Suốt mùa mưa, mỗi ngày của Shinji đều trôi qua trong đau khổ. Ngay cả những lá thư của Hatsue cũng không còn đến nữa. Hôm ở đền Yatsushiro, bố cô đến ngăn cản chắc là vì đã đọc trộm được thư, và kiểu gì sau đó ông ta cũng cấm tiệt chuyện thư từ.
Một hôm, khi mùa mưa chưa dứt hẳn, thuyền trưởng tàu Utajimamaru mà Terukichi sở hữu đến đảo. Tàu Utajimamaru neo đậu ở cảng Toba.
Đầu tiên, thuyền trưởng đến nhà Terukichi, sau đó đến nhà Yasuo. Buổi tối ông đến nhà Jukichi chủ thuyền của Shinji, rồi cuối cùng ghé qua nhà Shinji.
Thuyền trưởng trạc ngoại tứ tuần, đã có ba đứa con. Ông có dáng người to lớn, luôn tự hào về sức khỏe của mình, nhưng tính tình lại điềm đạm. Ông là tín đồ nhiệt thành của Pháp Hoa tông[1], nếu ở làng vào đúng dịp lễ Obon, ông sẽ thay nhà sư làm Phật sự, đọc kinh. Ở cảng nào ông cũng có nhân tình, đám thuyền viên thường gọi họ là cô Yokohama hay cô Moji. Hễ cập bến ở những cảng đó, ông lại dẫn đám trai trẻ trên thuyền đến chỗ các cô ăn nhậu. Các cô bận đồ nhẹ nhàng lịch sự, tiếp đãi đám thanh niên chu đáo.
Người ta còn đồn cái đầu hói một nửa của ông là hậu quả của thói ăn chơi trụy lạc. Chính vì thế mà lúc nào ông cũng đội cái mũ kepi có gắn dây vàng để giữ uy. Thuyền trưởng đến nhà Shinji, lập tức bàn việc với mẹ cậu ngay trước mặt cậu. Ở làng này, trai tráng tầm mười bảy, mười tám tuổi là lên tàu làm “chân đun bếp” để học thành thuyền viên. “Chân đun bếp” là từ chỉ những người học việc trên boong tàu. Shinji cũng đến cái tuổi ấy rồi. Thuyền trưởng hỏi cậu có muốn lên tàu Utajimamaru làm “chân đun bếp” hay không.
Bà mẹ lặng im. Shinji nói sẽ hỏi ý kiến của Jukichi rồi mới trả lời. Nhưng thuyền trưởng cho biết Jukichi đã đồng ý chuyện này rồi.
Dẫu vậy, Shinji vẫn lấy làm lạ. Rõ ràng Utajimamaru là tàu của Terukichi, mà ông ta thì ghét cậu như vậy, có lý nào lại muốn cho cậu lên tàu của mình.
“Không, ông Teru cũng thừa nhận là chú mày sẽ trở thành thuyền viên khá đấy. Vừa nhắc đến chú mày là ông ấy đã đồng ý ngay. Thế nên cố mà làm việc cho thật tốt nhé.”
Để chắc chắn, Shinji cùng thuyền trưởng đi đến nhà Jukichi hỏi cho ra nhẽ. Quả nhiên Jukichi cũng động viên nhiệt tình. Ông nói tuy thiếu Shinji thì thuyền Taiheimaru sẽ khó khăn, nhưng không thể vì thế mà cản trở tương lai của cậu được. Thế là cậu đồng ý.
Ngày hôm sau, Shinji nghe được một tin đồn lạ. Yasuo cũng được chọn lên tàu Utajimamaru để làm “chân đun bếp”. Yasuo vốn chẳng vui vẻ gì với cái chức “đun bếp”, nhưng vì lão Teru đem chuyện học việc này làm điều kiện cho hôn ước với Hatsue, nên hắn đành miễn cưỡng chấp nhận.
Nghe tin này, lòng Shinji vừa lo âu, vừa buồn bã, nhưng đồng thời cũng lóe lên một tia hy vọng.
Trước khi lên đường, Shinji cùng mẹ đến đền Yatsushiro cầu bình an và xin bùa hộ mệnh.
Ngày khởi hành đã đến, Shinji và Yasuo theo thuyền trưởng lên tàu Kamikazemaru chạy về phía Toba. Người đi tiễn Yasuo rất đông, trong số đó có cả Hatsue, nhưng không thấy bóng dáng Terukichi. Đi tiễn Shinji thì chỉ có mẹ cậu và thằng em Hiroshi.
Hatsue không nhìn về phía Shinji. Nhưng khi tàu chuẩn bị rời bến, cô ghé tai mẹ Shinji nói gì đó, rồi trao cho bà một gói giấy nhỏ. Bà mẹ đưa gói giấy đó cho con trai.
