Và rồi mùa xuân cũng sắp đi qua. Cây cối thêm xanh, tuy chưa đến mùa hoa náng nở rộ trên những vách đá phía Đông, nhưng đó đây trên đảo đã rực rỡ sắc màu của các loài hoa khác. Trẻ em trở lại trường, một vài phụ nữ làm nghề lặn đã bắt đầu dầm mình xuống nước biển lạnh ngắt mà thu lượm tảo wakame. Vậy là càng có thêm nhiều nhà vắng người ngay giữa ban ngày, cửa sổ mở toang, cửa chính cũng không khóa. Lũ ong cứ tự do thăm thú những căn nhà ấy, thỏa sức bay lượn trong các căn phòng trống, đang bay thẳng mà đâm vào gương thì chúng lại giật mình hoảng hốt.
Shinji vốn không khôn khéo mưu mô nên chẳng nghĩ ra cách nào để gặp Hatsue. Trước đây hai đứa cũng hiếm hoi lắm mới có dịp gặp gỡ, nhưng niềm vui được gặp mặt có thể khỏa lấp thời gian chờ đợi. Còn bây giờ, cứ nghĩ đến việc không thể gặp nhau, nỗi nhớ mong người yêu lại càng thêm da diết, nhưng vì đã hứa với thuyền trưởng Jukichi không bỏ bê việc đánh cá, nên mỗi tối sau khi đi biển về Shinji chỉ biết chờ cho đường phố vắng bóng người rồi tới quanh quẩn quanh khu nhà Hatsue. Đôi khi cửa sổ trên tầng hai hé mở, Hatsue ló mặt ra ngoài. Trừ những lúc ánh trăng khéo chiếu vào soi tỏ khuôn mặt thiếu nữ, gương mặt ấy lúc nào cũng khuất trong bóng tối. Nhưng chàng trai trẻ có thị lực hơn người, nhìn rõ trong đêm đôi mắt ướt lệ của người thiếu nữ. Vì sợ hàng xóm biết nên Hatsue không dám lên tiếng, và Shinji cũng chỉ biết nấp sau bức tường đá của ruộng rau nhỏ sau nhà, lặng lẽ ngước lên ngắm khuôn mặt người yêu. Nỗi buồn đau của những cuộc gặp gỡ mong manh ấy lần nào cũng được Hatsue kể tỉ mỉ trong lá thư mà Ryuji mang đến sáng hôm sau. Chỉ đến khi Shinji đọc thư thì hình ảnh và giọng nói của Hatsue mới lồng vào nhau, và cảnh cô gái đứng lặng thinh mà cậu thấy đêm qua bỗng hiện lại trong tâm trí với cử chỉ và giọng nói đầy sống động.
Những cuộc gặp gỡ như vậy cũng khiến bản thân Shinji khổ sở, nên ban đêm cậu một mình lang thang đến những nơi vắng người trên đảo để giải tỏa nỗi bức bối trong lòng. Cậu đi đến ngôi mộ cổ của vương tử Deki ở phía Nam. Ngôi mộ cổ này không có ranh giới rõ ràng từ đâu đến đâu, ở giữa bảy cây thông già trên đỉnh mộ, có cổng torii và một cái miếu nhỏ.
Truyền thuyết về vương tử Deki rất mơ hồ. Cũng chẳng rõ cái tên “Deki” lạ lùng thuộc ngôn ngữ nào. Trong một lễ hội cổ được tổ chức vào Tết âm lịch, các cặp vợ chồng già trên 60 tuổi sẽ mở he hé một chiếc hộp kỳ lạ, ghé mắt nhìn vào một vật giống như cái hốt[1] nằm bên trong hộp, nhưng bảo vật bí ẩn đó có quan hệ gì với vương tử Deki thì không ai biết. Xưa kia ở đảo này trẻ con gọi mẹ là “eya”, tương truyền cách gọi này bắt nguồn từ việc vương tử gọi vợ là "heya"[2], đứa con nhỏ tuổi của ngài bắt chước cha gọi theo nhưng do còn ngọng nghịu nên phát âm thành “eya”. Ngày xửa ngày xưa, một vị vương tử từ đất nước xa xôi đã trôi dạt đến đảo này trên một con thuyền vàng. Ngài lấy một cô gái đảo làm vợ, sau khi qua đời thì được chôn cất ở mộ này. Ở đảo không lưu truyền một câu chuyện nào về cuộc đời của vương tử, cũng chẳng có bi kịch nào được thêu dệt thêm thắt vào cuộc đời vương tử ấy. Nếu truyền thuyết về ngài dựa trên sự thật, thì phải chăng điều này ám chỉ rằng cuộc đời của vương tử trên đảo Utajima đã hạnh phúc viên mãn đến nỗi chẳng có chỗ mà đom đặt thêm câu chuyện ly kỳ nào.
