[VAI TRÒ]: Trải nghiệm lâu dài, hỡi Lorenzo thân mến của tôi, đã thuyết phục tôi hiểu rằng bản tính của anh thật hào hiệp: tôi không chờ đến khi nghe anh tuyên bố mình không biết gì về những cuộc phiêu lưu của người chị gái mới đoán ra rằng chúng đã được cố tình giấu giếm anh. Giá như chúng lọt đến tai anh, thì Agnes và tôi đã thoát khỏi biết bao bất hạnh! Định mệnh đã định đoạt khác đi! Anh đang đi du ngoạn khi tôi mới bắt đầu quen biết chị gái anh; và vì kẻ thù của chúng tôi đã cẩn thận giấu đi địa chỉ của anh đối với nàng, nên nàng không sao có thể viết thư cầu cứu sự bảo vệ và lời khuyên của anh được.
Khi rời Salamanca, ngôi trường đại học mà như tôi nghe nói sau này, anh vẫn còn lưu lại thêm một năm sau khi tôi rời đi, tôi lập tức lên đường du ngoạn. Cha tôi chu cấp cho tôi rất nhiều tiền; nhưng ông nằng nặc đòi tôi phải giấu kín tước vị của mình, và chỉ tự giới thiệu là một quý ông bình thường. Mệnh lệnh này được đưa ra theo lời khuyên của bạn ông, công tước Villa Hermosa, một nhà quý tộc mà tài năng và sự hiểu đời của ông luôn khiến tôi vô cùng kính trọng.
“Hãy tin tôi,” ông nói, “hỡi Raymond thân mến của tôi, rồi sau này anh sẽ cảm nhận được những lợi ích từ sự hạ mình tạm thời này. Đúng là với tư cách là Condé de las Cisternas, anh sẽ được đón chào nồng nhiệt; và sự kiêu hãnh tuổi trẻ của anh có thể cảm thấy thỏa mãn trước những sự săn đón đổ dồn về phía anh từ mọi phía. Hiện tại, phần lớn sẽ tùy thuộc vào chính anh: Anh có những lời giới thiệu tuyệt vời, nhưng việc làm sao để chúng hữu ích với bản thân lại là chuyện của anh. Anh phải khéo léo để làm vừa lòng người khác; anh phải nỗ lực giành lấy sự tán thành của những người mà anh được giới thiệu đến: Những kẻ vốn sẽ săn đón tình bạn của Condé de las Cisternas sẽ chẳng có hứng thú gì trong việc tìm ra những ưu điểm, hay kiên nhẫn chịu đựng những khuyết điểm của Alphonso d’Alvarada. Do đó, khi anh thấy mình thực sự được yêu mến, anh có thể tự tin quy cho những phẩm chất tốt đẹp của mình chứ không phải tước vị, và sự tôn trọng dành cho anh sẽ mang lại sự hám danh lớn lao biết nhường nào. Hơn nữa, dòng dõi cao quý của anh sẽ không cho phép anh hòa nhập với các tầng lớp thấp trong xã hội, điều mà giờ đây nằm trong tầm tay anh, và theo quan điểm của tôi, anh sẽ thu được lợi ích đáng kể từ đó. Đừng tự giới hạn bản thân chỉ trong giới quý tộc của những vùng đất mà anh đi qua. Hãy khảo sát phong tục tập quán của quần chúng: Hãy bước vào những mái tranh; và bằng cách quan sát cách mà các chư hầu của người nước ngoài được đối xử, hãy học cách giảm bớt gánh nặng và gia tăng sự thoải mái cho chư hầu của chính mình. Theo quan niệm của tôi, trong số những lợi ích mà một thanh niên được định sẵn sẽ nắm giữ quyền lực và sự giàu có có thể thu hái từ những chuyến du ngoạn, anh ta không nên coi nhẹ cơ hội được hòa nhập với các tầng lớp thấp hơn mình, và tận mắt chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân.”
Xin hãy tha lỗi cho tôi, Lorenzo, nếu tôi có vẻ dài dòng trong lời kể. Mối quan hệ gắn bó hiện tại giữa chúng ta khiến tôi vô cùng mong mỏi anh được biết mọi chi tiết về tôi; và vì nỗi sợ bỏ sót dù chỉ là tình tiết nhỏ nhất có thể khiến anh suy nghĩ thiện cảm về chị gái anh và tôi, rất có thể tôi sẽ kể lại nhiều điều mà anh có thể cho là tẻ nhạt.
Tôi đã làm theo lời khuyên của công tước; và tôi nhanh chóng bị thuyết phục về sự khôn ngoan của nó.
Tôi rời Tây Ban Nha, tự xưng với cái tên giả là Don Alphonso d’Alvarada, và có một người hầu duy nhất tận tụy đi theo hầu hạ. Paris là trạm dừng chân đầu tiên của tôi. Trong một khoảng thời gian, tôi bị mê hoặc bởi nơi này, quả thực bất kỳ người nào còn trẻ, giàu có và thích thú vui đều sẽ như vậy. Thế nhưng giữa tất cả những cuộc vui nhộn ấy, tôi cảm thấy trái tim mình thiếu vắng một điều gì đó. Tôi phát ớn với những cuộc trác táng; tôi phát hiện ra rằng những con người mà tôi sống cùng, những kẻ có vẻ bề ngoài hào nhoáng và quyến rũ đến vậy, thực chất bên trong lại phù phiếm, vô cảm và giả tạo. Tôi quay lưng lại với những cư dân Paris bằng sự ghê tởm, và rời khỏi sân khấu xa hoa ấy mà không thèm thở dài lấy một tiếng nuối tiếc.
Bây giờ tôi chuyển hướng về nước Đức, dự định viếng thăm hầu hết các triều đình lớn: Trước chuyến viễn chinh này, tôi định ở lại Strasbourg một thời gian ngắn. Khi bước xuống chiếc xe ngựa tại Luneville để giải khát, tôi nhìn thấy một cỗ xe lộng lẫy, có bốn tên gia nhân mặc trang phục hào nhoáng đi theo hầu, đang đậu trước cửa quán Sư Tử Bạc. Chút xíu sau, khi tôi nhìn ra cửa sổ, tôi thấy một phu nhân có phong thái vương giả, theo sau là hai nữ tỳ, bước lên xe, và chiếc xe lập tức lăn bánh rời đi.
Tôi hỏi người chủ quán xem người phu nhân vừa rời đi là ai.
“Thưa ngài, đó là một nữ bá tước người Đức, có tước vị cao quý và gia thế giàu có. Bà ấy vừa đến thăm nữ công tước Longueville, như những người hầu của bà đã cho tôi biết; bà ấy đang đi đến Strasbourg, nơi bà sẽ gặp chồng mình, và sau đó cả hai sẽ trở về lâu đài của họ ở Đức.”
Tôi tiếp tục hành trình, với ý định đến Strasbourg vào đêm đó. Tuy nhiên, hy vọng của tôi đã tiêu tan khi chiếc xe ngựa bị hỏng giữa đường. Tai nạn xảy ra giữa một khu rừng rậm rạp, và tôi không khỏi bối rối về phương thức tiếp tục di chuyển.
Đó là giữa mùa đông; trời đã sập tối quanh chúng tôi, và Strasbourg, thị trấn gần nhất, vẫn còn cách chúng tôi vài dặm đường. Đối với tôi, lựa chọn duy nhất ngoài việc qua đêm trong rừng là lấy con ngựa của người hầu và phóng đi Strasbourg, một việc làm vào mùa đó rõ ràng chẳng mấy dễ chịu chút nào. Tuy nhiên, không thấy có phương án nào khác, tôi đành phải cắn răng chấp nhận. Theo đó, tôi thông báo ý định của mình cho người đánh xe, bảo rằng tôi sẽ cử người đến giúp hắn ngay khi đến Strasbourg. Tôi không đặt nhiều niềm tin vào sự trung thực của hắn; nhưng vì Stephano được vũ trang cẩn thận, và người đánh xe thoạt nhìn có vẻ đã có tuổi, tôi tin rằng mình không gặp nguy hiểm gì về việc mất hành lý.
May mắn thay, như tôi tưởng lúc bấy giờ, một cơ hội xuất hiện cho phép qua đêm dễ chịu hơn tôi tưởng. Khi nghe tôi nói về dự định tự mình đi tiếp đến Strasbourg, người đánh xe liền lắc đầu không đồng tình.
“Đó là một quãng đường dài,” hắn nói; “Ngài sẽ thấy việc đến đó mà không có người dẫn đường là điều vô cùng khó khăn. Hơn nữa, thưa ngài, ngài có vẻ không quen với cái lạnh khắc nghiệt của mùa này, và hoàn toàn có thể xảy ra khả năng ngài không chịu nổi cái lạnh cắt da cắt thịt ấy...”
“Việc gì mà ngươi lại đưa ra lắm lời phản đối thế?” tôi thiếu kiên nhẫn cắt lời hắn; “Ta chẳng còn lựa chọn nào khác: Ta còn phải đối mặt với nguy cơ chết cóng cao hơn nếu cứ qua đêm trong rừng.”
“Qua đêm trong rừng ư?” hắn đáp lại; “Ồ! Lạy thánh Denis! Chúng ta chưa đến nỗi rơi vào hoàn cảnh tồi tệ đến thế đâu. Nếu tôi đoán không nhầm, chúng ta đi bộ chưa đầy năm phút là tới túp lược của người bạn già Baptise của tôi. Ông ấy là một thợ đốn củi, và là một người vô cùng lương thiện. Tôi dám cá là ông ấy sẽ sẵn lòng cho ngài tá túc qua đêm. Trong lúc đó, tôi có thể cưỡi ngựa, phi thẳng đến Strasbourg, và quay lại cùng với những người thợ đến sửa xe cho ngài vào lúc trời rạng sáng.”
“Nhân danh Chúa,” tôi nói, “sao ngươi lại để ta phải thấp thỏm lâu đến thế? Sao ngươi không kể cho ta nghe về túp lược này sớm hơn? Thật là ngốc nghếch quá sức!”
“Tôi cứ nghĩ là ngài sẽ chẳng thèm hạ cố chấp nhận...”
“Vớ vẩn! Thôi đi! Đừng nói nữa, hãy dẫn chúng ta đến túp lược của người tiều phu ngay lập tức.”
Hắn vâng lời, và chúng tôi tiếp tục di chuyển; những con ngựa chật vật lắm mới kéo được chiếc xe đã vỡ nát đi theo sau. Người hầu của tôi đã trở nên gần như câm lặng, và bản thân tôi cũng bắt đầu cảm thấy cái lạnh ngấm vào da thịt trước khi chúng tôi đặt chân đến túp lược hằng mong ước. Đó là một công trình nhỏ nhưng gọn gàng: Khi chúng tôi đến gần, tôi vô cùng vui mừng khi nhìn qua cửa sổ thấy ngọn lửa bùng cháy ấm cúng. Người dẫn đường gõ cửa; phải mất một lúc lâu mới có tiếng trả lời; những kẻ bên trong có vẻ còn đang lưỡng lự không biết có nên mở cửa đón chúng tôi hay không.
“Nào! Nào, bạn Baptise!” người đánh xe nóng nảy gọi lớn; “Anh đang làm gì thế? Anh ngủ quên rồi à? Hay là anh định từ chối chỗ trọ qua đêm cho một quý ông vừa bị hỏng xe ngựa trong rừng?”
