Matthew Cuthbert và con ngựa cái tía thong thả đi qua quãng đường tám dặm để đến Bright River. Đó là một con đường xinh xắn, uốn lượn giữa những trang trại ấm cúng, thỉnh thoảng lại băng qua một vạt rừng linh sam ngào ngạt hương thơm hoặc một trũng thung lũng nơi những quả mận dại buông rủ lớp phấn hoa mỏng như sương. Không khí ngào ngạt hương thơm từ những vườn táo bạt ngàn, và những đồng cỏ thoai thoải trải dài tận chân trời với màn sương mờ ảo màu ngọc trai và tím biếc, trong khi:
“Những chú chim nhỏ cất tiếng ca như thể
Đó là ngày hè duy nhất trong cả năm.”
Matthew tận hưởng chuyến đi theo cách riêng của mình, trừ những lúc gặp phụ nữ và phải gật đầu chào họ — bởi vì ở Đảo Prince Edward, người ta mặc nhiên phải gật đầu chào tất cả mọi người gặp trên đường dù quen hay lạ.
Matthew kinh sợ mọi phụ nữ trừ Marilla và bà Rachel; ông luôn có cảm giác khó chịu rằng những sinh vật kỳ bí ấy đang ngầm cười nhạo mình. Có lẽ ông đã nghĩ đúng, bởi vì ông là một kẻ có bề ngoài kỳ dị, với dáng người vụng về, mái tóc dài bạc phơ chạm tới đôi vai còm cõi, cùng bộ râu nâu rậm rạp mềm mại mà ông đã để từ khi tròn hai mươi tuổi. Thực chất, trông ông hồi hai mươi tuổi cũng chẳng khác gì lúc sáu mươi, chỉ ít bạc hơn một chút mà thôi.
Khi đến Bright River, chẳng hề thấy bóng dáng chuyến tàu nào; ông nghĩ mình đến quá sớm, bèn cột ngựa vào sân của khách sạn nhỏ ở Bright River rồi đi sang nhà ga. Sân ga dài vắng ngắt; sinh vật sống duy nhất xuất hiện là một cô bé đang ngồi trên một chồng ván lợp ở tận cùng sân ga. Matthew hầu như không để ý đó là một đứa trẻ, lách qua người nó nhanh nhất có thể mà không buồn nhìn ngó. Giá như nhìn lại, hẳn ông đã không thể không chú ý đến tư thế và vẻ mặt đầy căng thẳng, chờ đợi của nó. Nó ngồi đó chờ đợi một cái gì đó hoặc ai đó, và vì ngồi chờ là việc duy nhất có thể làm lúc bấy giờ, nó ngồi chờ với tất cả sức lực và tâm trí của mình.
Matthew bắt gặp người trưởng ga đang khóa phòng bán vé để chuẩn bị về nhà ăn tối, và hỏi ông ta liệu chuyến tàu năm giờ rưỡi có sắp đến chưa.
“Chuyến tàu năm giờ rưỡi đã vào ga và đi từ nửa tiếng trước rồi,” vị nhân viên nhanh nhảu đáp. “Nhưng có một hành khách xuống tàu để chờ ông — một cô bé. Nó đang ngồi ngoài đống ván lợp kia kìa. Tôi đã bảo nó vào phòng đợi của phụ nữ, nhưng nó nghiêm nghị cho biết nó thích ở bên ngoài hơn. ‘Ở ngoài đó có nhiều không gian cho trí tưởng tượng hơn,’ nó nói thế. Phải công nhận nó là một trường hợp độc nhất vô nhị đấy.”
“Tôi đâu có đợi một đứa con gái,” Matthew ngẩn người nói. “Tôi đến để đón một thằng bé. Lẽ ra nó phải có mặt ở đây. Bà Alexander Spencer đã nhận đưa nó từ Nova Scotia sang cho tôi mà.”
Trưởng ga huýt sáo một tiếng.
“Chắc có nhầm lẫn gì rồi,” ông ta nói. “Bà Spencer xuống tàu cùng con bé đó và giao nó cho tôi quản lý. Bà ấy bảo ông và em gái đang nhận nuôi nó từ một trại mồ côi và sẽ đến đón nó ngay. Tôi chỉ biết có vậy thôi — chứ quanh đây tôi chẳng giấu thêm đứa trẻ mồ côi nào nữa đâu.”
“Tôi không hiểu nổi,” Matthew lúng túng nói, thầm ước gì Marilla có mặt ở đây để giải quyết tình huống này.
“Vậy thì tốt nhất ông nên hỏi con bé ấy,” trưởng ga dửng dưng nói. “Tôi dám cá là nó sẽ giải thích được thôi — mồm mép của nó gớm lắm, chắc chắn là vậy. Biết đâu họ hết con trai theo ý ông muốn rồi thì sao.”
Ông ta bước đi một cách phơi phới vì đang đói bụng, bỏ lại tội nghiệp Matthew phải đối mặt với việc còn khó khăn hơn cả việc vào hang bắt cướp — đó là tiến đến chỗ một đứa con gái — một đứa con gái xa lạ — một đứa trẻ mồ côi — và hỏi nó tại sao nó lại không phải là con trai. Matthew rên rỉ trong lòng khi quay người lại và lầm lũi bước dọc theo sân ga về phía nó.
