó không có trong kế hoạch đâu.”
“OK. Thế thì cái sân ở đây.”
“Đấy là sân bóng chứ. Đừng có gọi nó là sân.”
“Cứ ở đâu có cỏ và cho người ta ngồi với chơi bời thì đều là sân thôi.”
“Bọn mình ăn trộm đồ ở đây nhưng như thế đâu có biến chỗ này thành nhà băng đâu.”
Anh ngày càng giỏi đấu khẩu kiểu này với em, kiểu hội thoại tung-hứng thật hay trong tất cả các phim Mũ Cũ. Em nghịch nghịch tóc anh. “OK, vậy đây là sân bóng quý báu của anh. Giờ anh vẽ đám say xỉn mặc đồ hóa trang đi.”
“Rồi sẽ nhìn thấy đám đó thôi. Giờ ngược lên phía này là hội trường Scandinavia, đâu đâu quanh đây.”
“Nó ở ngay rìa khu nghĩa trang, nên sẽ là…”
“OK, đây,” anh nói, lia bút khoanh công viên trong một hình gọn ghẽ, rồi sau đó là cả khu vực ở giữa. Hoàn hảo.
“Anh có hay dùng cái đó không?”
“Cái này á? Có. Bọn mình đừng có bắt đầu nói là chỉ bọn mọt mới dùng thứ này nhé, vì chắc chắn là anh sẽ thắng cái trò nói móc đó đấy.”
“Không đâu. Em thích mà.”
Anh đảo mắt và không tin em, nhưng đó là sự thật, Ed à, em yêu cách bộ não toán học của anh tăng sức mạnh cho ngòi bút anh tung hoàng ngang dọc tờ khăn ăn. “Ở đây,” anh nói và dứt nét vẽ. “Bây giờ mà đi bộ thì quá xa, đúng không?”
“Từ đâu cơ?”
“Ở giữa hai nơi ấy. Ý anh là, hai đứa mình đều phải đến mà, đúng không?”
Em nhoài người qua bức vẽ và hôn anh.
“Nhưng bọn mình không thể đi bộ được,” anh nói, đăm chiêu suy nghĩ đến độ nụ hôn vừa rồi cũng chỉ được đáp lại bằng một thoáng cười. “Cho nên phải dùng xe buýt. Mà xe buýt đi đường này, xuống đây rồi mới quay lại.” Chắc hẳn hồi bé anh cũng như thế này, em đoán vậy, và vơ vẩn nghĩ có khi nên hỏi chị Joan cho em xem mấy tấm ảnh cũ. Anh chỉ lớt phớt đoạn đường xe buýt sẽ đi lúc chúng ta không quan tâm, một nửa tấm bản đồ này rất qui củ còn nửa thì chỉ nguệch ngoạc mấy nét mực, cũng như mức độ em biết về anh và mức độ em nghĩ là mình biết về anh. “Như thế này cũng không ổn. Đi xe buýt không được rồi.”
“Thế còn đường kia thì sao, đoạn đường ở đằng này này?”
“À ừ. Nó là tuyến số 6 thì phải. Giống ở đây, và rồi ở đây.” Anh và em nhìn nó. “Liệu chị anh có,” em nhát gừng…
“Không đời nào. Bà ấy không bao giờ cho anh lái xe vào đêm nào có người nhậu nhẹt đâu. Thế nên bọn mình phải chấp nhận thôi.”
“Vâng,” em nói. Những nét vẽ thẳng hơn bất cứ ai sẽ đến vào đêm đó. “Này, tuyến số 6 sẽ dừng ở đây, cuối phố Dexter, đúng không?”
“À ừ. Anh nhớ là anh đã đi chơi với Marjorie ở mạn đó.”
“Nàng ấy sống ở đây à?”
“Không, cô ấy học múa ba-lê ở cái nơi gì kì quặc gần gần đây.”
“Thế là,” em nói, cầm lấy bút của anh và bắt đầu chấm chấm, “bọn mình sẽ xuất phát từ buổi Dạ Tiệc của anh, trốn theo đường này, có lẽ là nơi mọi người nghĩ rằng bọn mình chỉ đi đùa nghịch quanh quanh.”