Có lẽ vương tử Deki là thiên sứ đã hạ phàm xuống vùng đất lạ vô danh. Ngài đã sống một đời trần tục chẳng ai hay biết, nhưng hạnh phúc và ân điển của trời thì vĩnh viễn chẳng rời xa thân ngài. Và rồi cuối cùng thi hài của ngài, cũng không lưu lại câu chuyện gì, được chôn cất trong ngôi mộ nhìn xuống bãi biển Gori và đảo Hachijo xinh đẹp.
Nhưng chàng trai bất hạnh thì đi lang thang quanh cái miếu nhỏ, đến lúc mệt, cậu ngồi thẫn thờ trên bãi cỏ, ôm gối ngắm biển đêm tràn trề ánh trăng. Đêm nay trăng tán, báo hiệu ngày mai sẽ mưa.
Sáng hôm sau, Ryuji đến lấy thư thì thấy ở góc nắp gỗ của chum nước có úp một cái chậu sắt hơi chếch ra ngoài nắp gỗ để che cho thư khỏi ướt. Trời mưa tầm tã suốt chuyến đi biển hôm đó. Shinji nhận thư, tranh thủ lúc nghỉ trưa, trùm áo mưa bên ngoài rồi đọc cho khỏi ướt. Nét chữ lần này rất khó đọc. Hatsue kể, sáng sớm nay cô không dám bật đèn vì sợ cha phát hiện, nên đã mò mẫm viết trên giường. Mọi hôm cô thường tranh thủ viết thư vào lúc rảnh rỗi ban ngày, rồi bỏ vào "thùng thư" trước giờ dân làng đi biển sáng hôm sau, nhưng vì sáng nay có chuyện muốn báo ngay nên cô đã xé lá thư dài ngoằng viết sẵn từ hôm qua, và thay bằng lá thư này.
Trong thư Hatsue kể rằng đêm qua cô đã có một giấc mơ lành. Cô được thần báo mộng rằng Shinji chính là hóa thân của vương tử Deki, chàng sẽ cùng Hatsue xe duyên hạnh phúc và họ sẽ sinh ra những đứa con như ngọc như ngà.
Rõ ràng Hatsue không hề biết chuyện đêm qua Shinji đã đi thăm mộ vương tử Deki. Mối giao cảm kỳ lạ ấy khiến Shinji vô cùng kinh ngạc, cậu định bụng tối nay về sẽ từ từ viết thư kể tỉ mỉ cho Hatsue những minh chứng cho giấc mộng tiên tri ấy.
Từ khi Shinji đi làm kiếm được tiền, mẹ cậu không còn phải tảo tần lặn khi nước biển còn lạnh nữa. Bà định bụng sang tháng Sáu mới bắt đầu công việc đó. Nhưng vốn là người hay lam hay làm, trời càng ấm lên thì bà càng thấy bức bối khi chỉ quẩn quanh với mấy việc nhà lặt vặt. Bà không cho phép mình nhàn rỗi, để tránh suy nghĩ đến những chuyện không đâu.
Gần đây nỗi u sầu của con trai luôn khiến bà bận lòng. Shinji giờ cứ như một người khác hẳn so với hồi ba tháng trước. Mặc dù cái nết ít nói thì vẫn vậy, nhưng vẻ tươi vui hoạt bát đầy sức trẻ luôn tràn ngập trên khuôn mặt cậu nay đã tắt ngấm.
