Tu Sĩ: Một Bản Tình Ca Kỳ Ảo

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Fòrse sé tu gustassi una sòl volta

La millésima parte délle giòje,

Ché gusta un còr amato riamando,

Diresti ripentita sospirando,

Perduto è tutto il tempo

Ché in amar non si spènde.

TASSO.

Hadst Thou but tasted once the thousandth part

Of joys, which bless the loved and loving heart,

Your words repentant and your sighs would prove,

Lost is the time which is not past in love.

Các tu sĩ tiễn vị Viện phụ ra đến cửa tu phòng, và ngài ban ơn cho họ với một vẻ tự đắc thầm kín, nơi mà lớp vỏ khiêm nhường trà trộn cùng bản chất kiêu ngạo thực sự.

Vừa một mình một bóng, ngài liền thả hồn đắm chìm trong sự tự mãn. Nhớ lại vẻ cuồng nhiệt mà bài giảng của mình vừa khơi gợi, lòng ngài phồng rộp niềm sung sướng, và trí tưởng tượng vẽ ra trước mắt ngài những viễn cảnh huy hoàng về sự thăng hoa quyền thế. Ngài đảo mắt nhìn quanh với vẻ hoan hỉ, và sự Kiêu ngạo thì thầm lớn tiếng rằng ngài vượt trội hơn tất cả những sinh linh đồng loại.

“Ai cơ chứ,” ngài thầm nghĩ; “Ngoại trừ ta ra, còn ai đã vượt qua được ngọn lửa thử thách của tuổi trẻ mà trên lương tâm không hề vướng một vết nhơ? Ai khác đã khuất phục được bạo lực của những dục vọng mãnh liệt cùng một tính khí bốc đồng, lại còn tự nguyện giam mình trong chốn ẩn dật từ buổi rạng đông của cuộc đời? Ta có tìm kiếm một con người như thế cũng bằng thừa. Ta chẳng thấy ai ngoài chính mình sở hữu nghị lực nhường ấy. Tôn giáo không thể kiêu hãnh vì có kẻ nào sánh kịp Ambrosio! Bài giảng của ta đã tạo ra một hiệu ứng mạnh mẽ làm sao! Họ đã xúm xít quanh ta biết bao! Họ đã chất đầy trên vai ta những lời ban phước, và tôn vinh ta là Cột trụ duy nhất còn tinh nguyên của Giáo hội! Vậy bây giờ ta còn phải làm gì nữa? Chẳng có gì hết, ngoài việc canh gác hạnh kiểm của các huynh đệ cẩn trọng y như ta vẫn canh gác hạnh kiểm của chính mình cho đến nay. Mà khoan đã! Liệu ta có bị cám dỗ rời bỏ những con đường mà cho đến lúc này ta vẫn dấn bước mà chưa từng lầm lạc lấy một khoảnh khắc không? Ta chẳng lẽ không phải là một con người, với bản tính mỏng manh và dễ vướng vào lầm lỗi đó sao? Giờ đây ta buộc phải từ bỏ chốn ẩn cư quạnh hiu này; Những phu nhân kiều diễm và quý phái nhất thành Madrid cứ liên tục đến tu viện, và họ sẽ chẳng chịu nhận vị cha xứ nào khác ngoài ta.

Ta phải tập cho đôi mắt mình quen với những Đối tượng cám dỗ, và phơi bày bản thân trước sự quyến rũ của nhục dục cùng ham muốn. Giả như trong cái thế giới mà ta buộc phải bước chân vào ấy, ta gặp được một Nữ nhân khả ái nào đó, khả ái... tựa như bức Tranh Thánh kia....!”

Vừa nói, ngài vừa đăm đăm nhìn vào bức họa Đức Mẹ treo đối diện. Suốt hai năm qua, bức tranh này là Đối tượng khiến lòng sùng kính và sự kinh ngạc của ngài ngày một dâng cao. Ngài khựng lại, ngắm nhìn nó với vẻ ngây ngất.

“Nét đẹp dường nào trên gương mặt ấy!” ngài tiếp lời sau vài phút im lặng; “Đường cong của chiếc cổ ấy mới duyên dáng làm sao! Sự ngọt ngào nhưng lại vô cùng uy nghi trong đôi mắt thần thánh ấy làm sao! Chiếc má ấy tựa nhẹ vào bàn tay dịu dàng nhường nào! Hoa hồng có thể đọ lại sắc hồng của gò má đó chăng? Hoa huệ có thể tranh tài trắng muốt với bàn tay đó chăng? Ồ! Giá mà một Tạo vật như thế có thật, và tồn tại chỉ vì riêng ta! Giá mà ta được phép luồn những ngón tay mình qua mái tóc xoăn vàng óng ả ấy, và dùng đôi môi ép lên những kho báu của bầu ngực trắng như tuyết kia! Lạy Chúa từ bi, liệu khi ấy ta có cưỡng lại nổi sự cám dỗ không? Liệu ta có đánh đổi phần thưởng cho ba mươi năm khổ hạnh của mình lấy một cái ôm duy nhất không? Liệu ta có ruồng bỏ.... Đồ ngốc nghếch là ta! Ta đang để sự tán thán bức tranh này cuốn mình đi đến đâu thế này? Biến đi, những ý nghĩ ô trược! Hãy nhớ rằng phụ nữ đã vĩnh viễn mất đi đối với ta. Chưa từng có một phàm nhân nào được tạo tác hoàn mỹ như bức tranh này. Nhưng dẫu cho một kẻ như thế có tồn tại đi nữa, thử thách ấy cũng có thể quá sức chịu đựng đối với một đức hạnh tầm thường, thế nhưng đức hạnh của Ambrosio là thứ miễn nhiễm trước mọi cám dỗ. Cám dỗ, ta vừa nói gì cơ? Đối với ta thì nó chẳng là gì sạt. Thứ làm ta say đắm khi hãy còn là lý tưởng và được xem như một Thực thể siêu việt, sẽ khiến ta ghê tởm nếu biến thành đàn bà và bị vấy bẩn bởi mọi thói hư tật xấu của Phàm trần. Không phải nhan sắc của người phụ nữ đã lấp đầy ta bằng sự cuồng nhiệt nhường ấy; Mà chính là tài nghệ của người họa sĩ khiến ta thán phục, chính là Đấng Thiêng Liêng mà ta cung kính! Chẳng phải những dục vọng trong ngực ta đã chết rồi sao? Chẳng phải ta đã tự giải phóng mình khỏi sự yếu đuối của Nhân loại đó sao? Đừng sợ, Ambrosio! Hãy đặt trọn niềm tin vào sức mạnh đức hạnh của chính mình. Hãy hiên ngang bước vào một thế giới mà những lầm lỗi của nó bị bạn đặt lên trên; Hãy tự nhủ rằng giờ đây bạn đã được miễn trừ khỏi các khiếm khuyết của Nhân tính, và thách thức mọi mưu mô của các Tinh linh Bóng tối. Chúng sẽ phải nhận ra bạn là ai!”

Đến đây, dòng tưởng tượng của ngài bị cắt đứt bởi ba tiếng gõ nhẹ cửa tu phòng. Phải chật vật lắm vị Viện phụ mới dứt ra khỏi cơn mê sảng. Tiếng gõ lại vang lên.

“Ai ngoài đó thế?” Ambrosio cất lời.

“Chỉ là Rosario thôi ạ,” một giọng nói dịu dàng đáp lại.

“Vào đi! Vào đi, con trai của ta!”

Cánh cửa lập tức mở ra, và Rosario xuất hiện với một chiếc giỏ nhỏ trên tay.

Rosario là một tiểu tu sĩ trẻ tuổi thuộc tu viện này, người mà ba tháng nữa dự định sẽ tuyên khấn trọn đời. Một vẻ huyền bí nào đó bao bọc lấy thiếu niên này, khiến em vừa là đối tượng gây hứng thú vừa gợi sự tò mò. Sự chán ghét xã hội, nỗi sầu muộn thâm trầm, việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc dòng tu, cùng sự tự nguyện cách ly khỏi thế gian ở độ tuổi quá đỗi bất thường của em đã thu hút sự chú ý của toàn thể tu sĩ đoàn. Em có vẻ sợ hãi việc bị nhận diện, và chưa từng có ai nhìn thấy gương mặt em. Đầu em lúc nào cũng trùm kín trong chiếc mũ trùm đầu; Thế nhưng những nét trên khuôn mặt em vô tình lộ ra lại tỏ ra vô cùng đẹp đẽ và cao quý. Rosario là cái tên duy nhất mà người ta biết về em trong tu viện.

Chẳng ai biết em đến từ đâu, và khi bị gặng hỏi về vấn đề này, em vẫn giữ một sự im lặng tuyệt đối. Một người lạ mặt, với trang phục giàu sang và đoàn tùy tùng tráng lệ cho thấy ông ta thuộc hàng quý tộc hiển hách, đã thuê các tu sĩ nhận một tiểu tu sĩ tập sự, và đã gửi gắm những khoản tiền cần thiết. Ngày hôm sau, ông ta quay lại cùng Rosario, và từ đó trở đi chẳng ai còn nghe tin gì về ông ta nữa.

Chàng thanh niên đã cẩn trọng tránh né sự giao thiệp với các tu sĩ: Em đáp lại sự lịch thiệp của họ bằng vẻ ngọt ngào nhưng dè dặt, và qua đó thể hiện rõ khuynh hướng ưa thích sự cô độc của mình. Ngoại lệ duy nhất đối với quy tắc chung này chính là vị Bề trên. Em ngước nhìn ngài với sự kính trọng tựa như tôn sùng; Em tìm kiếm sự đồng hành của ngài với sự chu đáo tận tụy nhất, và háo hức nắm bắt mọi phương tiện để lấy lòng ngài. Khi ở cạnh vị Viện phụ, trái tim em dường như được thảnh thơi, và một bầu không khí vui tươi bao trùm toàn bộ phong thái lẫn lời nói của em. Về phần mình, Ambrosio cũng cảm thấy sự thu hút không kém đối với thiếu niên ấy; Chỉ duy nhất bên cạnh em, ngài mới gạt bỏ đi vẻ nghiêm khắc thường ngày. Khi nói chuyện với em, ngài vô thức cất lên giọng điệu dịu dàng hơn bình thường; và chẳng có giọng nói nào lọt vào tai ngài êm ái cho bằng giọng của Rosario. Ngài báo đáp sự quan tâm của thiếu niên ấy bằng cách dạy em nhiều khoa học khác nhau; Tiểu tu sĩ đón nhận các bài học của ngài với sự ngoan ngoãn; Ambrosio ngày càng mê mẩn trước sự hoạt bát trong trí tuệ, sự mộc mạc trong phong thái, và sự chính trực trong tâm hồn của em; Tóm lại, ngài yêu thương em bằng tất cả tình cảm của một người cha. Đôi khi ngài không thể kìm nén được mong ước thầm kín là được nhìn ngắm gương mặt của học trò mình; Nhưng quy tắc tự khắt khe với bản thân đã mở rộng đến cả sự tò mò, ngăn cản ngài thổ lộ mong muốn ấy với thiếu niên.

“Xin ngài tha thứ cho sự mạo muội của con, thưa Cha,” Rosario vừa nói vừa đặt chiếc giỏ lên bàn; “Con đến gặp ngài như một kẻ khẩn cầu. Nghe tin một người bạn thân đang lâm bệnh nặng, con tha thiết xin ngài ban lời cầu nguyện cho anh ấy được bình phục. Nếu những lời khẩn nài có thể lay động Thiên đàng tha mạng cho anh ấy, thì chắc chắn những lời của ngài sẽ vô cùng linh nghiệm.”

“Bất cứ điều gì phụ thuộc vào ta, con trai ta, con đều biết là mình có thể sai bảo. Bạn con tên là gì?”

“Vincentio della Ronda.”

“Được rồi. Ta sẽ không quên anh ta trong lời cầu nguyện của mình, và mong rằng Thánh Phanxicô ba lần diễm phúc của chúng ta rủ lòng lắng nghe lời chuyển cầu của ta!—Trong giỏ của con có gì thế, Rosario?”

“Chỉ là một vài bông hoa mà con thấy là ngài thích nhất thôi, thưa Cha kính yêu. Ngài có cho phép con cắm chúng trong phòng mình không?”

“Sự chu đáo của con làm ta say đắm, con trai ạ.”

Trong khi Rosario phân loại những thứ trong giỏ vào các bình hoa nhỏ được đặt sẵn cho mục đích ấy ở nhiều góc phòng, vị Viện phụ tiếp tục câu chuyện.

“Ta không thấy con ở nhà thờ chiều nay, Rosario.”

“Nhưng con có đến mà, thưa Cha. Con mang ơn sự bảo bọc của ngài quá lớn nên không thể bỏ lỡ cơ hội được chứng kiến Khải hoàn của ngài.”

“Hỡi ôi! Rosario, ta có mấy lý do để mà khải hoàn đâu: Vị Thánh đã cất lời qua miệng ta; Mọi công trạng đều thuộc về ngài. Xem ra con hài lòng với bài giảng của ta nhỉ?”

“Hài lòng, ngài nói vậy sao? Ồ! Ngài đã tự vượt qua chính mình! Chưa bao giờ con được nghe thứ hùng biện nào nhường ấy... ngoại trừ một lần!”

Đến đây, tiểu tu sĩ bất giác thở dài.

“Lần đó là khi nào?” vị Viện phụ hỏi.

“Khi ngài giảng về cơn bạo bệnh đột ngột của cố Viện phụ chúng ta.”

“Ta nhớ chứ: Chuyện đó xảy ra hơn hai năm trước rồi. Và con có mặt ở đó sao? Lúc bấy giờ ta đâu có biết con, Rosario.”

“Đúng vậy, thưa Cha; Và ngài ơn trên cho con được chết quách đi, còn hơn là phải chứng kiến ngày hôm ấy! Biết bao đau khổ, biết bao sầu muộn con đã có thể tránh được!”

“Đau khổ ở độ tuổi của con ư, Rosario?”

“Vâng, thưa Cha; Những đau khổ mà nếu ngài biết được, chúng sẽ vừa khơi gợi sự phẫn nộ lẫn lòng trắc ẩn trong ngài! Những đau khổ vừa là niềm hoạn nạn vừa là niềm vui trong sự tồn tại của con! Thế nhưng trong chốn ẩn cư này, ngực con đã có thể bình yên, nếu không vì những nỗi dằn vặt của sự sợ hãi. Lạy Chúa! Lạy Chúa! Cuộc đời sống trong sợ hãi mới tàn nhẫn làm sao!—Thưa Cha! Con đã từ bỏ tất cả; Con đã ruồng bỏ thế gian cùng những hoan lạc của nó mãi mãi: Chẳng còn gì sót lại, chẳng còn điều gì có thể làm con say đắm nữa, ngoại trừ tình bạn của ngài, ngoại trừ tình cảm của ngài. Nếu con đánh mất điều đó, thưa Cha! Ôi! Nếu con đánh mất nó, hãy run sợ trước những hậu quả từ sự tuyệt vọng của con!”

“Con đang sợ mất đi tình bạn của ta ư? Hạnh kiểm của ta đã làm sao để minh chứng cho nỗi sợ này? Hãy hiểu ta hơn đi, Rosario, và xem ta xứng đáng với sự tín nhiệm của con. Nỗi đau khổ của con là gì? Hãy thổ lộ chúng cho ta, và hãy tin rằng nếu nằm trong khả năng của ta để xoa dịu....”

“A! Chẳng nằm trong khả năng của bất kỳ ai ngoài ngài đâu. Thế nhưng con không thể để ngài biết chúng. Ngài sẽ căm ghét con vì lời thú nhận ấy! Ngài sẽ đuổi con khỏi sự hiện diện của mình với vẻ khinh miệt và hổ nhục!”

“Con trai ta, ta khẩn nài con! Ta tha thiết xin con!”

“Vì lòng trắc ẩn, xin đừng gặng hỏi thêm nữa! Con không được phép... con không dám... Nghe kìa! Chuông điểm giờ Kinh Chiều rồi! Thưa Cha, xin ban phép lành cho con để con rời khỏi đây!”

Nói đoạn, em quỳ sụp xuống và đón nhận lời ban phước mà mình vừa xin. Sau đó, ép bàn tay vị Viện phụ lên môi, em vùng đứng dậy và vội vã rời khỏi căn phòng. Chẳng bao lâu sau, Ambrosio xuống tham dự giờ Kinh Chiều (được cử hành trong một nhà nguyện nhỏ thuộc tu viện), lòng đầy ngạc nhiên trước sự kỳ lạ trong hành vi của thiếu niên. Giờ Kinh Chiều kết thúc, các tu sĩ lui về tu phòng của riêng mình. Chỉ có mình vị Viện phụ ở lại nhà nguyện để đón tiếp các nữ tu dòng Thánh Clare. Chẳng mấy chốc sau khi ngài ngồi vào ghế tòa giải tội, Nữ bề trên đã xuất hiện. Từng nữ tu lần lượt được lắng nghe, trong lúc những người khác chờ đợi cùng Nữ tu trưởng ở phòng áo lễ bên cạnh. Ambrosio lắng nghe các lời xưng tội bằng sự chăm chú, đưa ra nhiều lời khuyên răn, ấn định hình phạt tương xứng với từng lỗi lầm, và mọi chuyện cứ thế diễn ra bình thường theo lệ cũ: cho đến tận lúc một nữ tu nổi bật nhờ phong thái cao quý cùng vóc dáng thanh nhã, bất cẩn để rơi một bức thư ra khỏi ngực áo. Nàng đang quay lưng bước đi mà không hề hay biết về sự mất mát của mình. Ambrosio đinh ninh rằng bức thư ấy do một người thân nào đó của nàng viết, nên đã nhặt lên với ý định trả lại cho nàng.

“Khoan đã, con gái,” ngài nói; “Con đã đánh rơi....”

Vào khoảnh khắc ấy, khi tờ giấy đã mở sẵn, ánh mắt ngài vô tình đọc được những dòng đầu tiên. Ngài giật nảy mình kinh ngạc! Nữ tu vừa quay lại khi nghe tiếng ngài gọi: Nàng nhận ra lá thư của mình đang nằm trong tay ngài, và thốt lên một tiếng thét kinh hoàng, vội vã lao tới để giật lại.

“Dừng lại!” vị tu sĩ cất giọng nghiêm khắc; “Con gái, ta phải đọc bức thư này.”

“Thế thì tôi tiêu đời rồi!” Nàng kêu lên, hai tay đan vào nhau đầy tuyệt vọng.