“Việc bọn mình sẽ làm,” anh nói, lấy lại cái bút và đánh dấu X khiến em đỏ ửng mặt và giả vờ ngó lơ.
“Và rồi bọn mình bắt xe buýt ở đây và xuống đây và sẽ cắm chốt ở quán Trong Tách. Em không biết vẽ cái tách. Xong mình sẽ đi bộ, khoảng tám tòa nhà, chấm chấm chấm, và bắt xe số 6 rồi dừng ở đây. Sau đó bọn mình đi bộ băng qua đây và thế là đến được Vũ Hội. Voilà!”
Anh chớp mắt nhìn em, không hề voilà lại. Những đường chấm chấm của em làm lem nhem cả bức vẽ gọn ghẽ của anh. “Băng qua nghĩa trang vào ban đêm á?”
“Anh chẳng bị gì đâu,” em nói. “Anh sẽ ở cùng đồng thủ quân của đội bóng rổ, à từ từ, đấy là em chứ nhỉ?”
“Không phải là chuyện an toàn,” anh nói. “Mà thôi, quên đi,” và rồi em nhớ ra truyền thuyết trứ danh về cái nghĩa trang đó, hoặc giả trứ danh chẳng phải là từ thích hợp, nhưng đó là lí do không một ai lởn vởn ở đó. Chỗ nào cũng có mấy nơi như thế, em đoán vậy, công viên hay mấy chỗ đàn ông cứ hay ra ngoài buổi đêm để làm việc đó với nhau vụng trộm trong bóng tối.
“Bọn mình sẽ nhắm mắt lại,” em nói, “thì mấy ông ẻo lả đó sẽ không bắt đâu.”
“Nếu anh không được quyền nói từ đó thì em cũng không được.”
“Anh cứ nói,” em nói, “khi anh thực sự nói về những người ấy. Và làm thế nào anh cũng biết chuyện về cái nghĩa trang thế?”
“Em kể cho anh là vì sao em biết trước đã.”
“Gần như đêm nào em cũng thả Al ở đó mà,” em đáp nhưng rõ là câu đùa đang nhói lên trong cổ họng em.
Anh che mặt, vẻ bạn gái tôi sao lại điên đến cỡ này cơ chứ? “À, ừa,” anh thu hết can đảm, “quả là anh cũng thấy hắn lởn vởn ở đó lúc anh ghé qua để xả bớt nỗi niềm căng thẳng của tất cả chỉ trừ.”
“Anh thôi đi,” em nói. “Anh suốt ngày chỉ nghĩ đến tất cả chỉ trừ thôi.”
“Ừ, đúng đấy,” anh toe toét. “Em, mà nhân tiện nói chuyện này. Anh muốn…”
“Ừa?”
“Chị anh…”
“Kinh thế. Nhân tiện chuyện đó, chị anh á?”
“Thôi nào. Bà ấy đang đi vắng.”
“Gì cơ?”
“Dịp cuối tuần. Không phải là tuần sau, không phải vào Halloween đâu, tuần sau nữa á.”
“Và?”
“Và mẹ anh thì vẫn chưa về,” anh nói, “thế nên anh sẽ là bá chủ ở nhà. Em có thể, em biết đấy…”
“Rồi, em biết.”
“Qua chơi, anh chỉ định nói thế thôi, Min à.”
“Anh cũng đã nói là không có lịch mà. Vừa mới nói đấy thôi.”
“Là lúc trước. Giờ cũng không. Nhưng anh chỉ…”
“Em không muốn có lần đầu tiên trên giường anh,” em nói.
Anh thở dài, nhìn tờ khăn ăn. “Em muốn nói là, không phải ở trên giường của anh hay là không phải với anh?”
“Em chỉ muốn nói cái giường thôi,” em trả lời. “Hoặc là xe của anh hoặc là công viên. Ở đâu đó, có thể anh sẽ thấy buồn cười, nhưng phải là một nơi nào đó thật đặc biệt.”