Một hôm, sau khi làm xong công việc khâu vá quần áo trong buổi sáng, chờ đón bà là cả một buổi chiều tẻ ngắt, bà nghĩ ngợi mông lung xem liệu có cách nào giúp con trai thoát khỏi tình trạng buồn bã hiện giờ hay không. Nhà họ nằm ở nơi khuất bóng không có ánh mặt trời, nhưng từ đây nhìn lên mái nhà kho bên hàng xóm vẫn có thể thấy được một mảnh cắt của bầu trời cuối xuân yên ả. Bà quyết định ra khỏi nhà. Đi đến đê chắn sóng, bà dừng lại ngắm nhìn những con sóng đập vào để rồi vỡ tung ra. Cũng giống như con trai mình, mỗi khi bận tâm điều gì, bà thường ra tâm sự với biển.
Trên đê có phơi rất nhiều dây thừng dùng buộc chum bạch tuộc. Lưới cá được giăng ra phơi trên bãi biển gần như không có bóng tàu thuyền. Bà mẹ trông thấy một con bướm đang bay một cách lạ thường từ một tấm lưới trải rộng về phía đê chắn sóng. Nó có đôi cánh màu đen to và đẹp. Phải chăng con bướm đến đây để tìm một bông hoa lạ giữa đống lưới, cát và bê tông? Nhà của ngư dân nào có vườn cho ra vườn, chỉ có những luống hoa nằm dọc con đường nhỏ hẹp bao quanh là đá, chắc con bướm đã cạn tình với những bông hoa cằn cỗi đó nên mới bay xuống bờ biển này.
Bên ngoài đê, sóng liên tục đánh đến tận đáy làm nước vẩn đục một màu vàng lục nhạt. Mỗi khi sóng lập đến, khối nước đục vỡ tung ra thành muôn ngàn mảnh nhỏ như lá tre. Bà mẹ nhìn thấy con bướm rời đê chắn sóng, bay là là gần sát mặt biển đục ngầu chừng như muốn nghỉ ngơi, rồi lại đập cánh bay lên cao. Bà thầm nhủ:
“Con bướm lạ chưa. Bắt chước hải âu hay sao.”
Nghĩ vậy, bà lại càng để ý đến con bướm.
Con bướm bay vút lên ngược hướng gió để rời khỏi đảo. Ngọn gió tưởng chừng hiền hòa quật tơi tả vào đôi cánh bướm mỏng manh. Nhưng con bướm vẫn bay lên cao, xa đảo dần. Bà mẹ nhìn mãi lên bầu trời chói chang cho tới khi con bướm chỉ còn là một cái chấm đen. Suốt một lúc lâu con bướm cứ bay chập chờn ở một góc tầm nhìn của bà, nhưng dường như bị mặt biển bao la lấp lánh huyễn hoặc, hòn đảo kế cận phản chiếu trong mắt bướm trông có vẻ gần mà hóa ra lại xa tít khiến nó nản lòng, lại hạ độ cao bay la đà trên mặt biển rồi quay trở lại đê chắn sóng. Nó đậu lên bóng của những tấm lưới đang được phơi, khép cánh nghỉ ngơi, trông giống như một cái nút thắt lớn trên bóng lưới.
Bà mẹ vốn là người không tin vào điềm báo hay mê tín, nhưng sự nhọc công vô ích của con bướm đã gieo vào lòng bà một nỗi bất an.
“Con bướm ngớ ngẩn quá. Muốn đi đến nơi khác thì đậu lên tàu mà đi có phải sướng thân không.”
Ấy vậy mà chính bản thân bà cũng đã bao nhiêu năm rồi không lên tàu vì chẳng có việc gì bên ngoài đảo cả.
Trong lòng mẹ Shinji lúc ấy, chẳng rõ vì sao bỗng nảy sinh một sự dũng cảm táo bạo. Bà rảo bước phăm phăm rời khỏi con đê. Trên đường đi, có một phụ nữ cùng nghề lặn biển đã hồ hởi cất lời chào, rồi ngạc nhiên khi thấy bà không đáp lại mà cứ thế mải miết đi tiếp như bị cái gì bắt mất hồn.