Toàn bộ sắc hồng lập tức rút sạch khỏi gương mặt nàng; nàng run lẩy bẩy vì xúc động, và buộc phải vòng tay ôm lấy một cột trụ của nhà nguyện để không ngã khuỵu xuống sàn. Trong lúc ấy, vị Viện phụ đọc những dòng sau đây:

“Mọi thứ đã sẵn sàng cho cuộc trốn chạy của em, Agnes dấu yêu của anh. Vào lúc mười hai giờ đêm mai, anh sẽ đợi em ở cửa vườn: Anh đã lấy được chìa khóa, và chỉ vài tiếng nữa là đủ để đưa em đến một nơi trú ẩn an toàn. Đừng để những nỗi bận tâm lầm lạc ngăn cản em chối bỏ phương tiện chắc chắn để bảo vệ chính mình và Sinh linh vô tội mà em đang nuôi dưỡng trong lồng ngực. Hãy nhớ rằng em đã hứa làm vợ anh, từ rất lâu trước khi em dấn thân vào chốn tu viện; rằng tình trạng của em sẽ sớm bị soi thấu bởi đôi mắt tò mò của các bạn đồng môn; và việc trốn chạy là con đường duy nhất để tránh khỏi những hậu quả từ sự phẫn nộ đầy ác ý của họ. Vợ yêu dấu và định mệnh của anh, Agnes tạm biệt em! Đừng lỗi hẹn ở cửa vườn lúc mười hai giờ nhé!”

Vừa đọc xong, Ambrosio liền đăm đăm nhìn nữ tu bất cẩn bằng ánh mắt nghiêm nghị và giận dữ.

“Bức thư này phải được đưa tận tay Nữ bề trên!” ngài nói rồi lướt qua nàng.

Lời nói của ngài vang lên bên tai nàng tựa tiếng sấm sét: Nàng bừng tỉnh khỏi sự tê liệt chỉ để nhận thức được những hiểm nguy trong hoàn cảnh của mình. Nàng vội vã đuổi theo ngài, níu lấy vạt áo ngài.

“Xin dừng lại! Ôi, xin dừng lại!” Nàng khóc lóc bằng giọng điệu tuyệt vọng, quỳ sụp xuống dưới chân vị tu sĩ và dùng nước mắt tắm đẫm đôi giày ngài. “Thưa Cha, xin hãy thương xót tuổi trẻ của con! Hãy bao dung trước sự yếu đuối của một người phụ nữ, và rủ lòng che giấu lỗi lầm cho con! Quãng đời còn lại của con sẽ được dùng để chuộc lại lầm lỗi duy nhất này, và sự khoan dung của ngài sẽ mang một linh hồn trở về với thiên đàng!”

“Sự tự tin đến kinh ngạc! Sao chứ! Tu viện của Thánh Clare lại có thể trở thành chốn dung thân cho những ả điếm ư? Ta lại có thể dung túng cho sự đồi trụy và hổ thẹn nảy nở trong lòng Giáo hội của Chúa Kitô sao? Con mụ không ra gì! Sự khoan dung như thế sẽ biến ta thành đồng lõa của cô ta mất. Lòng thương xót lúc này sẽ là một tội ác. Cô đã hiến dâng thân xác cho dục vọng của một kẻ quyến rũ; Cô đã làm vấy bẩn y phục thánh thiện bằng sự ô uế của mình, thế mà vẫn dám nghĩ rằng bản thân xứng đáng nhận được lòng trắc ẩn của ta ư? Cút đi, đừng níu kéo ta nữa! Nữ bề trên đâu?” ngài lớn giọng hỏi thêm.

“Khoan đã! Thưa Cha, xin hãy khoan đã! Xin hãy nghe con dẫu chỉ một phút thôi! Đừng buộc tội con ô uế, cũng đừng nghĩ rằng con đã lầm đường lạc lối vì sự bốc đồng của thể xác. Từ lâu trước khi con khoác lên mình tấm khăn tang, Raymond đã là chủ nhân trái tim con: Anh ấy đã khơi gợi trong con tình yêu trong sáng nhất, không thể chê trách vào đâu được, và đã suýt trở thành người chồng hợp pháp của con. Một tai ương khủng khiếp cùng sự phản bội của một người họ hàng đã chia rẽ chúng con; Con tin rằng anh ấy đã vĩnh viễn mất đi đối với con, và đã lao mình vào tu viện trong cơn tuyệt vọng. Định mệnh lại một lần nữa hợp nhất chúng con; Con không thể từ chối niềm vui cay đắng được hòa lẫn nước mắt mình cùng nước mắt anh ấy: Chúng con gặp nhau mỗi đêm trong khu vườn của dòng Thánh Clare, và trong một phút lơ đễnh, con đã vi phạm lời thề Khiết tịnh. Chẳng bao lâu nữa con sẽ làm mẹ; Kính lạy Cha Ambrosio, xin hãy thương xót con; Xin hãy thương xót Sinh linh vô tội mà sự sống đang gắn liền với sự sống của con. Nếu ngài phát hiện ra sự bất cẩn của con với Nữ bề trên, cả hai chúng con sẽ tiêu đời: Hình phạt mà luật lệ dòng Thánh Clare giáng xuống những kẻ bất hạnh như con là vô cùng khắc nghiệt và tàn nhẫn. Vị Cha nhân từ, vô cùng nhân từ! Xin đừng để lương tâm không tì vết của chính ngài khiến ngài trở nên nhẫn tâm trước những kẻ kém khả năng chống chọi lại cám dỗ hơn! Đừng để lòng thương xót trở thành đức hạnh duy nhất mà trái tim ngài không có được! Xin hãy thương xót con, thưa Cha kính yêu nhất! Hãy trả lại bức thư cho con, đừng đẩy con đến bờ vực diệt vong không đường lui!”

“Sự táo tợn của cô làm ta hoang mang tột độ! Lẽ nào ta lại đi che giấu tội ác cho cô, ta, kẻ mà cô đã lừa dối bằng màn xưng tội giả tạo đó? Không, con gái ạ, không! Ta sẽ ban cho cô một ân huệ thiết thực hơn. Ta sẽ giải cứu cô khỏi chốn đọa đày bất chấp việc cô có muốn hay không; Hình phạt và sự hành xác sẽ gột rửa tội lỗi của cô, và Sự nghiêm khắc sẽ ép cô quay trở lại những nẻo đường thánh thiện. Này! Mẹ St. Agatha đâu rồi!”

“Thưa Cha! Vì tất cả những gì linh thiêng nhất, vì tất cả những gì quý giá nhất đối với ngài, con khẩn nài, con tha thiết xin....”

“Buông ta ra! Ta không nghe cô nói đâu. Nữ bề trên đâu rồi? Mẹ St. Agatha, mẹ ở đâu?”

Cửa phòng áo lễ bật mở, và Nữ bề trên bước vào nhà nguyện, theo sau là các nữ tu.

“Tàn nhẫn! Thật tàn nhẫn!” Agnes thốt lên, buông tay đang níu ra.

Trong cơn điên cuồng và tuyệt vọng tột độ, nàng ngã quỵ xuống sàn, đấm vào ngực và xé toạc chiếc khăn trùm đầu trong cơn cuồng loạn của sự tuyệt vọng. Các nữ tu sững sờ chứng kiến khung cảnh trước mắt. Vị tu sĩ bấy giờ trao tờ giấy tử mệnh cho Nữ bề trên, thông báo cho bà ta cách thức ông tìm thấy nó, đồng thời thêm rằng việc định đoạt hình phạt nào xứng đáng với kẻ phạm tội là trách nhiệm của bà ta.

Khi bà ta đọc lướt qua lá thư, sắc mặt Nữ bề trên bừng lên vì giận dữ. Sao cơ! Một tội ác tày trời như thế lại bị phạm phải trong tu viện của bà ta, lại còn bị phơi bày trước Ambrosio, trước Thần tượng của thành Madrid, trước người đàn ông mà bà ta khao khát nhất được gây ấn tượng về sự nghiêm ngặt và cẩn trọng của tu viện mình! Ngôn từ chẳng đủ để diễn tả cơn thịnh nộ của bà ta. Bà ta đứng lặng, trừng trừng ném những cái nhìn đầy đe dọa và hiểm độc về phía nữ tu đang nằm rạp dưới đất.

“Lôi cô ta về tu viện ngay!” cuối cùng bà ta cũng cất lời với mấy tay sai.

Hai nữ tu lớn tuổi nhất tiến đến gần Agnes, thô bạo kéo nàng đứng dậy khỏi mặt đất và chuẩn bị áp giải nàng rời khỏi nhà nguyện.

“Cái gì!” Nàng bất chợt thét lên, hất văng tay họ ra với những cử động cuồng loạn; “Vậy là mọi hy vọng đều tiêu tan rồi sao? Các người đã lôi ta đi chịu phạt rồi ư? Anh ở đâu, Raymond? Ôi, cứu em với! Cứu em với!”

Đoạn, nàng ném một cái nhìn điên dại về phía vị Viện phụ: “Hãy nghe tôi nói!” Nàng tiếp tục; “Kẻ có trái tim sắt đá! Hãy nghe đây, đồ Kiêu ngạo, Tàn nhẫn và Độc ác! Lẽ ra ông đã có thể cứu tôi; lẽ ra ông đã có thể trả lại cho tôi hạnh phúc và đức hạnh, nhưng ông lại không chịu! Ông chính là kẻ hủy hoại linh hồn tôi; Ông chính là kẻ sát nhân của tôi, và lời nguyền về cái chết của tôi cũng như của đứa con chưa chào đời sẽ giáng xuống đầu ông! Kiêu ngạo trong cái đức hạnh chưa từng suy chuyển của mình, ông đã khinh miệt những lời cầu xin của một kẻ ăn năn; Nhưng Chúa sẽ rủ lòng thương, dẫu cho ông chẳng mảy may nhân ái. Và cái gọi là đức hạnh tự hào của ông có công trạng gì chứ? Ông đã khuất phục được những cám dỗ nào cơ chứ? Đồ hèn nhát! Ông chỉ trốn chạy chứ có chống lại sự quyến rũ đâu. Thế nhưng Ngày Thử Thách rồi sẽ đến! Ôi, đến khi ấy, khi ông khuất phục trước những dục vọng bồng bột! Khi ông cảm nhận được rằng con người thật yếu đuối và sinh ra là để lầm lỗi; Khi rùng mình nhìn lại những tội ác của mình, và trong nỗi kinh hoàng khẩn cầu sự khoan dung từ Thiên chúa của ông, Ồ! Trong khoảnh khắc hãi hùng ấy, hãy nghĩ đến tôi! Hãy nghĩ đến sự tàn nhẫn của ông! Hãy nghĩ đến Agnes, và tuyệt vọng về sự tha thứ!”

Khi nàng thốt ra những lời cuối cùng ấy, sức lực đã cạn kiệt, và nàng ngã bất tỉnh vào ngực một nữ tu đứng gần đó. Nàng nhanh chóng được khiêng khỏi nhà nguyện, và các bạn đồng môn nối đuôi theo sau.

Ambrosio không lắng nghe những lời trách móc ấy mà không mảy may động lòng. Một nỗi đau nhói thầm kín trong tim khiến ngài cảm thấy mình đã đối xử với người phụ nữ bất hạnh này quá đỗi khắt khe. Do đó, ngài giữ Nữ bề trên lại và đánh bạo thốt lên vài lời bào chữa cho kẻ phạm lỗi.

“Sự dữ dội trong cơn tuyệt vọng của cô ấy,” ngài nói, “chứng minh rằng ít nhất thói đồi bại vẫn chưa trở thành bản chất quen thuộc. Có lẽ nếu đối xử với cô ấy ít khắc nghiệt hơn lệ thường một chút, và giảm nhẹ phần nào hình phạt quen thuộc....”

“Giảm nhẹ nó ư, thưa Cha?” Nữ bề trên ngắt lời; “Tin tôi đi, đừng hòng có chuyện đó. Luật lệ dòng chúng ta rất nghiêm ngặt và khắc nghiệt; thời gian gần đây chúng đã bị bỏ quên, nhưng tội lỗi của Agnes cho tôi thấy sự cần thiết phải khôi phục chúng. Tôi đi để bày tỏ ý định này với tu viện, và Agnes sẽ là người đầu tiên phải gánh chịu sự khắc nghiệt của những bộ luật ấy, và chúng sẽ được tuân thủ đến từng con chữ. Thưa Cha, xin vĩnh biệt.”

Nói xong, bà ta vội vã bước ra khỏi nhà nguyện.

“Ta đã làm tròn bổn phận,” Ambrosio tự nhủ.

Thế nhưng ngài vẫn không cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn với suy luận ấy. Để xua tan những ý nghĩ khó chịu mà khung cảnh vừa rồi đã khơi gợi trong lòng, khi rời khỏi nhà nguyện, ngài bước xuống khu vườn tu viện.

Khắp cả thành Madrid chẳng có chốn nào đẹp đẽ hơn hay được chăm chút cẩn thận hơn nơi này. Nó được quy hoạch với gu thẩm mỹ tinh tế nhất. Những đóa hoa tuyển chọn khoe sắc rực rỡ nhất, và dẫu được sắp đặt đầy nghệ thuật, chúng vẫn trông như thể chỉ do bàn tay tự nhiên vun trồng: Những đài phun nước tuôn trào từ các chậu đá cẩm thạch trắng làm dịu không gian bằng làn sương mát lạnh quanh năm, và những bức tường hoàn toàn bị phủ kín bởi hoa nhài, dây leo cùng kim ngân hoa. Khoảnh khắc ban đêm lúc này càng tôn thêm vẻ đẹp của cảnh sắc. Ánh trăng tròn vành vạnh xuyên qua bầu trời trong xanh không một gợn mây, rải xuống hàng cây một thứ ánh sáng lung linh run rẩy, và làn nước các đài phun nước lấp lánh dưới chùm tia bạc; Một làn gió nhẹ thoang thoảng đưa hương hoa cam dọc theo các lối đi; và chim họa mi cất lên khúc ca du dương từ chốn nương náu của khu rừng nhân tạo. Ambrosio hướng bước chân về phía ấy.

Nằm giữa lòng lùm cây nhỏ này là một hang đá mộc mạc, được dựng lên theo mô hình của một cốc ẩn tu. Những bức tường được cấu thành từ rễ cây, và các khoảng trống được lấp đầy bằng rêu cùng dây thường xuân. Những chiếc ghế bằng cỏ được đặt ở hai bên, và một dòng thác tự nhiên đổ xuống từ vách đá phía trên. Chìm đắm trong suy tư, vị tu sĩ tiến lại gần chốn ấy. Sự tĩnh lặng bao trùm đã truyền vào lồng ngực ngài, và một sự an tĩnh đầy nhục cảm lan tỏa vẻ uể oải khắp tâm hồn ngài.

Ngài đã đến cốc ẩn tu, và đang bước vào để nghỉ ngơi thì khựng lại khi nhận ra nơi này đã có người chiếm chỗ. Nằm dài trên một chiếc ghế băng là một người đàn ông trong tư thế sầu muộn.

Đầu anh ta tì lên cánh tay, và anh ta trông như đang chìm đắm trong suy nghĩ. Vị tu sĩ tiến lại gần hơn và nhận ra Rosario: Ngài đứng lặng theo dõi và không bước vào hang. Sau vài phút, thiếu niên ngước mắt lên, đăm đăm nhìn bức tường đối diện với vẻ buồn bã.

“Phải!” em cất lời cùng một tiếng thở dài sâu thẳm và não nề; “Con thấu hiểu mọi hạnh phúc từ hoàn cảnh của ngài, và mọi khốn khổ từ hoàn cảnh của chính con! Hạnh phúc xiết bao nếu con có thể suy nghĩ giống như Người! Có thể nhìn nhân loại với ánh mắt ghê tởm hệt như Người, có thể vĩnh viễn chôn vùi bản thân trong một chốn thâm sơn cùng cốc nào đó, và quên béng rằng thế gian này hãy còn chứa đựng những Sinh linh xứng đáng được yêu thương! Lạy Chúa! Chủ nghĩa yếm thế sẽ là một phước lành vĩ đại nhường nào cho con!”

“Đó là một suy nghĩ kỳ lạ đấy, Rosario,” vị Viện phụ nói khi bước vào hang.

“Ngài ở đây sao, thưa Cha kính yêu!” tiểu tu sĩ kêu lên.

Đồng thời vùng đứng dậy khỏi chỗ ngồi với vẻ bối rối, em vội vã kéo sụp chiếc mũ trùm đầu che kín mặt. Ambrosio ngồi xuống chiếc ghế băng và bắt buộc thiếu niên phải ngồi cạnh mình.

“Con không được phép chìm đắm trong tâm trạng sầu muộn này,” ngài nói; “Cái gì có thể khiến con nhìn nhận chủ nghĩa yếm thế, thứ tình cảm đáng ghét nhất trong mọi loại tình cảm, dưới một góc độ đáng khao khát đến thế cơ chứ?”

“Chính là việc đọc những vần thơ này, thưa Cha, thứ mà cho đến tận bây giờ con mới để mắt tới. Ánh trăng rọi sáng đã cho phép con đọc chúng; Và ôi, con ghen tị với tâm trạng của tác giả biết bao!”

Nói đoạn, em chỉ tay vào một tấm bảng đá được gắn trên bức tường đối diện: Trên đó khắc những dòng thơ sau đây.

BÀI KHẮC TRONG CỐC ẨN TU

Dù ngươi là ai đọc dòng thơ này,

Chớ nghĩ rằng dẫu ta vui lòng quay

Bỏ thế gian để dẫn dắt những ngày

Tại chốn hoang vu lạnh lẽo này,

Là bởi lương tâm rỉ máu đọa đày

Mới khiến ta tìm đến chốn đây.

Lòng ta chẳng vương chút ý tội lầm:

Ta tự nguyện rời bỏ chốn cung cấm;

Bởi thừa thấy nơi lầu các thâm thầm

Rằng Thói Đố Kỵ với Lòng Dâm,

Những Quyền Năng tối tăm ác quỷ thầm,

Đang ngự trị với kiêu hãnh âm thầm.

Ta thấy người đời đẫm bợn nhơ nhuốc;

Thấy gươm Danh Dự rỉ sét chẳng buốt;

Kẻ mê muội chuộng dục tình thèm thuồng;

Kẻ tin cậy mãi u mê lầm tuốt

Vào Tình hay Bạn chốn gió sương;

Nên ta về chốn chán ngấy tha phương,

Khép lại đời mình giữa chốn hoang nương.