Anh đã, em công nhận Ed ạ, không cười. “Đặc biệt à?”
“Đặc biệt.”
“OK,” anh nói, và rồi mỉm cười. “Tommy và Amber đã làm chuyện ấy ở kho của bố cô nàng.”
“Ed.”
“Thật mà! Ở giữa hai cái tủ lạnh!”
“Không phải kiểu đó…”
“Anh biết, anh biết mà. Đừng có lo lắng, Min. Đấy không phải là thứ bệnh hoạn em đã nghĩ khi anh nói là không thể tránh khỏi đâu. Anh muốn em, anh không tài nào tìm được đúng từ mình cần ấy.” Anh lại thở dài. “Đúng rồi, vui vẻ. Đấy là lí do mình sẽ bắt hai chuyến xe buýt và đi bộ qua một nơi ẻo lả trong đêm Halloween.”
Em không thể nói gì vẻ từ ẻo lả ấy, cho qua vậy. “Sẽ vui lắm đây,” em nói dối.
“Có lẽ là cuối tuần sau nữa bọn mình sẽ…” anh nói đầy ranh mãnh, và ngay sau đó em đã muốn, một cơn cồn cào râm ran trong miệng và giữa hai chân em. Em đã có cảm giác ấy. Cần phải khỏa lấp nó bằng một thứ gì đó khác, em nghĩ, nhưng là thứ gì thì em cũng không rõ nữa.
“Có lẽ,” cuối cùng em cũng bật ra được lời. “Thế này thật phức tạp,” anh nói, quay lại với tờ khăn ăn, và rồi nhìn em.
Anh đã muốn cạy mở em, em thấy được điều ấy, kéo em qua ranh giới giữa hai ta để cùng mê say trong bí mật. “Nhưng,” anh nói, “à không, không những nhị gì cả. Anh yêu em.”
Cà-phê, em đã nghĩ ra, chính là thứ gì đó khác. “Vậy mình sẽ uống mừng vì điều đó nhé,” em nói.
“Món hồi sinh nhé,” anh đồng ý, tràn đầy năng lượng và niềm vui lấp lánh. Anh vẫy phục vụ bàn và bắt đầu vò vò bản kế hoạch. “Từ từ đã.”
“Sao thế?”
“Em muốn cái đó. Đừng có xé kế hoạch của bọn mình đi.”
“Không cần nó thì mình vẫn nhớ được mà.”
“Em vẫn muốn nó.”
“Em không định,” anh nói, “kể với Al hay ai đó rằng anh vẽ mấy cái sơ đồ từ-anh-không-đời-nào-hé-răng đấy chứ hả?”
“Em sẽ không,” em buồn bã hứa, “nói với Al đâu. Em chỉ giữ cho mình thôi.”
“Chỉ cho em thôi anh nói. “OK.” Anh cúi xuống một lát trong khi em gọi cà-phê, và cố tình lờ đi cái nhìn của cô phục vụ bàn dành cho anh. Anh đã đưa tờ khăn ăn cho em, nhưng trước đó em đã chộp được thứ em muốn, lại một lần nữa làm kẻ thó đồ ở Tiệm Bên Sườn Đồi, tán gẫu để đánh lạc hướng anh trong lúc đợi cà phê được bê ra và anh quên béng mất rằng nó đã biến mất. Nhưng chính anh cũng đã cho em ăn no một bụng dưa bở đấy thôi. Chính là mặt kia của tờ khăn ăn mà mãi sau này em mới phát hiện ra. Không phải khi về tới nhà, cũng chẳng phải lúc thả tờ khăn ăn vào cái hộp này mà là khi chỉ còn con tim nát tan và rỉ lệ vì chẳng có gì là thật nữa. Nó y hệt như lúc chúng ta phát hiện ra, khi cô phục vụ bàn mang cà-phê cùng hóa đơn ra và ngoảy gót bước đi, rằng chẳng có đường ở trên bàn hai đứa: phải, chính là khi đã quá muộn, Ed ạ, để làm được điều gì tử tế.
[1] Áo của phụ nữ Hồi giáo che cả người và mặt.