Nhà lão Miyata Terukichi là một trong những nhà giàu nhất làng. Tuy nhiên, ngôi nhà ấy chỉ gọi là mới hơn chứ nóc nhà cũng chẳng cao hơn các nhà xung quanh là bao. Nhà không có cổng, không có tường đá. Lối kiến trúc cũng chẳng có gì khác biệt: bên trái cửa vào là nắp hố ga của nhà vệ sinh, bên phải là cửa sổ bếp, hai bên được bố trí đối xứng nhau giống như vị trí của tả-hữu đại thần trên giá bày búp bê Hina vậy. Tuy nhiên, do được xây trên sườn dốc nên tầng hầm bê tông kiên cố dùng làm nhà kho chống đỡ cho ngôi nhà rất chắc chắn, cửa sổ của nó mở ra ngay sát một con hẻm nhỏ.
Bên cạnh cửa bếp có cái chum nước xem chừng một người ngồi lọt. Cái nắp gỗ mà mỗi sáng Hatsue kẹp thư vào trông thì có vẻ như che được hoàn toàn bụi bặm, nhưng hễ đến mùa hè nó cũng chẳng ngăn được muỗi và các loài côn trùng có cánh khác bay vào, xác nổi lềnh phềnh đầy mặt nước.
Mẹ Shinji định bước qua cửa nhưng rồi lại thoáng chần chừ. Bình thường bà không qua lại gì với nhà Miyata nên chỉ riêng việc bà đến đây cũng đủ để dân làng bàn tán rồi. Bà nhìn quanh nhưng không thấy bóng người. Chỉ có hai, ba con gà đang tha thẩn trên lối nhỏ và màu biển xanh bên dưới ánh lên bóng lá của mấy bụi đỗ quyền thưa thớt bên nhà hàng xóm phía bên kia.
Bà đưa tay vuốt tóc, nhưng thấy tóc bị gió biển thổi rối tung, bà lấy cái lược nhỏ màu đỏ bằng nhựa dẻo trong đã mất vài răng từ trong vạt áo ra, đưa lên tóc chải vội. Bà mặc trang phục thường nhật, mặt không phấn son, ngực cháy nắng, bộ đồ mông-pê vá chằng vá đụp, chân không mang tất xỏ đôi guốc mộc. Thói quen của phụ nữ làm nghề lặn biển là đạp bàn chân xuống đáy biển để nổi lên nên ngón chân sau nhiều lần bầm giập thì trở nên rất khỏe, móng chân cứng ngắc, cong lại sắc bén, tuy hình dạng không đẹp nhưng khi đứng trên mặt đất thì chắc nịch, vững chãi.
Bà bước vào sàn đất. Trên sàn có hai, ba đôi guốc vứt chỏng chơ. Có một chiếc bị lật ngược. Một đôi dép xỏ ngón màu đỏ nom như vừa được mang ra biển về, vẫn còn in dấu cát ướt hình bàn chân.
Bên trong rất im ắng, phảng phất mùi nhà vệ sinh. Những phòng bao quanh sàn đất thì tối om om, nhưng chính giữa một căn phòng ở tít phía trong nhà, ánh nắng rạng rỡ chiếu qua ô cửa sổ, nom như chiếc khăn bọc đồ màu vàng nghệ.
“Có ai ở nhà không?”
Bà cất tiếng gọi. Chờ một lúc không thấy có tiếng trả lời, bà lại gọi.
Từ cầu thang bên hông sàn đất, Hatsue đi xuống. Cô cất tiếng chào:
“Ôi, cháu chào bác ạ.”
Hatsue mặc chiếc quần mông-pê giản dị, tóc buộc bằng dải ruy băng màu vàng.
Mẹ Shinji tấm tắc khen:
“Ruy băng đẹp quá.”
Vừa nói, bà vừa quan sát kỹ cô gái mà con trai bà chết mê chết mệt.
Bà cảm giác trong cô hơi tiều tụy, da có phần trắng hơn trước nên đôi mắt đen càng nổi bật, sáng rực và trong veo. Nhận ra mình đang bị nhìn, mặt cô gái ửng đỏ.