Trên tàu lúc nào cũng có cả thuyền trưởng và Yasuo nên Shinji không có cơ hội mở gói giấy ấy ra để xem.
Cậu ngắm nhìn đảo Utajima đang xa dần. Lúc đó, người thanh niên đã sinh ra và lớn lên trên đảo, yêu thương hòn đảo ấy hơn bất cứ điều gì mới chợt nhận ra mình đang háo hức muốn rời đảo biết bao. Chính mong muốn ấy đã khiến cậu chấp nhận lời đề nghị của ông thuyền trưởng.
Khi đảo đã khuất xa, chàng trai trẻ thấy nhẹ lòng. Khác với những lần đi biển thường ngày, tối nay cậu không phải trở về đảo nữa. Mình tự do rồi. Cậu hét lên trong lòng. Lần đầu tiên cậu biết có tồn tại thứ tự do kỳ lạ như vậy.
Tàu Kamikazemaru tiến từ từ trong cơn mưa nhẹ. Thuyền trưởng và Yasuo nằm ngủ trên chiếu trong khoang tối. Từ lúc lên tàu, Yasuo chưa nói với Shinji lời nào.
Chàng trai áp mặt vào ô cửa sổ tròn ướt đẫm những giọt mưa, trong ánh sáng ấy, cậu mở gói giấy của Hatsue ra xem. Trong đó có một lá bùa của đền Yatsushiro, một tấm ảnh chụp Hatsue, và một lá thư. Trong thư viết:
“Từ nay, ngày nào em cũng sẽ ra đền Yatsushiro để cầu cho anh Shinji được bình an. Lòng em giờ đã là của anh rồi. Mong anh hãy trở về khỏe mạnh với em nhé. Tặng anh tấm ảnh của em, coi như em cũng được đi biển cùng anh. Ảnh này em chụp ở mũi Daio đấy. Chuyện lần này không thấy bố em nói gì cả, nhưng chắc ông đã có suy tính nên mới cố ý cho cả anh và Yasuo lên tàu của mình. Em cảm thấy có hy vọng rồi. Mong anh đừng đánh mất hy vọng, và hãy cố gắng lên, anh nhé.”
Lá thư tiếp thêm cho chàng trai dũng khí. Cậu cảm thấy cánh tay mình dồi dào sức mạnh, cơ thể mình căng tràn nhựa sống. Yasuo vẫn còn đang ngủ. Trong ánh sáng từ cửa sổ, Shinji ngắm nghía mãi bức ảnh thiếu nữ đứng tựa vào cây thông khổng lồ ở mũi Daio. Gió biển nghịch ngợm thổi tung vạt váy cô. Gió lùa vào trong chiếc váy trắng của mùa hè năm ngoái, ôm ấp, cuộn quanh làn da trần của cô. Nhớ lại kỷ niệm ngày nào mình cũng từng được làm như gió biển, chàng trai bỗng thấy mạnh mẽ thêm.
Tiếc nuối không nỡ cất ảnh đi, Shinji cứ ngắm mãi. Bỗng nhiên, trong bóng tấm ảnh được đặt trên mép ô cửa sổ tròn, từ phía bên phải, đảo Toshijima dần dần hiện ra, mờ mờ trong làn mưa. Lòng chàng trai lại xao động không yên. Niềm hy vọng cũng làm kẻ đang yêu phải đau lòng, bí ẩn ấy của tình yêu nay đã không còn lạ lẫm với Shinji nữa.
Khi họ đến cảng Toba thì mưa đã tạnh. Mây nứt ra, những tia nắng bạch kim nhợt nhạt rọi qua kẽ mây.
Ở cảng Toba chỉ toàn thuyền cá nhỏ neo đậu nên con tàu Utajimamaru trọng tải 185 tấn đặc biệt nổi bật. Ba người cùng nhảy sang boong tàu lấp lánh ánh mặt trời sau mưa. Những giọt mưa lăn trên cột buồm màu trắng, sáng long lanh. Chiếc cần trục uy nghiêm gập mình phía trên khoang chứa hàng.
Đám thuyền viên vẫn chưa trở về. Thuyền trưởng dẫn hai chàng trai vào cabin. Đó là căn phòng cạnh phòng thuyền trưởng, rộng khoảng tám chiếu, nằm ngay trên bếp và phòng ăn. Ngoài tủ chứa đồ và một khoảng lát ván có trải tấm chiếu mỏng ở chính giữa phòng, bên phải có hai bộ giường hai tầng, bên trái có một bộ giường hai tầng, và giường của máy trưởng. Trên trần có dán hai, ba tấm ảnh của các nữ diễn viên, trông như bùa hộ mệnh.