Nó đã quan sát ông từ lúc ông đi ngang qua và bây giờ vẫn dán mắt vào ông. Matthew không nhìn nó và dù có nhìn thì cũng chẳng nhận ra thực chất trông nó thế nào, nhưng một người quan sát bình thường sẽ thấy thế này: Một đứa trẻ chừng mười một tuổi, mặc một chiếc váy bằng vải wincey xám ngả vàng rất ngắn, rất chội và rất xấu xí. Nó đội một chiếc mũ thủy thủ màu nâu đã phai màu và bên dưới chiếc mũ, rủ xuống sau lưng là hai bím tóc rất dày, đỏ rực. Guơng mặt nó nhỏ nhắn, trắng bệch và gầy gò, lại thêm rất nhiều tàn nhang; miệng rộng và đôi mắt cũng thế, trông lúc thì xanh lục theo ánh sáng và tâm trạng, lúc lại xám xịt.
Đấy là góc nhìn của người quan sát bình thường; còn một người quan sát tinh tế có thể nhận ra chiếc cằm nhọn hoắt và đầy vẻ cương quyết; đôi mắt to tràn đầy sinh khí và sự hoạt bát; đôi môi xinh xắn và biểu cảm; vương trán rộng và đầy đặn; tóm lại, người quan sát tinh tường của chúng ta có thể kết luận rằng không hề có một tâm hồn tầm thường nào trú ngụ trong cơ thể của đứa trẻ lai người lớn đi lang thang này mà Matthew Cuthbert nhút nhát lại cảm thấy sợ hãi một cách buồn cười đến thế.
Tuy nhiên, Matthew lại được tha khỏi thử thách phải cất lời trước, bởi vì ngay khi nhận ra ông đang tiến về phía mình, con bé liền đứng phắt dậy, một tay gầy guộc nắm lấy quai chiếc túi xách du lịch cũ kỹ, tồi tàn; tay kia đưa ra về phía ông.
“Chắc hẳn bác là ông Matthew Cuthbert ở Green Gables phải không ạ?” nó nói bằng một chất giọng trong trẻo và ngọt ngào đến kỳ lạ. “Cháu rất vui được gặp bác. Cháu bắt đầu sợ rằng bác sẽ không đến đón cháu và cháu đã tưởng tượng đủ mọi chuyện có thể xảy ra ngăn cản bác đến. Cháu đã tự nhủ rằng nếu tối nay bác không đến đón cháu, cháu sẽ đi dọc theo đường ray đến cây anh đào dại lớn ở khúc cua, rồi trèo lên đó ở suốt đêm. Cháu sẽ chẳng sợ chút nào đâu, và được ngủ trên một cây anh đào dại trắng xóa hoa dưới ánh trăng thì tuyệt biết mấy, bác có nghĩ thế không? Bác có thể tưởng tượng rằng mình đang sống trong những lâu đài nguy nga tráng lệ, phải không nào? Và cháu hoàn toàn tin chắc rằng sáng mai bác sẽ đến đón cháu, nếu tối nay bác không đến.”
Matthew lóng ngóng đón lấy bàn tay gầy guộc nhỏ bé; ngay lúc đó, ông quyết định phải làm gì. Ông không thể nói cho đứa trẻ có đôi mắt rực sáng này biết rằng đã có sự nhầm lẫn; ông sẽ đưa nó về nhà và để Marilla làm việc đó. Dù sao thì không thể bỏ mặc nó ở Bright River được, bất kể đã có sự nhầm lẫn gì đi nữa, thế nên mọi thắc mắc và giải thích đành phải hoãn lại cho đến khi ông về đến Green Gables an toàn.
“Bác rất tiếc vì đã đến muộn,” ông rụt rè nói. “Đi thôi cháu. Ngựa đang để ở trong sân. Đưa túi đây cho bác.”
“Ồ, cháu tự xách được ạ,” con bé vui vẻ đáp. “Nó có nặng đâu. Cháu đựng toàn bộ gia tài của mình trong này đấy, nhưng mà nhẹ lắm. Hơn nữa nếu không xách đúng cách thì cái quai sẽ sút ra — thế nên cháu cứ tự cầm thì hơn vì cháu biết rõ mẹo của nó. Đây là một chiếc túi xách vô cùng cổ. Ồ, cháu rất vui vì bác đã đến, dù cho được ngủ trên một cây anh đào dại cũng thích lắm chứ bộ. Chúng ta phải đi một quãng đường dài lắm phải không bác? Bà Spencer bảo là tám dặm cơ. Cháu rất thích vì cháu thích đi xe. Ồ, thật là kỳ diệu khi cháu sắp được về sống với bác và thuộc về bác. Cháu chưa từng thuộc về ai cả — chưa bao giờ thực sự như thế. Nhưng ở trại mồ côi là tồi tệ nhất. Cháu mới ở đó có bốn tháng, thế là quá đủ rồi. Chắc bác chưa bao giờ là đứa trẻ mồ côi trong trại giam cả, nên bác không thể nào hiểu được cảm giác đó thế nào đâu. Nó tồi tệ hơn bất cứ điều gì bác có thể tưởng tượng nổi. Bà Spencer bảo cháu nói thế là hư, nhưng cháu có cố ý hư đâu. Thật dễ hư hỏng mà chẳng hề hay biết, phải không bác? Người ta tốt lắm chứ, ý cháu là những người ở trại mồ côi ấy. Nhưng ở trại mồ côi thì có rất ít không gian cho trí tưởng tượng — chỉ có thể tưởng tượng về những đứa trẻ mồ côi khác mà thôi. Thật là thú vị khi tưởng tượng ra đủ thứ về chúng — tưởng tượng rằng có khi đứa ngồi cạnh mình thực chất là con gái của một vị bá tước quyền quý, bị một mụ vú em độc ác bắt cóc từ thủa lọt lòng và mụ ta đã chết trước khi kịp thú nhận sự thật. Cháu thường thức trắng đêm để tưởng tượng những chuyện như thế, bởi vì ban ngày cháu chẳng có thời gian. Chắc tại thế mà cháu mới gầy thế này đây — cháu gầy tong teo phải không bác? Chẳng còn chút thịt nào trên xương nữa. Cháu rất thích tưởng tượng mình thật tròn trịa, phúng phính, với nhữngúm đồng tiền ở khuỷu tay.”
