Ba Người Trên Một Chiếc Thuyền (Chưa Kể Con Chó)

Lượt đọc: 249 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Ngày Giặt Giũ. - Cá Và Những Cần Thủ. - Thuật Câu Cá. - Tín Đồ Câu Bằng Mồi Ruồi Tận Tụy. - Mấy Chuyện Bịa Về Cá.

❊ ❊ ❊

Chúng tôi ở lại Streatley hai ngày để giặt quần áo. Trước đó, cả nhóm từng thử tự giặt dưới sông theo sự chỉ đạo của George, nhưng thất bại thảm hại. Nói thất bại còn là nhẹ, vì giặt xong đồ đạc còn tệ hơn lúc chưa giặt. Quả thực, trước khi giặt thì chúng vô cùng, vô cùng bẩn, nhưng ít ra vẫn mặc tạm được. Còn sau khi giặt... ừm, đoạn sông giữa Reading và Henley sau khi chúng tôi giặt đồ xong còn sạch hơn lúc ban đầu. Bao nhiêu bùn bẩn tích tụ dưới lòng sông đoạn đó, chúng tôi đã gom bằng sạch trong buổi giặt rồi nhồi hết vào quần áo mình.

Bà thợ giặt ở Streatley bảo bà thấy mình hoàn toàn có quyền lấy giá gấp ba lần bình thường cho mớ đồ này. Bà bảo đây chẳng phải giặt giũ gì nữa, mà giống như đi khai quật khảo cổ thì đúng hơn.

Chúng tôi ngậm ngùi trả tiền, chẳng dám than thở một lời.

Vùng lân cận Streatley và Goring là một trung tâm câu cá lớn. Nơi đây có những điểm câu tuyệt hảo. Đoạn sông này nhung nhúc các loài cá như cá măng, cá mương, cá chầy, cá bống và lươn; bạn có thể ngồi thả câu cả ngày không chán.

Một số người quả thực đã làm thế. Có điều họ chẳng bao giờ câu được con gì. Tôi chưa từng thấy ai giật được cái gì trên sông Thames ngoài mấy con cá bống cờ và xác mèo chết, nhưng tất nhiên điều đó chẳng liên quan gì đến thú vui câu cá cả! Sách hướng dẫn du lịch địa phương dành cho cần thủ chẳng đá động gì đến chuyện giật được cá. Họ chỉ ghi vỏn vẹn đây là "địa điểm lý tưởng để buông câu"; và từ những gì tôi chứng kiến tại vùng này, tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định đó.

Chẳng có nơi nào trên đời giúp bạn tha hồ ngồi câu hay kéo dài thời gian buông câu được như ở đây. Có cần thủ đến ngồi câu một ngày, có người ở lại câu hẳn một tháng. Nếu thích, bạn cứ việc bám trụ câu xuyên năm suốt tháng: kết quả thì vẫn thế cả thôi.

Cuốn *Hướng dẫn Cần thủ Sông Thames* có viết rằng "cá măng nhỏ và cá vược cũng xuất hiện quanh khu vực này", nhưng ở điểm này thì cuốn hướng dẫn đã lầm. Cá măng và cá vược có thể sống quanh đây thật. Thực ra tôi biết chắc chắn là có. Bạn có thể thấy chúng bơi thành từng đàn khi đi dạo dọc bờ sông: chúng thậm chí còn nhô nửa người lên khỏi mặt nước, há miệng chờ người ta quăng bánh quy cho ăn. Còn nếu bạn xuống sông tắm, chúng sẽ bơi đến vây quanh, vướng chân vướng tay làm bạn phát cáu. Thế nhưng chúng đời nào chịu "sập bẫy" bởi một đoạn trùn mắc ở đầu lưỡi câu hay bất cứ thứ mồi tương tự nào—còn lâu nhé!

Bản thân tôi không phải một cần thủ giỏi. Đã có thời tôi dành không ít tâm huyết cho môn này và từng nghĩ mình tiến bộ khá nhanh; nhưng mấy tay sành sỏi lại bảo tôi sẽ chẳng bao giờ khá lên được và khuyên nên dẹp đi cho xong. Họ bảo lực quăng dây của tôi rất mượt, tư chất có thừa và lại có sẵn bản tính lười biếng bẩm sinh cực kỳ phù hợp. Thế nhưng họ khẳng định tôi không bao giờ trở thành một cần thủ thực thụ được. Tôi thiếu mất trí tưởng tượng.

Họ nhận xét rằng làm nhà thơ, viết tiểu thuyết giật gân rẻ tiền, làm phóng viên hay mấy nghề đại loại thế thì tôi thừa sức; nhưng để có danh tiếng trong giới cần thủ sông Thames thì đòi hỏi sự bay bổng của tâm trí và khả năng hư cấu siêu việt hơn những gì tôi hiện có.

Nhiều người cứ ngỡ muốn thành một cần thủ giỏi thì chỉ cần biết bịa chuyện trôi chảy mà không biết ngượng mặt; nhưng đó là một sai lầm. Mấy trò bốc phét thô lậu chẳng giải quyết được gì; một kẻ tay mơ nhất cũng làm được việc đó. Sự khác biệt của một cần thủ lão luyện nằm ở các chi tiết tình tiết sinh động, những nét chấm phá tăng độ hợp lý, và một thần thái trung thực đến mức tỉ mỉ—gần như nguyên tắc một cách máy móc.

Bất kỳ ai cũng có thể bước vào và hô lên: "Ôi, chiều qua tớ giật được mười lăm tá cá vược!" hoặc "Thứ Hai tuần trước tớ kéo lên được một con cá bống nặng mười tám pound, dài ba bộ từ đầu đến đuôi."