Shinji và Yasuo được xếp ngủ ở giường tầng bên phải. Trong phòng này, ngoài máy trưởng ra, còn có đại phó, phó hai, thủy thủ trưởng, thủy thủ, thợ máy, nhưng luôn phải có một hai người đi trực, nên số giường ngủ như vậy là đủ.
Thuyền trưởng dẫn hai người đi xem buồng lái, phòng thuyền trưởng, khoang chứa hàng, phòng ăn, sau đó bảo họ nghỉ ở cabin cho đến khi các thuyền viên trở về, rồi bỏ đi. Còn lại trong cabin, hai cậu chàng nhìn nhau. Yasuo thấy cô đơn nên lên tiếng giảng hòa:
“Thế là tao với mày sắp thành bạn đồng môn rồi. Trên đảo tuy đã xảy ra nhiều chuyện, nhưng từ nay anh em đoàn kết nhé.”
“Ừ."
Shinji đáp lại cụt lủn, rồi nhoẻn miệng cười.
Tầm xế chiều đám thuyền viên trở về. Phần lớn họ xuất thân từ đảo Utajima, nên đều quen mặt Shinji và Yasuo cả. Còn nồng nặc mùi rượu, họ trêu chọc lính mới, nhưng cũng tận tình giải thích cho hai người về nhiệm vụ hằng ngày và rất nhiều công việc khác trên tàu.
Ngày mai tàu sẽ nhổ neo lúc chín giờ sáng. Shinji được giao nhiệm vụ tháo đèn neo khỏi cột buồm vào lúc tờ mờ sáng.
Đèn neo giống như cửa chớp của nhà dân trên đất liền vậy, đèn tắt là dấu hiệu con tàu thức dậy. Tối hôm đó Shinji gần như không chớp mắt được, cậu trở dậy trước khi mặt trời ló rạng, đi tháo đèn neo khi trời vừa hứng sáng. Buổi sáng chìm trong màn mưa mù mịt. Đèn đường ở cảng kéo dài hai hàng đến tận ga Toba. Từ phía ga vọng lại tiếng còi tàu chở hàng u u.
Chàng trai leo lên cột buồm trần trụi với cánh buồm cuộn lại. Cây cột ướt lạnh ngắt, lắc lư theo đúng từng nhịp sóng khẽ vuốt ve mạn tàu. Trong ánh sáng đầu tiên của buổi bình minh chìm trong màn mưa bụi, chiếc đèn neo ướt màu trắng sữa. Chàng trai vươn một tay tới móc treo. Chiếc đèn neo chao qua đảo lại như không muốn bị tháo ra, ngọn lửa bập bùng bên trong chao thủy tinh ướt đẫm, mưa nhỏ từng giọt xuống khuôn mặt đang ngửa lên của cậu.
Shinji chợt nghĩ. Không biết lần tiếp theo mình tháo đèn neo sẽ là ở cảng nào.
Tàu Utajimamaru, hiện đang được hãng vận tải Yamagawa thuê dùng, chở gỗ đến Okinawa rồi quay về cảng Kobe trong khoảng một tháng rưỡi. Tàu đi qua eo biển Kii, ghé Kobe, đi về hướng Tây qua biển Setonai, rồi làm thủ tục kiểm dịch hải quan ở Moji. Tàu đi xuống phía Nam dọc theo bờ biển phía Đông của Kyushu, rồi được cấp giấy phép xuất cảng ở cảng Nichinan của tỉnh Miyazaki, nơi có văn phòng hải quan.
Ở phía Đông bán đảo Osumi nơi cực Nam quần đảo Kyushu, có một vịnh tên Shibushi. Cảng Fukushima hướng về phía vịnh này nằm ở ngoại ô tỉnh Miyazaki, tàu hỏa còn chưa đến ga tiếp theo thì đã đi qua ranh giới giữa tỉnh này với tỉnh Kagoshima rồi. Tàu Utajimamaru làm công việc bốc dỡ hàng ở cảng Fukushima. Nó chất 1.400 thạch[2] gỗ.
Sau khi ra khỏi Fukushima thì tàu được coi như tàu viễn dương. Từ đây đến Okinawa mất khoảng hai ngày đêm hoặc hai ngày đêm rưỡi.