Bà mẹ thấy lòng vẫn bừng bừng can đảm. Bà đến gặp Terukichi là để làm rõ sự trong sạch của con trai, bày tỏ lòng thành, vun vén cho đôi trẻ. Bà cho rằng chỉ có phụ huynh nói chuyện với nhau thì mới giải quyết được.
“Bố cháu có nhà không?”
“Có ạ.”
“Bác có chuyện muốn nói với bố cháu, thưa giúp bác được không?”
“Vâng.”
Cô gái đi lên cầu thang với vẻ mặt lo lắng. Bà mẹ ngồi xuống bậc thềm của.
Bà đợi một lúc rất lâu, bụng bảo dạ giá mà mang theo điếu thuốc để giết thời gian. Trong khi chờ đợi, Tiếng triều dâng dũng khí của bà đã tiêu tan dần, bà nhận ra những ảo tưởng đã đưa bước mình đến đây mới điên rồ làm sao.
Có tiếng cầu thang khẽ cọt kẹt. Hatsue đi xuống, nhưng không xuống hẳn dưới nhà mà đứng lại trên cầu thang, hơi nghiêng người xuống. Xung quanh cầu thang tối mờ nên bà không nhìn rõ biểu cảm trên khuôn mặt đang cúi xuống của cô.
“Bác ơi... bố cháu bảo là không gặp ạ.”
“Không gặp à?”
“Vâng...”
Câu trả lời khiến tất cả dũng khí của bà mẹ biến mất tăm, nỗi nhục nhã ê chề đột ngột dâng trào. Trong phút chốc, bà bỗng nhớ lại cả cuộc đời khổ cực dài đằng đẵng và những gian nan không nói hết thành lời từ khi trở nên góa bụa. Nhưng khi đã bước một nửa người ra ngoài, bà mới quát lên bằng giọng như muốn phỉ nhổ.
“Được rồi, lão ấy nói không thèm gặp hạng quả phụ nghèo hèn này chứ gì? Cấm cửa chứ gì? Vậy thì đây nói luôn cho mà biết. Cô đi mà bảo với bố cô là tôi sẽ không bao giờ bước chân vào cửa nhà này nữa nhé.”
Bà mẹ không muốn kể đầu đuôi chuyện mất mặt này với con trai. Bà bực dọc, giận cá chém thớt sang Hatsue, ghét cô rồi nói xấu cô nên đã cãi vã với Shinji. Ngày hôm sau, hai mẹ con không ai nói với ai câu nào, nhưng đến hôm sau nữa thì họ làm lành. Đột nhiên bà lại muốn than khóc với con trai, nên đã kể chuyện viếng thăm lão Terukichi thất bại cho cậu nghe. Thực ra Shinji đã biết chuyện qua thư của Hatsue.
Khi kể lại, bà mẹ đã lược bớt đoạn mình quát tháo trước khi về, nhưng trong thư Hatsue cũng không nhắc đến chuyện đó để tránh làm tổn thương Shinji. Vì vậy trong lòng cậu chỉ đọng lại nỗi ấm ức vì mẹ phải chịu cảnh bị người ta đuổi khỏi cửa. Thương mẹ nên tuy không đồng tình với việc mẹ nói xấu Hatsue nhưng cậu nghĩ việc ấy cũng khó trách mẹ được. Từ trước đến nay cậu chưa từng cố giấu giếm mẹ chuyện mình đem lòng yêu Hatsue, nhưng lần này cậu đã quyết tâm hẳn sẽ không tâm sự với ai chuyện ấy ngoài thuyền trưởng và Ryuji.
Thế là bà mẹ trở nên cô độc vì muốn làm việc tốt mà lại chẳng thành.
Cũng may vì sau đó Shinji chẳng có một ngày nghỉ đánh cá nào, vì nếu có cậu sẽ lại phải trải qua cả ngày dài thở than ủ dột vì không được gặp Hatsue. Rồi tháng Năm đã sang mà họ vẫn chẳng có dịp nào hội ngộ. Cho đến một buổi sáng nọ, lá thư Ryuji mang đến đã làm Shinji vui mừng khôn xiết.