Trong hang quạnh quẽ, áo quần thô sơ,

Ta ghét bỏ đám điên cuồng ồn ào,

Và cả nỗi sầu muộn tối tăm nhăn nhó,

Mặc cho ngày tháng trôi qua mau,

Và chuỗi ngày dài trong chốn nhiệm mầu

Ta dâng hiến cho thánh chức dài lâu.

Sự an ủi và bình yên trong Hang này

Ban ơn ta hơn mọi cung điện xưa nay,

Với tâm hồn mãi vút bay

Hướng về Thiên Chúa trên mây,

Mỗi sáng mỗi đêm miệng ngập ngừng đây

Ta thì thầm nguyện ước sum vầy:

“Lạy Chúa! Xin cho con rũ bỏ cuộc đời,

Mọi ngọn lửa thế gian tội lỗi thời,

Mọi nỗi day dứt hay ham muốn tả tơi;

Và khi con lìa đời,

Xin cho con nhắm mắt với niềm tin ngời,

‘Đến với Chúa con bay lượn chơi’!”

Hỡi lữ khách, dẫu trẻ trung bồng bột

Chưa nỗi đau nào làm sứt mẻ thanh bình,

Hẳn ngài đang ném ánh nhìn khinh bỉ tột

Vào lời cầu nguyện của kẻ ẩn tu mình:

Nhưng nếu ngài từng thở dài buồn bực

Vì lầm lỗi hay nỗi lo đè nặng ngực;

Nếu ngài nếm trải đắng cay tình ái,

Hoặc bị lưu đày khỏi quê hương khờ dại,

Hay tội lỗi khiến hồn ngài sợ hãi,

Khiến ngài tiều tụy héo hon hoài,

Ôi, hẳn ngài phải thương xót tình cảnh ngài,

Và ghen tị với chốn ẩn dật của ta hoài!

“Giả sử con người có thể,” vị tu sĩ cất lời, “hoàn toàn thu mình lại để sống trong sự cô lập tuyệt đối khỏi nhân loại, mà vẫn cảm nhận được sự an tĩnh viên mãn như những dòng thơ này diễn tả, ta thừa nhận rằng hoàn cảnh đó sẽ đáng mơ ước hơn là sống trong một thế giới ngập tràn mọi thói hư tật xấu và sự điên rồ. Nhưng điều này không bao giờ xảy ra được. Bài khắc này chỉ đơn giản được đặt ở đây để trang trí cho hang đá, và những tâm tình cũng như nhân vật ẩn tu đều là sản phẩm tưởng tượng. Con người sinh ra là để sống trong xã hội. Dù ít gắn bó với thế gian đến đâu, họ cũng không bao giờ có thể hoàn toàn quên lãng nó, hay chịu đựng việc bị thế gian hoàn toàn lãng quên. Cảm thấy ghê tởm trước tội ác hay sự ngớ ngẩn của nhân loại, kẻ yếm thế bỏ trốn khỏi nó: Anh ta quyết định trở. thành một ẩn tu, và chôn vùi bản thân trong hang động của một vách đá u ám. Khi lòng căm thù sục sôi trong ngực, có lẽ anh ta cảm thấy hài lòng với hoàn cảnh của mình: Nhưng khi những dục vọng bắt đầu nguội lạnh; khi thời gian làm dịu đi nỗi sầu muộn và hàn gắn những vết thương mà anh ta mang theo vào chốn ẩn dật, liệu anh ta có thấy Sự bằng lòng trở thành bầu bạn của mình không? A, không đâu, Rosario. Không còn được duy trì bởi sự bão táp của dục vọng, anh ta sẽ cảm nhận được trọn vẹn sự tẻ nhạt trong lối sống của mình, và trái tim anh ta trở thành con mồi cho Nỗi buồn chán cùng sự mệt mỏi. Anh ta đảo mắt nhìn quanh và thấy mình cô độc giữa Vũ trụ: Tình yêu xã hội bùng cháy trở lại trong ngực, và anh ta khao khát được quay về với thế giới mà mình đã ruồng bỏ. Tự nhiên đánh mất mọi vẻ quyến rũ trong mắt anh ta: Chẳng có ai ở bên để chỉ cho anh ta những nét đẹp, hay cùng chia sẻ sự thán phục trước vẻ phong phú và đa dạng của nó. Tựa người vào mảnh vỡ của một vách đá nào đó, anh ta thẫn thờ nhìn dòng thác đổ với ánh mắt vô hồn, anh ta chứng kiến vinh quang của hoàng hôn buông xuống mà chẳng mủi lòng. Anh ta chậm chạp lê bước về tu phòng khi chiều tà, bởi chẳng có ai ở đó mong ngóng sự trở về của anh ta; anh ta chẳng lấy làm thoải mái gì với bữa ăn cô độc nhạt nhẽo của mình; anh ta ngả mình lên chiếc giường rêu đầy thất vọng và bất mãn, để rồi thức dậy chỉ để trải qua một ngày vô vị và tẻ nhạt hệt như ngày hôm trước.”

“Ngài làm con kinh ngạc đấy, thưa Cha! Giả sử hoàn cảnh ép buộc ngài phải sống cô độc; Chẳng lẽ những bổn phận tôn giáo cùng ý thức về một cuộc đời sống trọn vẹn sẽ không truyền vào trái tim ngài sự bình yên rằng....”

“Ta sẽ tự lừa dối mình nếu tưởng tượng rằng chúng có thể làm được điều đó. Ta xác tín vào điều ngược lại, rằng tất cả nghị lực của ta cũng chẳng thể ngăn mình khuất phục trước sự sầu muộn và chán ghét. Sau khi trải qua cả ngày dài để nghiên cứu, nếu con biết được niềm vui của ta khi được gặp lại các huynh đệ vào buổi chiều tối chứ! Sau khi trải qua vô số giờ đằng đẵng trong cô độc, nếu ta có thể diễn tả cho con nghe niềm vui ngập tràn khi một lần nữa được nhìn thấy một sinh linh đồng loại! Chính ở khía cạnh này mà ta đặt giá trị cốt lõi của một Thể chế Tu viện. Nó cách ly con người khỏi những cám dỗ của Tội ác; Nó mang lại khoảng trống thời gian cần thiết cho việcnguyện cầu tối cao; Nó tha thứ cho anh ta sự hổ nhục khi phải chứng kiến những tội ác của phường trần tục, và vẫn cho phép anh ta tận hưởng các phước lành của xã hội. Thế mà con, Rosario, con lại ghen tị với đời sống của một ẩn sĩ ư? Con lại có thể mù quáng trước hạnh phúc của hoàn cảnh chính mình đến thế sao? Hãy ngẫm nghĩ về nó trong chốc lát đi. Tu viện này đã trở thành chốn dung thân cho con: Sự kỷ luật, tính dịu dàng cùng tài năng của con đã khiến con trở thành đối tượng được mọi người kính trọng; Con được cách ly khỏi cái thế giới mà con tuyên bố căm ghét; thế nhưng con vẫn nắm giữ những lợi ích của xã hội, và đó lại là một xã hội được cấu thành từ những con người đáng quý nhất trần gian.”

“Thưa Cha! Thưa Cha! Chính điều đó mới là thứ gây ra sự Tự Vặt của con! Hạnh phúc biết bao nếu đời con được trải qua giữa những kẻ đồi bại và trụy lạc! Giá như con chưa từng nghe ai thốt lên hai tiếng Đức Hạnh! Chính sự sùng kính vô bờ bến của con dành cho tôn giáo; Chính sự nhạy cảm tuyệt vời của tâm hồn con trước cái đẹp của sự thiện lương, mới là thứ đè nặng con trong hổ nhục! mới là thứ đẩy con lao vào cõi đọa đày! Ước gì con chưa từng nhìn thấy những bức tường tu viện này!”

“Sao cơ, Rosario? Lần trước chúng ta trò chuyện, con đã nói bằng một giọng điệu khác cơ mà. Lẽ nào tình bạn của ta nay lại trở nên kém quan trọng đến thế sao? Nếu con chưa từng nhìn thấy những bức tường tu viện này, con cũng sẽ chẳng bao giờ gặp ta: Đó thực sự là điều con ước ao sao?”

“Chưa từng gặp ngài ư?” vị tiểu tu sĩ lặp lại, vùng đứng dậy khỏi ghế băng và tóm lấy tay vị tu sĩ với vẻ cuồng loạn; “Ngài ư? Ngài ấy ư? Nguyện xin sấm sét giáng xuống thiêu rụi chúng, trước khi ngài lọt vào mắt con! Nguyện xin ơn trên! Giá như con không bao giờ phải gặp lại ngài nữa, và có thể quên đi việc mình từng gặp ngài!”

Nói đoạn, em vội vã chạy biến khỏi hang đá. Ambrosio vẫn ngồi yên trong tư thế cũ, suy ngẫm về hành vi khó hiểu của thiếu niên. Ngài có khuynh hướng nghi ngờ trí óc em đang có vấn đề; thế nhưng phong thái tổng thể, sự mạch lạc trong ý tưởng cùng sự bình thản trong thái độ của em cho đến tận khoảnh khắc rời khỏi hang lại dường như phản bác lại giả thuyết này. Chỉ vài phút sau, Rosario quay trở lại. Em lại ngồi xuống ghế băng; em tì má lên một bàn tay, còn tay kia thỉnh thoảng lau đi những giọt nước mắt rỉ ra từ khóe mi.

Vị tu sĩ nhìn em đầy trắc ẩn và kiềm chế không ngắt lời suy tư của cả hai. Lúc này, chú chim họa mi đã đậu trên một cây cam đối diện cốc ẩn tu và cất lên một khúc ca vô cùng sầu muộn và du dương. Rosario ngẩng đầu lên, chăm chú lắng nghe.

“Chính vào tháng cuối cùng trong cuộc đời bất hạnh của nó,” em cất lời với một tiếng thở dài não nề; “Chính vào lúc đó, chị tôi cũng thường ngồi lắng nghe chim họa mi hót. Tội nghiệp Matilda! Chị ấy đã ngủ ngàn thu trong mồ, và trái tim tan vỡ của chị ấy chẳng còn đập vì nhục cảm nữa.”

“Con có chị gái sao?”

“Ngài nói đúng, là con ĐÃ CÓ; Hỡi ôi, con chẳng còn ai nữa. Chị ấy gục ngã dưới sức nặng của những nỗi sầu muộn ngay giữa mùa xuân cuộc đời.”

“Những nỗi sầu muộn đó là gì?”

“Chúng sẽ chẳng khơi gợi được lòng trắc ẩn của ngài đâu: Ngài không hiểu được sức mạnh của những thứ tình cảm không thể cưỡng lại, những tình cảm chí tử mà trái tim chị ấy phải làm con mồi. Thưa Cha, chị ấy yêu trong bất hạnh. Một tình cảm dành cho Kẻ được ban phuớc mọi đức hạnh, cho một Người đàn ông, Ồ! Phải nói là cho một vị thần linh, đã chứng tỏ là nấm mồ chôn vùi sự tồn tại của chị ấy. Vóc dáng cao quý, nhân cách không tì vết, tài năng đa dạng cùng sự khôn ngoan vững chãi, kỳ diệu và lừng lẫy của anh ta, có thể làm tan chảy lồng ngực của kẻ vô cảm nhất. Chị tôi nhìn thấy anh ta, và dám yêu dẫu chẳng bao giờ dám hy vọng.”

“Nếu tình yêu ấy được trao gửi đúng chỗ, cái gì đã ngăn cản chị ấy hy vọng đạt được đối tượng của mình?”

“Thưa Cha, trước khi biết chị ấy, Julian đã trao trọn lời thề nguyền cho một Nữ nhân vô cùng xinh đẹp, tựa thiên thần! Thế nhưng chị tôi vẫn yêu, và vì người chồng nên chị ấy tôn sùng cả người vợ. Một buổi sáng, chị ấy tìm cách trốn khỏi nhà cha chúng tôi: Khoác lên mình bộ cánh khiêm nhường, chị ấy đến xin làm người hầu cho người vợ của Ý trung nhân và đã được nhận. Từ đó, chị ấy liên tục xuất hiện trước mặt anh ta: Chị ấy cố gắng lấy lòng anh ta; Và chị ấy đã thành công. Sự quan tâm của chị ấy thu hút sự chú ý của Julian; Những kẻ đức hạnh luôn biết ơn, và anh ta đã biệt đãi Matilda hơn hẳn các bạn đồng môn khác.”

“Và cha mẹ con đã không đi tìm chị ấy sao? Họ khoanh tay chịu đựng sự mất mát mà không tìm cách đưa đứa con gái lầm đường lạc lối trở về ư?”

“Trước khi họ tìm ra chị ấy, chính chị ấy đã tự lộ diện. Tình yêu của chị ấy trở nên quá dữ dội để có thể che giấu; Thế nhưng chị ấy không khao khát thể xác của Julian, chị ấy chỉ tham vọng chiếm lấy một góc trong trái tim anh ta. Trong một phút lơ đễnh, chị ấy đã thú nhận tình cảm của mình. Kết cục nhận lại là gì? Tôn sùng người vợ, và đinh ninh rằng một ánh nhìn trắc ẩn ban phát cho kẻ khác chính là sự ăn cắp từ món quà đáng ra phải dành trọn cho vợ mình, anh ta đã đuổi Matilda khỏi sự hiện diện của mình. Anh ta cấm chị ấy không bao giờ được xuất hiện trước mặt mình nữa. Sự tàn nhẫn của anh ta đã bóp nghẹt trái tim chị ấy: Chị ấy quay về nhà cha mình, và chỉ vài tháng sau đã được khiêng ra mộ.”

“Thiếu nữ bất hạnh! Quả thực số phận của con bé quá đỗi khắt khe, và Julian thì thật tàn nhẫn.”

“Ngài nghĩ vậy sao, thưa Cha?” tiểu tu sĩ hân hoan thốt lên; “Ngài nghĩ anh ta tàn nhẫn ư?”

“Dĩ nhiên là ta nghĩ thế, và vô cùng thương xót con bé.”

“Ngài thương xót chị ấy ư? Ngài thương xót chị ấy ư? Ồ! Thưa Cha! Thưa Cha! Thế thì hãy thương xót con đi!”

Vị tu sĩ giật mình; khi khoảnh khắc im lặng vừa qua, Rosario bấy giờ nói tiếp bằng giọng đứt quãng,—“bởi những đau khổ của con còn lớn hơn thế. Chị con có một người bạn, một người bạn thực sự, kẻ thấu hiểu sự buốt giá trong cảm xúc của chị ấy, và không hề sỉ vả việc chị ấy không tài nào kìm nén chúng. Còn con...! Con chẳng có lấy một người bạn! Cả thế gian rộng lớn này không tìm đâu ra một trái tim sẵn lòng chia sẻ những nỗi sầu muộn của con!”

Vừa thốt ra những lời ấy, em nức nở thành tiếng. Vị tu sĩ khơi động lòng trắc ẩn. Ngài nắm lấy bàn tay Rosario và siết chặt đầy trìu mến.

“Con nói rằng con không có bạn sao? Thế thì ta là gì? Tại sao con không chịu tin tưởng vào ta, và con còn sợ điều gì chứ? Sự nghiêm khắc của ta ư? Đã bao giờ ta dùng nó với con chưa? Sự tôn nghiêm của y phục ta ư? Rosario, ta cởi bỏ tấm áo tu sĩ và bảo con hãy xem ta chẳng khác nào người bạn, người cha của con. Ta hoàn toàn có quyền mang danh hiệu ấy, bởi chưa từng có bậc sinh thành nào dõi theo đứa con của mình trìu mến cho bằng cách ta dõi theo con. Từ khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy con, ta đã cảm nhận được những xúc cảm trong lồng ngực vốn trước đó ta chưa từng biết đến; ta tìm thấy niềm vui trong sự đồng hành của con thứ mà chẳng ai khác có thể mang lại; và khi chứng kiến tầm vóc trí tuệ cùng sự hiểu biết của con, ta hân hoan hệt như người cha trước sự hoàn mỹ của đứa con trai. Vậy nên hãy gạt bỏ mọi sợ hãi; Hãy cởi mở trò chuyện với ta; Hãy nói với ta, Rosario, và hứa rằng con sẽ tin tưởng vào ta. Nếu sự giúp đỡ hay lòng trắc ẩn của ta có thể xoa dịu nỗi thống khổ của con....”

“Sự giúp đỡ của ngài có thể chứ! Chỉ của một mình ngài mới được thôi! Hỡi ôi, thưa Cha, con sẵn lòng bày tỏ trái tim mình cho ngài biết biết bao! Con sẵn lòng tuyên bố điều bí mật đang đè nặng con đến quỵ ngã biết bao! Nhưng ồ, con sợ lắm! Con sợ lắm!”

“Sợ điều gì, con trai ta?”

“Rằng ngài sẽ căm ghét con vì sự yếu đuối của mình; Rằng phần thưởng cho sự tin tưởng của con sẽ là việc mất đi sự kính trọng của ngài.”

“Ta phải trấn an con bằng cách nào đây? Hãy ngẫm lại toàn bộ hành kiểm trước đây của ta, ngẫm lại tình phụ tử mà ta luôn dành cho con. Căm ghét con ư, Rosario? Ta không còn khả năng đó nữa. Từ bỏ sự đồng hành của con đồng nghĩa với việc tước đi niềm vui lớn nhất trong đời ta. Vậy hãy thổ lộ những gì đang đày đọa con, và hãy tin tưởng khi ta long trọng thề rằng....”

“Dừng lại!” tiểu tu sĩ ngắt lời; “Hãy thề rằng dù bí mật của con là gì đi nữa, ngài cũng sẽ không ép con rời khỏi tu viện cho đến khi thời gian tập sự của con kết thúc.”

“Ta thành tâm hứa với con, và nguyện xin Chúa Kitô giữ trọn lời hứa với Nhân loại hệt như cách ta giữ lời thề với con. Giờ thì hãy giải thích điều huyền bí này, và hãy nương tựa vào sự khoan dung của ta.”

“Con tuân lệnh ngài. Hãy biết rằng.... Ồ, con run rẩy biết bao khi phải thốt lên từ này! Xin hãy lắng nghe con bằng lòng trắc ẩn, thưa Ambrosio kính yêu! Hãy kêu gọi mọi tia lửa tiềm ẩn của sự yếu đuối phàm trần để dạy ngài cách xót thương cho sự yếu đuối của con! Thưa Cha!” em tiếp tục, quỳ sụp xuống chân vị tu sĩ và háo hức ép bàn tay ngài lên môi, trong khi sự xúc động nghẹn ngào khiến giọng em đứt quãng trong chốc lát; “Thưa Cha!” em tiếp tục bằng giọng điệu đứt quãng, “Con là một Phụ nữ!”