“Ái chà, có phải anh đấy không, Claude lương thiện?” một giọng nam vang lên từ bên trong; “Đợi một lát, cửa sẽ mở ngay đây thôi.”
Chút xíu sau, những chiếc chốt cửa được kéo ra. Cánh cửa bật mở, và một người đàn ông xuất hiện trước mắt chúng tôi với chiếc đèn lồng trên tay. Ông ta đón tiếp người dẫn đường rất nồng nhiệt, rồi quay sang hướng về phía tôi.
“Xin mời vào, thưa ngài; xin mời vào, nhiệt liệt chào mừng! Xin lỗi ngài vì đã không mở cửa ngay từ đầu; nhưng ở khu vực này có quá nhiều kẻ gian, nên mạo muội trước mặt ngài, tôi đã nghi ngờ ngài là một trong số chúng.”
Nói rồi, ông ta dẫn tôi vào căn phòng mà tôi vừa nhìn thấy có ngọn lửa cháy rực; tôi lập tức được mời ngồi vào chiếc ghế bành đặt sát lò sưởi. Một người phụ nữ, mà tôi đoán là vợ của chủ nhà, đứng dậy khỏi chỗ ngồi khi tôi bước vào, và đón tiếp tôi bằng một cái gập người nhẹ nhàng, xa cách. Bà ta không trả lời lời chào của tôi, mà lập tức ngồi xuống lại, tiếp tục công việc đang làm dở. Thái độ của chồng bà thân thiện bao nhiêu thì của bà ta lại lạnh lùng và hắt hủi bấy nhiêu.
“Tôi ước gì mình có thể sắp xếp chỗ ở cho ngài thoải mái hơn, thưa ngài,” ông ta nói; “nhưng chúng tôi không dám khoe khoang là có nhiều phòng trống trong cái túp lược tồi tàn này. Tuy nhiên, tôi nghĩ chúng tôi có thể xoay sở để chuẩn bị một căn phòng cho ngài, và một căn khác cho người hầu của ngài. Ngài đành phải chịu đựng bữa ăn đạm bạc vậy; nhưng những gì chúng tôi có, xin hãy tin là chúng tôi vô cùng sẵn lòng.” ——Rồi quay sang vợ mình—“Này, sao cô cứ ngồi lì ra đó hỡi Marguerite, với cái vẻ điềm tĩnh cứ như thể chẳng còn việc gì quan trọng hơn để làm vậy! Lo đứng dậy đi chứ, mụ kia! Lo đứng dậy đi! Chuẩn bị chút bữa tối xem nào; tìm vài chiếc khăn trải giường ra; đây, đây; ném thêm vài khúc gỗ vào lò sưởi đi, vị quý ông có vẻ đã chết cóng đến nơi rồi kìa.”
Người vợ vội vã vứt đống đồ đạc xuống bàn, rồi tiến hành thực hiện mệnh lệnh với đầy vẻ bất mãn. Nét mặt của bà ta đã khiến tôi thấy khó chịu ngay từ giây phút đầu tiên quan sát. Thế nhưng nhìn chung các đường nét trên khuôn mặt bà ta không thể chối cãi là rất ưa nhìn; chỉ có điều làn da tái xỉn, thân hình gầy gò ốm yếu; một vẻ u ám nặng nề bao trùm lấy khuôn mặt, mang theo những dấu hiệu rõ mồn một của sự hằn học và ác ý, khiến ngay cả những người quan sát lơ đễnh nhất cũng phải chú ý. Mọi ánh nhìn và hành động của bà ta đều thể hiện sự bất bình và thiếu kiên nhẫn, và những câu trả lời mà bà ta đáp lại Baptise khi ông ta pha trò trêu chọc vẻ mặt bất mãn của bà đều rất cay nghiệt, cộc lốc và sắc sảo. Tóm lại, thoạt nhìn tôi vừa cảm thấy ghê tởm mụ ta bao nhiêu, lại vừa có thiện cảm với người chồng bấy nhiêu, người có vẻ ngoài toát lên sự kính trọng và tin cậy. Khuôn mặt ông ta cởi mở, chân thành và thân thiện; phong thái mang đầy sự chân chất của một người nông dân nhưng không hề thô lỗ; đôi má phúng phính, đầy đặn và hồng hào; và sự vạm vỡ của vóc dáng ông ta dường như là một sự bù đắp hoàn hảo cho sự gầy gò của người vợ. Dựa vào những nếp nhăn trên trán, tôi đoán ông ta đã bước qua tuổi sáu mươi; nhưng trông ông ta vẫn rất tráng kiện và khỏe mạnh: Người vợ chắc không quá ba mươi tuổi, nhưng về mặt tinh thần và sự hoạt bát thì bà ta già hơn chồng rất nhiều lần.
Tuy nhiên, dẫu không mấy tự nguyện, Marguerite vẫn bắt đầu chuẩn bị bữa tối, trong khi người tiều phu trò chuyện vui vẻ về nhiều đề tài khác nhau. Người đánh xe, người đã được cung cấp một chai rượu mạnh, lúc này đã sẵn sàng lên đường đi Strasbourg, và hỏi xem tôi có còn dặn dò gì thêm không.
“Đi Strasbourg ư?” Baptise ngắt lời; “Anh không định đi đến đó vào đêm nay đấy chứ?”
“Xin lỗi ngài; nếu tôi không đi đón thợ đến sửa xe, thì ngày mai ngài ấy đi tiếp bằng cách nào?”
“Đúng thế nhỉ, đúng như anh nói; tôi lại quên béng mất vụ chiếc xe ngựa. Thôi được, nhưng này Claude; anh ít ra cũng có thể ăn bữa tối ở đây đã chứ? Làm thế chẳng mất bao nhiêu thời gian đâu, và ngài đây trông có vẻ quá nhân hậu để đuổi anh ra ngoài với cái bụng rỗng trong một đêm lạnh giá thế này.”
Tôi dễ dàng đồng ý với điều này, bảo người đánh xe rằng việc tôi đến Strasbourg muộn hơn một hai tiếng vào ngày mai chẳng có gì là quan trọng cả. Hắn cảm ơn tôi, rồi cùng Stephano rời túp lược, dắt ngựa vào chuồng của người tiều phu. Baptise đi theo họ ra cửa và lo lắng nhìn ra ngoài.
“Gió buốt quá!” ông ta nói; “Không biết cái lũ nh nha nhà tôi bị chân gì giữ chân lâu thế không biết! Thưa ngài, tôi sẽ cho ngài ngắm hai đứa con trai tuyệt vời nhất từng xỏ giày. Đứa lớn tuổi ba mươi, đứa thứ hai kém một tuổi; những kẻ sánh ngang chúng về trí thông minh, lòng dũng cảm và sự nhanh nhẹn, tuyệt đối không tìm đâu ra trong vòng bán kính năm mươi dặm tính từ Strasbourg. Ước gì chúng mau quay về! Tôi bắt đầu thấy lo lắng cho chúng rồi đấy.”
Lúc này Marguerite đang bận rộn trải khăn bàn.
“Thế còn bà, bà có lo lắng cho sự trở về của các con trai mình không?” tôi hỏi mụ ta.
“Tôi á? Hòng!” mụ cáu kỉnh đáp; “Chúng có phải con chấy rận gì của tôi đâu.”
“Nào! Nào, Marguerite!” người chồng can thiệp; “Đừng có giở thói khó chịu với vị quý ông chỉ vì một câu hỏi đơn giản chứ. Giả sử mặt bà không đăm đăm thế kia, ngài ấy đã chẳng đời nào nghĩ bà đủ tuổi để có đứa con trai tuổi ba mươi rồi: nhưng bà thấy đấy, sự cáu kỉnh làm bà già đi bao nhiêu tuổi rồi đấy!—Xin ngài thứ lỗi cho sự thô lỗ của vợ tôi. Chỉ một chút chuyện nhỏ cũng khiến mụ phật lòng, và mụ có chút khó chịu vì ngài không nghĩ mụ dưới ba mươi tuổi. Đúng thế phải không, Marguerite? Ngài biết đấy, thưa ngài, tuổi tác luôn là chủ đề nhạy cảm đối với phụ nữ. Nào! Nào, Marguerite, tươi tỉnh lên một chút đi. Nếu bà chưa có những đứa con trai lớn nhường ấy, thì chừng hai mươi năm nữa bà sẽ có, và tôi hy vọng chúng ta sẽ sống để nhìn thấy chúng trở thành những chàng trai y hệt như Jacques và Robert.”
Marguerite phẫn uất đan chặt hai tay vào nhau.
“Chúa cấm!” mụ thốt lên; “Chúa cấm! Nếu tôi nghĩ thế, tôi sẽ tự tay bóp cổ chúng!”
Mụ hầm hầm rời khỏi phòng và bước lên lầu.
Tôi không sao kìm được việc bày tỏ sự thương cảm với người tiều phu vì đã phải vướng víu cả đời với một người vợ cáu kỉnh đến vậy.
“Ái chà! Lạy Chúa, thưa ngài, ai mà chẳng có phần phiền muộn của riêng mình, và Marguerite chính là phần rủi ro trúng vào tôi. Hơn nữa, suy cho cùng thì mụ ta chỉ hơi cáu kỉnh chứ không có ác ý. Điều tồi tệ nhất là tình cảm của mụ dành cho hai đứa con riêng khiến mụ đối xử như một mụ gì ghẻ với hai đứa con trai tôi. Mụ không tài nào chịu nổi khi nhìn thấy chúng, và nếu để mụ ta toàn quyền quyết định thì chúng đã chẳng bao giờ dám bén mảng bước chân qua cửa nhà tôi. Nhưng về điểm này thì tôi luôn kiên quyết, và không bao giờ đồng ý bỏ rơi những đứa tội nghiệp ấy cho dòng đời đưa đẩy, dù mụ đã nhiều lần nài nỉ tôi làm thế. Trong mọi chuyện khác tôi đều chiều ý mụ, và phải công nhận là mụ lo liệu gia đình rất ra trò đấy chứ.”
Chúng tôi đang trò chuyện thì cuộc đối thoại bị cắt đứt bởi một tiếng hò reo lớn vang dội khắp khu rừng.
“Hy vọng là mấy đứa con tôi!” người tiều phu thốt lên và chạy đi mở cửa.
Tiếng hò reo lặp lại lần nữa; lúc này chúng tôi nghe rõ tiếng vó ngựa dồn dập, và chẳng mấy chốc một cỗ xe ngựa có mấy kẻ cưỡi ngựa đi kèm đã dừng lại trước cửa túp lược. Một trong số những kẻ cưỡi ngựa hỏi họ còn cách Strasbourg bao xa. Vì hắn hướng câu hỏi về phía tôi, tôi bèn trả lời bằng con số dặm mà Claude vừa nói; ngay lập tức một loạt những lời nguyền rủa tuôn ra nhắm vào mấy tên đánh xe vì đã đi lạc đường. Những người ngồi trong xe giờ đây đã biết khoảng cách đến Strasbourg, lại thêm việc bầy ngựa đã quá mệt mỏi không thể đi tiếp được nữa. Một vị phu nhân có vẻ là người bề trên bày tỏ sự chán nản tột cùng trước thông tin này; nhưng vì không còn cách nào khác, một trong những tên tùy tùng bèn hỏi người tiều phu xem ông ta có thể cho họ trọ lại qua đêm hay không.