“... Tối mai, bố em sẽ đón khách tới chơi, chuyện hiếm lắm đấy anh ạ. Khách là cán bộ thành phố Tsu, và sẽ ngủ lại nhà em. Bố em hễ tiếp khách thì sẽ uống nhiều rượu rồi đi ngủ sớm. Chắc khoảng 11 giờ đêm em có thể trốn ra được. Anh hãy đợi em ở trong đền Yatsushiro nhé..."
Hôm đó, đi biển về, Shinji thay áo sơ mi trắng mới tinh. Cậu không tâm sự gì với mẹ, nên bà chỉ biết bồn chồn ngước nhìn dáng vẻ con. Bà như thấy lại hình ảnh con trai mình trong cái ngày giông bão nọ.
Shinji đã nếm đủ vị khổ sở của chờ đợi, vì vậy cậu chàng nghĩ hay lần này cứ để cô nàng đợi mình. Nhưng rồi cậu lại không nỡ. Mẹ và thằng em Hiroshi vừa đặt lưng xuống ngủ là cậu đã tót ra ngoài. Lúc này vẫn còn hai tiếng nữa mới đến 11 giờ đêm.
Shinji định bụng đi đến hội thanh niên để giết thời gian. Ánh đèn hắt ra từ cửa sổ căn lán của hội trên bờ biển, và cậu nghe rầm rì tiếng nói chuyện của mấy gã trai đến đó ngủ lại. Có cảm giác họ đang bàn tán về mình, cậu bèn rời đi.
Cậu đi ra đê chắn sóng trong đêm, phơi mặt trước gió biển lồng lộng. Cậu nhớ lại nỗi xúc động lạ lùng khi dõi theo con tàu chở hàng màu trắng chạy lướt qua những áng mây chiều nơi chân trời vào cái ngày lần đầu tiên cậu nghe thuyền trưởng Jukichi kể về thân thế của Hatsue. Đó là một “cõi lạ”. Lòng cậu bình yên khi ngắm nhìn cõi lạ ấy từ xa, nhưng một khi đã bước vào đó mà dong buồm ra khơi, thì muôn nỗi bất an, tuyệt vọng, hoang mang và đau khổ sẽ cùng lúc ập đến bủa vây lấy cậu.
Bỗng, cậu có cảm giác mình đã hiểu vì sao một phần nào đó trong trái tim lẽ ra phải rộn ràng vui sướng của mình lại đang nát tan, chết lặng. Đêm nay gặp nhau có lẽ Hatsue sẽ hối thúc cậu tìm ra một giải pháp khẩn cấp. Cùng nhau bỏ trốn ư? Nhưng hai người đang sống trên một hòn đảo biệt lập. Cứ cho là bỏ trốn bằng thuyền, thì Shinji cũng không có thuyền, mà hơn hết, cậu không có tiền. Hay cùng nhau quyên sinh? Ở đảo này cũng đã có những đôi lứa chọn cách từ bỏ cuộc đời bên nhau. Nhưng Shinji vốn có trái tim cứng cỏi, cậu cho rằng những người ấy thật ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Còn cậu, chưa một lần mảy may nghĩ đến cái chết. Hơn hết, trên vai cậu còn có gia đình phải gánh vác.
Trong khi Shinji suy nghĩ miên man, thời gian trôi qua nhanh đến không ngờ. Một người vốn không giỏi động não như cậu đã phát hiện ra tác dụng bất ngờ của việc suy nghĩ, đó là giết thời gian. Thế nhưng chàng thanh niên mạnh mẽ quyết định thôi không nghĩ ngợi nữa, vì điều mà cậu nhận ra trước hết chính là, cái thói quen “suy nghĩ” mới mẻ này dù có ích lợi gì đi nữa thì cũng vẫn chứa đựng những nguy hiểm trực tiếp.
Shinji không có đồng hồ. Thật ra, cậu không cần đồng hồ. Thay vào đó, cậu có một tài năng kỳ lạ là nhận biết thời gian bằng bản năng, dù vào ban ngày hay ban đêm.
Chẳng hạn sự di chuyển của các ngôi sao. Dù không thể đo đạc chính xác những chuyển động của chúng, cơ thể cậu cảm nhận được vòng quay lớn của ngày, vòng quay lớn của đêm. Nếu đặt mình vào một điểm trong vòng kết nối của thiên nhiên, ắt sẽ hiểu được trật tự chính xác của nó.