Vị Viện phụ giật nảy mình trước lời thú nhận bất ngờ này. Nằm rạp dưới đất là kẻ mạo danh Rosario, trông như đang lặng lẽ chờ đợi phán quyết từ vị Quan tòa của mình. Sự kinh ngạc ở một phía, nỗi sợ hãi ở phía bên kia, trong suốt vài phút đã xiềng xích cả hai trong cùng một tư thế hệt như thể họ vừa bị chạm phải chiếc gậy phép của một pháp sư. Cuối cùng, trấn tĩnh lại sau cơn bối rối, vị tu sĩ rời khỏi hang đá và vội vã rảo bước về phía tu viện. Hành động của ngài không thoát khỏi tầm mắt của kẻ khẩn cầu. Nàng vùng đứng dậy khỏi mặt đất; nàng vội vã đuổi theo, bắt kịp ngài, quăng mình chắn ngang lối đi và ôm lấy đôi chân ngài. Ambrosio vô vọng vùng vẫy để gỡ mình khỏi vòng tay nàng.

“Đừng trốn chạy em!” Nàng khóc lớn; “Đừng bỏ mặc em chìm đắm trong sự thôi thúc của tuyệt vọng! Hãy lắng nghe trong lúc em biện hộ cho sự bất cẩn của mình; trong lúc em thừa nhận câu chuyện của chị gái chính là câu chuyện của em! Em là Matilda; Còn ngài là Ý trung nhân của chị ấy.”

Nếu sự ngạc nhiên của Ambrosio là vô bờ bến ở lời thú nhận đầu tiên của nàng, thì khi nghe đến lời thứ hai, nó đã vượt qua mọi giới hạn. Ngạc nhiên, bối rối và lưỡng lự, ngài thấy mình bất lực chẳng thể thốt nổi một âm tiết, và cứ đứng lặng ngắm nhìn Matilda: Điều này tạo cơ hội cho nàng tiếp tục lời giải thích như sau.

“Đừng tưởng rằng, hỡi Ambrosio, em đến để cướp đi tình cảm của vợ ngài. Không, xin hãy tin em: Chỉ có Tôn giáo mới xứng đáng với ngài; và mong muốn kéo ngài rời khỏi những nẻo đường đức hạnh hoàn toàn không nằm trong ý nguyện của Matilda. Tình cảm em dành cho ngài là tình yêu, chứ không phải sự trụy lạc; em khao khát được làm chủ trái tim ngài, chứ không thèm thuồng việc hưởng thụ thể xác ngài. Xin hãy rủ lòng lắng nghe lời biện hộ của em: Chỉ vài khoảnh khắc thôi sẽ thuyết phục được ngài rằng chốn tu viện thánh thiện này không bị vấy bẩn bởi sự hiện diện của em, và rằng ngài có thể ban cho em lòng trắc ẩn mà không hề vi phạm lời thề nguyện của mình.”—Nàng ngồi xuống: Ambrosio, hầu như không ý thức được mình đang làm gì, cũng làm theo gương nàng, và nàng tiếp tục câu chuyện.

“Em xuất thân từ một dòng dõi hiển hách: Cha em là Tộc trưởng của gia tộc Villanegas cao quý. Ông qua đời khi em hãy còn là một đứa trẻ, để lại cho em quyền thừa kế duy nhất đối với cơ ngơi đồ sộ của ông. Trẻ tuổi và giàu có, em được cầu hôn bởi những thiếu niên cao quý nhất thành Madrid; Thế nhưng chẳng ai thành công trong việc chiếm lấy tình cảm của em. Em lớn lên dưới sự chăm sóc của một người bác sở hữu khả năng phán đoán sắc sảo nhất cùng kiến thức uyên bác bao la. Ông rất vui mừng khi được truyền đạt cho em một phần kiến thức của mình. Dưới sự chỉ dạy của ông, trí tuệ của em thu nhận được nhiều sức mạnh và sự chuẩn xác hơn mức mà phái nữ thường có được; Nhờ sự hỗ trợ từ người thầy cùng với sự tò mò bẩm sinh, em không chỉ đạt được tiến bộ đáng kể trong các khoa học được nghiên cứu phổ biến, mà còn ở cả những lĩnh vực khác, vốn chỉ được hé lộ cho vài người và đang vướng phải sự kiểm duyệt do sự mù quáng của mê tín dị đoan. Nhưng trong khi người giám hộ nỗ lực mở rộng bầu trời kiến thức cho em, ông vẫn cẩn trọng thấm nhuần từng giới luật đạo đức; Ông giải thoát em khỏi xiềng xích của những định kiến tầm thường; Ông chỉ ra vẻ đẹp của Tôn giáo; Ông dạy em nhìn bằng ánh mắt tôn sùng những kẻ thuần khiết và đức hạnh, và ôi, khốn khổ cho em, em đã tuân lời ông quá mức!”

“Với những khuynh hướng đó, ngài hãy thử phán xem liệu em có thể quan sát thói đồi bại, sự trụy lạc và dốt nát đang làm nhục nhã lớp trẻ Tây Ban Nha của chúng ta bằng bất kỳ tâm trạng nào khác ngoài sự ghê tởm hay không. Em cự tuyệt mọi lời cầu hôn bằng thái độ khinh miệt. Trái tim em vẫn không có lấy một Chủ nhân cho đến khi tình cờ đưa bước em đến Nhà thờ lớn của dòng Capuchin. Ôi, chắc chắn vào ngày hôm đó Thiên thần hộ mệnh của em đã lơ đễnh chểnh mảng nhiệm vụ! Chính tại nơi ấy, em lần đầu tiên nhìn thấy ngài: Ngài thay thế vị trí của Viện phụ vắng mặt vì bệnh. Chắc chắn ngài không thể quên được sự cuồng nhiệt mãnh liệt mà bài giảng của ngài đã khơi gợi. Ồ, em đã uống cạn từng lời ngài nói biết bao! Hùng biện của ngài như muốn đánh cắp hồn phách em khỏi chính mình; Em hầu như chẳng dám thở, sợ rằng sẽ bỏ lỡ một âm tiết nào; và trong lúc ngài cất lời, em cứ ngỡ một thứ ánh sáng rạng rỡ tỏa chiếu quanh đầu ngài, và gương mặt ngài bừng sáng với uy nghi của một vị thần. Em rời khỏi nhà thờ trong hơi ấm của sự thán phục. Từ khoảnh khắc đó, ngài trở thành thần tượng trong tim em, là đối tượng bất biến của những suy tưởng trong em. Em dò la thông tin về ngài. Những lời đồn đại được truyền tai về lối sống, học thức, sự đạo đức cùng lối tu hành khắt khe của ngài đã xiềng chặt những chiếc xiềng xích mà hùng biện của ngài tròng vào người em. Em nhận thức được rằng trái tim mình không còn khoảng trống nào nữa; Rằng em đã tìm thấy Người đàn ông mà cho đến lúc đó em tìm kiếm trong vô vọng. Trong sự ngóng chờ được nghe ngài cất lời lần nữa, ngày nào em cũng đến nhà thờ của ngài; Ngài vẫn khép mình trong những bức tường tu viện, còn em luôn ra về trong cảnh khốn khổ và thất vọng. Ban đêm tỏ ra hữu tình với em hơn, bởi khi ấy ngài hiện diện trước mắt em trong những giấc chiêm bao; Ngài thề nguyền tình bạn vĩnh cửu với em; Ngài dắt tay em bước qua những nẻo đường đức hạnh, và phụ giúp em chịu đựng những nỗi bực dọc của cuộc đời. Buổi sáng xua tan những ảo ảnh tốt đẹp ấy; em thức dậy và thấy mình bị chia cắt khỏi ngài bởi những Bức tường tưởng chừng không thể vượt qua. Thời gian dường như chỉ làm gia tăng sức mạnh cho tình yêu của em: Em trở nên sầu muộn và tuyệt vọng; em trốn tránh xã hội, và sức khỏe ngày một suy kiệt. Cuối cùng, không thể chịu đựng nổi việc tồn tại trong trạng thái tra tấn này nữa, em quyết định ngụy trang bằng bộ dạng mà ngài đang chứng kiến. Mưu mẹo của em đã gặp may: em được tiếp nhận vào tu viện, và thành công trong việc chiếm lấy sự kính trọng của ngài.”

“Đáng ra giờ đây em đã phải cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc, nếu sự yên bình của em không bị quấy rầy bởi nỗi sợ bị phát hiện. Niềm vui em nhận được từ sự đồng hành của ngài bị pha lẫn bởi ý nghĩ rằng có lẽ chẳng mấy chốc em sẽ bị tước đoạt nó; và trái tim em đập rộn ràng đến mức ngất ngây khi đạt được những dấu hiệu tình bạn từ ngài, điều đó thuyết phục em rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống sót nổi nếu mất đi nó. Do đó, em quyết định không để việc bại lộ giới tính của mình phó mặc cho may rủi, mà sẽ thú nhận toàn bộ sự thật với ngài, phó mặc hoàn toàn bản thân vào sự khoan dung và lòng trắc ẩn của ngài. A, Ambrosio, liệu em có bị lừa dối không? Lẽ nào ngài lại kém rộng lượng hơn những gì em vẫn tưởng? Em sẽ không nghi ngờ điều đó đâu. Ngài sẽ không đẩy một kẻ khốn khổ đến đường cùng; Em sẽ vẫn được phép nhìn ngắm ngài, trò chuyện cùng ngài, tôn thờ ngài! Những đức hạnh của ngài sẽ là tấm gương cho em suốt cuộc đời; và khi chúng ta lìa đời, thể xác của chúng ta sẽ được nằm yên trong cùng một Ngôi mộ.”

Nàng ngưng lời. Trong lúc nàng thốt lên, hàng ngàn tình cảm trái chiều giao tranh trong lồng ngực Ambrosio. Sự ngạc nhiên trước sự kỳ lạ của cuộc phiêu lưu này, sự Bối rối trước lời tỏ tình đường đột của nàng, sự Phẫn nộ trước sự táo tợn khi dám đột nhập vào tu viện, cùng Ý thức về sự nghiêm ngặt mà ngài cần phải có khi đáp lại — đó là những tình cảm mà ngài nhận thức được; Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những thứ khác không lọt vào tầm ngài chú ý. Ngài không nhận ra rằng sự kiêu ngạo của mình đang được vuốt ve bởi những lời ca tụng dành cho sự hùng biện và đức hạnh của ngài; rằng ngài cảm thấy một niềm vui thầm kín khi ngẫm nghĩ về việc một người phụ nữ trẻ trung và trông có vẻ khả ái vì ngài mà từ bỏ thế gian, hy sinh mọi dục vọng khác cho thứ tình cảm mà ngài đã khơi gợi: Lại càng không nhận ra rằng trái tim ngài đang đập rộn vì thèm muốn, trong khi bàn tay ngài đang được những ngón tay ngà ngọc của Matilda nhẹ nhàng siết chặt.

Dần dần ngài trấn tĩnh lại sau cơn bối rối. Ý tưởng của ngài bớt phần u mê: Ngài lập tức nhận thức được sự bất ổn cùng cực, giả sử Matilda được phép ở lại tu viện sau lời thú nhận về giới tính này. Ngài mang nét mặt nghiêm khắc và rụt tay lại.

“Sao cơ, thưa Quý cô!” ngài nói; “Cô thực sự hy vọng vào sự cho phép của tôi để ở lại giữa chúng tôi sao? Thậm chí dẫu tôi có chuẩn y thỉnh cầu của cô đi nữa, cô có thể thu nhận được lợi ích gì từ đó chứ? Cô nghĩ rằng tôi có thể đáp lại một thứ tình cảm, mà...”

“Không, thưa Cha, Không! Em không mong mỏi truyền cảm hứng cho ngài một tình yêu giống như tình yêu của em. Em chỉ khao khát quyền tự do được ở gần ngài, được trải qua vài tiếng trong ngày cùng sự đồng hành của ngài; được thu nhận lòng trắc ẩn, tình bạn cùng sự kính trọng của ngài. Chắc chắn thỉnh cầu của em không phải là điều bất hợp lý.”

“Nhưng hãy ngẫm lại đi, thưa Quý cô! Hãy ngẫm lại dẫu chỉ trong khoảnh khắc về sự bất ổn khi tôi dung túng một người phụ nữ trong tu viện; mà lại còn là một người phụ nữ thú nhận rằng nàng yêu tôi nữa chứ. Không thể có chuyện đó được. Nguy cơ cô bị phát hiện là quá lớn, và tôi sẽ không phơi bày bản thân trước một sự cám dỗ nguy hiểm nhường ấy.”

“Cám dỗ, ngài nói vậy sao? Hãy quên đi việc em là một người phụ nữ, và nó sẽ chẳng còn tồn tại nữa: Hãy xem em đơn thuần như một người bạn, như một kẻ bất hạnh mà hạnh phúc và cuộc đời phụ thuộc vào sự bảo bọc của ngài. Đừng sợ rằng em sẽ gợi nhắc ngài nhớ về thứ tình yêu bồng bột nhất, vô bờ bến nhất đã xúi giục em ngụy trang giới tính; hay rằng bị thúc đẩy bởi những ham muốn xúc phạm đến lời thề của ngài và danh dự của chính em, em sẽ mưu toan quyến rũ ngài rời khỏi con đường chính trực. Không, Ambrosio, hãy học cách hiểu em sâu sắc hơn đi. Em yêu ngài vì những đức hạnh của ngài: Đánh mất chúng, và cùng với chúng ngài sẽ đánh mất tình cảm của em. Em xem ngài như một vị Thánh; Hãy chứng minh cho em thấy ngài chẳng hơn gì một Phàm nhân, và em sẽ từ bỏ ngài trong sự ghê tởm. Vậy chẳng lẽ ngài sợ cám dỗ từ phía em ư? Từ phía em, kẻ mà những niềm vui lóa mắt của thế gian này chẳng tạo ra cảm xúc nào khác ngoài sự khinh miệt? Từ phía em, kẻ mà sự gắn bó được bồi đắp dựa trên sự miễn nhiễm của ngài trước những yếu đuối phàm trần? Ôi, hãy dẹp bỏ những nỗi sợ hãi đầy tổn thương ấy đi! Hãy nghĩ cao thượng hơn về em, nghĩ cao thượng hơn về chính mình. Em bất lực trong việc quyến rũ ngài vướng vào lầm lỗi; và chắc chắn Đức hạnh của ngài được xây dựng trên một nền tảng quá vững chãi để có thể bị lay chuyển bởi những ham muốn vô căn cứ. Ambrosio, Ambrosio dấu yêu! Đừng đuổi em khỏi sự hiện diện của ngài; Hãy nhớ đến lời hứa của ngài, và chuẩn y cho em ở lại!”

“Không thể nào, Matilda; chính quyền lợi của cô ra lệnh cho tôi phải từ chối thỉnh cầu của cô, bởi tôi lo sợ cho cô chứ không phải cho chính mình. Sau khi khuất phục những bộc phát bồng bột của tuổi trẻ; Sau khi trải qua ba mươi năm trong sự hành xác và khổ hạnh, tôi hoàn toàn có thể an toàn cho phép cô ở lại, mà không sợ cô khơi gợi trong tôi những tình cảm nồng nàn hơn sự thương xót. Thế nhưng đối với chính cô, việc ở lại tu viện chẳng thể mang lại hậu quả nào khác ngoài những kết quả tai hại. Cô sẽ xuyên tạc từng lời nói và hành động của tôi; Cô sẽ vồ vập lấy mọi hoàn cảnh bằng sự khao khát, thứ cổ vũ cô hy vọng vào sự hồi đáp cho tình cảm của mình; Vô hình trung, dục vọng của cô sẽ lấn át lý trí; và thay vì bị kìm nén bởi sự hiện diện của tôi, từng khoảnh khắc chúng ta đi qua cùng nhau sẽ chỉ chuốc lấy sự kích động và khơi mào cho chúng. Hãy tin tôi đi, người phụ nữ bất hạnh! Cô chiếm được lòng trắc ẩn chân thành của tôi. Tôi tin chắc rằng cho đến nay cô vẫn hành động dựa trên những động cơ tinh tuyết nhất; Nhưng dẫu cho cô mù quáng trước sự bất cẩn trong hành vi của mình, thì đối với tôi, việc nhắm mắt làm ngơ sẽ là một tội lỗi. Tôi cảm thấy Bổn phận buộc mình phải đối xử với cô bằng sự lạnh lùng: Tôi phải từ chối thỉnh cầu của cô, và xóa bỏ mọi tia hy vọng có thể góp phần nuôi dưỡng những tình cảm mang lại tai họa cho sự bình yên của cô. Matilda, ngày mai cô buộc phải rời khỏi đây.”

“Ngày mai ư, Ambrosio? Ngày mai á? Ôi, chắc chắn ngài không có ý đó đâu!

Ngài không thể quyết định đẩy em đến đường cùng! Ngài không thể nhẫn tâm đến thế....”

“Cô đã nghe phán quyết của tôi, và nó phải được tuân thủ. Luật lệ dòng tu cấm cô ở lại: Sẽ là tội khai gian nếu che giấu việc có một người phụ nữ bên trong những Bức tường này, và lời thề nguyện buộc tôi phải tuyên bố câu chuyện của cô với Tu viện đoàn. Cô phải rời khỏi nơi này!—Tôi thương xót cô, nhưng chẳng thể làm gì hơn!”

Ngài thốt ra những lời ấy bằng giọng yếu ớt và run rẩy. Đoạn, đứng dậy khỏi ghế, ngài toan vội vã tiến về phía tu viện. Thốt lên một tiếng thét lớn, Matilda đuổi theo và níu lấy ngài.

“Xin hãy dừng lại thêm một phút thôi, Ambrosio! Xin hãy nghe em nói thêm một lời!”

“Tôi không dám lắng nghe! Buông tôi ra! Cô thừa biết quyết tâm của tôi rồi đấy!”

“Chỉ một lời thôi! Chỉ một lời cuối cùng thôi, rồi em sẽ đi!”

“Rời khỏi đây đi! Mọi lời khẩn nài của cô đều vô ích! Ngày mai cô phải rời khỏi đây!”

“Đi đi vậy, đồ Dã man! Thế nhưng con đường này vẫn còn lại với em.”