... Những lúc không phải bốc hàng hay khi rảnh rỗi, đám thuyền viên thường nằm dài trên khoảng không gian rộng tầm ba chiếu có lót manh chiếu mảnh ở giữa cabin và nghe nhạc từ chiếc máy quay đĩa di động. Trên tàu chỉ có vài cái đĩa hát. Đĩa đa phần đều xước xát hết cả, kết hợp với chiếc kim gỉ cất lên những lời ca u sầu, bài nào cũng như bài nào, đều kết thúc trong nỗi niềm về bến cảng, đời thủy thủ, sương mù, ký ức về những người đàn bà, chòm sao Nam Thập Tự, rượu, hay những tiếng thở dài. Máy trưởng là người mù nhạc, mỗi chuyến đi biển ông đều cố gắng thuộc một bài hát, nhưng lúc nào cũng chỉ nhớ dang dở, đến chuyến đi biển tiếp theo lại quên sạch. Con tàu bỗng rung chuyển, kim trượt nghiêng, vạch lên đĩa một vết xước khác.
Tối đến, cả đám lại chìm vào những cuộc tranh luận lộn xộn đầy ngẫu hứng. Những chủ đề như “tình yêu và tình bạn”, “tình yêu và hôn nhân”, “Có thể truyền một lượng đường ngang với khi truyền muối không” cũng đủ giết thời gian vài tiếng. Rốt cuộc, kẻ nào cứng đầu cãi đến cùng thì thắng. Tài tranh luận sắc bén của Yasuo vốn giữ chức hội trưởng hội thanh niên trên đảo đã làm các đàn anh phải nể phục. Còn Shinji thì chỉ im lặng ngồi bó gối, mỉm cười lắng nghe ý kiến của mọi người. Có lần máy trưởng đã nói với thuyền trưởng rằng thằng bé hẳn là ngốc nghếch.
Cuộc sống trên tàu rất bận rộn, vô số việc vặt đều dồn cho lính mới cả, sáng bánh mắt đã bị bắt lau dọn boong tàu. Sự lười nhác của Yasuo dần dần trở nên chướng tai gai mắt. Hắn tỏ thái độ rằng chỉ cần làm cho có lẽ là được.
Shinji đã che đậy cho Yasuo, còn làm thay cả việc cho hắn nên mới đầu thái độ của hắn chưa bị lộ ngay. Nhưng, một buổi sáng nọ, Yasuo lấy lý do đi vệ sinh để trốn việc lau dọn boong tàu rồi vào cabin vạ vật làm biếng, thủy thủ trưởng bắt gặp nên đã nổi giận mắng cho hắn một trận. Hắn bèn xấc xược cãi lại:
“Đằng nào khi về đảo tôi cũng sang làm rể ông Teru. Đến khi đó thì con tàu này cũng thành tàu của tôi.”
Thủy thủ trưởng tức điên lên, nhưng anh ta nghĩ biết đâu chuyện lại thành thật, nên từ lần đó không mắng thẳng mặt Yasuo nữa mà đi nhỏ to với đồng sự trên tàu về lời đáp của tên lính mới ngang ngược này. Cuối cùng, kẻ gặp bất lợi chính là Yasuo chứ chẳng phải ai khác.
Shinji bận cả ngày nên không có lúc nào rảnh rang ngắm ảnh Hatsue, trừ vài phút ngắn ngủi trước khi ngủ hoặc lúc cậu đi trực. Ngoài cậu không có ai khác nhìn thấy bức ảnh. Một hôm, Yasuo khoác lác đem chuyện sẽ được làm rể nhà Hatsue ra khoe, nên Shinji đã trả thù bằng một ngón đòn hiểm hóc khác thường. Câu hỏi xem hắn có ảnh của Hatsue không.
“À, có.”
Yasuo trả lời ngay lập tức. Shinji biết tỏng là hắn bốc phét. Lòng cậu ngập tràn hạnh phúc. Một lúc sau, Yasuo giả bộ vô tư hỏi:
“Mày có không?”
“Có gì?”
“Ảnh của Hatsue ấy.”
“Không. Không có.”
Đây có lẽ là lời nói dối đầu đời của Shinji.
Tàu Utajimamaru đã đến Naha. Sau khi xong thủ tục kiểm dịch ở hải quan, tàu vào cảng, rồi dỡ hàng. Tàu buộc phải neo đậu ở đây hai, ba ngày. Rất khó xin được giấy phép để vòng sang cảng Unten - vốn là cảng bị hạn chế - nơi tàu sẽ chất sắt vụn rồi chở về nội địa. Unten nằm ở phía Bắc của đảo Okinawa, và là điểm đổ bộ đầu tiên của quân Mỹ trong chiến tranh.
Thuyền viên bình thường không được phép lên bờ nên mỗi ngày họ chỉ biết từ boong tàu ngắm núi trọc trên hòn đảo hoang liêu. Cây cối trên đảo đã bị quân Mỹ đốt trụi trong thời gian chiếm đóng vì sợ còn sót lại bom đạn chưa phát nổ.