Ông ta có vẻ vô cùng bối rối, và đáp lại bằng cái lắc đầu từ chối; nói thêm rằng một quý ông người Tây Ban Nha cùng người hầu của ông ta đã chiếm mất những căn phòng trống duy nhất trong nhà rồi. Nghe vậy, tinh thần hiệp sĩ của quốc gia tôi không cho phép tôi giữ lại những chỗ tiện nghi ấy khi một phụ nữ đang rất cần chúng. Tôi lập tức ra dấu cho người tiều phu biết rằng tôi nhường quyền lợi đó cho vị phu nhân; ông ta đưa ra vài lời từ chối, nhưng tôi gạt phăng đi, rồi vội vã chạy ra xe, mở cửa và đỡ vị phu nhân bước xuống. Tôi lập tức nhận ra bà chính là người phụ nhân mà tôi từng gặp ở quán trọ ở Luneville. Tôi chớp lấy cơ hội hỏi một tên tùy tùng của bà xem tên bà là gì.
“Nữ bá tước Lindenberg,” đó là câu trả lời.
Tôi không khỏi nhận ra sự đón tiếp khác biệt mà chủ nhà dành cho những vị khách mới này so với tôi. Sự miễn cưỡng khi phải đón tiếp họ hằn rõ trên khuôn mặt ông ta, và ông ta phải chật vật lắm mới thốt lên được lời chào mừng vị phu nhân. Tôi dẫn bà vào nhà và mời ngồi vào chiếc ghế bành mà tôi vừa đứng dậy. Bà bày tỏ sự cảm ơn vô cùng lịch thiệp và liên tục xin lỗi vì đã làm phiền tôi. Bỗng nhiên, nét mặt người tiều phu sáng rỡ hẳn lên.
“Cuối cùng thì tôi cũng sắp xếp được rồi!” ông ta nói, cắt ngang những lời xin lỗi của bà; “Tôi có thể bố trí chỗ trọ cho phu nhân và đoàn tùy tùng, và ngài đây sẽ không phải chịu cảnh hy sinh vì phép lịch sự của mình nữa.
Chúng ta có hai phòng trống, một phòng dành cho phu nhân, phòng còn lại, thưa ngài, là của ngài; vợ tôi sẽ nhường phòng của nó cho hai nữ tỳ; còn các gia nhân nam, họ đành phải chịu khó qua đêm ở một cái kho lúa rộng cách nhà vài chục bước chân. Ở đó sẽ có sẵn một đống lửa bùng cháy và một bữa tối tươm tất nhất mà chúng tôi có thể xoay sở được.”
Sau nhiều lời bày tỏ lòng biết ơn từ phía phu nhân và sự phản đối của tôi đối với việc Marguerite phải nhường giường, thỏa thuận này đã được thông qua. Vì căn phòng quá nhỏ, nữ bá tước lập tức cho mấy gia nhân nam lui ra; Baptiste đang định dẫn họ ra cái kho lúa mà ông ta vừa nhắc tới thì có hai thanh niên xuất hiện ở cửa túp lược.
“Quỷ tha ma bắt!” người đi đầu thốt lên khi giật mình lùi lại; “Robert, trong nhà toàn người lạ kìa!”
“Hà! Mấy đứa con tao đây mà!” chủ nhà kêu lên. “Nào, Jacques! Robert! Bay chạy đi đâu thế hả mấy đứa? Vẫn còn đủ chỗ cho tụi mày mà.”
Nghe lời đảm bảo đó, đám thanh niên liền quay trở vào. Người cha giới thiệu chúng với nữ bá tước và tôi; sau đó ông ta rút lui cùng đám gia nhân của chúng tôi, trong khi theo yêu cầu của hai nữ tỳ, Marguerite dẫn họ đến căn phòng được chuẩn bị sẵn cho bà chủ.
Hai kẻ mới đến là những thanh niên cao lớn, vạm vỡ, nét mặt thô kệch và rám nắng vì sương gió. Chúng chào hỏi chúng tôi bằng vài từ ngắn gọn, và nhận ra Claude, người vừa bước vào phòng, là người quen cũ. Sau đó, chúng cởi phăng những chiếc áo choàng đang quấn quanh người, tháo chiếc thắt lưng da có giắt một thanh đoản đao lớn, rồi mỗi tên rút một cặp súng lục từ thắt lưng ra đặt lên một chiếc kệ.
“Các anh mang theo nhiều vũ khí quá nhỉ,” tôi nói.
“Vâng, thưa ngài,” Robert đáp. “Chúng tôi rời Strasbourg muộn vào tối nay, và việc cẩn thận khi đi qua khu rừng này sau khi trời tối là điều cần thiết. Nơi này tiếng tăm không tốt đẹp gì đâu, tôi đảm bảo với ngài đấy.”
“Sao cơ?” nữ bá tước thốt lên; “Ở đây có cướp bơi à?”
“Thiên hạ đồn vậy, thưa phu nhân; còn phần tôi, tôi đi qua khu rừng này vào đủ mọi thời điểm mà chưa từng chạm trán tên nào cả.”
Lúc này Marguerite đã quay trở lại. Mấy đứa con riêng kéo mụ ta ra một góc phòng và thì thầm to nhỏ suốt mấy phút. Dựa vào những cái liếc mắt hướng về phía chúng tôi thỉnh thoảng của chúng, tôi đoán chúng đang dò hỏi về mục đích chuyến đi của chúng tôi trong túp lược.
Trong khi đó, nữ bá tước bày tỏ sự lo lắng rằng chồng bà sẽ vô cùng lo lắng cho bà. Bà đã định cử một tên gia nhân đi trước để thông báo cho nam tước về sự chậm trễ của mình; nhưng những gì mà đám thanh niên kể về khu rừng đã khiến kế hoạch này trở thành bất khả thi. Claude đã giúp bà giải tỏa sự bối rối ấy. Hắn thông báo rằng hắn buộc phải đến Strasbourg trong đêm nay, và nếu bà tin tưởng giao cho hắn một bức thư, bà có thể hoàn toàn yên tâm nó sẽ được chuyển đến nơi an toàn.
“Và sao lại thế,” tôi lên tiếng, “mà anh lại không hề có chút lo lắng nào về việc sẽ chạm trán với bọn cướp này?”
“Ấy chà! Thưa ngài, một kẻ nghèo túng với cả đống con cái thì không thể bỏ lỡ món lợi chắc chắn chỉ vì nó mang chút ít hiểm nguy, và biết đâu ngài nam tước sẽ thưởng cho tôi chút ít vì công sức này. Hơn nữa, tôi chẳng có gì để mất ngoài cái mạng này, và nó thì chẳng đáng để bọn cướp thèm lấy.”
Tôi nghĩ lý lẽ của hắn thật tệ hại, và khuyên hắn nên chờ đến sáng; nhưng vì nữ bá tước không hùa theo tôi, tôi đành phải bỏ qua ý định đó. Nữ bá tước Lindenberg, như tôi nhận ra sau đó, vốn đã quen hy sinh lợi ích của người khác cho riêng mình từ lâu, và mong muốn cử Claude đi Strasbourg đã làm mờ mắt bà trước sự hiểm nguy của việc làm này. Theo đó, người ta quyết định rằng hắn sẽ lên đường không chậm trễ. Nữ bá tước viết thư cho chồng, còn tôi gửi vài dòng cho chủ ngân hàng của mình, thông báo rằng tôi sẽ không có mặt ở Strasbourg cho đến ngày hôm sau. Claude cầm thư của chúng tôi rồi rời khỏi túp lược.
Vị phu nhân tuyên bố bản thân vô cùng mệt mỏi vì hành trình; ngoài việc phải đi một quãng đường dài, mấy tên đánh xe còn cố tình đi lạc trong rừng. Bà bèn hướng về phía Marguerite, yêu cầu được dẫn về phòng và cho phép nghỉ ngơi nửa tiếng đồng hồ. Một nữ tỳ lập tức được gọi tới; cô ta xuất hiện với ngọn đèn trên tay và nữ bá tước bước theo cô lên lầu. Bàn ăn đang được dọn ra ngay trong căn phòng tôi đang ngồi, và Marguerite nhanh chóng cho tôi hiểu rằng sự hiện diện của tôi đang vướng víu đường đi nước bước của mụ. Những ám hiệu của mụ quá rõ ràng đến mức không thể hiểu nhầm; do đó tôi bèn bảo một trong hai thanh niên dẫn tôi đến căn phòng tôi sẽ ngủ, nơi tôi có thể ở đó cho đến khi bữa tối sẵn sàng.
“Phòng nào thế hả mẹ?” Robert hỏi.
“Phòng treo rèm màu xanh lá ấy,” mụ đáp; “Tao vừa phải nhọc công chuẩn bị xong và thay ga giường sạch tinh tươm rồi; nếu vị quý ông thích ngả ngốn lười biếng trên đó thì tự mà dọn lại lấy, tao mặc kệ.”
“Mẹ lại đang nổi khùng lên đấy à, nhưng chuyện đó có mới mẻ gì đâu. Xin mời theo tôi, thưa ngài.”
Hắn mở cửa và tiến về phía một chiếc cầu thang hẹp.
“Mày không cầm đèn theo à!” Marguerite quát lớn; “Mày muốn tự bẻ gãy cổ mày hay cổ vị quý ông thế hả?”
Mụ bước ngang qua tôi, nhét một cây nến vào tay Robert, và sau khi nhận lấy, hắn bắt đầu bước lên cầu thang. Jacques đang bận dọn bàn ăn và quay lưng về phía tôi.
Marguerite chớp lấy khoảnh khắc chúng tôi không bị ai để mắt tới. Mụ tóm lấy tay tôi và siết chặt.
“Hãy nhìn kỹ ga giường ấy!” mụ nói khi lướt qua tôi, rồi lập tức quay trở lại công việc cũ.
Bị giật mình bởi hành động đột ngột của mụ, tôi đứng sững như hóa đá. Giọng Robert giục giéo tôi đi theo đã kéo tôi trở về thực tại. Tôi bước lên cầu thang. Người dẫn đường đưa tôi vào một căn phòng, nơi có một đống lửa củi tuyệt đẹp đang bùng cháy trong lò sưởi. Hắn đặt ngọn nến lên bàn, hỏi xem tôi có còn sai bảo gì nữa không, và khi tôi đáp là không, hắn bỏ mặc tôi một mình. Bạn có thể chắc chắn rằng khoảnh khắc tôi thấy mình ở một mình chính là lúc tôi tuân theo lời dặn của Marguerite. Tôi cầm nến, vội vã tiến lại chiếc giường và lật tấm chăn phủ lên.
Sự kinh hoàng, sự bàng hoàng của tôi lớn đến nhường nào khi phát hiện ra những chiếc ga giường đã nhuốm đẫm máu tươi!
Vào khoảnh khắc ấy, hàng ngàn ý nghĩ hỗn độn xẹt qua tâm trí tôi. Bọn cướp hoành hành trong rừng, tiếng kêu thốt lên của Marguerite về những đứa con của mụ, vũ khí và vẻ ngoài của hai tên thanh niên, cùng vô số giai thoại tôi từng nghe kể về mối liên kết ngầm thường trực giữa băng cướp và đám đánh xe, tất cả những chi tiết đó dồn dập ùa vào tâm trí, khơi dậy trong tôi sự hoài nghi và lo sợ. Tôi ngẫm nghĩ về những phương án khả thi nhất để xác thực sự thật cho những phỏng đoán của mình. Bỗng nhiên, tôi nhận thấy có kẻ ở tầng dưới đang bước đi vội vã qua lại. Lúc này, bất cứ thứ gì cũng trở thành đối tượng khiến tôi nghi ngờ. Với sự thận trọng, tôi đến gần ô cửa sổ vốn bị bỏ ngỏ bất chấp giá lạnh vì căn phòng đã lâu không được mở cửa. Tôi đánh liều nhìn ra ngoài. Ánh trăng mờ ảo cho phép tôi nhận diện một người đàn ông, và tôi không mấy khó khăn để nhận ra đó chính là chủ nhà. Tôi dõi theo từng cử động của ông ta.