Nói đoạn, nàng bất chợt rút ra một thanh đoản kiếm: Nàng xé toạc y phục, và đặt mũi vũ khí lên lồng ngực mình.

“Thưa Cha, em sẽ không bao giờ rời khỏi những Bức tường này khi hãy còn sống!”

“Dừng lại! Dừng lại, Matilda! Cô đang làm gì thế?”

“Ngài đã quyết tâm, em cũng vậy: Khoảnh khắc ngài rời khỏi em, em sẽ phóng lưỡi dao này vào tim mình.”

“Lạy Thánh Phanxicô! Matilda, trí óc cô còn bình tĩnh không? Cô có biết hậu quả từ hành động của mình không? Rằng Tự sát là tội ác lớn nhất? Rằng cô đang hủy hoại Linh hồn mình? Rằng cô đang đánh mất quyền cứu rỗi? Rằng cô đang chuẩn bị cho chính mình những nỗi thống khổ đời đời kiếp kiếp?”

“Em chẳng màng! Em chẳng màng!” Nàng nghẹn ngào đáp; “Hoặc tay ngài dẫn dắt em đến Thiên đàng, hoặc chính tay em sẽ tống giam mình vào cõi đọa đày! Hãy nói với em đi, Ambrosio! Hãy bảo rằng ngài sẽ che giấu câu chuyện của em, rằng em sẽ mãi là Người bạn và Người đồng hành của ngài, nếu không thanh đoản kiếm này sẽ uống cạn máu em!”

Vừa thốt ra những lời cuối, nàng giơ cao cánh tay và làm động tác hệt như chuẩn bị đâm thủng ngực mình. Đôi mắt vị tu sĩ kinh hãi dõi theo đường đi của lưỡi dao. Nàng đã xé toạc tấm áo tu sĩ, và bầu ngực bị phơi bày một nửa. Mũi vũ khí tì lên bầu ngực trái của nàng: Và ôi, đó lại là một bầu ngực nhường ấy! Ánh trăng rọi thẳng vào nó cho phép vị tu sĩ quan sát rõ độ trắng lóa mắt. Đôi mắt ngài đăm đăm dán chặt vào khối cầu mỹ lệ bằng thứ sự khao khát không bao giờ thỏa mãn. Một xúc cảm chưa từng biết trước đó tràn ngập lồng ngực ngài bằng sự pha trộn giữa nỗi lo âu và niềm hoan hỉ: Một ngọn lửa cuồng nộ phóng qua từng thớ thịt; Máu trong huyết quản sôi sục, và hàng ngàn khát vọng điên cuồng làm rối bời trí tưởng tượng của ngài.

“Dừng lại!” Ngài thét lên bằng giọng khẩn trương đứt quãng; “Tôi không thể cưỡng lại được nữa! Hãy ở lại, hỡi Nữ phù thủy; Hãy ở lại để hủy hoại tôi đi!”

Nói rồi, phóng mình khỏi chốn ấy, ngài vội vã lao về phía tu viện: Ngài tìm lại được tu phòng của mình và ngã nhào xuống chiếc giường, cuồng loạn, lưỡng lự và bấn loạn.

Trong chốc lát, ngài thấy thật bất khả thi để sắp xếp lại ý nghĩ của mình. Khung cảnh vừa trải qua đã khơi dậy quá nhiều xúc cảm đa dạng trong lồng ngực, khiến ngài bất lực chẳng thể phán định đâu mới là cảm xúc chủ đạo. Ngài chần chừ không biết nên hành xử thế nào với kẻ đã quấy rầy sự bình yên của mình. Ngài ý thức được rằng sự khôn ngoan, tôn giáo và chuẩn mực đạo đức đòi hỏi ngài phải ép buộc nàng rời khỏi tu viện: Thế nhưng ở hướng ngược lại, những lý do quá đỗi quyền năng lại biện minh cho việc cô ấy ở lại khiến ngài ngả nghiêng chẳng muốn gì hơn là chấp thuận việc nàng tiếp tục lưu lại. Ngài chẳng tài nào tránh khỏi việc cảm thấy tự mãn trước lời tuyên bố của Matilda, và khi ngẫm ngự về việc mình đã vô tình khuất phục được một trái tim từng kháng cự lại các cuộc tấn công từ những chàng kỵ sĩ cao quý nhất Tây Ban Nha: Cách thức ngài chiếm được tình cảm của nàng cũng là điều làm sự kiêu ngạo của ngài thỏa mãn nhất; Ngài nhớ lại vô số giờ phút hạnh phúc từng trải qua trong sự đồng hành cùng Rosario, và vô cùng khiếp sợ khoảng trống trong lồng ngực mà việc chia tay em sẽ gây ra. Thêm vào tất cả những điều đó, ngài cân nhắc rằng vì Matilda giàu có, sự sủng ái của nàng có thể mang lại lợi ích thiết thực cho tu viện.

“Và mình mạo hiểm điều gì chứ,” ngài tự nhủ, “khi chuẩn y cho cô ấy ở lại? Chẳng lẽ mình không thể an tâm tin tưởng vào những lời khẳng định của cô ấy sao? Chẳng lẽ không dễ dàng để mình lãng quên giới tính của cô ấy, và tiếp tục xem cô ấy như Bạn hiền cùng đệ tử của mình hay sao? Chắc chắn tình yêu của cô ấy trong sáng y như những gì cô ấy mô tả. Giả sử nó là sản phẩm từ thói đồi bại thuần túy, liệu cô ấy có thể giấu giếm nó trong lồng ngực mình lâu đến thế không? Liệu cô ấy có không dùng đến bất kỳ thủ đoạn nào để mưu cầu sự thỏa mãn hay chăng? Cô ấy đã làm hoàn toàn ngược lại: Cô ấy nỗ lực giữ kín giới tính của mình trước tôi; và không gì ngoài nỗi sợ bị bại lộ cùng những lời lẽ của tôi mới ép buộc cô ấy phải phơi bày bí mật. Cô ấy tuân thủ các bổn phận tôn giáo chẳng kém gì tôi. Cô ấy không hề có nỗ lực nào nhằm khơi dậy những dục vọng đang ngủ quên của tôi, cũng chưa từng trò chuyện với tôi về chủ đề Tình yêu cho đến tận đêm nay. Giả sử cô ấy khao khát chiếm đoạt tình cảm của tôi chứ không phải sự kính trọng, cô ấy đã chẳng cẩn trọng giấu nhẹm đi những nét kiều diễm của mình đến thế: Cho đến tận khoảnh khắc này, tôi chưa từng nhìn thấy gương mặt cô ấy: Thế nhưng chắc chắn gương mặt đó phải vô cùng khả ái, và vóc dáng của cô ấy phải tuyệt mỹ, nếu xét qua... qua những gì tôi vừa chứng kiến.”

Khi ý nghĩ cuối cùng này lướt qua trí tưởng tượng, một sắc đỏ lan tỏa gò má ngài. Hoảng sợ trước những xúc cảm mà bản thân đang thả buông, ngài lao vào cầu nguyện; ngài bật dậy khỏi giường, quỳ sụp trước bức Tranh Thánh xinh đẹp, và khẩn cầu sự trợ giúp để dập tắt những cảm xúc đáng trách ấy. Sau đó, ngài quay lại giường và phó mặc cho giấc ngủ.

Ngài bừng tỉnh, người hầm hập và chẳng chút sảng khoái. Trong giấc ngủ, trí tưởng tượng đầy sung mãn đã trưng bày trước mắt ngài toàn những đối tượng ngập tràn nhục cảm. Matilda hiện diện trước mắt trong giấc chiêm bao, và đôi mắt ngài lại một lần nữa đăm đăm dán vào bầu ngực trần của nàng. Nàng lặp lại những lời thề nguyền tình yêu vĩnh cửu, quàng tay ôm lấy cổ ngài và ngập tràn hôn ngài: Ngài hồi đáp chúng một cách cuồng nhiệt; ngài ôm chầm lấy nàng đầy say đắm, và... ảo ảnh tan biến. Đôi khi giấc mơ lại tái hiện hình ảnh bức Tranh Thánh ưa thích, và ngài tưởng tượng mình đang quỳ gối trước nàng: Khi ngài dâng những lời cầu nguyện lên nàng, đôi mắt của Bức Tượng dường như tỏa chiếu sự ngọt ngào không thể tả xiết xuống ngài. Ngài áp môi mình lên môi nàng, và cảm thấy chúng ấm áp: Hình hài sống động bật tung khỏi Khung vải, ôm chộn rộn lấy ngài, và các giác quan của ngài bất lực trước niềm hoan lạc quá đỗi tinh tế ấy. Đó là những khung cảnh ngự trị trong tâm trí ngài khi chìm vào giấc ngủ: Những Ham muốn chưa được thỏa mãn đã phơi bày trước mắt những Hình ảnh khiêu khích và đồi bại nhất, và ngài đắm chìm trong những niềm hoan hỉ chưa từng biết đến trước đó.

Ngài bật dậy khỏi giường, ngập tràn hổ thẹn khi nhớ lại những giấc mơ của mình. Ngài cũng chẳng hề bớt ngượng ngùng hơn khi ngẫm lại những lý do vào đêm hôm trước đã xúi giục ngài chuẩn y cho Matilda ở lại. Đám mây che mờ phán đoán nay đã tan biến; ngài run rẩy khi chứng kiến những luận điểm của mình được tô vẽ bằng màu sắc thích đáng, và nhận ra rằng bản thân chỉ là nô lệ cho sự bợ đỡ, lòng tham lam và thói yêu bản thân. Nếu chỉ trong một giờ đồng hồ trò chuyện, Matilda đã tạo ra một sự thay đổi đáng chú ý đến thế trong tâm tình của ngài, thì ngài còn phải khiếp sợ điều gì nữa nếu để cô ta tiếp tục lưu lại tu viện? Trở nên nhạy bén trước hiểm nguy, bừng tỉnh khỏi giấc mơ tự tin, ngài quyết định phải khăng khăng đòi cô ấy rời đi không chậm trễ. Ngài bắt đầu cảm thấy bản thân không hề miễn nhiễm trước cám dỗ; và bất chấp việc Matilda có tự kìm chế bản thân trong khuôn khổ sự đoan trang đến đâu, ngài cũng chẳng tài nào đương đầu nổi với những thứ dục vọng mà ngài từng ảo tưởng rằng bản thân đã được miễn trừ.

“Agnes! Agnes!” Ngài thốt lên trong lúc suy ngẫm về những rắc rối của mình, “Ta đã cảm nhận được lời nguyền của cô rồi đấy!”

Ngài rời khỏi tu phòng, quyết định trục xuất kẻ mạo danh Rosario. Ngài xuất hiện vào giờ Kinh Sáng; Thế nhưng tâm trí ngài lơ đễnh và chẳng mảy may chú tâm vào đó. Trái tim và bộ não ngài đều ngập tràn những mục đích trần tục, và ngài cầu nguyện mà chẳng mòng có sự sùng kính. Buổi lễ kết thúc, ngài bước xuống khu vườn. Ngài hướng bước chân về đúng cái chốn mà vào đêm hôm trước ngài đã khám phá ra bí mật gây bối rối này. Ngài đinh ninh rằng Matilda sẽ tìm kiếm mình ở đó: Và ngài đã không lầm. Chẳng mấy chốc sau nàng bước vào cốc ẩn tu, tiến lại gần vị tu sĩ với vẻ rụt rè. Sau vài phút im lặng giữa cả hai, nàng trông có vẻ sắp sửa cất lời; thế nhưng vị Viện phụ, người suốt khoảng thời gian ấy vẫn đang gom góp mọi nghị lực của mình, đã vội vã cắt ngang. Dù vẫn chưa ý thức được tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó, ngài vẫn khiếp sợ sự quyến rũ du dương từ giọng nói của nàng.

“Hãy ngồi xuống cạnh tôi, Matilda,” ngài nói, khoác lên mình vẻ kiên quyết mặc dù cẩn thận tránh né dù chỉ một chút pha trộn của sự khắc nghiệt; “Hãy kiên nhẫn lắng nghe tôi, và hãy tin rằng, trong những gì tôi sắp nói, tôi không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân nhiều hơn lợi ích của cô: Hãy tin rằng tôi dành cho cô tình bạn nồng nhiệt nhất, lòng trắc ẩn chân thành nhất, và rằng cô không thể đau buồn hơn tôi khi tôi tuyên bố rằng chúng ta không bao giờ được phép gặp lại nhau nữa.”

“Ambrosio!” Nàng kêu lên bằng giọng điệu vừa biểu lộ sự ngạc nhiên vừa đượm buồn.

“Bình tĩnh lại nào, bạn tôi! Rosario của tôi! Hãy để tôi tiếp tục gọi cô bằng cái tên vô cùng thân thương ấy! Cuộc chia ly của chúng ta là không thể tránh khỏi; Tôi đỏ mặt khi thừa nhận nó tác động đến mình sâu sắc nhường nào.—Thế nhưng mọi chuyện phải thế thôi. Tôi cảm thấy bản thân bất lực trong việc đối xử với cô bằng sự thờ ơ, và chính xác tín đó buộc tôi phải khăng khăng đòi cô rời đi. Matilda, cô không được phép ở lại đây nữa.”

“Ôi! Giờ tôi phải tìm đâu ra sự chính trực đây? Cảm thấy ghê tởm trước một thế giới phản trắc, Sự Thật đang ẩn náu ở vùng đất hạnh phúc nào chứ? Thưa Cha, em từng hy vọng ngài chính là nơi trú ngụ của bà ấy; Em từng nghĩ ngài là điện thờ ưa thích của lòng ngài. Thế mà ngài cũng chứng tỏ mình là kẻ phản trắc ư? Lạy Chúa! Cả ngài cũng định phản bội em sao?”

“Matilda!”

“Vâng, thưa Cha, Vâng! Em trách ngài là hoàn toàn có lý. Ồ, những lời hứa của ngài đâu rồi? Thời gian tập sự của em chưa kết thúc, thế mà ngài lại nỡ ép em rời khỏi tu viện sao? Ngài có gan đuổi em đi ư? Và chẳng phải em đã nhận được lời thề long trọng trái ngược lại của ngài rồi sao?”

“Tôi sẽ không ép cô rời khỏi tu viện: Cô đã nhận được lời thề long trọng của tôi về điều đó. Thế nhưng khi tôi phó mặc mình vào sự rộng lượng của cô, khi tôi tuyên bố với cô những rắc rối mà sự hiện diện của cô kéo tôi vào, liệu cô có buông tha cho tôi khỏi lời thề đó không? Hãy ngẫm lại hiểm nguy của một vụ bại lộ, ngẫm lại sự hổ nhục mà một sự kiện như thế sẽ đẩy tôi xuống: Hãy ngẫm lại rằng danh dự và uy tín của tôi đang bị đe dọa, và sự bình yên trong tâm trí tôi phụ thuộc vào sự tuân thủ của cô. Cho đến nay trái tim tôi vẫn tự do; Tôi sẽ chia tay cô trong sự nuối tiếc, chứ không phải trong tuyệt vọng. Cứ ở lại đây, và chỉ vài tuần nữa hạnh phúc của tôi sẽ bị tế thần trên bàn thờ nhan sắc của cô. Cô quá đỗi thú vị, quá đỗi đáng yêu! Tôi sẽ yêu cô, tôi sẽ tôn sùng cô! Lồng ngực tôi sẽ trở thành con mồi cho những khao khát mà Danh dự và Bậc tu hành cấm tôi thỏa mãn. Nếu tôi kháng cự chúng, sự bồng bột của những ham muốn chưa được thỏa mãn sẽ đẩy tôi đến phát điên; Nếu tôi khuất phục trước cám dỗ, tôi sẽ hy sinh uy tín của mình ở thế gian này và sự cứu rỗi ở thế giới mai sau để đánh đổi lấy khoảnh khắc hoan lạc tội lỗi ấy. Do đó, tôi tìm đến cô để cầu xin sự phòng thủ chống lại chính mình. Hãy bảo vệ tôi khỏi việc đánh đánh mất phần thưởng cho ba mươi năm khổ hạnh! Hãy bảo vệ tôi khỏi việc trở thành Nạn nhân của Sự cắn rứt! Trái tim cô từng cảm nhận nỗi thống khổ của thứ tình yêu không lối thoát; Ôi, thế thì nếu cô thực sự trân trọng tôi, xin hãy tha cho trái tim tôi nỗi thống khổ ấy! Hãy trả lại lời hứa cho tôi; Hãy trốn chạy khỏi những bức tường này. Hãy đi, và cô mang theo những lời cầu nguyện nồng nhiệt nhất của tôi cho hạnh phúc của cô, tình bạn, sự kính trọng cùng sự ngưỡng mộ của tôi; Hãy ở lại, và cô trở thành nguồn cội của hiểm nguy, của những nỗi thống khổ, của sự tuyệt vọng đối với tôi! Hãy trả lời tôi, Matilda; Quyết định của cô là gì?”—Nàng im lặng—“Cô không chịu cất lời sao, Matilda? Cô không chịu nêu lên lựa chọn của mình sao?”

“Tàn nhẫn! Thật tàn nhẫn!” Nàng thốt lên, vặn vẹo đôi tay trong đớn đau; “Ngài thừa biết rằng ngài có cho em lựa chọn nào đâu! Ngài thừa biết rằng em chẳng thể có ý nguyện nào khác ngoài ý nguyện của ngài!”

“Vậy là tôi đã không lầm! Sự rộng lượng của Matilda tương xứng với kỳ vọng của tôi.”

“Vâng; em sẽ chứng minh sự chân thực trong tình cảm của mình bằng cách tuân phục một sắc lệnh cắt cứa tận tâm can em. Xin nhận lại lời hứa của ngài. Em sẽ rời khỏi tu viện ngay trong ngày hôm nay. Em có một người họ hàng làm Nữ bề trên của một tu viện ở Estramadura: Em sẽ hướng bước chân về phía đó, và vĩnh viễn khép mình khỏi thế gian. Thế nhưng hãy nói cho em biết, thưa Cha, liệu em có được mang theo những lời chúc tốt đẹp của ngài vào chốn ẩn dật không? Liệu thỉnh thoảng ngài có dứt bỏ sự chú ý khỏi những đối tượng thiên đàng để ban phát một suy tưởng cho em không?”

“Hỡi ôi, Matilda, anh sợ rằng mình sẽ nghĩ đến em quá thường xuyên đến mức làm tổn hại sự bình yên mất!”