Tuy chiến tranh Triều Tiên đã tạm kết thúc, nhưng quang cảnh hòn đảo vẫn mang một bầu không khí dị thường. Máy bay chiến đấu tập trận gầm rú suốt từ sáng đến tối, trên con đường bê tông lớn chạy dọc cảng, vô số ô tô chạy xuôi ngược, lấp lánh dưới ánh nắng mùa hè cận nhiệt đới. Có xe chở khách, xe tải, và cả xe quân sự. Bên đường, những ngôi nhà xây vội của quân nhân Mỹ ánh lên màu nhựa bitum bóng bẩy, còn nhà dân bản địa thì đổ nát, mái tôn vá víu nham nhở, tạo ra những chấm phá xấu xí trên bức tranh phong cảnh.
Người duy nhất lên đảo, đến chỗ nhà thầu phụ của hãng vận tải Yamakawa để gọi đại lý, là đại phó của tàu.
Cuối cùng họ cũng xin được giấy phép vào Unten. Tàu Utajimamaru tiến vào cảng Unten, bốc xếp sắt vụn. Vừa xong thì họ nhận được thông báo Okinawa nằm trong tầm tấn công của một cơn bão sắp đổ bộ. Ngay sáng hôm sau, tàu rời cảng, hòng ra khơi càng sớm càng tốt và thoát khỏi vùng ảnh hưởng của bão. Sau đó chỉ cần nhắm thẳng hướng nội địa mà tiến.
Buổi sáng, trời mưa nhỏ. Biển động, gió thổi theo hướng Tây Nam.
Những ngọn núi phía sau chẳng mấy chốc đã mất hút, tàu Utajimamaru chạy theo la bàn suốt sáu tiếng đồng hồ trong tầm nhìn rất hẹp. Phong vũ biểu giảm dần. Sóng càng lúc càng dâng cao, khí áp xuống thấp một cách bất thường.
Thuyền trưởng quyết định quay lại Unten. Gió xé tan màn mưa, tầm nhìn phía trước mặt mà không rõ, chặng đường sáu tiếng quay về cảng thật gian nan. Cuối cùng, những ngọn núi của Unten cũng hiện ra. Thủy thủ trưởng biết rõ địa hình nơi này nên đứng canh ở mũi tàu. Khu vực hai dặm xung quanh cảng được bao bọc bởi rạn san hô, để đi qua những đoạn ranh giới không hề có phao chỉ dẫn thật khó trăm bề.
"Stop!... Go!... Stop!... Go!"[3]
Tàu Utajimamaru phải dừng lại nhiều lần, giảm tốc độ để đi vào đoạn đường ranh giới giữa các rạn san hô. Lúc này là sáu giờ chiều.
Trong rạn san hô có một tàu đánh bắt cá ngừ đang lánh nạn. Quấn thật nhiều dây thừng để nối hai mạn tàu với nhau, Utajimamaru cùng tàu kia tiến vào cảng Unten. Sóng trong cảng không cao, nhưng gió lại dữ dội hơn. Hai con tàu sóng đôi bên nhau, mỗi mũi tàu được buộc với một chiếc phao rộng khoảng ba chiếu trong cảng bằng hai dây thừng và hai dây cáp, sẵn sàng chống chọi với gió bão.
Tàu Utajimamaru không có thiết bị vô tuyến, chỉ dựa vào la bàn để điều hướng. Vì vậy, người phụ trách thiết bị vô tuyến của tàu đánh bắt cá ngừ đã chuyển mọi thông tin về diễn tiến và hướng đi của bão tới buồng lái của tàu Utajimamaru.
Tối đến, tàu đánh bắt cá ngừ cử nhóm bốn người, còn tàu Utajimamaru cử nhóm ba người ra trực. Nhiệm vụ của họ là quan sát các dây thừng và dây cáp, vì không có gì đảm bảo dây sẽ không bị đứt.
Ngay cả đối với chiếc phao kia, họ cũng lo không biết liệu nó có trụ nổi không. Tuy nhiên, nỗi lo sợ dây thừng bị đứt lớn hơn rất nhiều. Những người trực ca đã phải nhiều lần mạo hiểm chống chọi với sóng gió dữ dội để giữ cho dây thừng ướt đẫm nước biển, vì nếu để khô thì dây sẽ có nguy cơ bị mòn nhanh và đứt.
Chín giờ tối. Hai con tàu bị vây hãm bởi cơn bão với tốc độ gió 90 kilômétgiờ.