Nói đến đây, người đồng hành của Matthew ngừng bặt, một phần vì hết hơi và một phần vì họ đã đến chỗ chiếc xe ngựa. Con bé không thốt thêm lời nào nữa cho đến khi họ rời khỏi làng và đang đổ xuống một con dốc nhỏ hiểm trở, đoạn đường bị khoét sâu vào lớp đất mềm đến nỗi những bờ ta-luy rợp bóng hoa anh đào dại và những rặng bạch dương trắng mảnh mai nằm cao hơn đầu họ cả thước.
Con bé vươn tay bẻ một cành mận dại đang cọ vào thành xe.
“Không đẹp lắm sao bác? Cây mọc chìa ra từ vách đất, trắng xóa và lúp xúp như ren kia, làm bác liên tưởng đến điều gì?” nó hỏi.
“Ừ thì, bác cũng chẳng biết nữa,” Matthew nói.
“Chứ sao nữa, một cô dâu chứ gì — một cô dâu mặc toàn váy trắng với chiếc khăn voan mỏng manh xinh đẹp. Cháu chưa từng thấy cô dâu bao giờ, nhưng cháu có thể tưởng tượng trông họ sẽ thế nào. Cháu chẳng mong có ngày mình được làm cô dâu đâu. Cháu xấu thế này chẳng ai thèm lấy làm vợ đâu — trừ phi lấy một nhà truyền giáo ở xứ xa. Chắc mấy vị truyền giáo xứ xa thì không kén chọn lắm nhỉ. Nhưng cháu rất hy vọng có ngày mình sẽ có một chiếc váy trắng. Đó là lý tưởng cao đẹp nhất về hạnh phúc trần gian của cháu. Cháu cực kỳ mê quần áo đẹp. Và trong đời cháu chưa từng có được một chiếc váy đẹp nào mà cháu có thể nhớ nổi — nhưng dĩ nhiên điều đó lại càng làm cho cháu có thứ để mong đợi, phải không bác? Và rồi cháu có thể tưởng tượng rằng mình đang ăn diện lộng lẫy. Sáng nay lúc rời trại mồ côi, cháu cảm thấy vô cùng xấu hổ vì phải mặc chiếc váy vải wincey cũ kỹ gớm ghiếc này. Đứa trẻ mồ côi nào cũng phải mặc nó cả. Mùa đông năm ngoái, một thương gia ở Hopeton đã quyên góp ba trăm thước vải wincey cho trại mồ côi. Mấy người ta bảo sở dĩ ông ấy cho là vì không bán được, nhưng cháu thích tin rằng đó là vì lòng tốt của ông ấy hơn, bác có nghĩ vậy không? Lúc lên tàu, cháu có cảm giác như tất cả mọi người đang nhìn mình và thương hại mình. Nhưng cháu liền tự nhủ và tưởng tượng rằng mình đang mặc một chiếc váy lụa màu xanh nhạt đẹp tuyệt trần — bởi vì đã mất công tưởng tượng thì tội gì không tưởng tượng cho đáng — cùng một chiếc mũ rộng vành kết đầy hoa và lông chim trĩ bay phấp phới, một chiếc đồng hồ vàng, găng tay và giày da cừu. Cháu thấy phấn chấn hẳn lên và tận hưởng chuyến đi ra đảo với tất cả tâm hồn. Lúc đi thuyền qua đây cháu chẳng bị say sóng chút nào cả. Bà Spencer cũng thế, dù bà ấy thường xuyên bị say. Bà ấy bảo không có thời gian để mà say sóng, vì phải canh chừng không để cháu ngã xuống biển. Bà ấy bảo chưa từng thấy ai hay la cà ngắm nghía như cháu. Nhưng nếu việc đó giúp bà ấy không bị say sóng thì quả là may mắn cho cháu khi đã la cà phải không bác? Và cháu muốn ngắm tất cả những gì có thể thấy trên con tàu đó, bởi vì cháu chẳng biết mình còn cơ hội nào khác nữa không. Ồ, có thêm rất nhiều cây anh đào đang nở hoa kìa! Hòn đảo này là nơi ngập tràn hoa nhất trên đời. Cháu đã yêu nơi này lắm rồi, và cháu rất vui vì được đến đây sinh sống. Cháu vẫn luôn nghe nói Đảo Prince Edward là nơi đẹp nhất thế giới, và cháu từng tưởng tượng mình đang sống ở đây, nhưng chưa bao giờ nghĩ điều đó lại thành hiện thực. Thật tuyệt vời khi những điều tưởng tượng trở thành sự thật, phải không bác? Nhưng những con đường màu đỏ kia ngộ nghĩnh thật đấy. Lúc chúng cháu lên tàu ở Charlottetown và những con đường đỏ cứ vùn vụt trôi qua, cháu đã hỏi bà Spencer tại sao chúng lại có màu đỏ và bà ấy bảo không biết và xin ơn trên đừng hỏi thêm gì nữa. Bà ấy bảo chắc cháu đã hỏi bà ấy đến cả nghìn câu rồi. Chắc là thế thật, nhưng mà nếu không hỏi thì làm sao biết được mọi chuyện chứ? Mà tại sao đường lại có màu đỏ nhỉ?”