“Thế thì em chẳng còn gì để ước nguyện nữa, ngoại trừ việc chúng ta sẽ hội ngộ trên thiên đàng. Vĩnh biệt, bạn hiền của em! Ambrosio của em!—Và dẫu vậy, em vẫn tha thiết muốn mang theo một kỷ vật về sự quan tâm của ngài!”

“Tôi phải cho cô cái gì đây?”

“Một thứ gì đó.—Bất cứ thứ gì.—Một trong những bông hoa kia là đủ.” (Nàng chỉ tay về phía bụi hồng được trồng ngoài cửa hang). “Em sẽ giấu nó trong ngực áo, và khi em chết, các nữ tu sẽ tìm thấy nó héo rũ trên trái tim em.”

Vị tu sĩ bất lực chẳng thể hồi đáp: Với những bước chân chậm chạp, cùng tâm hồn nặng trĩu muộn phiền, ngài rời khỏi cốc ẩn tu. Ngài tiến đến bụi hoa và cúi xuống để ngắt một bông hồng. Bất chợt ngài thốt lên một tiếng kêu sắc bén, giật nảy mình lùi lại và để rơi bông đóa hoa đang cầm trên tay xuống đất. Matilda nghe thấy tiếng thét và lo lắng lao về phía ngài.

“Chuyện gì thế?” Nàng thét lên; “Vì Chúa, hãy trả lời em! Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

“Tôi bị tử thương rồi!” Ngài đáp bằng giọng yếu ớt; “Ẩn giấu giữa những bông hồng... Một con rắn...”

Đến đây, cơn đau từ vết thương trở nên buốt nhói đến mức Tự nhiên không tài nào chịu đựng nổi: Các giác quan rời bỏ ngài, và ngài ngã bất tỉnh vào vòng tay Matilda.

Nỗi đau khổ của nàng vượt quá sức miêu tả. Nàng bứt tóc đấm ngực, và vì không dám rời xa Ambrosio, nàng nỗ lực dùng những tiếng la hét lớn để triệu tập các tu sĩ đến cứu giúp. Cuối cùng nàng đã thành công. Bị đánh động bởi những tiếng thét, một vài vị huynh đệ vội vã đổ xô đến hiện trường, và vị Viện phụ được khiêng trở lại tu viện. Ngài lập tức được đưa lên giường bệnh, và tu sĩ đảm nhiệm vai trò Y sĩ của tu viện chuẩn bị kiểm tra vết thương. Lúc này, bàn tay của Ambrosio đã sưng phồng lên đến kích thước phi thường; Các phương thuốc được sơ cứu cho ngài quả thực đã giúp ngài hồi tỉnh, nhưng chưa lấy lại được ý thức; ngài sảng khoái trong mọi nỗi kinh hoàng của cơn mê sảng, sùi bọt mép, và bốn vị tu sĩ khỏe mạnh nhất mới miễn cưỡng giữ được ngài nằm trên giường.

Cha Pablos, đó là tên của vị Y sĩ, vội vã kiểm tra bàn tay bị thương. Khi ông rút chiếc dao mổ ra, đầu mũi dao nhuốm một màu xanh lục. Ông buồn bã lắc đầu và bước ra khỏi giường bệnh.

“Đúng như ta e sợ!” Ông nói; “Chẳng còn hy vọng gì nữa.”

“Không còn hy vọng ư?” Các tu sĩ đồng thanh kêu lên; “Ý ngài là không còn hy vọng nào sao?”

“Từ những tác động đột ngột, ta nghi ngờ rằng Viện phụ đã bị cắn bởi một con rết độc:[1] Chất độc mà ngài nhìn thấy trên lưỡi dao của ta xác nhận phỏng đoán đó: Ngài ấy không thể sống qua ba ngày.”

[1] Loài rết độc này được cho là có nguồn gốc từ Cuba, và được mang đến Tây Ban Nha từ hòn đảo đó trên con thuyền của Columbus.

“Và không thể tìm thấy phương thuốc nào khả dĩ sao?” Rosario gặng hỏi.

“Nếu không hút nọc độc ra, ngài ấy không thể hồi phục; và cách hút nó ra thế nào vẫn là một bí mật đối với ta. Tất cả những gì ta có thể làm là đắp lên vết thương những loại thảo mộc giúp xoa dịu cơn buốt giá: Bệnh nhân sẽ tỉnh lại; nhưng nọc độc sẽ làm thối rữa toàn bộ lượng máu trong cơ thể, và trong vòng ba ngày ngài ấy sẽ không còn tồn tại nữa.”

Nỗi đau buồn bao trùm là vô cùng lớn lao khi nghe phán quyết này. Pablos, đúng như đã hứa, băng bó vết thương rồi lui ra, theo sau là các bạn đồng môn; Chỉ duy nhất một mình Rosario ở lại trong tu phòng, bởi theo lời khẩn thiết của thiếu niên, vị Viện phụ đã được giao phó cho em chăm sóc. Sức lực của Ambrosio bị bào mòn bởi sự dữ dội trong những nỗ lực vừa qua, và bấy giờ ngài đã chìm vào một giấc ngủ sâu. Ngài hoàn toàn bị đánh gục bởi sự mệt mỏi đến mức hầu như chẳng còn phát ra dấu hiệu sự sống nào; Ngài vẫn đang ở trong trạng thái này khi các tu sĩ quay lại để dò hỏi xem có sự thay đổi nào xảy ra chưa. Pablos nới lỏng dải băng che khuất vết thương, phần nhiều vì sự tò mò hơn là nuôi hy vọng phát hiện ra các triệu chứng khả quan. Sự kinh ngạc của ông lớn nhường nào khi phát hiện ra rằng tình trạng viêm đã hoàn toàn thuyên giảm! Ông thăm dò bàn tay; Lưỡi dao mổ rút ra hoàn toàn tinh khiết và không vệt bẩn; Không một dấu vết nào của nọc độc có thể nhận thức được, và giả sử vết thương không còn đó, Pablos có lẽ đã nghi ngờ rằng chưa từng có vết thương nào tồn tại.

Ông thông báo tin tức này cho các huynh đệ; sự sung sướng của họ chỉ có thể sánh ngang với sự ngạc nhiên. Tuy nhiên, khỏi sự ngạc nhiên đó, họ nhanh chóng được giải tỏa bằng cách lý giải tình huống theo quan niệm của riêng mình: Họ hoàn toàn đinh ninh rằng vị Viện phụ của họ là một vị Thánh, và nghĩ rằng chẳng có gì tự nhiên hơn việc Thánh Phanxicô đã thực hiện một phép lạ để cứu giúp ngài. Quan điểm này được nhất trí thông qua; Họ lớn tiếng tuyên bố điều đó, và hô vang,—“Phép lạ! Phép lạ!”—với sự nhiệt thành đến mức chẳng mấy chốc họ đã quấy rầy giấc ngủ của Ambrosio.

Các tu sĩ lập tức xúm lại quanh giường ngài, bày tỏ sự mãn nguyện trước sự hồi phục kỳ diệu của ngài. Ngài hoàn toàn tỉnh táo, và không vướng bận bất kỳ phiền muộn nào ngoại trừ cảm giác yếu ớt và bơ phờ. Pablos cho ngài uống thuốc bổ lực và khuyên ngài nên tiếp tục nằm giường trong hai ngày tới; Sau đó ông lui ra, dặn bệnh nhân không nên kiệt sức vì trò chuyện, mà tốt hơn nên cố gắng nghỉ ngơi đôi chút. Các tu sĩ khác làm theo gương ông, và vị Viện phụ cùng Rosario bị bỏ lại mà không có những Kẻ quan sát.

Trong vài phút, Ambrosio đăm đăm nhìn người chăm sóc mình bằng ánh mắt pha trộn giữa sự hoan hỉ và lo âu. Nàng đang ngồi bên mép giường, đầu cúi gằm xuống, và như thường lệ được trùm kín trong chiếc mũ trùm đầu.

“Và em vẫn ở đây sao, Matilda?” Cuối cùng vị tu sĩ cũng cất lời. “Em chưa thỏa mãn với việc đẩy anh đến bờ vực hủy diệt suýt soát đến mức không gì ngoài một phép lạ mới cứu nổi anh khỏi nấm mồ sao? Hỡi ôi, chắc chắn Thiên đàng đã sai con rắn đó đến để trừng phạt....”

Matilda ngắt lời ngài bằng cách đưa tay bịt miệng ngài lại với vẻ vui tươi.

“Suỵt! Thưa Cha, Suỵt! Ngài không được phép nói chuyện!”

“Kẻ áp đặt mệnh lệnh đó chẳng hề hay biết những chủ đề mà anh muốn thưa chuyện thú vị nhường nào.”

“Nhưng em biết điều đó, và vẫn ban hành mệnh lệnh quả quyết tương tự. Em được chỉ định làm y tá cho ngài, và ngài không được phép chống lại mệnh lệnh của em.”

“Em có vẻ cao hứng đấy, Matilda!”

“Em hoàn toàn có lý để làm thế: Em vừa nhận được một niềm vui vô tiền khoáng hậu trong suốt cuộc đời mình.”

“Niềm vui đó là gì?”

“Thứ mà em phải che giấu với tất cả mọi người, nhưng nhất là với ngài.”

“Nhưng nhất là với anh ư? Thôi nào, anh khẩn nài em, Matilda....”

“Suỵt, thưa Cha! Suỵt! Ngài không được nói chuyện. Thế nhưng vì ngài trông không có vẻ muốn ngủ, em có nên thử làm ngài khuây khỏa bằng cây Đàn Hạc của mình không?”

“Sao cơ? Anh không hề hay biết rằng em am hiểu Âm nhạc.”

“Ồ, em là một kẻ biểu diễn tồi tệ thôi! Thế nhưng vì sự im lặng được chỉ định cho ngài trong bốn mươi tám giờ, em có thể sẽ làm ngài giải trí khi ngài cảm thấy mệt mỏi với những suy ngẫm của chính mình. Em đi lấy đàn Hạc đây.”

Nàng sớm quay lại với nó.

“Giờ thì, thưa Cha; Em nên hát bài gì đây? Ngài có muốn nghe bản Ballad kể về tráng sĩ Durandarte, kẻ đã hy sinh trong trận chiến Roncesvalles lừng danh không?”

“Tùy em thôi, Matilda.”

“Ồ, đừng gọi em là Matilda! Hãy gọi em là Rosario, gọi em là Bạn hiền của ngài! Đó là những cái tên mà em thích được nghe thốt ra từ đôi môi ngài. Giờ thì hãy lắng nghe!”

Nàng sau đó lên dây đàn hạc, rồi dạo khúc dạo đầu trong vài khoảnh khắc bằng một thứ gu thẩm mỹ tinh tế đến mức chứng minh bản thân là một bậc thầy thực thụ về Nhạc cụ. Giai điệu nàng tấu lên thật êm dịu và não nề:

Ambrosio, trong lúc lắng nghe, cảm thấy sự bứt rứt dịu xuống, và một nỗi sầu muộn dễ chịu lan tỏa vào lồng ngực ngài. Bất chợt, Matilda thay đổi khúc điệu: Bằng một bàn tay táo bạo và nhanh nhẹn, nàng gảy vài hợp âm võng dõng dạc, rồi cất giọng ngâm nga bản Ballad sau đây với một giai điệu vừa đơn sơ vừa du dương.

DURANDARTE VÀ BELERMA

Buồn bã và hãi hùng là câu chuyện

Về trận chiến Roncesvalles kinh hoàng;

Trên những bãi chiến trường định mệnh ấy

Bao tráng sĩ ngã xuống đầy oai vang.

Nơi ấy Durandarte ngã; Chưa từng

Thi ca xướng tên vị Tướng nào oai nghiêm hơn:

Chàng, trước khi đôi môi vĩnh viễn

Khép lại trong thinh lặng, đã cất lời căm hờn.

“Ôi Belerma! Ôi người dấu yêu của anh!

Sinh ra vì niềm đau lẫn niềm vui của anh!

Bảy năm dài anh phụng sự nàng, hỡi người xinh đẹp,

Bảy năm dài thù lao nhận lại là sự khinh miệt:

“Và giờ đây khi trái tim nàng hồi đáp

Những khao khát của anh, bùng cháy hệt lòng anh,

Định mệnh tàn nhẫn chối bỏ niềm hoan hỉ

Buộc anh phải từ bỏ mọi hy vọng mong manh.

“Hỡi ôi! Dù ngã xuống khi tuổi đời còn trẻ, hãy tin anh,

Cái chết chẳng bao giờ đòi hỏi lấy một tiếng thở dài;

Chính là việc mất đi nàng, chính là việc lìa xa nàng,

Mới khiến anh thấy việc chết đi sao mà khó hoài!

“Ôi họ hàng Montesinos của anh,

Nhờ tình bạn sắt son và thân thiết ấy

Từng gắn bó đôi ta từ thuở niên thiếu xanh,

Giờ hãy lắng nghe thỉnh cầu cuối cùng này!

“Khi Linh hồn anh rời bỏ những thớ thịt này

Háo hức tìm kiếm một bầu không khí tinh tuyết hơn,

Hãy móc trái tim lạnh ngắt ra khỏi lồng ngực,

Và trao nó vào sự chăm sóc của Belerma hơn.

Hãy nói rằng, chủ nhân những điền trang của anh,

Anh đã gọi tên nàng bằng hơi thở lúc lâm chung:

Hãy nói rằng môi anh đã hé để chúc phúc cho nàng,

Trước khi chúng vĩnh viễn khép lại trong hư không:

“Hãy nói xem tuần hai lần anh thành kính biết bao

Khi tôn sùng nàng, hỡi người họ hàng;

Hãy bảo nàng cầu nguyện hai lần mỗi tuần

Cho kẻ từng yêu nàng tha thiết, hỡi người họ hàng.

“Montesinos, giờ đây giờ khắc

Do định mệnh định đoạt đã cận kề:

Kìa! Cánh tay anh đã mất đi sức mạnh!

Kìa! Anh đánh rơi thanh gươm quý báu bề thế!

“Đôi mắt từng chứng kiến anh ra đi,

Trở về nhà sẽ chẳng bao giờ thấy anh về nữa!

Người họ hàng, hãy chặn những giọt nước mắt tuôn rơi ấy đi,

Hãy để anh được chết trên lồng ngực người vừa lửa!

“Bàn tay nhân hậu của ngươi nhắm đôi mi anh lại,

Anh vẫn xin một ân huệ cuối cùng:

Hãy cầu nguyện cho sự an nghỉ của linh hồn anh,

Khi trái tim anh chẳng còn đập nhịp rung;

“Đấy thì Chúa Giêsu, vẫn chiếu cố lắng nghe

Tâm tư nhân hậu đến lời thề của tín đồ,

Sẽ hoan hỉ đón nhận Hồn ma đang bay vút lên,

Và ban cho một chiếc ghế trên thiên đàng nhấp nhô.”

Tráng sĩ Durandarte vừa cất lời xong;

Chẳng bao lâu trái tim dũng cảm vỡ đôi trong lòng.

Đám người Moor vô cùng mừng rỡ tột cùng,

Rằng vị tráng sĩ dũng mãnh nay đã vong vong.

Montesinos đẫm lệ cay đắng

Lột lấy mũ giáp và gươm báu của chàng;

Montesinos đẫm lệ cay đắng

Đào nấm mồ cho người họ hàng dũng cảm khôn ngoan.

Để thực hiện lời hứa đã trao, hắn

Khoét trái tim ra khỏi lồng ngực,

Để Belerma, người phụ nữ bất hạnh khốn đốn,

Có thể nhận lấy di vật cuối cùng bất dịch.

Trái tim Montesinos buồn bã, hắn

Cảm nhận nỗi thống khổ xé toạc ngực trần.

“Ôi người họ hàng Durandarte của ta,

Đau đớn thay khi thấy kết cục của ngươi ngần ngần!

“Ngọt ngào trong phong thái, đẹp đẽ trong dung nhan,

Hiền hòa về tính cách, dữ dội khi giao chiến,

Một chiến binh cao quý hơn, dịu dàng hơn, dũng cảm hơn,

Sẽ chẳng bao giờ ánh sáng thế gian được chiêm bái thêm!

“Hỡi Người họ hàng, kìa nước mắt ta đẫm ướt ngươi!

Làm sao ta sống sót qua sự mất mát của ngươi đời!

Durandarte ơi, kẻ đã tước đoạt sinh mạng ngươi,

Vì sao lại bỏ mặc ta sống sót trên cõi đời?”

Trong lúc nàng cất tiếng hát, Ambrosio say sưa lắng nghe: Chưa bao giờ ngài được nghe một giọng nói nào hài hòa đến thế, và ngài tự hỏi làm thế nào những âm thanh tựa thiên đàng ấy lại có thể được tạo ra bởi bất kỳ ai ngoài các Thiên thần. Thế nhưng dẫu ngài thả buông cho thính giác tận hưởng, chỉ một cái nhìn cũng thuyết phục ngài rằng bản thân không được phép tin tưởng vào thị giác. Nữ ca sĩ ngồi cách chiếc giường của ngài một khoảng ngắn. Tư thế nàng cúi gập người trên cây đàn hạc thật thoải mái và duyên dáng: Chiếc mũ trùm đầu của nàng ngả về phía sau nhiều hơn thường lệ: Hai bờ môi đỏ mọng hiện ra, chín mọng, tươi tắn và tan chảy, cùng một chiếc cằm mà nơi lúm đồng tiền của nó dường như ẩn giấu hàng ngàn vị thần tình ái. Tay áo dài của y phục nàng đáng lẽ đã quét dọc qua các dây đàn của Nhạc cụ: Để tránh sự bất tiện này, nàng đã kéo nó lên trên khuỷu tay, và nhờ đó một cánh tay được lộ diện với tỷ lệ hoàn mỹ nhất, độ mịn màng của làn da có thể tranh tài trắng muốt với tuyết. Ambrosio chỉ dám nhìn nàng đúng một lần: Cái nhìn thoáng qua ấy đủ để thuyết phục ngài sự hiện diện của Đối tượng quyến rũ này nguy hiểm nhường nào. Ngài nhắm mắt lại, nhưng vô vọng trong việc xua đuổi nàng khỏi những suy nghĩ của mình. Nàng vẫn di chuyển trước mắt ngài ở đó, được tô điểm bởi tất cả những nét quyến rũ mà trí tưởng tượng đầy sung mãn của ngài có thể cung cấp: Mọi vẻ đẹp ngài từng chứng kiến đều xuất hiện với vẻ lộng lẫy được tô vẽ, và những thứ hãy còn che giấu được Trí tưởng tượng phác hoạ lại cho ngài qua những màu sắc rực rỡ. Thế nhưng, những lời thề nguyện cùng sự cần thiết phải tuân thủ chúng vẫn hiện diện trong ký ức của ngài. Ngài vật lộn với dục vọng, và run rẩy khi chứng kiến vực thẳm trước mặt sâu thẳm đến nhường nào.