Ông ta bước đi nhanh chóng, rồi dừng lại, có vẻ như đang lắng tai nghe; ông ta giậm chân xuống đất và vỗ hai tay vào ngực như thể để chống lại cái lạnh căm căm của thời tiết. Chỉ cần một tiếng động nhỏ, một giọng nói vang lên từ tầng dưới của ngôi nhà, một con dơi bay sượt qua, hay tiếng gió rít qua những cành cây trụi lá, ông ta giật nảy mình và lo lắng nhìn xung quanh.
“Quỷ tha ma bắt nó!” cuối cùng ông ta thiếu kiên nhẫn thốt lên; “Nó làm cái quái gì ở trển không biết!”
Ông ta nói bằng giọng thấp; nhưng vì đứng ngay phía dưới cửa sổ phòng tôi, tôi nghe rõ mồn một từng từ.
Lúc này tôi nghe thấy tiếng bước chân đang đến gần. Baptise tiến về phía phát ra âm thanh; ông ta hội ngộ với một gã đàn ông mà thân hình thấp lùn cùng chiếc tù và đeo tước cổ tố cáo không ai khác chính là tên Claude trung thành của tôi, kẻ mà tôi cứ đinh ninh là đã lên đường đi Strasbourg từ lâu. Mong rằng cuộc đối thoại của chúng sẽ làm sáng tỏ hoàn cảnh của tôi, tôi vội vã chuẩn bị tinh thần để lắng nghe chúng một cách an toàn. Vì mục đích này, tôi dập tắt ngọn nến đặt trên chiếc bàn gần giường; ánh lửa không đủ mạnh để tố cáo tôi, và tôi lập tức trở lại vị trí bên cửa sổ.
Đối tượng tò mò của tôi đã đứng nép ngay phía dưới cửa sổ. Tôi đoán là trong khoảnh khắc tôi vắng mặt chốc lát, gã tiều phu đã trách móc Claude vì tội chậm chạp, bởi khi tôi quay lại cửa sổ, gã kia đang cố gắng ngụy biện cho lỗi lầm của mình.
“Tuy nhiên,” hắn nói thêm, “sự siêng năng của tôi lúc này sẽ bù đắp cho sự chậm trễ vừa qua.”
“Với điều kiện đó,” Baptise đáp, “ta sẵn sàng tha thứ cho anh. Nhưng quả thực vì anh được chia phần sủng ái ngang bằng với chúng ta trong những món hời, lợi ích của chính anh sẽ khiến anh phải dùng đến mọi sự siêng năng có thể. Thật là uổng phí nếu để một món hời vĩ đại nhường ấy tuột mất khỏi tầm tay! Anh nói rằng gã người Tây Ban Nha này giàu lắm phải không?”
“Tên hầu của hắn khoác lác ở quán trọ rằng số tài sản trong xe của hắn đáng giá hơn hai nghìn đồng pistole.”
Ôi! Tôi thầm nguyền rủa sự kiêu ngạo vô lối của Stephano biết bao!
“Và tôi được bảo rằng,” tên đánh xe tiếp tục, “nữ bá tước này mang theo người một tráp trang sức có giá trị vô lượng.”
“Có thể lắm, nhưng tao thà là mụ ta đừng có bén mảng đến đây thì hơn. Gã người Tây Ban Nha là con mồi chắc ăn rồi. Mấy đứa con tao với tao hoàn toàn có thể dễ dàng tóm gọn hắn và tên hầu, thế là hai nghìn đồng pistole sẽ được chia đều cho bốn chúng ta. Giờ thì chúng ta lại phải để cho cả băng nhóm nhảy vào chia phần, và biết đâu toàn bộ bầy đàn sẽ xổng mất. Giả sử lũ bạn của chúng ta đã tản ra các trạm gác trước khi anh kịp đến hang động thì mọi chuyện coi như tiêu đời. Đám tùy tùng của vị phu nhân quá đông để chúng ta có thể áp đảo: Trừ khi đồng bọn của chúng ta đến kịp, nếu không chúng ta buộc phải để những vị lữ khách này lên đường vào ngày mai mà không được gây tổn hại hay sứt mẻ gì.”
“Xui xẻo thật đấy khi mấy gã đồng đội đánh xe của tôi lại là những kẻ không biết gì về liên minh của chúng ta! Nhưng đừng sợ, bạn Baptise. Chỉ một tiếng đồng hồ là tôi đến được hang động; bây giờ mới mười giờ, và đến mười hai giờ là anh có thể mong đợi sự xuất hiện của cả băng. Nhân tiện, hãy trông chừng vợ anh cho kỹ: Anh biết mụ ta căm ghét lối sống của chúng ta đến nhường nào rồi đấy, và mụ có thể tìm cách báo tin cho đám gia nhân của vị phu nhân về kế hoạch của chúng ta đấy.”
“Ồ, tôi nắm thóp được sự im lặng của mụ ta rồi; mụ quá sợ tôi và yêu thương con cái, không đời nào dám phản bội bí mật của tôi đâu. Hơn nữa, Jacques và Robert canh chừng mụ nghiêm ngặt lắm, mụ chẳng được phép bén mảng bước chân ra khỏi túp lược nửa bước. Đám gia nhân đã được bố trí ngủ an toàn trong kho lúa; tôi sẽ cố gắng giữ mọi thứ yên ắng cho đến khi đồng bọn chúng ta tới. Giá như tôi chắc chắn được việc anh tìm thấy bọn chúng, thì mấy vị khách lạ này đã phải đi chầu diêm vương từ đời nào rồi; nhưng vì anh hoàn toàn có nguy cơ bỏ lỡ bọn cướp, tôi đẻ ra lo sợ bị đám gia nhân của chúng lôi cổ ra bắt đền vào sáng mai.”
“Và giả sử một trong hai vị lữ khách phát hiện ra kế hoạch của anh thì sao?”
“Thì khi ấy chúng ta buộc phải đâm chết những kẻ nằm trong tầm tay, còn số còn lại thì tính sau để lật lèo bọn chúng. Tuy nhiên, để tránh rủi ro đó, hãy mau chóng đến hang động đi: Bọn cướp chẳng bao giờ rời khỏi đó trước mười một giờ đâu, và nếu anh khẩn trương, anh vẫn kịp chặn chúng lại.”
“Hãy bảo Robert rằng tôi đã mượn con ngựa của nó nhé: Con ngựa của tôi bị đứt cương và xổng chuồng chạy mất vào rừng rồi. Mật khẩu là gì thế?”
“Phần thưởng của lòng dũng cảm.”
“Thế là đủ. Tôi đi hang động đây.”
“Còn tôi quay lại với những vị khách của mình, kẻo sự vắng mặt lại sinh nghi. Thôi chào nhé, và nhớ khẩn trương lên.”
Những đồng minh đắc lực này cuối cùng cũng tách nhau ra: Một kẻ hướng thẳng về phía chuồng ngựa, trong khi kẻ kia quay trở lại nhà.
Bạn có thể hình dung cảm xúc của tôi ra sao trong suốt cuộc trò chuyện đó, khi mà tôi không bỏ sót lấy một âm tiết nào. Tôi không dám phó mặc bản thân cho những dòng suy nghĩ mông lung, và cũng chẳng có phương cách nào xuất hiện để giúp tôi thoát khỏi những hiểm nguy đang rình rập. Chống trả, tôi biết là vô ích; tôi không tấc sắt trong tay, lại chỉ có một mình chống lại ba kẻ: Tuy nhiên, tôi quyết định ít ra sẽ bán mạng thật đắt giá nhất có thể. Sợ rằng Baptise sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình và nghi ngờ tôi đã nghe lén thông điệp mà Claude vừa nhận nhiệm vụ, tôi vội vã thắp lại cây nến rồi rời khỏi phòng. Khi bước xuống lầu, tôi thấy bàn ăn đã được dọn sẵn cho sáu người. Nữ bá tước đang ngồi sưởi bên lò sưởi; Marguerite đang bận rộn trộn món xà lát, còn mấy đứa con riêng đang thì thầm to nhỏ ở tận cuối phòng. Baptise còn phải đi một vòng qua khu vườn mới đến được cửa túp lược, nên vẫn chưa quay về. Tôi lặng lẽ ngồi xuống đối diện nữ bá tước.
Một cái liếc nhìn sang Marguerite đã nói cho mụ biết rằng lời ám hiệu của mụ không hề uổng phí đối với tôi. Giờ đây mụ trông mới khác làm sao! Những gì trước đây tôi cho là vẻ u ám và sầm sì, giờ tôi mới nhận ra đó là sự ghê tởm đối với đồng bọn và lòng trắc ẩn dành cho hiểm nguy của tôi. Tôi nhìn mụ như vị cứu tinh duy nhất của mình; thế nhưng dẫu biết mụ bị chồng canh chừng bằng đôi mắt đầy nghi kỵ, tôi chẳng thể đặt mấy hy vọng vào sự giúp đỡ đầy thiện chí của mụ.
Bất chấp mọi nỗ lực che giấu, sự bấn loạn của tôi vẫn hiện rõ mồn một trên khuôn mặt. Tôi tái mét, cả lời nói lẫn hành động đều trở nên xộc xệch và lúng túng. Mấy đứa thanh niên tinh ý nhận ra điều đó và cất tiếng gặng hỏi nguyên do. Tôi liền đổ lỗi cho sự mệt mỏi quá độ và tác động dữ dội do thời tiết khắc nghiệt gây ra. Dẫu chúng có tin tôi hay không, tôi cũng chẳng thèm bận tâm; ít ra thì chúng cũng thôi không làm tôi bối rối với những câu hỏi nữa. Tôi cố gắng chuyển hướng sự chú ý khỏi những hiểm nguy bủa vây bằng cách trò chuyện về nhiều chủ đề khác với nữ bá tước. Tôi nói về nước Đức, tuyên bố ý định đến thăm nơi này ngay lập tức: Chúa mới biết là vào khoảnh khắc đó tôi chẳng hề nghĩ ngợi gì đến chuyện sẽ đặt chân tới đó! Bà ân cần lịch thiệp đáp lời tôi, bày tỏ rằng niềm vui khi được làm quen với tôi đã bù đắp xứng đáng cho sự chậm trễ trong hành trình, đồng thời tha thiết mời tôi ghé lại lâu đài Lindenberg chơi một thời gian. Khi bà nói thế, đám thanh niên trao nhau nụ cười đầy nham hiểm, ngầm tố cáo rằng bà sẽ cực kỳ may mắn nếu bản thân có thể đặt chân đến nổi cái lâu đài đó. Hành động này không qua mắt được tôi; nhưng tôi nén chặt cảm xúc đang dâng trào trong lồng ngực. Tôi tiếp tục trò chuyện với vị phu nhân; nhưng câu cú cứ đứt quãng rời rạc đến độ như sau này bà thú nhận, bà bắt đầu nghi ngờ không biết đầu óc tôi có còn bình thường nữa không. Sự thật là trong khi miệng nói chuyện này thì tâm trí tôi lại bị chi phối hoàn toàn bởi chuyện khác. Tôi mông lung nghĩ về cách trốn khỏi túp lược, mò ra kho lúa để báo động cho đám gia nhân về dã tâm của chủ nhà. Tôi nhanh chóng nhận ra ý định đó bất thi khả thi đến nhường nào. Jacques và Robert dán mắt theo dõi từng cử động của tôi, buộc tôi phải từ bỏ ý định. Mọi hy vọng giờ đây đổ dồn vào việc Claude không tìm thấy bọn cướp; nếu đúng như vậy, chiếu theo những gì tôi nghe lén được, chúng ta sẽ được phép rời đi mà không bị tổn hại gì.