“Ừ thì, bác cũng chẳng biết nữa,” Matthew nói.
“Ồ, đó cũng là một trong những điều cần phải tìm hiểu vào một lúc nào đó. Thật tuyệt vời khi nghĩ đến biết bao điều đang chờ ta khám phá phải không bác? Nghĩ đến thôi đã thấy vui vì được sống rồi — thế giới này thật là thú vị. Sẽ chẳng thú vị bằng một nửa nếu chúng ta biết tất cả mọi thứ về mọi vật, phải không bác? Lúc đó thì làm gì còn không gian cho trí tưởng tượng nữa, đúng không nào? Nhưng mà có phải cháu nói nhiều quá không? Mọi người vẫn hay bảo cháu thế. Bác có muốn cháu im lặng không? Nếu bác bảo thế, cháu sẽ dừng lại. Cháu có thể ngừng nói nếu cháu quyết tâm, mặc dù việc đó khó lắm.”
Ngược lại với sự ngạc nhiên của chính mình, Matthew lại đang cảm thấy rất vui vẻ. Giống như hầu hết những người ít nói, ông thích những kẻ ba hoa khi chính họ sẵn sàng gánh vác phần nói và không bắt ông phải họa theo. Nhưng ông chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể tận hưởng bầu bạn với một cô bé. Phụ nữ đã phiền toái lắm rồi, nhưng các cô bé còn tồi tệ hơn. Ông căm ghét cái cách họ lủi qua mặt ông một cách rụt rè, liếc ngang liếc dọc như thể sợ ông sẽ nuốt chửng họ vào bụng nếu họ dám thốt lên một lời. Đó là kiểu thiếu nữ được giáo dục tử tế ở Avonlea. Nhưng con bé tóc tàn nhang này hoàn toàn khác biệt, và dù ông thấy trí óc chậm chạp của mình khá chật vật mới theo kịp dòng suy nghĩ thoăn thoắt của nó, ông vẫn nghĩ rằng mình “hơi thích cái giọngu rả của nó.” Thế nên ông cất lời, rụt rè như mọi khi:
“À, cháu cứ nói bao nhiêu tùy thích. Bác không bận tâm đâu.”
“Ồ, cháu mừng quá. Cháu biết thế nào cháu với bác cũng sẽ hòa hợp với nhau thôi. Thật là nhẹ nhõm khi được nói những gì mình muốn mà không bị mắng là trẻ con thì chỉ nên nghe chứ không nên nói. Cháu nghe câu đó hàng triệu lần rồi ấy chứ. Và mọi người hay cười nhạo cháu vì hay dùng từ ngữ đao to búa lớn. Nhưng nếu bác có những ý tưởng lớn thì bác phải dùng những từ ngữ lớn để diễn tả chứ, phải không bác?”
“Ừ nhỉ, nghe cũng có lý đấy,” Matthew đáp.
“Bà Spencer bảo cái lưỡi của cháu chắc là bị buộc ở giữa. Nhưng không phải thế đâu — nó được gắn chặt vào một đầu cơ. Bà Spencer bảo nhà của bác tên là Green Gables. Cháu đã hỏi bà ấy tất cả mọi thứ về nó. Và bà ấy bảo xung quanh nhà có rất nhiều cây cối. Cháu còn thấy vui hơn nữa. Cháu cực kỳ yêu cây xanh. Thế mà ở trại mồ côi chẳng có cây nào cả, chỉ có mấy cái cây còi cọc tội nghiệp ở đằng trước với mấy chiếc khung quét vôi trắng bảo vệ xung quanh. Trông chúng cứ như những đứa trẻ mồ côi vậy, mấy cái cây ấy. Nhìn chúng làm cháu chỉ muốn khóc. Cháu thường nói với chúng rằng: ‘Ồ, các cháu nhỏ tội nghiệp ơi! Nếu các cháu được ở trong một khu rừng lớn với bao nhiêu cây cối xung quanh, cùng rêu phong và hoa chuông mọc dưới gốc, có con suối nhỏ chảy qua và chim chóc hót trên cành, thì các cháu đã lớn được rồi phải không? Nhưng ở đây thì các cháu chịu rồi. Cháu hiểu chính xác cảm giác của các cháu đấy, những cây con ạ.’ Sáng nay lúc rời đi, cháu thấy buồn khi phải bỏ chúng lại phía sau. Ta rất dễ gắn bó với những thứ như thế phải không bác? Ở Green Gables có con suối nào ở gần không hả bác? Cháu quên bén mất không hỏi bà Spencer điều đó.”