Matilda ngưng hát. Khiếp sợ trước sức mạnh từ những nét quyến rũ của nàng, Ambrosio nhắm nghiền mắt và dâng những lời cầu nguyện lên Thánh Phanxicô để xin được giúp đỡ trong thử thách nguy hiểm này! Matilda đinh ninh rằng ngài đang ngủ. Nàng đứng dậy khỏi ghế, rón rén tiến lại gần giường, và chăm chú ngắm nhìn ngài trong vài phút.

“Ngài ấy đang ngủ!” Cuối cùng nàng cất lời bằng giọng khẽ khàng, nhưng những âm tiết ấy lại được vị Viện phụ phân định rạch ròi hoàn toàn; “Giờ thì mình có thể ngắm nhìn ngài ấy mà không sợ bị phật ý! Mình có thể hòa quyện hơi thở của mình với hơi thở ngài ấy; Mình có thể đắm chìm vào các nét trên gương mặt ngài ấy, và ngài ấy không thể nghi ngờ mình xảo trá và lừa lọc!—Ngài ấy sợ mình quyến rụng ngài ấy vi phạm lời thề nguyện! Ôi, Kẻ bất công! Giá như em có ý định khơi dậy khao khát, liệu em có giấu giếm các nét trên gương mặt mình cẩn trọng đến thế không? Những nét khuôn mặt ấy, thứ mà ngày ngày em nghe ngài ca tụng....”

Nàng ngưng lời, và chìm đắm trong những suy ngẫm.

“Mới hôm qua thôi mà!” Nàng tiếp tục; “Chỉ vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi trôi qua, từ khi em còn rất đỗi thân thiết với ngài! Ngài kính trọng em, và trái tim em được thỏa mãn! Giờ thì!... Ôi, giờ đây hoàn cảnh của em đã thay đổi tàn nhẫn làm sao! Ngài nhìn em với ánh mắt nghi ngờ! Ngài bảo em rời khỏi ngài, rời khỏi ngài vĩnh viễn! Ồ! Vị Thánh của em! Thần tượng của em! Ngài, kẻ chiếm giữ vị trí ngay sau Chúa trong lồng ngực em! Chỉ còn hai ngày nữa, và trái tim em sẽ được phơi bày trước ngài.—Giá như ngài biết được cảm xúc của em, khi em chứng kiến sự thống khổ của ngài! Giá như ngài biết được, những nỗi thống khổ của ngài đã khiến ngài trở nên đáng trân quý với em biết bao! Thế nhưng thời điểm đó sẽ đến, khi ngài bị thuyết phục rằng tình cảm của em là trong sáng và vô vị lợi. Khi ấy ngài sẽ thương xót em, và cảm nhận được toàn bộ sức nặng từ những nỗi sầu muộn này!”

Vừa nói, giọng nàng vừa nghẹn ngào vì tiếng khóc. Trong lúc cúi gập người qua người Ambrosio, một giọt nước mắt rơi xuống gò má ngài.

“A, mình đã làm ngài ấy thức giấc rồi!” Matilda thét lên và vội vã lùi lại.

Sự hoảng sợ của nàng là không có căn cứ. Chẳng có ai ngủ say cho bằng những kẻ quả quyết không chịu thức giấc. Vị tu sĩ rơi vào hoàn cảnh này: Ngài vẫn trông như chìm đắm trong một giấc ngủ mà từng phút trôi qua lại khiến ngài kém khả năng tận hưởng hơn. Giọt nước mắt nóng bỏng đã truyền sự ấm áp của nó vào trái tim ngài.

“Thật đỗi tình cảm! Thật đỗi trong sáng!” Ngài thầm nhủ; “A, vì lồng ngực mình quá đỗi nhạy cảm trước lòng trắc ẩn như thế, thì nếu nó bị khuấy động bởi tình yêu, mọi chuyện sẽ ra sao đây?”

Matilda lại rời khỏi ghế và lui ra một khoảng cách nhất định khỏi giường. Ambrosio đánh bạo mở mắt ra và ném ánh mắt e dè về phía nàng. Gương mặt nàng quay đi hướng khác. Nàng tì đầu trong một tư thế sầu muộn lên cây đàn hạc, và đăm đăm nhìn bức tranh treo đối diện giường.

“Bức họa hạnh phúc, hạnh phúc biết bao!” Nàng cất lời với bức Tranh Thánh xinh đẹp; “Chính là người mà ngài dâng những lời cầu nguyện! Chính là người mà ngài ngắm nhìn bằng sự thán phục! Em từng nghĩ người sẽ làm nhẹ bớt nỗi sầu muộn của em; Người chỉ đóng vai trò làm gia tăng thêm sức nặng của chúng: Người đã khiến em cảm thấy rằng giá như em biết ngài trước khi những lời thề nguyện được cất lên, Ambrosio và hạnh phúc có lẽ đã là của em. Ngài ngắm nhìn bức tranh này bằng biết bao niềm vui! Ngài cất những lời cầu nguyện lên Bức tượng vô tri với biết bao sự nhiệt thành! A, liệu tâm tình của ngài có thể được truyền cảm hứng bởi một Thiên tài nhân hậu và bí mật nào đó, kẻ ủng hộ tình cảm của em chăng? Liệu đó có phải bản năng tự nhiên của con người mách bảo ngài... Im đi, những hy vọng hão huyền! Đừng để em khích lệ một ý tưởng làm phai mờ sự rạng rỡ trong đức hạnh của Ambrosio. Chính Tôn giáo, chứ không phải Nhan sắc mới thu hút sự thán phục của ngài; Không phải Người phụ nữ, mà chính là Đấng Thiêng Liêng mà ngài quỳ gối trước ngài ấy. Giá như ngài thốt lên với em dù chỉ là biểu cảm dịu dàng nhất mà ngài trút hết lên Bức Tranh Thánh này! Giá như ngài nói rằng giả sử không vướng bận đính ước với Giáo hội, ngài sẽ không khinh miệt Matilda! Ồ, hãy để em nuôi dưỡng ý tưởng đằm thắm ấy! Biết đâu ngài vẫn có thể thừa nhận rằng ngài dành cho em nhiều hơn sự thương xót, và rằng một thứ tình cảm giống như của em hoàn toàn xứng đáng nhận được sự hồi đáp; Biết đâu ngài sẽ thừa nhận chừng ấy khi em nằm trên giường bệnh! Khi ấy ngài chẳng cần phải sợ việc vi phạm lời thề nguyện, và lời thú nhận về sự quan tâm của ngài sẽ xoa dịu những nỗi buốt giá lúc lâm chung. Ước gì em chắc chắn về điều này! Ôi, em sẽ khao khát khoảnh khắc tan rã biết bao!”

Vị Viện phụ không bỏ sót một âm tiết nào trong bài độc thoại này; và giọng điệu khi nàng thốt lên những lời cuối xuyên thẳng vào trái tim ngài. Bất giác, ngài nhổm dậy khỏi gối.

“Matilda!” Ngài thốt lên bằng giọng bấn loạn; “Ôi, Matilda của anh!”

Nàng giật mình trước âm thanh ấy và vội vã quay người lại. Chuyển động đột ngột khiến chiếc mũ trùm đầu tuột khỏi đầu nàng; các đường nét trên khuôn mặt nàng hiện rõ trước ánh mắt dò la của vị tu sĩ. Sự kinh ngạc của ngài lớn nhường nào khi nhận ra sự tương đồng chính xác với bức Tranh Thánh được ái mộ! Tỷ lệ tuyệt mỹ của các đường nét, mái tóc vàng óng ả, bờ môi hồng hào, đôi mắt tựa thiên thần cùng sự uy nghi trên gương mặt đều tề tựu ở Matilda! Thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên, Ambrosio ngã quỵ trở lại gối và hoài nghi không biết Đối tượng trước mặt là phàm trần hay thần thánh.

Matilda trông như bị xuyên thấu bởi sự bối rối. Nàng đứng bất động tại chỗ và tựa người vào nhạc cụ. Đôi mắt nàng cúi gằm xuống mặt đất, và đôi gò má xinh đẹp bừng lên những sắc hồng. Khi trấn tĩnh lại, hành động đầu tiên của nàng là che giấu các đường nét trên gương mặt. Sau đó, bằng một giọng điệu bất ổn và bấn loạn, nàng đánh bạo cất lên những lời này với vị tu sĩ.

“Tai nạn đã biến ngài thành Chủ nhân của một bí mật mà em chưa bao giờ muốn tiết lộ cho đến tận Giường bệnh. Vâng, thưa Ambrosio; Trong Matilda de Villanegas, ngài đang nhìn thấy nguyên mẫu của bức Tranh Thánh được ái mộ. Chẳng lâu sau khi em ấp ủ thứ tình cảm bất hạnh dành cho ngài, em đã hình thành dự án chuyển bức Chân dung của mình đến tay ngài: Đám đông những kẻ ái mộ đã thuyết phục em rằng bản thân sở hữu một chút nhan sắc, và em vô cùng sốt sắng muốn biết nó sẽ tạo ra hiệu ứng gì nơi ngài. Em đã nhờ Martin Galuppi, một họa sĩ người Venice danh tiếng thời điểm đó đang cư ngụ tại thành Madrid, vẽ lại chân dung mình. Độ giống nhau là rất đáng kinh ngạc: Em gửi nó đến Tu viện Capuchin hệt như đem bán, và tên Do Thái mà ngài mua lại nó chính là một trong những đặc phái viên của em. Ngài đã mua nó. Ngài hãy thử tưởng tượng sự ngây ngất của em khi được thông báo rằng ngài đã ngắm nhìn nó với sự say đắm, hay đúng hơn là sự tôn sùng; rằng ngài đã treo nó trong tu phòng, và ngài không cất những lời cầu nguyện lên bất kỳ vị Thánh nào khác ngoài nó. Liệu phát hiện này có khiến em tiếp tục bị xem như một đối tượng đáng nghi ngờ không? Lẽ ra nó phải thuyết phục ngài tình cảm của em trong sáng nhường nào, và lôi kéo ngài cho phép em tiếp tục ở lại trong sự đồng hành và lòng kính trọng của ngài. Em nghe ngài ngày ngày ca tụng những lời tán dương bức Chân dung của mình: Em là nhân chứng tận mắt chứng kiến những niềm cuồng nhiệt mà nhan sắc của nó khơi gợi nơi ngài; Thế nhưng em vẫn kiềm chế không dùng đến những thứ vũ khí chống lại đức hạnh của ngài, những vũ khí mà chính ngài đã cung cấp cho em. Em che giấu những đường nét trên gương mặt ấy khỏi tầm mắt ngài, thứ mà ngài vô thức yêu mến. Em không nỗ lực khơi dậy khao khát bằng cách phô bày những nét quyến rũ, hay làm chủ trái tim ngài thông qua trung gian của các giác quan. Thu hút sự chú ý của ngài bằng sự tận tụy chăm chú vào các bổn phận tôn giáo, làm bản thân trở nên trân quý với ngài bằng cách thuyết phục rằng tâm trí mình vô cùng đức hạnh và tình cảm là chân thành, đó là mục tiêu duy nhất của em. Em đã thành công; Em trở thành người đồng hành và bạn hiền của ngài. Em che giấu giới tính khỏi sự hiểu biết của ngài; và giả sử ngài không ép buộc em phơi bày bí mật, giả sử em không bị dằn vặt bởi nỗi sợ bại lộ, ngài sẽ chẳng bao giờ biết em là ai ngoài Rosario. Và ngài vẫn kiên quyết đuổi em đi sao? Vài khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, liệu em có được phép trải qua chúng trước sự hiện diện của ngài không? Ôi, hãy cất lời đi, Ambrosio, và bảo rằng em được phép ở lại!”

Bài phát biểu này trao cho vị Viện phụ cơ hội để trấn tĩnh lại bản thân. Ngài ý thức được rằng trong tâm trạng hiện tại của mình, việc tránh né sự đồng hành của nàng là chốn nương náu duy nhất thoát khỏi quyền năng từ người phụ nữ mê hoặc này.

“Tuyên bố của cô làm tôi kinh ngạc đến mức,” ngài nói, “tôi hiện tại bất lực trong việc hồi đáp cô. Đừng khăng khăng đòi một câu trả lời, Matilda; Hãy để tôi một mình; Tôi cần được ở một mình.”

“Em tuân lệnh ngài.—Nhưng trước khi đi, hãy hứa là không khăng khăng đòi em phải rời khỏi tu viện ngay lập tức.”

“Matilda, hãy ngẫm lại hoàn cảnh của cô; Hãy ngẫm lại những hậu quả từ việc cô ở lại. Cuộc chia ly của chúng ta là bắt buộc, và chúng ta phải rời xa nhau.”

“Nhưng không phải hôm nay, thưa Cha! Ôi, vì lòng trắc ẩn, xin đừng là hôm nay!”

“Cô ép tôi dữ dội quá, nhưng tôi không thể kháng cự giọng điệu khẩn nài ấy. Vì cô đã khăng khăng, tôi nhượng bộ thỉnh cầu của cô: Tôi chuẩn y cho cô ở lại đây khoảng thời gian vừa đủ để phần nào chuẩn bị cho các huynh đệ về việc cô khởi hành. Cứ ở lại thêm hai ngày nữa; Nhưng vào ngày thứ ba,”... (ngài bất giác thở dài)—“Hãy nhớ rằng vào ngày thứ ba, chúng ta phải vĩnh viễn chia xa!”

Nàng háo hức chộp lấy tay ngài và áp nó lên môi.

“Vào ngày thứ ba ư?” Nàng thốt lên với vẻ trang nghiêm hoang dại; “Ngài nói đúng, thưa Cha! Ngài nói đúng! Vào ngày thứ ba, chúng ta phải vĩnh viễn chia xa!”

Có một biểu cảm kinh hoàng trong đôi mắt nàng khi thốt lên những lời đó, xuyên thủng tâm can vị tu sĩ bằng nỗi sợ hãi: Nàng lại hôn tay ngài, rồi vội vã rời khỏi phòng với tốc độ chóng mặt.

Lo lắng về việc chuẩn y sự hiện diện của vị Khách nguy hiểm, nhưng đồng thời ý thức được việc cô ấy ở lại đang vi phạm luật lệ dòng tu, lồng ngực Ambrosio trở thành Sân khấu cho hàng ngàn cảm xúc đấu tranh. Cuối cùng, sự gắn bó của ngài dành cho kẻ mạo danh Rosario, được hỗ trợ bởi sự ấm áp tự nhiên trong tính khí, dường như có khả năng giành chiến thắng: Thành công được đảm bảo khi sự tự đắc hình thành nên nền tảng tính cách của ngài đến trợ giúp Matilda. Vị tu sĩ ngẫm nghĩ rằng việc khuất phục trước cám dỗ có giá trị công trạng lớn hơn vô hạn so với việc tránh né nó: Ngài nghĩ rằng bản thân đáng lẽ nên vui mừng trước cơ hội được ban tặng để chứng minh sự vững chãi trong đức hạnh của mình. Thánh Anthony từng chống chọi lại mọi sự quyến rũ của nhục dục; Thế thì tại sao ngài lại không thể? Hơn nữa, Thánh Anthony bị cám dỗ bởi Ác quỷ, kẻ đưa mọi thủ đoạn vào thực tế để kích động dục vọng của ngài: Trong khi đó, hiểm nguy của Ambrosio xuất phát từ một Người phụ nữ phàm trần thuần túy, đầy sợ hãi và đoan trang, người mà những lo âu về việc ngài khuất phục không hề kém phần dữ dội so với của chính ngài.

“Đúng,” ngài tự nhủ; “Người phụ nữ bất hạnh đó sẽ được ở lại; Tôi chẳng có gì phải sợ hãi trước sự hiện diện của cô ấy. Thậm chí dẫu bản thân tôi tỏ ra quá yếu đuối không tài nào kháng cự nổi cám dỗ, tôi vẫn được an toàn khỏi hiểm nguy nhờ sự trong sáng của Matilda.”

Ambrosio vẫn chưa nhận thức được rằng, đối với một trái tim không am hiểu về nó, Tội ác luôn nguy hiểm nhất khi ẩn nấp sau Chiếc mặt nạ của Đức hạnh.

Ngài cảm thấy bản thân đã hồi phục hoàn toàn, thế nên khi Cha Pablos đến thăm ngài một lần nữa vào buổi tối, ngài khẩn khoản xin phép được rời khỏi phòng vào ngày hôm sau. Thỉnh cầu của ngài được chấp thuận. Matilda không xuất hiện thêm buổi tối hôm đó, ngoại trừ khi đi cùng các tu sĩ trong một đoàn người đến thăm hỏi sức khỏe vị Viện phụ. Nàng có vẻ e dè khi trò chuyện riêng tư với ngài, và chỉ lưu lại trong phòng ngài vài phút. Vị tu sĩ ngủ ngon; Thế nhưng những giấc mơ từ đêm hôm trước lại lặp lại, và các xúc cảm nhục cảm của ngài càng trở nên sắc sảo và tinh tế hơn. Những ảo ảnh kích thích nhục dục tương tự trôi nổi trước mắt ngài: Matilda, trong toàn bộ sự lộng lẫy của nhan sắc, ấm áp, dịu dàng và đầy nhục cảm, ôm chầm lấy ngài vào ngực và ban phát cho ngài những cái ôm ấp nồng nhiệt nhất. Ngài hân hoan hồi đáp chúng, và suýt chút nữa đang ở bên bờ vực thỏa mãn khao khát thì hình bóng phản trắc biến mất, để mặc ngài đối mặt với mọi nỗi kinh hoàng của sự hổ nhục và thất vọng.

Buổi sáng ló dạng. Kiệt quệ, mệt mỏi và rã rời bởi những giấc mơ khiêu khích, ngài không có ý định rời khỏi Giường. Ngài cáo lỗi không xuất hiện tại buổi lễ Kinh Sáng: Đó là buổi sáng đầu tiên trong đời ngài bỏ lỡ chúng. Ngài dậy muộn. Suốt cả ngày dài, ngài chẳng có cơ hội nào để trò chuyện với Matilda mà không có người làm chứng. Tu phòng của ngài chật kín các tu sĩ, những kẻ lo lắng bày tỏ sự quan tâm trước cơn bệnh của ngài; Và ngài vẫn bận rộn tiếp nhận những lời chúc mừng về sự hồi phục, khi tiếng chuông gióng giả triệu tập họ về phòng ăn.