Trực ca từ 11 giờ tối gồm ba người Shinji, Yasuo, và một thủy thủ trẻ. Ba người bị gió xô đập vào tường trong khi bò lên boong. Gió quật nước mưa tới tấp vào má họ rát buốt như kim châm.
Họ không thể đứng nổi trên boong. Boong tàu sừng sững trước mắt như một bức tường, cả con tàu rung lên kẽo kẹt. Sóng trong cảng không cao đến mức quét qua boong, nhưng bụi sóng bị gió đánh lên tung tóe tạo thành một màn sương cuồn cuộn che khuất hết tầm nhìn. Ba người bò mãi, cuối cùng cũng đến được chỗ cọc bích trên mũi tàu, rồi bám vào đó. Cọc bích này được nối với chiếc phao trong cảng bằng hai sợi dây thừng và hai sợi dây cáp.
Trong đêm tối, chiếc phao hiện ra mờ mờ ở phía trước tàu 20 mét. Màu trắng của nó chỉ vừa đủ để xác định vị trí giữa biển trời tối đen như mực. Chưa kể, mỗi khi một luồng gió khổng lồ ập tới, cùng với tiếng kẽo kẹt nghe như tiếng kêu gào ai oán của dây cáp, con tàu bị nhấc bổng lên cao, và chiếc phao chìm sâu vào bóng tối, trở thành đốm trắng nhỏ xíu.
Ba người bám chặt vào cọc bích, nhìn nhau không thốt nên lời. Nước biển tạt vào mặt tới tấp khiến họ gần như không mở nổi mắt. Tiếng gió hú, tiếng biển gầm, lạ thay, mang đến cho họ sự bình yên điên rồ trong màn đêm vô tận bao trùm.
Nhiệm vụ của họ là trông chừng dây buộc tàu. Những chiếc dây thừng và dây cáp căng mình nối phao với tàu Utajimamaru. Trong khi mọi thứ đều rung chuyển trong cơn gió cuồng loạn, chỉ có mớ dây ấy vẫn vạch ra những đường thẳng vững chãi. Nhìn chằm chằm vào những sợi dây, trong lòng họ hình thành một cảm giác giống như niềm tin sinh ra từ sự tập trung trong tâm.
Có lúc tưởng như gió dừng hẳn. Nhưng khoảnh khắc ấy, ngược lại, khiến cả ba rùng mình kinh hãi. Ngay lập tức, một luồng gió khổng lồ sẽ lại ập tới làm những trục căng buồm rung bần bật, đẩy cả không khí ra xa với tiếng gầm dữ dội.
Ba người lặng im quan sát dây buộc tàu. Trong tiếng gió, họ vẫn nghe thấy tiếng kẽo kẹt sắc lạnh, chói tai phát ra từ những chiếc dây thừng.
“Nhìn này!”
Yasuo ré lên. Một sợi dây cáp phát ra tiếng kèn kẹt chẳng lành, có vẻ đầu dây được quấn vào cột bích hơi trượt đi. Ba người chứng kiến sự thay đổi rất nhỏ nhưng hung hiểm trên cột bích ngay trước mắt mình. Đúng lúc đó, từ trong bóng tối, sợi dây cáp bật ngược về, lóe lên như một chiếc roi, đập mạnh vào cột bích với âm thanh rên xiết.
Nhờ kịp thời nằm thụp xuống trong gang tấc nên cả ba đã không bị sợi dây cáp đứt đập vào người. Nếu bị nó quật trúng thì hẳn là nát thịt. Sợi dây cáp rít lên một tiếng cao vót, quằn quại trong bóng tối trên boong tàu như một sinh vật giãy chết, vẽ thành hình bán nguyệt rồi lịm hẳn.
Chứng kiến cảnh tượng đó, cả ba người sợ xanh mặt. Một trong bốn sợi dây buộc tàu đã bị đứt. Chẳng biết một sợi dây cáp và hai sợi dây thừng còn lại sẽ trụ được đến bao giờ.
“Phải báo thuyền trưởng thôi!”
Yasuo nói vậy và rời khỏi cột bích. Cố bám vào những thứ xung quanh, mấy lần ngã dúi dụi, cuối cùng Yasuo cũng dò dẫm đến được buồng lái và báo cáo sự việc với thuyền trưởng. Ông thuyền trưởng to lớn vẫn bình tĩnh. Ít nhất là trông ông có vẻ như vậy.
“Thế à. Thế thì phải dùng đến dây cứu sinh thôi. Nghe nói bão sẽ mạnh nhất vào lúc một giờ sáng nên bây giờ dùng sẵn dây cứu sinh là tốt nhất. Đứa nào bơi ra chỗ cái phao để buộc dây cứu sinh vào đi.”