“Ừ thì, có chứ, có một con suối nằm ngay sát dưới nhà.”
“Thật á. Sống gần một con suối vẫn luôn là một trong những giấc mơ của cháu. Dù cháu chưa bao giờ nghĩ điều đó thành hiện thực. Giấc mơ hiếm khi trở thành sự thật lắm phải không bác? Sẽ tuyệt biết bao nếu chúng trở thành sự thật nhỉ? Nhưng lúc này đây cháu cảm thấy hạnh phúc gần như trọn vẹn. Cháu không thể hoàn toàn hạnh phúc tuyệt đối được vì — ồ, bác gọi màu này là màu gì?”
Nó giật một trong những bím tóc dài óng ả của mình qua bờ vai gầy và giơ lên trước mắt Matthew. Matthew không quen phân định các sắc thái trên mái tóc phụ nữ, nhưng trong trường hợp này thì chẳng có gì phải nghi ngờ nữa.
“Màu đỏ chứ gì nữa?” ông nói.
Con bé buông thõng bím tóc xuống kèm theo một tiếng thở dài tưởng chừng phát ra từ tận gót chân, trút bỏ tất cả nỗi buồn muôn thuở.
“Vâng, màu đỏ,” nó nhẫn nhục đáp. “Bác thấy chưa, đó là lý do vì sao cháu không thể hạnh phúc trọn vẹn được. Chẳng ai có mái tóc đỏ mà lại hạnh phúc nổi. Cháu không bận tâm lắm đến mấy thứ khác — tàn nhang, mắt xanh hay thân hình gầy gò này. Cháu có thể tưởng tượng để xua đi chúng. Cháu có thể tưởng tượng mình có một làn da mịn màng như cánh hồng và đôi mắt màu tím lung linh ánh sao. Nhưng cháu không thể tưởng tượng để vứt bỏ mái tóc đỏ này được. Cháu đã cố hết sức rồi. Cháu tự nhủ: ‘Nào, tóc mình có màu đen tuyền, đen như cánh quạ.’ Nhưng suốt lúc đó cháu vẫn biết nó chỉ là một màu đỏ lè và điều đó làm tim cháu tan nát. Đó sẽ là nỗi buồn suốt đời của cháu. Cháu từng đọc được trong một cuốn tiểu thuyết về một cô gái mang nỗi buồn suốt đời nhưng không phải vì tóc đỏ. Tóc cô ấy vàng óng ả buông xõa gợn sóng từ vương trán ngọc bích. Vầng trán ngọc bích là gì hả bác? Cháu chẳng tài nào tìm ra câu trả lời. Bác có biết không?”
“Ừm, e là bác chịu rồi,” Matthew nói, bắt đầu thấy hơi chóng mặt. Ông có cảm giác giống như hồi còn trẻ dại bồng bột, bị một đứa khác dụ lên chiếc vòng quay ngựa gỗ trong một chuyến đi chơi dã ngoại.
“Thôi kệ đi, dù nó là gì đi nữa thì chắc chắn phải là một thứ rất đẹp bởi vì cô ấy đẹp tựa nữ thần. Bác đã bao giờ tưởng tượng cảm giác được đẹp tựa nữ thần sẽ thế nào chưa?”
“Ừm, chưa, bác chưa bao giờ,” Matthew thành thật thú nhận.
“Cháu thì rồi, rất nhiều lần là đằng khác. Nếu được chọn, bác muốn mình đẹp tựa nữ thần, hay thông minh rực rỡ, hay ngoan hiền như thiên thần?”
“Ừ thì, bác... bác không biết chính xác nữa.”
“Cháu cũng vậy. Cháu chẳng bao giờ quyết định được. Nhưng thực ra cũng chẳng khác nhau là mấy vì đời nào cháu lại được như một trong số đó. Chắc chắn là cháu chẳng bao giờ ngoan hiền như thiên thần được rồi. Bà Spencer bảo rằng — ồ, ông Cuthbert! Ồ, ông Cuthbert!! Ồ, ông Cuthbert!!!”
Đó không phải là những gì bà Spencer đã nói; con bé cũng không hề ngã khỏi xe ngựa và Matthew cũng chẳng làm điều gì đáng kinh ngạc. Họ đơn giản là vừa vòng qua một khúc cua trên đường và thấy mình đang ở trong “Đại Lộ”.