Tôi rùng mình vô thức khi Baptise bước vào phòng. Ông ta bày tỏ vô vàn lời xin lỗi vì đã đi quá lâu, nhưng “ông ta bị giữ chân bởi những công việc không thể hoãn lại được.” Sau đó, ông ta khẩn khoản xin phép cho gia đình mình được ngồi chung bàn ăn với chúng tôi, viện lý do rằng phép lịch sự không cho phép ông ta tự tiện làm thế nếu không có sự cho phép. Ôi, thâm tâm tôi nguyền rủa gã đạo đức giả này biết bao! Tôi căm ghét tột cùng sự hiện diện của kẻ sắp sửa tước đoạt mạng sống của tôi, một sinh mạng vào lúc đó vô cùng đáng giá! Tôi có đủ mọi lý do để thỏa mãn với cuộc đời: tôi trẻ tuổi, giàu có, có tước vị, được học hành tử tế, và những viễn cảnh tươi đẹp nhất đang mở ra trước mắt. Tôi chứng kiến những viễn cảnh ấy chuẩn bị khép lại theo cách thức kinh hoàng nhất; thế nhưng tôi vẫn buộc phải diễn kịch, phải mỉm cười đón nhận sự xã giao giả tạo từ kẻ đang cầm dao kề bên cổ mình.
Sự cho phép mà chủ nhà đòi hỏi nhanh chóng được đáp ứng. Chúng tôi an tọa vào bàn. Nữ bá tước và tôi ngồi một bên; mấy đứa con trai ngồi đối diện, quay lưng ra cửa. Baptise ngồi cạnh nữ bá tước ở phía đầu bàn, và chiếc ghế trống bên cạnh ông ta là dành cho vợ. Chẳng mấy chốc mụ bước vào phòng, bày biện lên bàn một bữa ăn đạm bạc nhưng ấm cúng của nhà nông. Chủ nhà cảm thấy có lỗi vì sự nghèo nàn của bữa tối: “Ông ta không hề hay biết trước về sự ghé thăm của chúng tôi; ông ta chỉ có thể dọn ra những món ăn vốn chuẩn bị sẵn cho gia đình mình”:
“Nhưng,” ông ta nói thêm, “giả sử có sự cố nào giữ chân những vị khách quý của tôi lâu hơn dự định hiện tại, tôi hy vọng sẽ đãi ngộ họ chu đáo hơn.”
Tên khốn kiếp! Tôi thừa biết cái sự cố mà hắn bóng gió đến là gì; tôi rùng mình trước màn đãi ngộ mà hắn đang dạy chúng ta trông chờ!
Người bạn đồng hành trong hoạn nạn của tôi dường như đã gạt bỏ hoàn toàn nỗi bực dọc vì bị chậm trễ. Bà cười đùa và trò chuyện vô cùng vui vẻ với gia đình chủ nhà. Tôi cố gắng làm theo bà nhưng hoàn toàn vô ích. Tinh thần của tôi rõ ràng là do gượng ép, và sự gượng gạo tôi trút vào bản thân không qua khỏi mắt Baptise.
“Nào, nào thưa ngài, vui vẻ lên chứ!” ông ta nói; “Trông ngài có vẻ chưa hồi sức hẳn sau chuyến hành trình mệt mỏi. Để vực lại tinh thần cho ngài, ngài nghĩ sao về một ly rượu vang hảo hạng đời cũ do chính cha tôi để lại? Lạy hồn, ngài đã về thế giới bên kia rồi! Tôi hiếm khi đem chai rượu này ra; nhưng vì tôi không vinh dự được đón tiếp những vị khách như thế này mỗi ngày, đây là dịp xứng đáng để khui một chai.”
Nói rồi, hắn trao chìa khóa cho vợ, chỉ dẫn mụ nơi cất giữ loại rượu mà hắn vừa nhắc. Mụ có vẻ chẳng lấy làm hào hứng với nhiệm vụ này chút nào; mụ cầm chìa khóa với vẻ mặt lúng túng và chần chừ chưa muốn rời khỏi bàn.
“Bà không nghe thấy tôi nói gì à?” Baptise cất giọng bực bội.
Marguerite trừng mắt nhìn hắn bằng ánh mắt pha trộn giữa phẫn nộ và sợ hãi, rồi lầm lũi rời khỏi phòng. Ánh mắt hắn đầy nghi kỵ dõi theo mụ cho đến khi cánh cửa khép lại.
Chẳng mấy chốc mụ quay lại mang theo một chai rượu được niêm phong bằng sáp vàng. Mụ đặt nó lên bàn và trao trả chìa khóa cho chồng. Tôi nghi ngờ thứ chất lơ lửng này không phải tự dưng mà được dọn ra, và tôi bất an theo dõi mọi cử động của Marguerite. Mụ đang bận tráng mấy chiếc cốc sừng nhỏ. Khi đặt chúng trước mặt Baptise, mụ nhìn thấy ánh mắt tôi đang dán chặt vào mình, và vào khoảnh khắc mụ nghĩ mình không bị bọn cướp để mắt tới, mụ ra hiệu bằng đầu bảo tôi tuyệt đối đừng nếm thứ nước đó, rồi mụ trở về chỗ ngồi.
Trong lúc đó, chủ nhà đã khui nút chai, rót đầy hai chiếc cốc và mời nữ bá tước cùng tôi. Ban đầu bà từ chối đôi chút, nhưng sự nài nỉ khẩn khoản của Baptise khiến bà buộc phải tuân theo. Sợ làm dấy lên sự nghi ngờ, tôi không ngần ngại đón lấy chiếc cốc được mời. Qua mùi hương và màu sắc, tôi đoán đó là rượu Champagne; nhưng một vài hạt bột nổi lềnh bềnh trên mặt nước đã thuyết phục tôi rằng nó không hề nguyên chất. Tuy nhiên, tôi không dám biểu lộ sự chán ghét việc uống nó; tôi nâng ly lên môi, ra điều đang nuốt trọn; bỗng nhiên vùng dậy khỏi ghế, tôi vội vã lao về phía chiếc vạc đựng nước cách đó không xa, nơi Marguerite vừa dùng để tráng cốc. Tôi giả vờ nhổ ngụm rượu ra với vẻ đầy ghê tởm, rồi chớp lấy cơ hội âm thầm tống khứ chất lỏng đó vào trong vạc.
Bọn cướp có vẻ hoảng hốt trước hành động của tôi. Jacques chồm nửa người khỏi ghế, thọc tay vào ngực áo, và tôi kịp nhìn thấy chuôi một cây đoản đao. Tôi bình thản trở về chỗ ngồi, làm như không hề nhận thấy sự bối rối của chúng.
“Người anh em thiện lành ạ, loại này không hợp khẩu vị của tôi rồi,” tôi hướng về phía Baptise nói. “Tôi chưa bao giờ uống nổi rượu Champagne mà không bị cơn bệnh vật vã hành hạ. Tôi vừa nuốt vội vài ngụm trước khi nhận ra chất lượng của nó, và e rằng mình sẽ phải trả giá cho sự bất cẩn này đây.”
Baptiste và Jacques trao nhau ánh mắt đầy ngờ vực.
“Có lẽ,” Robert lên tiếng, “mùi vị của nó không hợp với ngài.”
Hắn đứng dậy khỏi ghế và thu dọn chiếc cốc. Tôi nhận thấy hắn liếc mắt kiểm tra xem nó đã cạn sạch hay chưa.
“Hắn ta chắc đã nốc đủ lượng cần thiết rồi,” hắn lẩm bẩm với anh trai bằng giọng thấp khi ngồi thụp xuống ghế.
Marguerite lộ vẻ lo lắng sợ tôi đã nếm thử thứ nước đó; một cái liếc nhìn từ tôi đã trấn an mụ.
Tôi thấp thỏm chờ đợi hiệu quả mà thứ đồ uống ấy sẽ tác động lên vị phu nhân. Tôi không mảy may nghi ngờ rằng những hạt bột tôi nhìn thấy chính là độc dược, và vô cùng tiếc nuối vì bản thân không tài nào cảnh báo được bà về mối hiểm nguy. Nhưng chỉ vài phút trôi qua, tôi đã nhận ra mí mắt của bà nặng trĩu; đầu gục xuống vai và bà chìm sâu vào giấc ngủ mê mệt. Tôi làm như không mải mai quan tâm đến tình huống này, và tiếp tục trò chuyện với Baptise bằng tất cả sự hào hứng giả tạo mà tôi có thể vắt kiệt ra được. Nhưng ông ta không còn đáp lời tôi một cách tự nhiên nữa. Ông ta săm soi tôi bằng ánh mắt nghi kỵ và kinh ngạc, và tôi nhận thấy băng cướp liên tục thì thầm to nhỏ với nhau. Hoàn cảnh của tôi mỗi lúc một thêm phần đau đớn; tôi gồng mình giữ vững vẻ mặt tự tin ngày càng trở nên thảm hại hơn bao giờ hết. Vừa sợ hãi sự xuất hiện của đồng bọn chúng, vừa sợ chúng phát hiện ra tôi đã thấu triệt mưu đồ, tôi chẳng biết làm sao để xua tan bầu không khí ngờ vực mà băng cướp rõ ràng đang dành cho mình. Trong tình thế tiến thoái lưỡng nan này, người bạn Marguerite lại một lần nữa ra tay cứu giúp. Mụ lướt qua phía sau lưng mấy đứa con riêng, dừng lại giây lát ngay trước mặt tôi, nhắm nghiền hai mắt và ngả đầu lên vai. Gợi ý này ngay lập tức xua tan sự mông lung trong tôi. Nó nhắc nhở rằng tôi nên bắt chước nữ bá tước, vờ như thứ nước kia đã phát huy tác dụng triệt để lên người mình. Tôi làm theo y chang, và chỉ vài phút sau trông tôi hoàn toàn ngã quỵ chìm vào giấc ngủ.
“Được rồi!” Baptise hét lớn khi tôi ngả người ngửa ra sau ghế; “Cuối cùng thì hắn cũng ngủ say rồi! Tao cứ tưởng hắn đánh hơi thấy mưu đồ của chúng ta và ép chúng ta thế nào cũng phải ra tay hạ sát bằng mọi giá cơ chứ.”
“Và sao không hạ sát hắn bằng mọi giá cơ chứ?” gã Jacques hung hãn cất giọng chất vấn. “Sao lại chừa cho hắn cơ hội phản bội bí mật của chúng ta? Marguerite, đưa tao một khẩu súng lục: Chỉ một cái siết cò là tiễn hắn về chầu diêm vương ngay lập tức.”