Thuyền trưởng bàn giao buồng lái cho phó hai, rồi cùng đại phó đi theo Yasuo đến hiện trường. Họ mang theo dây cứu sinh và dây thừng nhỏ mới, vừa lăn vừa kéo dần từ buồng lái đến cột bích trên mũi thuyền, trông như chuột kéo bánh dày.
Shinji và Yasuo nhìn lên dò hỏi.
Thuyền trưởng khom người, hét lớn:
“Có đứa nào mang được dây cứu sinh sang buộc vào cái phao đằng kia không?”
Tiếng gió gào thét bao trùm sự im lặng của cả bốn người.
“Không có đứa nào à. Một lũ chết nhát!”
Thuyền trưởng lại hét lên. Yasuo rụt cổ, môi run rẩy. Shinji hét trả với giọng sảng khoái và dõng dạc. Hàm răng trắng rất đẹp nổi lên trong bóng tối cho thấy cậu đang cười.
“Để cháu làm cho.”
“Tốt. Làm ngay đi."
Shinji đứng lên. Cậu xấu hổ vì từ nãy đến giờ đã khuyu người vì sợ. Từ sâu thẳm đêm tối, gió ập đến quật thẳng vào người cậu, nhưng đối với một người đã quen mưu sinh trên biển vào những ngày trời động, boong tàu tròng tránh nơi đôi chân cậu đang vững vàng giảm lên cũng chỉ giống như mặt đất có lúc mấp mô.
Cậu dỏng tai nghe ngóng. Bão đang ở ngay trên mái đầu anh dũng. Không chỉ giấc trưa êm đềm của thiên nhiên, mà ngay cả bữa tiệc điên cuồng này, cậu cũng đủ tư cách được mời tham dự.
Mồ hôi chảy đầm đìa bên trong tấm áo mưa, ướt đẫm cả lưng và ngực nên cậu cởi phăng áo mưa ra. Dáng hình chàng trai chân trần, mặc chiếc áo sơ mi trắng cổ tròn hiện lờ mờ trong đêm tối bão bùng.
Thuyền trưởng chỉ huy bốn người buộc một đầu dây cứu sinh vào một bích, đầu kia buộc vào dây thừng nhỏ. Họ làm mãi không xong vì bị gió cản trở.
Khi dây đã buộc xong, thuyền trưởng đưa một đầu dây thừng nhỏ cho Shinji rồi hét vào tai cậu:
“Quấn cái này vào người rồi bơi đi. Đến chỗ cái phao thì kéo dây cứu sinh về phía mình rồi buộc vào đó.”
Shinji quấn hai vòng dây thừng vào phần hông phía trên thắt lưng. Cậu đứng ở mũi thuyền, nhìn chăm chăm xuống biển. Dưới những ngọn sóng đập vào mũi thuyền vỡ tan và lớp bụi nước văng tung tóe, là những con sóng đen ngòm không nhìn thấy được đang cuộn mình quằn quại. Chúng cứ lặp đi lặp lại những chuyển động bất ổn, chứa chấp một tâm tính thất thường hỗn loạn và nguy hiểm. Có lúc tưởng như chúng sắp ập đến ngay trước mắt, thì chúng lại chìm xuống sâu, tạo thành những hồ nước xoáy không thấy đáy.
Shinji vụt nhớ tới tấm ảnh của Hatsue mà cậu giấu ở túi trong của chiếc áo khoác treo trong cabin. Thế nhưng suy nghĩ vẩn vơ ấy đã bị gió thổi bay trong chớp mắt. Cậu bật nhảy khỏi boong, lao xuống biển.
Khoảng cách từ đó đến phao là 20 mét. Dù Shinji tự tin tay mình khỏe không thua kém ai, có thể bơi được tới năm vòng quanh đảo Utajima, nhưng dường như những điều ấy vẫn chưa đủ để cậu khẳng định mình có thể bơi hết 20 mét này.
Một lực khủng khiếp đè lên đôi cánh tay chàng trai. Đôi tay đang cố gắng rẽ sóng của cậu như bị một chiếc gậy vô hình giáng xuống. Cơ thể cậu trôi đi một cách vô thức. Cứ ngỡ mình và sóng đang vật lộn nhau ngang sức, nhưng hóa ra cậu chỉ đang phí sức, cứ như sa chân vào vũng dầu. Tin rằng đã đến được chỗ có thể chạm tay vào chiếc phao, Shinji ngước mắt lên từ giữa những làn sóng, nhưng cậu chỉ nhìn thấy mục tiêu vẫn xa như cũ.
Cậu dồn hết sức bình sinh để bơi. Thế rồi từng chút một, những con sóng khổng lồ dần rút lui, mở ra một con đường, giống như tảng đá lớn đang bị mũi khoan xuyên vào.