“Đại Lộ”, theo cách gọi của người dân Newbridge, là một đoạn đường dài bốn hoặc năm trăm thước, hoàn toàn bị che khuất bởi những hàng cây táo khổng lồ tán rộng, được một lão nông phu eccentric trồng từ nhiều năm trước. Phía trên đầu là một vòm hoa thơm ngát trắng xóa. Dưới những tán cây, không khí tràn ngập một thứ ánh sáng chạng vạng tím ngắt và ở đằng xa, một thoáng bầu trời hoàng hôn rực rỡ hiện lên giống như một ô cửa sổ hoa hồng vĩ đại ở cuối gian giáo đường.
Vẻ đẹp của nó dường như khiến con bé câm lặng. Nó ngả người ra sau ghế xe, hai bàn tay gầy gò đan vào trước ngực, gương mặt ngẩng lên ngắm nhìn vẻ đẹp tráng lệ trắng xóa phía trên với một vẻ say sưa kính cẩn. Ngay cả khi họ đã đi qua và đang đổ xuống con dốc dài hướng về Newbridge, nó vẫn không hề nhúc nhích hay cất lời. Vẫn với gương mặt đắm chìm, nó đăm đăm nhìn xa xăm về phía chân trời tây lặn, với đôi mắt nhìn thấy những viễn cảnh đang nối đuôi nhau diễu hành tráng lệ qua khung nền rực rỡ ấy. Họ lái xe xuyên qua Newbridge, một ngôi làng tấp nập nơi lũ chó sủa vang, mấy đứa bé reo hò và những gương mặt tò mò nhòm ngó sau khung cửa sổ, trong sự im lặng kéo dài. Khi đã đi thêm được ba dặm đường nữa, con bé vẫn không hé răng. Rõ ràng là nó có thể giữ im lặng mãnh liệt hệt như cách nó huyên thuyên vậy.
“Chắc là cháu đang cảm thấy khá mệt và đói bụng rồi,” cuối cùng Matthew đành phá vỡ sự im lặng, quy sự câm lặng kéo dài của nó vào lý do duy nhất mà ông có thể nghĩ tới. “Nhưng chúng ta không còn phải đi xa nữa đâu — chỉ còn một dặm nữa thôi.”
Nó bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng với một tiếng thở dài sâu thẳm và nhìn ông bằng ánh mắt mộng mơ của một tâm hồn vừa phiêu du nơi xa xôi theo ánh sao dẫn lối.
“Ồ, ông Cuthbert,” nó thì thầm, “nơi chúng ta vừa đi qua — cái nơi trắng xóa đó — là gì vậy bác?”
“Ừ thì, chắc cháu đang nói đến Đại Lộ rồi,” Matthew trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi đáp. “Đó là một nơi khá đẹp.”
“Đẹp á? Ồ, từ ‘đẹp’ xem ra không đúng lắm để diễn tả nơi đó. Mà ‘tuyệt mỹ’ cũng không phải. Chúng vẫn chưa đủ tầm. Ồ, nơi đó thật tuyệt vời — tuyệt vời đến kỳ lạ. Đó là điều đầu tiên cháu thấy mà trí tưởng tượng không thể nào làm cho hoàn hảo hơn được nữa. Nó chạm đúng vào chỗ này của cháu” — nó đặt một tay lên ngực — “nó tạo ra một cảm giác nhức nhối là lạ nhưng lại rất dễ chịu. Bác đã bao giờ có cảm giác nhức nhối như thế chưa, ông Cuthbert?”
“Ừ thì, bác không tài nào nhớ được là mình đã từng có cảm giác đó chưa.”
“Cháu bị thế suốt — bất cứ khi nào nhìn thấy một thứ gì đó đẹp đẽ một cách vương giả. Nhưng người ta không nên gọi cái nơi đáng yêu đó là Đại Lộ. Cái tên nghe vô nghĩa quá. Phải gọi nó là — để cháu xem nào — Con Đường Hạnh Phúc Trắng Xóa mới đúng. Có phải là một cái tên giàu trí tưởng tượng không bác? Khi không thích tên của một địa điểm hay một người nào đó, cháu luôn tự tưởng tượng ra một cái tên mới và luôn nghĩ về họ với cái tên ấy. Ở trại mồ côi có một đứa tên là Hepzibah Jenkins, nhưng cháu luôn tưởng tượng nó tên là Rosalia DeVere. Người khác có thể gọi nơi đó là Đại Lộ, nhưng cháu sẽ luôn gọi nó là Con Đường Hạnh Phúc Trắng Xóa. Thực sự chúng ta chỉ còn phải đi đúng một dặm nữa là về đến nhà phải không bác? Cháu vừa vui mà lại vừa buồn. Cháu buồn vì chuyến đi này quá thú vị và cháu luôn thấy tiếc khi những điều thú vị kết thúc. Có thể sẽ có một điều gì đó còn thú vị hơn chờ đón phía sau, nhưng ta đâu thể chắc chắn được. Và thường thì sự thật lại chẳng thú vị hơn chút nào. Dù sao đó cũng là kinh nghiệm của cháu. Nhưng cháu lại vui khi nghĩ đến cảnh về đến nhà. Bác thấy đấy, từ khi còn nhớ được mọi chuyện, cháu chưa từng có một mái nhà thực sự nào cả. Chỉ nghĩ đến việc được về một ngôi nhà thực sự bằng xương bằng thịt thôi là cháu lại thấy cảm giác nhức nhối dễ chịu đó ùa về rồi. Ồ, kia đẹp quá!”