Sau bữa trưa, các tu sĩ tản mác và phân tán khắp các góc trong vườn, nơi bóng râm của cây cối hay sự hẻo lánh của hang đá nào đó mang đến phương thức dễ chịu nhất để tận hưởng giấc ngủ trưa Siesta. Vị Viện phụ hướng bước chân về phía cốc ẩn tu: Một cái liếc mắt của ngài mời gọi Matilda đi cùng.

Nàng tuân lệnh và lặng lẽ theo ngài đến đó. Họ bước vào hang và ngồi xuống. Cả hai đều tỏ ra không muốn bắt đầu cuộc trò chuyện, và chật vật dưới ảnh hưởng của sự bối rối chung. Cuối cùng vị Viện phụ cất lời: Ngài chỉ trò chuyện về những chủ đề vô can, và Matilda đáp lại ngài bằng cùng một giọng điệu. Nàng có vẻ sốt sắng muốn làm ngài quên đi việc Người ngồi cạnh mình không phải ai khác ngoài Rosario. Cả hai đều không dám, hay thực chất là không muốn đưa ra bất kỳ ẩn ý nào đối với chủ đề đang nằm ở vị trí trung tâm trong trái tim cả hai.

Những nỗ lực của Matilda nhằm tỏ ra vui tươi rõ ràng là bị ép buộc: Tinh thần nàng bị đè nặng bởi sức nặng của sự lo âu, và khi nàng cất lời, giọng nói thật trầm và yếu ớt. Nàng có vẻ mong mỏi kết thúc một cuộc trò chuyện khiến bản thân bối rối, và phàn nàn rằng mình không được khỏe, nàng xin phép Ambrosio được quay về tu viện. Ngài tiễn nàng đến tận cửa tu phòng, và khi đến nơi, ngài giữ nàng lại để tuyên bố sự đồng thuận của mình đối với việc nàng tiếp tục làm Người đồng hành trong sự cô độc của ngài cho đến chừng nào còn cảm thấy thoải mái.

Nàng không bộc lộ bất kỳ dấu hiệu vui mừng nào khi tiếp nhận thông tin này, mặc dù vào ngày hôm trước nàng từng sốt sắng đạt được sự cho phép đó biết bao.

“Hỡi ôi, thưa Cha!” Nàng nói, buồn bã lắc đầu; “Sự tử tế của ngài đến quá muộn rồi! Định mệnh của chúng ta đã được định đoạt. Chúng ta phải vĩnh viễn chia xa. Thế nhưng hãy tin rằng, em rất biết ơn sự rộng lượng của ngài, vì lòng trắc ẩn dành cho một Kẻ bất hạnh quá đỗi kém cỏi để xứng đáng với nó!”

Nàng đưa chiếc khăn tay lên mắt. Chiếc mũ trùm đầu chỉ được kéo hờ một nửa qua gương mặt. Ambrosio quan sát thấy nàng xanh xao, đôi mắt trũng sâu và nặng trĩu.

“Lạy Chúa nhân từ!” Ngài thét lên; “Em đang ốm rất nặng đấy, Matilda! Tôi sẽ sai Cha Pablos đến gặp em ngay lập tức.”

“Không; Đừng làm thế. Em ốm thật đấy, đúng vậy; Thế nhưng ông ấy không tài nào chữa khỏi căn bệnh của em đâu. Vĩnh biệt, thưa Cha! Hãy nhớ đến em trong những lời cầu nguyện của ngài vào ngày mai, trong khi em sẽ nhớ đến ngài trên thiên đàng!”

Nàng bước vào tu phòng và khép cửa lại.

Vị Viện phụ phái vị Y sĩ đến chỗ nàng mà không chần chừ một giây, và sốt ruột chờ đợi báo cáo từ ông. Thế nhưng Cha Pablos nhanh chóng quay trở lại, tuyên bố rằng chuyến đi của ông là vô ích. Rosario từ chối tiếp đón ông, và kiên quyết cự tuyệt những lời đề nghị hỗ trợ. Sự bất an mà tường thuật này mang lại cho Ambrosio không hề nhỏ: Thế nhưng ngài vẫn quyết định để Matilda tự do làm theo ý mình trong đêm đó; Thế nhưng giả sử tình trạng của nàng không khá hơn vào buổi sáng, ngài sẽ khăng khăng bắt nàng nghe theo lời khuyên từ Cha Pablos.

Ngài không cảm thấy bản thân muốn chợp mắt. Ngài mở ô cửa sổ nhỏ, đăm đăm nhìn những tia trăng khi chúng nhảy múa trên dòng suối nhỏ có làn nước tắm mát những bức tường tu viện. Sự mát mẻ từ làn gió đêm cùng sự tĩnh lặng trong khoảnh khắc đã truyền vào tâm trí vị tu sĩ một nỗi buồn. Ngài ngẫm nghĩ về nhan sắc và tình cảm của Matilda; Về những niềm hoan hỉ mà ngài có lẽ đã chia sẻ cùng nàng, giả sử không bị kìm hãm bởi những xiềng xích tu viện. Ngài phản tỉnh rằng, không được duy trì bởi hy vọng, tình yêu của nàng dành cho ngài sẽ chẳng thể tồn tại lâu dài; Rằng chắc chắn nàng sẽ thành công trong việc dập tắt dục vọng của mình, và tìm kiếm hạnh phúc trong vòng tay của một Kẻ may mắn hơn. Ngài run rẩy trước khoảng trống mà sự vắng bóng của nàng sẽ để lại trong lồng ngực. Ngài nhìn với vẻ ghê tởm vào sự tẻ nhạt của một Tu viện, và thở dài hướng về cái thế giới mà từ đó ngài đã vĩnh viễn bị chia cắt. Đó là những suy ngẫm bị gián đoạn bởi tiếng gõ cửa ầm ầm. Chuông nhà thờ đã điểm Hai tiếng. Vị Viện phụ vội vã dò hỏi nguyên nhân của sự quấy rầy này. Ngài mở cửa tu phòng, và một vị Tu sĩ Giáo hội bước vào, vẻ ngoài cho thấy sự vội vã và bấn loạn.

“Xin hãy mau lên, thưa Cha kính yêu!” Ông nói; “Xin hãy mau đến gặp thiếu niên Rosario.

Cậu ấy tha thiết thỉnh cầu được gặp ngài; Cậu ấy đang ở bên bờ vực cái chết.”

“Lạy Chúa nhân từ! Cha Pablos đâu? Tại sao ông ấy không ở bên cạnh cậu ấy? Ôi, tôi sợ lắm! Tôi sợ lắm!”

“Cha Pablos đã gặp cậu ấy, nhưng y thuật của ông ấy chẳng thể làm gì được. Ông ấy nghi ngờ rằng Tiểu tu sĩ đã bị đầu độc.”

“Bị đầu độc ư? Ôi, Kẻ bất hạnh! Đích thực là như những gì ta nghi ngờ! Nhưng ta không được chần chừ dù chỉ một giây; Biết đâu vẫn còn kịp cứu mạng cô ấy!”

Nói đoạn, ngài phóng mình về phía tu phòng của vị tiểu tu sĩ. Một vài tu sĩ đã có mặt trong căn phòng. Cha Pablos là một trong số đó, đang cầm một liều thuốc trên tay nhằm thuyết phục Rosario nuốt xuống. Những người khác đang bận rộn thán phục gương mặt tựa thiên thần của Bệnh nhân, thứ mà họ lần đầu tiên được chiêm ngưỡng lúc bấy giờ. Nàng trông đáng yêu hơn bao giờ hết. Nàng không còn xanh xao hay bơ phờ nữa; Một sắc hồng rực rỡ lan tỏa khắp gò má; đôi mắt nàng lấp lánh niềm vui thanh thản, và gương mặt biểu lộ sự tự tin cùng sự phó mặc.

“Ồ, đừng tra tấn tôi nữa!” Nàng đang nói với Pablos khi vị Viện phụ hoảng sợ vội vã lao vào tu phòng; “Căn bệnh của tôi vượt xa tầm với của y thuật các người, và tôi không muốn được chữa khỏi”—Đoạn nhận ra Ambrosio,— “A, chính là ngài ấy!” Nàng thét lên; “Tôi lại được nhìn thấy ngài một lần nữa, trước khi chúng ta vĩnh viễn chia xa! Xin hãy lui ra, các huynh đệ của tôi; Tôi có rất nhiều điều muốn thấu chuyện riêng với vị tu sĩ thánh thiện này.”

Các tu sĩ lập tức lui ra, và Matilda cùng vị Viện phụ ở lại với nhau.

“Cô đã làm gì thế, người phụ nữ bất cẩn!” Vị sau cất tiếng, ngay khi họ vừa ở một mình; “Hãy trả lời tôi; Nghi ngờ của tôi có chính xác không? Tôi thực sự sắp mất đi cô sao? Bàn tay của chính cô là công cụ dẫn đến sự hủy diệt của cô ư?”

Nàng mỉm cười và siết lấy tay ngài.

“Em bất cẩn ở điểm nào chứ, thưa Cha? Em đã hy sinh một viên sỏi, và cứu được một viên kim cương: Cái chết của em bảo toàn một sinh mạng có giá trị với thế giới, và vô cùng trân quý đối với em hơn cả sinh mạng chính mình. Vâng, thưa Cha; Em bị đầu độc; Nhưng hãy biết rằng thứ nọc độc đó từng luân chuyển trong huyết quản của ngài.”

“Matilda!”

“Những gì em nói với ngài, em đã quyết định không bao giờ hé lộ cho đến tận Giường bệnh: Khoảnh khắc đó giờ đã đến. Ngài chắc không thể quên ngày hôm ấy, khi sinh mạng của ngài bị đe dọa bởi vết cắn của một con rết độc. Vị Y sĩ buông xuôi, tuyên bố bản thân không biết cách hút nọc độc ra: Em biết chỉ có một phương thức duy nhất, và không chần chừ lấy một giây để áp dụng nó. Em bị bỏ lại một mình cùng ngài: Ngài ngủ say; Em tháo dải băng khỏi tay ngài; Em hôn lên vết thương, và hút nọc độc ra bằng đôi môi mình. Hiệu ứng diễn ra nhanh hơn em tưởng tượng. Em cảm nhận cái chết ngự trị trong tim; Chỉ một tiếng nữa thôi, em sẽ đặt chân đến một thế giới tốt đẹp hơn.”

“Lạy Chúa Toàn năng!” Vị Viện phụ thét lên và ngã quỵ gần như bất động xuống Giường.

Sau vài phút, ngài lại đột ngột nhổm dậy, đăm đăm nhìn Matilda với tất cả sự hoang dại của tuyệt vọng.

“Và em đã hy sinh bản thân vì anh! Em chết, và chết để bảo vệ Ambrosio! Và thực sự chẳng còn phương thuốc nào nữa sao, Matilda? Và thực sự chẳng còn hy vọng nào nữa sao? Hãy nói cho anh biết, Ồ, hãy nói cho anh biết! Bảo với anh rằng em vẫn có cơ hội duy trì sự sống!”

“Hãy khuây khỏa đi, Người bạn duy nhất của em! Vâng, em vẫn có cơ hội duy trì sự sống trong tầm tay: Thế nhưng đó là phương cơ mà em không dám áp dụng. Nó vô cùng nguy hiểm! Nó vô cùng kinh hoàng! Cuộc sống sẽ được mua lại bằng một cái giá quá đắt,... trừ phi em được phép sống vì anh.”

“Thế thì hãy sống vì anh, Matilda, vì anh và lòng biết ơn!”—(Ngài chộp lấy tay nàng, đắm đuối áp nó lên môi.)—“Hãy nhớ đến những cuộc trò chuyện gần đây của chúng ta; Anh giờ đây chuẩn y mọi thứ: Hãy nhớ đến việc em đã mô tả sự hợp nhất giữa các tâm hồn bằng những màu sắc sinh động nhường nào; Hãy để chúng ta hiện thực hóa những ý tưởng đó. Hãy quên đi những giới hạn về giới tính, khinh miệt định kiến của thế giới, và chỉ xem nhau như Huynh đệ cùng Bạn hiền. Vậy nên hãy sống, Matilda! Ôi, hãy sống vì anh!”

“Ambrosio, không thể có chuyện đó được. Khi em suy nghĩ như thế, em đã lừa dối cả ngài lẫn chính mình. Hoặc em phải chết ngay lúc này, hoặc gục ngã dưới những nỗi thống khổ dai dẳng từ thứ dục vọng chưa được thỏa mãn. Ôi, kể từ lần cuối chúng ta trò chuyện cùng nhau, một bức màn kinh hoàng đã bị xé toạc ra trước mắt em. Em không còn yêu ngài bằng sự sùng kính dành cho một vị Thánh nữa; Em không còn trân trọng ngài vì những đức hạnh trong tâm hồn; Em khao khát được hưởng thụ thể xác ngài. Người phụ nữ ngự trị trong lồng ngực em, và em trở thành con mồi cho thứ dục vọng cuồng nhiệt nhất. Dẹp bỏ tình bạn đi! Đó là một từ ngữ lạnh lùng vô cảm. Lồng ngực em bùng cháy vì tình yêu, vì thứ tình yêu không thể thốt thành lời, và tình yêu phải là thứ hồi đáp cho nó. Vậy nên hãy run sợ đi, Ambrosio, hãy run sợ trước việc thành công trong những lời cầu nguyện của ngài. Nếu em sống, sự chân thực, uy tín, phần thưởng từ cuộc đời sống trong khổ sankhổ hãnh của ngài, tất cả những gì ngài trân quý sẽ mất đi vĩnh viễn không đường cứu vãn. Em sẽ không còn khả năng đương đầu với dục vọng của mình nữa, sẽ chớp lấy mọi cơ hội để khơi dậy ham muốn của ngài, và nỗ lực thực hiện sự hủy hoại danh dự của ngài lẫn của chính em. Không, không, Ambrosio; Em không được phép sống! Em bị thuyết phục qua từng khoảnh khắc rằng bản thân chỉ có một sự lựa chọn duy nhất; Em cảm nhận qua từng nhịp đập của trái tim rằng em buộc phải thụ hưởng ngài, hoặc chết đi.”

“Kinh ngạc chưa!—Matilda! Chính em là kẻ đang cất lời với tôi sao?”

Ngài thực hiện động tác hệt như chuẩn bị rời khỏi ghế. Nàng thét lên một tiếng lớn, nhổm dậy một nửa người khỏi Giường, quàng tay ôm lấy vị tu sĩ để níu lại.

“Ôi, đừng bỏ rơi em! Hãy lắng nghe những lầm lỗi của em bằng lòng trắc ẩn! Chỉ vài tiếng nữa thôi em sẽ chẳng còn tồn tại; Nhanh lên nào, và em được giải thoát khỏi thứ tình cảm đáng hổ thẹn này.”

“Người phụ nữ khốn khổ, tôi phải nói gì với cô đây! Tôi không thể... Tôi không được phép... Nhưng hãy sống đi, Matilda! Ôi, hãy sống!”

“Ngài không suy ngẫm về những gì mình đang đòi hỏi đâu. Sao cơ? Sống để dìm mình vào tiếng xấu ư? Trở thành Tác nhân của Địa ngục ư? Mưu tính sự hủy hoại cho cả ngài và chính em ư? Hãy cảm nhận trái tim này đi, thưa Cha!”

Nàng cầm lấy tay ngài: Bối rối, ngượng ngùng và bị thôi miên, ngài không rụt tay lại, và cảm nhận trái tim nàng đang đập rộn dưới đó.

“Hãy cảm nhận trái tim này đi, thưa Cha! Nó vẫn là ngai vàng của danh dự, sự chân thực và sự trinh bạch: Giả sử nó đập vào ngày mai, nó sẽ ngã quỵ làm con mồi cho những tội ác đen tối nhất. Ôi, thế thì hãy để em chết ngay hôm nay! Hãy để em chết, trong lúc em hãy còn xứng đáng với những giọt nước mắt của kẻ đức hạnh! Nó sẽ lịm tắt như thế này đây!”—(Nàng tì đầu lên vai ngài; Mái tóc vàng óng rũ xuống lồng ngực ngài.)— “Được gấp gọn trong vòng tay ngài, em sẽ chìm vào giấc ngủ; Bàn tay ngài sẽ khép đôi mắt em vĩnh viễn, và đôi môi ngài sẽ đón nhận hơi thở lúc lâm chung của em. Và liệu ngài sẽ không thỉnh thoảng nghĩ về em sao? Liệu ngài sẽ không thỉnh thoảng rơi một giọt nước mắt lên Ngôi mộ của em sao? Ôi, Vâng! Vâng! Vâng! Cái hôn đó chính là sự đảm bảo của em!”

Bấy giờ là ban đêm. Mọi thứ xung quanh chìm trong tĩnh lặng. Những tia sáng yếu ớt từ một chiếc Đèn cô độc rọi lên hình bóng Matilda, len lỏi qua căn phòng một thứ ánh sáng mờ ảo huyền bí. Chẳng có ánh mắt tò mò hay đôi tai hiếu kỳ nào lảng vảng gần những kẻ yêu nhau: Chẳng có gì lọt vào tai ngoại trừ những âm tiết du dương của Matilda. Ambrosio đang ở độ tuổi sung mãn nhất của Nam tính. Ngài nhìn thấy trước mắt một người phụ nữ trẻ trung và xinh đẹp, là ân nhân cứu mạng ngài, là kẻ tôn thờ thân xác ngài, và là người mà tình cảm dành cho ngài đã đẩy đến bờ vực nấm mồ. Ngài ngồi trên Giường nàng; Bàn tay ngài đặt lên ngực nàng; Đầu nàng tì đầy nhục cảm lên ngực ngài. Thế thì ai có thể ngạc nhiên, nếu ngài khuất phục trước cám dỗ? Say đắm trong khao khát, ngài áp đôi môi mình lên đôi môi đang tìm kiếm chúng: Những nụ hôn của ngài tranh tài với Matilda về sự ấm nồng và cuồng nhiệt. Ngài ôm chầm lấy nàng đầy say đắm; ngài quên đi lời thề, sự thánh thiện và uy danh của mình: Ngài chẳng màng nhớ đến điều gì ngoại trừ niềm hoan hỉ và cơ hội.

“Ambrosio! Ôi, Ambrosio của em!” Matilda thở dài.

“Của em, mãi mãi là của em!” Vị tu sĩ thì thầm, và ngã gục xuống ngực nàng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.