Nhưng thật ra, khi Shinji ngồi xuống bậc thang ở cửa vào nhà trị sự của đền Yatsushiro thì đã nghe thấy chuông điểm một tiếng báo 10 giờ rưỡi. Gia đình tư tế coi đền đang say ngủ. Ghé tai vào tấm cửa chớp, cậu tỉ mẩn đếm đủ 11 tiếng chuông khẽ khàng phát ra từ chiếc đồng hồ treo tường.
Cậu nhổm người dậy, đi qua những bóng thông tối đen, đứng trên cầu thang đá 200 bậc. Trời không trăng, chỉ có lớp mây mỏng bao phủ, lác đác vài ngôi sao. Tuy nhiên những bậc thang đá vôi vẫn hút lấy trọn vẹn thứ ánh sáng mờ ảo của đêm, dưới chân Shinji treo lơ lửng, trắng xóa như một thác nước khổng lồ uy nghiêm.
Vùng biển Ise bao la chìm trong bóng tối, ở mạn bán đảo Chita và bán đảo Atsumi chỉ có vài ánh đèn thưa thớt tản mác, nhưng bên phía thành phố Ujiyamada, đèn đóm kết liền thành một dải rực sáng lộng lẫy.
Shinji lấy làm tâm đắc với chiếc áo sơ mi trắng mới sắm. Trắng sáng bần bật thế này thì dù người ta đứng bậc đá thấp nhất trong 200 bậc cũng có thể nhìn thấy ngày. Ở chỗ khoảng bậc thang thứ 100, cành thông hai bên đâm sang tua tủa, in xuống những bóng đen co rúm.
... Một bóng người nho nhỏ hiện ra dưới những bậc đá. Trống ngực Shinji đập rộn ràng vì vui sướng. Tiếng guốc bước lên những bậc đá nghe đầy quyết tâm, vang vọng rất to chẳng khớp với dáng hình nhỏ bé kia. Tiếng guốc dồn dập, không tỏ chút hụt hơi mỏi mệt.
Shinji muốn lao ngay xuống, nhưng kìm lại. Cậu chàng nghĩ mình đã bỏ công chờ đến lúc này thì có quyền ung dung đứng ở nơi cao nhất mà đợi cô nàng. Nhưng khi Hatsue leo lên đến đoạn mà cậu có thể nhìn thấy mặt cô, chắc cậu chỉ có nước chạy ngay xuống thì mới không buột miệng mà gọi tên cô thật to. Khi nào mới nhìn rõ được mặt cô nhỉ? Có lẽ là ở bậc thang thứ 100 chăng?
Đột nhiên Shinji nghe thấy phía dưới có tiếng hét giận dữ lạ thường. Hình như là gọi tên Hatsue.
Tới bậc thang thứ 100 hơi rộng hơn các bậc khác, Hatsue đột ngột đứng lại. Shinji thấy ngực cô đang phập phồng rất mạnh vì thở gấp. Lão Terukichi nấp trong bóng thông từ bao giờ, bất thình lình nhào ra. Lão túm lấy cổ tay cô con gái.
Shinji nhìn thấy hai cha con gay gắt cự cãi đôi ba câu. Cậu sững sờ đứng im như bị trói trên đỉnh cầu thang đá. Terukichi không thèm quay đầu nhìn Shinji lấy một lần. Lão cứ nắm chặt cổ tay Hatsue mà lôi xuống. Chàng trai vẫn nguyên tư thế, không biết phải làm sao, cứ đúng chôn chân như lính gác trên đỉnh cầu thang đá, cảm thấy nửa đầu mình tê dại đi. Bóng hai cha con đi xuống những bậc đá, rẽ trái, rồi mất hút.
❀ ❀ ❀
[1] Vật dụng mà những vị đại thần thời xưa khi vào triều thường cầm trên tay, để ghi lại những mệnh lệnh hay chỉ thị của hoàng đế, hoặc nội dung muốn tấu lên hoàng đế.
[2] Có nghĩa là “nhà”.