Họ đã vượt qua đỉnh của một ngọn đồi. Phía dưới họ là một hồ nước, dài và uốn lượn đến mức trông giống như một con sông. Một cây cầu bắc ngang qua chính giữa hồ, và từ đó cho đến tận hạ nguồn, nơi một dải cồn cát màu hổ phách ngăn cách nó với vùng vịnh xanh thẳm xa xa, mặt nước là một cõi rực rỡ với muôn vàn sắc thái biến hóa — những sắc thái huyền ảo nhất của màu nghệ tây, hồng thắm và xanh lục e ấp, cùng những gam màu khó nắm bắt khác mà chưa có cái tên nào gọi được. Phía trên cầu, hồ nước uốn lượn luồn vào những lùm linh sam và phong, hiện lên tối sẫm và trong mờ dưới bóng râm chập chờn của chúng. Thấp thoáng đâu đó bên bờ, một cây mận dại vươn mình như một thiếu nữ mặc váy trắng đang nhón gót ngắm bóng mình dưới nước. Từ vũng lầy đầu hồ vang lên bản hợp ca trong trẻo, buồn đến nao lòng của loài ếch nhái. Một ngôi nhà nhỏ màu xám thấp thoáng sau vườn táo trắng trên sườn đồi phía bên kia, và dù trời chưa hẳn đã tối hẳn, ánh đèn đã bừng sáng từ một khung cửa sổ.
“Đó là hồ nước nhà Barry,” Matthew nói.
“Ồ, cháu không thích cái tên đó chút nào. Cháu sẽ gọi nó là — để cháu xem nào — Hồ Nước Ánh Sáng Lấp Lánh. Vâng, đó mới là cái tên đúng đắn cho nó. Cháu biết thế vì nó mang lại cho cháu một cảm giác râm ran kỳ lạ. Khi tìm được một cái tên ăn khớp hoàn hảo, nó sẽ làm cháu râm ran cả người. Có bao giờ mọi thứ mang lại cho bác cảm giác râm ran như thế không?”
Matthew trầm ngâm suy nghĩ.
“Ừm, có chứ. Bác cứ thấy râm ran khó chịu thế nào ấy mỗi khi nhìn thấy mấy con sâu trắng xấu xí người ta đào được ở luống dưa chuột. Bác căm ghét cái bộ dạng của chúng.”
“Ồ, cháu không nghĩ đó là cùng một loại cảm giác râm ran đâu. Bác có nghĩ thế không? Trông chẳng có chút liên hệ nào giữa mấy con sâu bọ với hồ nước ánh sáng lấp lánh cả, đúng không bác? Nhưng sao người ta cứ gọi nó là hồ nhà Barry nhỉ?”
“Bác đoán là vì ông Barry sống ở ngôi nhà trên kia. Tên trang trại của ông ấy là Sườn Đồi. Nếu không vướng cái lùm cây lớn đằng sau đó thì từ đây cháu đã có thể nhìn thấy Green Gables rồi. Nhưng chúng ta phải qua cầu rồi vòng theo đường cái, nên phải đi thêm gần nửa dặm nữa.”
“Ông Barry có đứa con gái nào không ạ? À, cũng không hẳn là nhỏ lắm đâu — tầm vóc cỡ cháu ấy.”
“Ông ấy có một đứa khoảng mười một tuổi. Tên nó là Diana.”
“Ồ!” con bé thốt lên một tiếng kéo dài đầy vẻ hít hà. “Tên nghe đáng yêu làm sao!”
“Ừ thì, bác cũng không biết nữa. Trông có vẻ ghê rợn kiểu ngoại đạo thế nào ấy, với bác thì thế. Bác thích tên Jane hay Mary hay mấy cái tên nghe thực tế hơn cơ. Nhưng hồi Diana sinh ra, có một ông giáo làng đến ở trọ và người ta để ông ấy đặt tên cho nó và ông ấy đã gọi nó là Diana.”
“Ước gì hồi cháu sinh ra cũng có một ông giáo làng như thế quanh đây nhỉ. Ồ, chúng ta đến cầu rồi kìa. Cháu sẽ nhắm tịt mắt lại đây. Cháu luôn sợ hãi mỗi khi qua cầu. Cháu cứ tưởng tượng nhỡ đâu đúng lúc mình đi đến giữa cầu, nó sẽ gập lại như cái nhíp rồi kẹp bẹp chúng ta thì sao. Thế nên cháu toàn phải nhắm mắt lại. Nhưng kiểu gì cháu cũng phải mở mắt ra khi nghĩ rằng mình sắp đến giữa cầu. Bác thấy đấy, nhỡ cầu có sập thật thì cháu cũng muốn được nhìn thấy nó sập chứ. Tiếng lộc cộc vang lên vui tai làm sao! Cháu luôn thích cái âm thanh rộn rã đó. Thật tuyệt vời khi trên thế giới này có biết bao thứ để ta yêu quý phải không bác? Kia rồi, chúng ta qua rồi. Giờ thì cháu quay lại nhìn chút. Chúc ngủ ngon nhé, Hồ Nước Ánh Sáng Lấp Lánh thân yêu. Cháu luôn chúc ngủ ngon những thứ cháu yêu quý, hệt như với con người vậy. Cháu nghĩ chúng thích điều đó. Mặt nước kia trông cứ như đang mỉm cười với cháu vậy.”