“Và giả sử,” người cha ngắt lời, “giả sử lũ bạn chúng ta không về kịp trong đêm nay, thử hỏi sáng mai khi đám gia nhân hỏi tung tích hắn thì chúng ta ăn nói ra sao cho ngầu! Không, không được đâu Jacques; chúng ta phải đợi đồng bọn. Nếu chúng tề tựu, chúng ta đủ sức tống tiễn cả lũ gia nhân lẫn chủ nhân của chúng, và món hời sẽ thuộc về chúng ta; còn nếu Claude không tìm thấy toán cướp, chúng ta đành phải kiên nhẫn ngậm đắng nuốt cay để con mồi sổng mất qua kẽ tay thôi. Ôi chao mấy đứa con tôi ơi, giá mà tụi mày về sớm hơn được đúng năm phút, thì gã người Tây Ban Nha đã đời nào rồi và hai nghìn đồng pistole đã chui vào túi chúng ta. Tụi mày lúc nào cũng biến đi mất tăm vào cái lúc người ta cần nhất. Tụi mày đúng là đám xui xẻo tột cùng!”
“Thì sao chứ, thưa cha!” Jacques đáp; “Nếu cha chịu nghe theo ý con, mọi chuyện đã xong xuôi từ đời nào rồi. Cha, con, Robert với Claude, đám người lạ có gấp đôi số lượng đi chăng nữa thì con cam đoan chúng ta cũng tẩn cho nhừ tử. Dù sao thì Claude cũng đi rồi; có tiếc nuối cũng chẳng ích gì. Chúng ta đành kiên nhẫn đợi băng nhóm tới; và nếu lỡ bọn khách lữ khách sổng mất đêm nay, chúng ta nhớ phục kích chúng vào ngày mai là được.”
“Chuẩn! Chuẩn lắm!” Baptise lẩm bẩm; “Marguerite, bà đã cho mấy nữ tỳ uống thuốc ngủ chưa?”
Mụ khẳng định xác nhận.
“Vậy là mọi chuyện an toàn. Nào mấy đứa, chuyện gì xảy ra đi nữa, chúng ta chẳng có lý do gì để phàn nàn về cuộc phiêu lưu này cả. Chúng ta chẳng mất mát gì, rủi ro bằng không mà lợi lộc thì vô vàn.”
Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập bên ngoài. Ôi, âm thanh đó mới kinh hoàng làm sao đối với đôi tai tôi. Một giọt mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa trên trán, và tôi cảm nhận trọn vẹn nỗi kinh hoàng của cái chết đang cận kề. Tôi chẳng hề được trấn an chút nào khi nghe thấy tiếng kêu xé lòng đầy tuyệt vọng của người phụ nữ trắc ẩn Marguerite:
“Lạy Chúa toàn năng! Tiêu đời chúng rồi!”
May mắn thay, gã tiều phu và đám con trai mải mê với sự xuất hiện của đồng bọn nên không màng đến tôi, bằng không sự hoảng loạn dữ dội của tôi đã tố cáo rành rành rằng giấc ngủ vừa rồi chỉ là màn kịch giả vờ.
“Mở cửa! Mở cửa mau!” hàng loạt giọng nói gào thét vang lên bên ngoài túp lược.
“Được rồi! Được rồi!” Baptise hân hoan reo lên; “Đích thị là đồng minh của chúng ta rồi! Nào hỡi mấy đứa, xuất phát thôi! Dắt chúng ra kho lúa mau! Tụi mày biết phải làm gì ở đó rồi chứ.”
Robert vội vã chạy đi mở cửa túp lược.
“Nhưng trước tiên,” Jacques nói, với tay vơ lấy vũ khí; “trước tiên để tôi tiễn vong mấy kẻ đang ngủ say này đã.”
“Không, không, không!” người cha ngăn lại; “Mày ra kho lúa đi, chỗ đó đang cần sự có mặt của mày đấy. Để đó cho tao lo đám này với mấy con mụ trên gác cho.”
Jacques vâng lời, lẹ làng rảo bước theo sau anh trai. Chúng có vẻ trao đổi dăm ba câu với những kẻ mới đến trong chớp nhoáng; sau đó tôi nghe tiếng bọn cướp xuống ngựa, và đúng như tôi phỏng đoán, chúng hướng thẳng về phía kho lúa.
“Được lắm! Việc đó xử lý khôn ngoan đấy!” Baptise lẩm bẩm trong miệng; “Chúng đã buông cương ngựa để có thể bất ngờ tập kích mấy vị lữ khách. Quá tốt! Quá tốt! Giờ thì quay lại công việc chính thôi.”
Tôi nghe tiếng ông ta tiến về phía chiếc tủ chén nhỏ được gắn cố định ở một góc khuất trong phòng và mở khóa. Đúng lúc này, tôi cảm thấy cơ thể mình bị lay nhẹ một cách thận trọng.
“Mau lên! Mau lên!” Marguerite thì thầm sát bên tai.
Tôi mở bừng mắt. Baptise đang quay lưng về phía tôi. Chẳng còn ai khác trong phòng ngoài Marguerite và vị phu nhân đang ngủ mê mệt. Tên khốn đã chộp lấy một cây đoản đao từ trong tủ và đang săm soi xem nó đã đủ độ bén ngọt chưa. Tôi đã sơ suất không dắt theo vũ khí tự vệ; nhưng tôi nhận thức rõ đây là cơ hội sinh tử duy nhất để thoát thân, và tự nhủ không được phép để vuột mất. Tôi chồm người khỏi ghế, lao thẳng vào Baptise, vòng hai tay siết chặt lấy cổ họng hắn, bóp mạnh đến mức hắn chẳng thể thốt lên nổi dù chỉ một tiếng kêu. Bạn hẳn còn nhớ tôi từng nổi danh ở Salamanca về lực tay khỏe khoắn; và giờ đây nó đã phát huy tác dụng chí mạng. Bị đánh úp bất ngờ, kinh hoàng và nghẹt thở, gã tiểu nhân không tài nào trở thành đối thủ cân sức. Tôi quật ngã hắn xuống đất; bồi thêm sức siết chặt hơn; và trong lúc tôi ghì chặt hắn bất động dưới sàn, Marguerite chớp lấy con đao giật phăng từ tay hắn, đâm liên tiếp vào ngực cho đến khi hắn thở ngắt phế chầu diêm vương.
Ngay khi hành động tàn nhẫn nhưng bắt buộc này vừa khép lại, Marguerite giục giã tôi mau chóng bám theo mụ.
“Chạy trốn là lối thoát duy nhất lúc này!” mụ gào lên; “Nhanh lên! Nhanh lên! Phải chuồn mau!”
Tôi không ngần ngại vâng lời; nhưng vì không nỡ bỏ lại nữ bá tước làm nạn nhân cho sự trả thù của bọn cướp, tôi vội vóc bế thốc bà lên tay khi bà vẫn đang chìm trong giấc ngủ, rồi cắm cổ chạy theo Marguerite. Đang lúc lúng túng, bầy ngựa của bọn cướp được buộc ngay gần cửa ra vào; người dẫn đường của tôi nhanh trí trèo phắt lên lưng một con. Tôi làm theo y hệt, đặt nữ bá tước ngồi phía trước rồi thúc mạnh gót giày vào hông ngựa. Hy vọng duy nhất của chúng tôi là hướng về Strasbourg, nơi vốn dĩ gần hơn rất nhiều so với lời gã lừa đảo Claude đã bịa đặt. Rành rẽ từng đường đi nước bước, Marguerite phi ngựa bạt mạng dẫn đường phía trước. Chúng tôi buộc phải lướt qua khu kho lúa, nơi bọn cướp đang tàn sát dã man đám gia nhân của chúng tôi. Cánh cửa mở toang hoác; văng vẳng bên tai là tiếng thét xé lòng của những kẻ sắp chết cùng những lời nguyền rủa từ miệng bọn sát nhân! Cảm xúc lúc đó của tôi ngôn từ nào tả xiết cho vừa!
Jacques nghe thấy tiếng vó ngựa hộc tốc phóng qua kho lúa liền quay phắt lại. Hắn vơ lấy ngọn đuốc cháy rực lao ra cửa, và dễ dàng nhận diện ra những kẻ đang trốn chạy.
“Bị phản rồi! Bị lừa rồi!” hắn thét hoác gọi đồng bọn.
Lập tức chúng buông thõng đao kiếm dính đầy máu tanh, bổ nhào ra tranh nhau cướp lấy ngựa. Chẳng còn thời gian để ngó ngàng gì nữa. Tôi vùi sâu cặp cựa vào hai bên sườn chiến mã, còn Marguerite thì dùng chính con dao vừa lập công lớn quất liên hồi vào mông ngựa. Chúng tôi bay vút đi như tên bắn, xé toạc không gian để lao ra vùng đồng bằng trống trải. Thoắt cái ngọn tháp chuông Strasbourg đã lấp ló trong tầm mắt, thì âm thanh truy đuổi từ phía sau vang lên dồn dập. Marguerite ngoái đầu nhìn lại, kinh hoàng phát hiện toán cướp đang lao vun vút đổ xuống một ngọn đồi nhỏ cách đó chẳng xa. Mặc cho chúng tôi có quất ngựa phóng nhanh đến đâu, khoảng cách tiếng động mỗi lúc một rút ngắn lại.
“Tiêu đời chúng ta rồi!” mụ thét lên hoảng loạn; “Lũ khốn kiếp sắp đuổi kịp rồi kìa!”
“Cố lên! Phóng nhanh nữa lên!” tôi gào thét phản hồi; “Tôi nghe thấy tiếng vó ngựa từ trong thành phố đang phi nước đại ra kìa!”
Chúng tôi dốc toàn lực tung những roi cuối cùng, để rồi vỡ òa khi nhận ra một toán kỵ binh đông đảo đang phi như bay về hướng này. Họ chuẩn bị sượt qua chúng tôi.
“Dừng lại! Dừng lại mau!” Marguerite thét gào khản đặc; “Cứu chúng tôi với! Vì ơn trên, hãy cứu lấy mạng chúng tôi!”
Kẻ đi đầu, có vẻ là người dẫn đường, lập tức giật mạnh dây cương hãm ngựa.
“Chính là bà ấy! Đúng là người rồi!” hắn hét lên, nhào phắt xuống đất; “Khoan đã, thưa ngài, dừng lại! Họ được an toàn rồi! Chính là mẹ tôi!”
Cùng khoảnh khắc ấy, Marguerite lao mình khỏi lưng ngựa, ôm chầm lấy hắn và che lấp bằng những nụ hôn. Đám kỵ binh phía sau sững sờ dừng hẳn lại theo tiếng hô.
“Nữ bá tước Lindenberg ư?” một kẻ khác trong số những vị khách lạ hớt hải cất lời; “Bà ấy đâu rồi? Không ở cùng hai người à?”
Hắn khựng lại chết sững khi mục kích cảnh vị phu nhân đang bất tỉnh nhân sự nằm gọn trong vòng tay tôi. Hắn vội vã bế thốc bà khỏi người tôi. Cơn buồn ngủ chết người do loại thuốc mê ngấm sâu khiến hắn thoạt đầu tái mặt lo sợ cho tính mạng bà; nhưng nhịp đập phập phồng từ lồng ngực đã kịp trấn an hắn.
“Lạy Chúa tạ ơn!” hắn thở phào; “Bà ấy thoát nạn lành lặn rồi.”