Khi vừa chạm được vào phao, cậu trượt tay và bị đẩy ngược trở lại. Nhưng may mắn thay, vừa lúc đó một con sóng ập tới, khi sắp sửa xô cậu đập cả ngực vào phao thì nó lại nâng bổng cậu lên, và liền một nhịp, nhấc cậu lên trên cái phao. Cậu hít thở một hơi thật sâu. Gió tràn vào cả mũi và miệng. Khoảnh khắc ấy, cậu tưởng mình đã ngạt thở, đến nỗi quên bẵng cả nhiệm vụ phải thực hiện sau đó.
Chiếc phao tròng tránh dữ dội trong biển tối đen. Sóng liên tục tràn qua một nửa phao rồi lại ào ào rút xuống. Shinji nằm áp người xuống để không bị gió thổi ngã khỏi phao. Cậu bắt đầu tháo dây trên người. Nút buộc bị ướt nên rất khó tháo.
Tháo được dây rồi thì cậu bắt đầu kéo. Lúc này cậu mới ngước mặt lên nhìn về phía tàu. Trên mũi tàu, bốn người đứng chụm vào nhau. Nhóm người trực ca bên tàu đánh bắt cá ngừ cũng đang chăm chú quan sát cậu. Chỉ cách có 20 mét thôi mà trông thật xa quá. Hai hình bóng màu đen của đôi tàu được buộc vào nhau cứ cùng nổi lên cao, rồi lại cùng chìm xuống thấp.
Sức cản của gió đối với dây thừng nhỏ không đáng kể, nên Shinji kéo nó khá dễ dàng, nhưng đột nhiên phía trước gia tăng trọng lượng, sợi dây cứu sinh có đường kính 12 xentimét được kéo đến. Cậu suýt ngã sấp xuống biển.
Sức cản của gió đối với dây cứu sinh rất lớn. Chất vật mãi cậu mới nắm được một đầu dây. Dây dày đến mức bàn tay to bè, rắn chắc của cậu cũng nắm không trọn.
Shinji lúng túng không biết dồn sức vào đâu. Cậu định đúng vươn thẳng người lên mà kéo nhưng gió không để yên cho cậu làm như thế. Nếu lỡ dồn hết sức vào cái dây cứu sinh thì dễ bị nó kéo tuột xuống biển chứ chẳng chơi. Cơ thể ướt sũng của cậu nóng bừng, mặt cậu nóng ran, mạch thái dương đập dồn dập.
Khi Shinji quấn được một vòng dây cứu sinh vào cái phao thì công việc trở nên nhẹ nhàng hơn hẳn. Phần dây đã quấn trở thành điểm tựa lực, giờ đây cậu đã có thể tựa người vào cái dây dày.
Cậu quấn vòng thứ hai, bình tĩnh thắt chặt nút dây, rồi giơ tay lên vẫy báo hiệu thành công.
Nhìn thấy rõ bốn người trên mũi thuyền vẫy tay đáp lại, chàng trai quên hết mệt mỏi. Bản năng vui vẻ phục hồi, khí lực vừa cạn kiệt lại trào dâng trong người Shinji. Đối diện với cơn bão, cậu hít một hơi sâu khoan khoái, rồi lao xuống biển bơi về.
Từ trên boong tàu, họ thả dây thừng xuống để giúp Shinji. Khi cậu leo lên đến boong, thuyền trưởng vỗ vào vai cậu bằng bàn tay to bè. Khí lực nam nhi trong Shinji đã vực cậu qua com mệt nhọc đến mức muốn ngất đi.
Thuyền trưởng ra lệnh cho Yasuo dìu Shinji vào cabin. Các thuyền viên không phải trực xúm lại lau người cho cậu. Vừa đặt lưng xuống giường, cậu chìm ngay vào giấc ngủ. Gió bão có thét gào ồn ào đến mấy cũng không thể ngăn cậu ngủ say sưa.
... Sáng hôm sau, khi Shinji mở mắt, ánh nắng rực rỡ đã chiếu xuống ngay bên gối. Qua ô cửa sổ tròn cạnh giường ngủ, cậu ngắm nhìn bầu trời xanh trong vắt sau cơn bão, những ngọn núi trọc dưới ánh mặt trời cận nhiệt đới, và mặt biển lấp lánh hiền hòa như chưa hề có trận phong ba.
❀ ❀ ❀
[1] Một tông phái Phật giáo Trung Quốc, còn gọi là Thiên Thai tông.
[2] Đơn vị đo thể tích. (1 thạch = 0,278 m3).
[3] “Ngừng!... Đi!... Ngừng!... Đi!"