Khi họ đã lái xe lên ngọn đồi phía bên kia và vòng qua một khúc cua, Matthew lên tiếng:
“Chúng ta sắp về đến nhà rồi đấy. Kia là Green Gables—”
“Ồ, đừng nói cho cháu biết vội,” nó hớt hải ngắt lời, chộp lấy cánh tay đang giơ lên một nửa của ông và nhắm tịt mắt lại để không phải nhìn thấy cử chỉ đó. “Để cháu đoán xem nào. Chắc chắn cháu sẽ đoán trúng.”
Nó mở mắt ra và nhìn xung quanh. Họ đang ở trên đỉnh một ngọn đồi. Mặt trời đã lặn từ lâu, nhưng phong cảnh vẫn rõ mồn một trong ánh chiều tà dịu ngọt. Phía tây, một ngọn tháp nhà thờ tối sẫm nổi bật trên nền trời màu hoa cúc vạn thọ. Phía dưới là một thung lũng nhỏ và bên kia là một sườn dốc thoải dài với những trang trại ấm cúng rải rác xung quanh. Đôi mắt con bé láo liên nhìn từ nhà này sang nhà khác, đầy háo hức và khắc khoải. Cuối cùng, ánh mắt nó dừng lại ở một ngôi nhà nằm tít bên trái, lùi sâu khỏi con đường, thấp thoáng màu trắng ngà của những tán hoa nở rộ trong chạng vạng của khu rừng xung quanh. Phía trên ngôi nhà, bầu trời tây nam trong vắt, một ngôi sao pha lê khổng lồ đang tỏa sáng rực rỡ như một ngọn đèn dẫn lối và hứa hẹn.
“Đó phải không bác?” nó vừa nói vừa chỉ tay về phía trước.
Matthew vui mừng quất nhẹ dây cương lên lưng con ngựa tía.
“Ừ thì, cháu đoán trúng phóc rồi đấy! Nhưng chắc là bà Spencer tả kỹ lắm nên cháu mới nhận ra chứ.”
“Không đâu — thực sự không phải vậy. Những gì bà ấy tả có thể dùng để miêu tả hầu hết mấy nơi khác cũng được ấy chứ. Cháu chẳng có chút hình dung thực tế nào về nó cả. Nhưng ngay vừa lúc nhìn thấy nó, cháu đã có cảm giác đó chính là nhà. Ồ, cứ như thể cháu đang chìm trong giấc mơ vậy. Bác biết không, từ khuỷu tay trở lên cánh tay cháu chắc bầm tím cả rồi, vì ban nãy cháu tự cấu mình bao nhiêu lần liền. Cứ cách một lúc một cảm giác ghê sợ lại dâng lên khiến cháu sợ hãi rằng đây chỉ là một giấc mơ. Rồi cháu lại tự cấu xem có phải thật không — cho đến khi chợt nhớ ra rằng dẫu đây chỉ là một giấc mơ thì tốt nhất cứ mơ tiếp chừng nào hay hay ấy chứ; thế là cháu ngừng cấu. Nhưng đây là sự thật và chúng ta sắp về đến nhà rồi.”
Với một tiếng thở dài đầy đê mê, nó chìm vào im lặng. Matthew bồn chồn cựa quậy. Ông thấy mừng vì người phải nói cho đứa trẻ lưu lạc này biết rằng ngôi nhà nó hằng mong ước rốt cuộc không thuộc về nó lại là Marilla chứ không phải ông. Họ băng qua Lynde’s Hollow, nơi trời đã tối mịt, nhưng chưa đủ tối để bà Rachel không thể nhìn thấy họ từ khung cửa sổ nhà mình, rồi lên đồi và rẽ vào con đường mòn dài dẫn tới Green Gables. Đến khi về tới trước nhà, nỗi sợ hãi về sự thật sắp phơi bày trong Matthew lớn đến mức chính ông cũng không hiểu nổi. Ông không hề nghĩ đến Marilla hay bản thân mình, hay rắc rối mà sự nhầm lẫn này có thể gây ra cho họ, mà chỉ nghĩ đến sự thất vọng của con bé. Khi nghĩ đến ánh mắt rực sáng đó bị dập tắt, ông có cảm giác khó chịu rằng mình sắp tiếp tay cho một vụ mưu sát — hệt như cảm giác mỗi khi ông phải giết một con cừu non, con bê hay bất kỳ sinh vật bé nhỏ vô tội nào khác.
Sân nhà tối mịt khi họ rẽ vào và những chiếc lá dương xỉ đang xào xạc dịu êm xung quanh.
“Hãy nghe tiếng những cái cây thì thầm trong giấc ngủ kìa bác,” nó thì thầm khi ông bế nó xuống đất. “Chắc chúng đang có những giấc mơ đẹp lắm đây!”
Rồi, ôm chặt lấy chiếc túi xách du lịch chứa đựng “toàn bộ gia tài” của mình, nó theo chân ông bước vào nhà.