Tôi cắt ngang sự hoan hỉ của hắn bằng cách chỉ tay về phía toán ác ôn đang tiếp tục áp sát. Chẳng cần đợi tôi nhắc nhở thêm nửa lời, phần đông lực lượng dường như chủ yếu là quân nhân đã lao vút lên để nghênh chiến. Lũ tiểu nhân thấy tình hình bất ổn liền quay đầu ngựa tháo chạy thục mạng vào rừng, đuổi theo sát nút phía sau là những vị ân nhân cứu mạng của chúng tôi. Trong lúc đó, vị khách lạ mà tôi đoán tỏng là nam tước Lindenberg, sau khi nói lời cảm ơn rối rít vì tôi đã ra tay che chở phu nhân, bèn đề nghị toàn đoàn khẩn trương quay trở về thị trấn. Nữ bá tước, người vẫn chưa dứt hẳn dư âm của liều thuốc ngủ, được ôm đặt ngồi phía trước ông; Marguerite cùng con trai leo lại lên yên ngựa; đám gia nhân lủi thủi theo sau, và chẳng mấy chốc chúng tôi cập bến khách sạn nơi ông thuê phòng trước đó.
Đó chính là quán Đại Bàng Áo, nơi mà chủ ngân hàng của tôi, theo như thỏa thuận trước lúc rời Paris về dự định ghé thăm Strasbourg, đã chu đáo đặt sẵn phòng ốc tươm tất. Tôi khấp khởi mừng thầm trước sự tình cờ này. Nó tạo cơ hội thuận lợi để tôi vun đắp mối quan hệ bang giao với nam tước, điều mà tôi dự cảm sẽ hữu ích cho chặng đường nước Đức sắp tới. Vừa đặt chân đến nơi, vị phu nhân được khiêng thẳng lên giường nghỉ ngơi; một vị y sĩ lập tức được thỉnh đến để kê đơn thuốc giải độc nhằm vô hiệu hóa tác dụng của liều thuốc mê dã man kia, và sau khi đổ thuốc vào miệng, bà được phó thác cho sự chăm sóc tận tình của mụ chủ quán. Nam tước lúc này mới quay sang tôi, khẩn khoản yêu cầu kể lại tường tận ngọn ngành cuộc phiêu lưu hú vía vừa rồi. Tôi vui vẻ đáp ứng ngay lập tức; bởi vì đang canh cánh nỗi lo về số phận của Stephano, người mà tôi buộc phải bỏ lại cho sự tàn độc của băng cướp tàn sát, tôi chẳng thể tài nào chợp mắt nổi chừng nào chưa tường tận tin tức về anh. Và rồi tin dữ ập đến sớm hơn tôi tưởng, rằng người đầy tớ trung thành của tôi đã vĩnh viễn ra đi. Đám binh lính truy đuổi bọn sát nhân đã trở về đúng lúc tôi đang mải miết thuật lại câu chuyện cho nam tước nghe. Qua lời kể của họ, tôi hay tin lũ cướp đã bị tóm gọn: Tội ác và dũng khí đích thực vốn dĩ không bao giờ đi chung một con đường; chúng đã quỳ rạp dưới chân kẻ truy đuổi, đầu hàng vô điều kiện không dám kháng cự lấy một đòn, khai tọp hang ổ bí mật đồng thời chỉ điểm ám hiệu để tóm nốt phần còn lại của băng nhóm, tóm lại là bày ra đủ mọi sắc thái hèn hạ nhục nhã nhất. Bằng cách đó, toàn bộ băng đảng gần sáu mươi mạng người đã bị sa lưới, trói giật cánh khuỷu và giải về Strasbourg. Một tốp binh lính khẩn trương quay lại túp lược dưới sự dẫn đường của một tên trong băng cướp. Điểm dừng chân đầu tiên của họ chính là nhà kho đẫm máu, nơi họ may mắn phát hiện ra hai tên gia nhân của nam tước vẫn còn thoi thóp dẫu thương tích đầy mình. Số còn lại đã bỏ mạng dưới lưỡi kiếm tàn độc của bọn cướp, và người Stephano bất hạnh của tôi nằm trong số đó.
Bị hoảng loạn bởi màn tẩu thoát của chúng tôi, trong cơn hộc tốc đuổi theo, bọn cướp đã bỏ quên việc kiểm tra lại túp lược. Nhờ vậy, binh lính tìm thấy hai nữ tỳ hoàn toàn bình an vô sự, đang chìm đắm trong giấc ngủ sâu hệt như người chủ của họ. Chẳng còn bóng dáng ai khác ngoài một đứa trẻ lên bốn tuổi được binh lính đưa đi theo cùng. Chúng tôi đang bận rộn suy đoán về thân thế của đứa trẻ bất hạnh này, thì Marguerite hớt hải lao sà vào phòng với đứa bé trên tay. Mụ sụp xuống chân vị sĩ quan đang báo cáo sự việc, nghẹn ngào tuôn ra hàng ngàn lời cầu phúc vì ơn cứu mạng đứa con trai cưng.
Khi cơn xúc động bản năng người mẹ qua đi, tôi khẩn khoản van nài mụ hãy vén màn bí mật về lý do vì sao mụ lại đem thân kết dính cuộc đời với một kẻ có nhân cách hoàn toàn trái ngược với mình như vậy. Mụ cúi gằm mặt, đưa tay lau vội dòng lệ trên khóe mi.
“Thưa các ngài,” mụ cất giọng sau quãng im lặng kéo dài vài phút, “tôi xin phép được giãi bày một thỉnh cầu nhỏ: Các ngài có quyền được biết mình đang ban ơn huệ cho ai. Do đó, tôi sẽ không che đậy lời thú tội đầy ô nhục này; nhưng xin phép cho tôi được tóm tắt nó bằng ít từ nhất có thể.
Tôi sinh ra tại Strasbourg trong một gia đình gia giáo tử tế; danh tính xin phép tôi được giữ kín vào lúc này: Cha tôi vẫn còn sống, và ông không đáng phải vướng vào vũng bùn ô nhục của tôi; nếu các ngài chấp thuận thỉnh cầu, danh tính gia tộc tôi sẽ được tường thuật rõ. Một kẻ tiểu nhân đã chiếm đoạt trọn vẹn trái tim tôi, và vì y, tôi rũ bỏ gia đình để bước theo tiếng gọi tình yêu. Dẫu đam mê lấn át lý trí làm lu mờ đức hạnh, tôi vẫn chưa trượt dài đến mức đồi trụy đến tận cùng vũng lầy tội lỗi – cái kết cục thường thấy của những phụ nữ lầm lỡ bước chân đầu đời. Tôi yêu gã nhân tình sâu sắc; yêu bằng tất cả tâm can! Tôi chung thủy với gã; đứa bé này, cùng với người thiếu niên vừa cảnh báo ngài nam tước về sự nguy hiểm đối với phu nhân, chính là kết tinh cho tình yêu của chúng tôi. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn thương tiếc sự ra đi của y, dẫu cho chính y là nguyên nhân mang lại mọi cay đắng tủi nhục trong cuộc đời tôi.
Y xuất thân từ dòng dõi quý tộc cao sang, nhưng đã nướng sạch cơ ngơi thừa kế từ gia đình. Họ hàng khinh miệt y như một vết nhơ của dòng họ và dứt khoát từ từ mặt y. Những thói trác táng khiến y lọt vào tầm ngắm của cảnh sát. Y buộc phải tháo chạy khỏi Strasbourg, và chẳng còn đường sinh kế nào khác ngoài việc đầu quân vào băng cướp hoành hành trong khu rừng lân cận – toán cướp chủ yếu quy tụ những gã công tử bột cùng chung hoàn cảnh khốn cùng như y. Tôi kiên quyết không buông xuôi số phận. Tôi theo chân y vào hang ổ bọn phỉ, chia sẻ mọi đắng cay bất hạnh gắn liền với kiếp sống cướp bóc. Nhưng dẫu thừa biết cuộc sống của chúng ta được nuôi sống bằng của cải cướp giật, tôi hoàn toàn mù tịt trước những thủ đoạn tàn độc đằng sau nghề nghiệp của người tình. Y cẩn trọng che đậy mọi thứ với tôi bằng sự tỉ mỉ tối đa; y thừa ý thức rằng tâm hồn tôi chưa đến nỗi biến chất để có thể trơ mắt nhìn cảnh ám sát đẫm máu mà không thấy kinh hoàng; y phỏng đoán đúng rằng tôi sẽ cao chạy xa bay với nỗi ghê tởm nếu phát hiện y là một tên sát nhân. Tám năm chung chọi không làm phai nhạt tình yêu y dành cho tôi; và y cẩn thận loại bỏ khỏi tầm mắt tôi mọi manh mối có thể dẫn dắt đến tội ác mà y nhúng tay vào quá thường xuyên. Y đã thành công mỹ mãn: Mãi cho đến khi y chết, tôi mới bàng hoàng phát hiện ra đôi bàn tay ấy từng vấy bẩn biết bao sinh mạng vô tội.
Định mệnh cay nghiệt giáng xuống vào một đêm khi y được khiêng về hang ổ với vô số vết thương chằng chịt trên người: Y gánh chịu chúng khi đang đột kích một du khách người Anh, kẻ mà đồng bọn của y ngay lập tức tàn sát để trả thù. Y chỉ còn chút hơi tàn để thốt lên lời xin lỗi vì mọi đau thương đã gây ra cho tôi; y áp tay tôi lên môi rồi trút hơi thở cuối cùng. Nỗi đau đớn trong tôi là vô bờ bến. Ngay khi cơn bão lòng dịu xuống, tôi ấp ủ ý định trở về Strasbourg, quỳ lạy dưới chân cha để xin ơn tha thứ, dẫu hy vọng mong manh đến tội nghiệp. Nỗi kinh hoàng của tôi lớn đến nhường nào khi được thông báo rằng bất kỳ ai nắm giữ bí mật về hang ổ tuyệt đối không bao giờ được phép rời khỏi băng cướp; rằng tôi phải vĩnh viễn vứt bỏ ảo mộng trở lại xã hội loài người, và buộc phải chấp nhận ngay lập tức một tên cướp làm chồng! Mọi lời cầu xin và van nài đều đổ sông đổ biển. Chúng rút thăm quyết định số phận tôi thuộc về ai; và thế là tôi trở thành món đồ sở hữu của gã khốn Baptise. Một tên cướp từng là tu sĩ đã đứng ra làm chủ hôn cho chúng tôi bằng một buổi lễ mang sắc thái nhạo báng nhiều hơn là tôn giáo: Tôi cùng các con bị giao nộp tận tay người chồng mới, và y lập tức tống chúng tôi về nhà y.
Y quả quyết rằng bản thân đã ấp ủ tình cảm cháy bỏng dành cho tôi từ lâu; nhưng vì tình nghĩa với người bạn quá cố nên đành nén chặt lòng mình. Y tìm cách xoa dịu số phận tôi, và suốt một thời gian đối xử với tôi bằng sự tôn trọng, ôn hòa; cho đến cuối cùng, khi nhận ra thái độ cự tuyệt của tôi ngày một dâng cao thay vì thuyên giảm, y đã giở thủ đoạn bạo lực để cướp đoạt những gì tôi một mực chối từ. Chẳng còn lối thoát nào khác ngoài việc ngậm đắng nuốt cay chịu đựng; tôi tự nhận thức rằng bản thân hoàn toàn xứng đáng với kết cục ấy. Trốn chạy là điều cấm kỵ: Lũ trẻ nằm gọn trong tầm kiểm soát của Baptise, và y thề thố rằng nếu tôi dám hó hé trốn đi, cái mạng nhỏ của chúng sẽ phải thế mạng. Tôi đã chứng kiến quá đủ sự tàn bạo bản chất y để không mảy may nghi ngờ việc y sẽ thực hiện đúng y chang lời thề. Trải nghiệm đau thương mở rộng tầm mắt tôi về sự tàn nhẫn trong nghề nghiệp của y, và y tìm mọi cách để tập tễnh tôi quen dần với cảnh máu me chém giết.
Bản tính tôi phóng khoáng nồng nhiệt, nhưng tuyệt đối không tàn ác: Hành xử của tôi có phần bất cẩn, nhưng tâm can tôi không phải kẻ không có nguyên tắc. Thử hỏi tôi đã cảm thấy thế nào khi liên tiếp chứng kiến những tội ác ghê tởm và rợn tóc gáy nhất! Thử hỏi tôi đau đớn nhường nào khi phải chung chèo với một kẻ tươi cười mở cửa đón tiếp những vị khách bằng vẻ hiếu khách nồng hậu nhất, đúng vào khoảnh khắc y đang âm mưu tước đoạt sinh mạng họ! Muộn phiền và bất mãn bào mòn thể xác tôi; chút nhan sắc trời ban héo mòn tàn lụi, và nét mặt u sầu phản chiếu rõ mồn một nỗi thống khổ trong tim. Đã ngàn lần tôi muốn tự kết liễu đời mình để giải thoát; nhưng hình bóng lũ trẻ lại níu giữ đôi bàn tay tôi lại. Tôi run rẩy khi nghĩ đến cảnh bỏ mặc những đứa con trai bé bỏng trong tay ác quỷ, và còn run rẩy hơn thế khi lo lắng cho đạo đức của chúng hơn cả mạng sống. Đứa thứ hai còn quá nhỏ để có thể lĩnh hội lời tôi dạy dỗ; nhưng trong sâu thẳm tâm hồn đứa con cả, tôi không ngừng nỗ lực gieo mầm những nguyên tắc đạo đức giúp nó tránh xa tội ác của bậc sinh thành. Nó lắng nghe tôi với thái độ ngoan ngoãn, thậm chí đầy háo hức. Dẫu ở tuổi ăn tuổi lớn, nó đã sớm bộc lộ rằng bản thân không thuộc về thế giới của lũ ác nhân, và niềm an ủi duy nhất xoa dịu nỗi đau của tôi chính là được chứng kiến những phẩm chất tốt đẹp đang đơm hoa kết trái nơi Theodore. Hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ chính là như thế, khi gã đánh xe bội bạc đưa Don Alphonso bước chân vào túp lược. Sự trẻ trung, phong thái và lịch thiệp của ngài đã kéo sự chú ý và lòng trắc ẩn của tôi hướng về phía ngài. Sự vắng mặt của mấy đứa con riêng tạo cho tôi cơ hội hằng mong mỏi, và tôi quyết định đánh đổi tất cả để bảo vệ vị khách lạ. Sự cảnh giác của Baptise ngăn cản tôi cảnh báo Don Alphonso về mối hiểm nguy; tôi thừa biết việc để lộ bí mật sẽ nhận lấy cái chết ngay tức khắc, và dẫu cuộc đời có bị đắng cay vùi dập đến đâu, tôi vẫn thiếu dũng khí để hy sinh nó nhằm đổi lấy sự sống của một kẻ khác. Hy vọng duy nhất của tôi là trông chờ vào viện binh từ Strasbourg; và tôi quyết định thử vận may đó; đồng thời chớp lấy thời cơ nếu có dịp cảnh báo ngài mà không bị phát hiện. Theo lệnh Baptise, tôi bước lên lầu dọn giường cho khách; tôi trải lên đó tấm ga giường vừa dùng để tước đoạt mạng sống của một du khách vài đêm trước, và vết máu tanh vẫn còn in hằn nguyên vẹn. Tôi thầm hy vọng những dấu vết rành rành ấy sẽ không qua khỏi sự cảnh giác của vị khách, để ngài tự luận ra mưu đồ của người chồng bội bạc. Đó không phải là hành động duy nhất tôi làm để bảo vệ ngài. Theodore đang nằm liệt giường vì bệnh nặng. Tôi lẻn vào phòng cậu bé mà không để ác quỷ phát hiện, truyền đạt kế hoạch và cậu hăng hái hưởng ứng ngay lập tức. Bất chấp bệnh tật đeo bám, cậu vùng dậy mặc quần áo nhanh hết mức có thể. Tôi quấn một trong những tấm ga giường quanh tay cậu, rồi thòng dây thả cậu xuống từ cửa sổ. Cậu phi thẳng ra chuồng ngựa, dắt con ngựa của Claude rồi phóng như bay về Strasbourg. Giả sử chạm trán băng cướp dọc đường, cậu sẽ khai nhận được Baptise phái đi đưa tin, nhưng may mắn thay cậu đến thị trấn trót lọt không gặp bất kỳ vật cản nào. Vừa đặt chân đến Strasbourg, cậu khẩn khoản cầu cứu lực lượng chấp pháp; câu chuyện truyền tai nhau và cuối cùng lọt đến tai nam tước. Lo lắng cho sự an toàn của phu nhân – người mà ông biết chắc chắn sẽ đi qua đoạn đường đó vào tối hôm đó, ông đoán mò rằng bà có thể đã rơi vào bẫy của bọn cướp. Ông đồng hành cùng Theodore dẫn đường cho quân lính tiến về túp lược, và cập bến đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc để cứu chúng tôi khỏi nanh vuốt kẻ thù.”
Đến đây tôi ngắt lời Marguerite để gặng hỏi lý do vì sao thứ thuốc mê lại được dọn ra mời tôi. Mụ cho hay Baptise đinh ninh tôi có mang theo vũ khí trong người, nên muốn vô hiệu hóa khả năng chống trả: Đó là sự cẩn trọng thường trực của y, bởi vì khi lữ khách đường cùng không còn hy vọng trốn thoát, sự tuyệt vọng sẽ xúi giục họ bán mạng thật đắt giá.
Nam tước sau đó đề nghị Marguerite cho biết những dự định trước mắt của nàng. Tôi hùa theo ông khẳng định sự sẵn sàng bày tỏ lòng biết ơn vì ơn cứu mạng từ nàng.
“Cảm thấy ghê tởm cõi trần,” nàng đáp, “nơi tôi chẳng gặt hái được gì ngoài những nỗi đau đoạn trường, nguyện vọng duy nhất lúc này là được ẩn dật trong một tu viện. Nhưng trước tiên tôi phải lo toan cho bọn trẻ. Tôi hay tin mẹ tôi đã qua đời, có lẽ vì quá đau khổ trước sự bỏ trốn bất hiếu của tôi! Cha tôi vẫn còn tại thế; ông không phải là người quá vô tình; có lẽ, thưa các vị, bất chấp sự bất nhân và bồng bột của tôi, những lời khuyên giải từ các ngài sẽ lay động lòng ông tha thứ và cưu mang những đứa cháu bất hạnh. Nếu các ngài giành lại được ân huệ này cho tôi, đó sẽ là sự đền đáp gấp ngàn lần cho những gì tôi đã làm!”
Cả nam tước lẫn tôi đều bảo đảm với Marguerite rằng chúng tôi sẽ không tiếc công sức để xin ơn xá tội cho nàng; đồng thời ngay cả khi người cha có cứng nhắc đi chăng nữa, nàng cũng không phải lo lắng về số phận tương lai của lũ trẻ. Tôi đứng ra nhận chu cấp cho Theodore, còn nam tước hào phóng bảo trợ cho đứa út.
Người mẹ biết ơn rơi nước mắt cảm tạ điều mà nàng gọi là sự hào phóng cao cả, nhưng thực chất chỉ là cách thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa tối thiểu. Nàng rời phòng để đưa đứa con út lên giường khi cơn buồn ngủ đã dập vùi kiệt sức.
Nữ bá tước, sau khi bình phục và được thông báo tường tận về hiểm nguy mà tôi đã giải cứu bà, không giấu nổi sự biết ơn dạt dào. Bà cùng chồng tha thiết nài nỉ tôi đồng hành cùng họ về lâu đài ở Bavaria, khiến tôi chẳng thể nào chối từ. Trong suốt tuần lễ lưu lại Strasbourg, lợi ích của Marguerite không bị lãng quên: Chúng tôi đã gặt hái thành công trọn vẹn ngoài mong đợi trong việc cầu xin người cha tha thứ. Cụ già phúc hậu đã mất vợ; ông chẳng còn đứa con nào ngoài người con gái bất hạnh này, người mà ông đã mất thông tin suốt gần mười bốn năm trời. Xung quanh ông là đám họ hàng xa đang chờ chực ngày ông khuất núi để tước đoạt gia tài. Do đó, khi Marguerite đột ngột xuất hiện trở lại, ông coi đó là món quà thiêng liêng từ trời cao: Ông ôm chầm lấy mẹ con nàng và nằng nặc đòi họ dọn về chung sống dưới một mái nhà không chậm trễ. Đám họ hàng vỡ mộng đành ngậm ngùi lui bước. Cụ già nhất quyết không cho phép con gái vào tu viện, viện lý do nàng quá cần thiết cho hạnh phúc của ông, và Marguerite dễ dàng bị thuyết phục từ bỏ ý định. Nhưng không một lời khuyên nào có thể lay chuyển Theodore từ bỏ kế hoạch ban đầu mà tôi đã vạch ra. Cậu gắn bó sâu sắc với tôi trong suốt thời gian ở Strasbourg; và khi tôi chuẩn bị rời đi, cậu nức nở nài nỉ được theo chân làm gia nhân: Cậu trưng ra mọi tài lẻ với vẻ ưu tú nhất để thuyết phục tôi rằng sự hiện diện của cậu sẽ vô cùng hữu ích trên dọc đường. Ban đầu tôi ngần ngại khi phải đèo bòng một thiếu niên vừa tròn mười ba tuổi, người mà tôi biết chỉ mang lại vướng víu; thế nhưng tôi không tài nào cưỡng lại sự nài nỉ khẩn khoản từ cậu thiếu niên tràn đầy tình cảm và sở hữu vô vàn phẩm chất đáng quý này. Sau nhiều phen chật vật, cuối cùng cậu cũng thuyết phục được họ hàng cho phép theo hầu, và với tấm vé thông hành đó, cậu chính thức mang danh hiệu người hầu riêng của tôi. Trải qua một tuần ở Strasbourg, Theodore và tôi lên đường sang Bavaria cùng gia đình nam tước. Trước lúc chia tay, chúng tôi bắt Marguerite phải nhận những món quà giá trị dành cho nàng và đứa út; và tôi đã thề hứa chắc nịch với người mẹ rằng sẽ đưa Theodore trở về thăm nàng trong vòng một năm.
Tôi đã thuật lại toàn bộ cuộc phiêu lưu này, hỡi Lorenzo, để anh thấu triệt cách thức mà “Kẻ phiêu lưu Alphonso d’Alvarada đặt chân vào lâu đài Lindenberg.” Hãy nhìn từ minh chứng cụ thể này để tự đánh giá xem những lời phao đồn từ người dì của anh đáng tin đến mức nào!