Mấy trò đó chẳng cần nghệ thuật hay kỹ năng gì cả. Nó chỉ thể hiện sự liều lĩnh, thế thôi.

Không; một cần thủ điêu luyện sẽ khinh bỉ kiểu nói dối lộ liễu ấy. Phương pháp của ông ta là cả một nghệ thuật đáng để nghiên cứu.

Ông ta thong thả bước vào, đầu vẫn đội mũ, chiếm ngay chiếc ghế êm ái nhất, châm tẩu thuốc rồi bắt đầu nhả khói trong im lặng. Ông ta để mặc đám trẻ ranh tha hồ bốc phét một hồi, rồi trong một khoảng lặng ngắn ngủi, ông ta rút tẩu khỏi miệng, vừa gõ gõ tàn thuốc vào thành lò sưởi vừa buông một câu:

"Chà, chiều thứ Ba vừa rồi tớ vớ được một mẻ, mà có kể ra chắc cũng chẳng ai tin."

"Ồ! Sao lại thế ạ?" Mọi người nhào vào hỏi.

"Vì tớ đoán có kể thì cũng chẳng ai tin nổi," ông lão thản nhiên đáp, giọng không một chút cay đắng, vừa nạp thêm thuốc vào tẩu vừa bảo chủ quán mang cho mình ba ly rượu Whiskey Scotland uống lạnh.

Sau đó là một khoảng không gian im lặng, vì chẳng ai đủ tự tin để cãi lại ông lão. Thế là ông ta tự mình tiếp tục câu chuyện mà chẳng cần ai cổ vũ.

"Phải đấy," ông trầm ngâm nói tiếp; "nếu người khác kể thì chính tớ cũng chẳng tin, nhưng đó lại là sự thật 100%. Tớ ngồi đó cả buổi chiều mà hầu như chẳng bắt được gì—ngoài vài tá cá chầy với chục con cá măng nhỏ; đang tính bỏ cuộc vì xui xẻo thì tự nhiên thấy cần câu bị giật mạnh một phát. Tớ cứ tưởng lại là một con cá nhép khác nên định giật phắt lên. Nhưng khốn kiếp, cái cần câu nhích không nổi! Tớ mất mớ đời nửa tiếng đồng hồ—nửa tiếng đấy, thưa các ông!—mới kéo được con cá đó lên; lúc nào cũng phập phồng sợ đứt dây câu! Cuối cùng cũng lôi được nó lên, và các ông đoán xem là con gì? Một con cá tầm! Một con cá tầm nặng bốn mươi pound! Câu bằng dây câu nhỏ đấy, thưa các ông! Phải rồi, các ông ngạc nhiên là đúng lắm—cho tôi thêm ba ly Scotch nữa nhé, chủ quán."

Rồi ông ta tiếp tục kể về sự kinh ngạc của tất cả những ai chứng kiến; rồi vợ ông ta đã nói gì khi ông mang cá về nhà, và Joe Buggles đã nghĩ gì về chuyện đó.

Có lần tôi hỏi ông chủ một quán trọ ven sông xem liệu ông có thấy mệt óc không khi ngày nào cũng phải nghe mấy câu chuyện hư cấu của dân câu cá quanh vùng, ông đáp:

"Ồ, không đâu; giờ thì hết rồi, thưa ông. Hồi đầu thì cũng hơi choáng thật, nhưng chúa ơi! Giờ thì tôi với nhà tôi nghe họ phét cả ngày thành quen rồi. Quen tay quen mắt cả thôi mà, ông biết đấy. Quen rồi thì thấy bình thường."

Tôi từng biết một thanh niên rất mực trung thực. Khi bắt đầu chơi môn câu cá bằng mồi ruồi, anh ta hạ quyết tâm sẽ không bao giờ thổi phồng thành quả của mình quá hai mươi lăm phần trăm.

"Khi nào tôi câu được bốn mươi con cá," anh ta nói, "tôi sẽ bảo mọi người là mình câu được năm mươi con, cứ thế mà tính. Nhưng tôi sẽ không nói dối quá mức đó, vì dối trá là có tội."

Thế nhưng kế hoạch hai mươi lăm phần trăm đó lại chẳng áp dụng được chút nào. Anh ta chưa bao giờ có cơ hội dùng đến nó. Số cá nhiều nhất anh ta câu được trong một ngày vỏn vẹn chỉ có ba con, mà bạn thì không thể cộng thêm hai mươi lăm phần trăm vào số ba được—ít nhất là đối với cá.

Thế là anh ta nâng mức thổi phồng lên ba mươi ba phần ba phần trăm; nhưng cách đó lại rắc rối khi anh ta chỉ câu được một hoặc hai con; vậy nên để đơn giản hóa vấn đề, anh ta quyết định cứ nhân đôi số lượng lên cho xong.

Anh ta trung thành với quy tắc này được chừng hai tháng rồi bắt đầu chán. Chẳng ai tin khi anh ta bảo mình chỉ nhân đôi lên, thành ra anh ta chẳng thu hoạch được chút uy tín nào, trong khi sự khiêm tốn lại khiến anh ta chịu lép kẹp trước các cần thủ khác. Những lúc anh ta thực sự câu được ba con cá nhỏ và khoe là sáu con, anh ta lại phát ghen lên khi nghe một kẻ mà anh ta biết chắc chỉ bắt được đúng một con lại đi rêu rao khắp nơi là mình giật được hai tá.

Rốt cuộc, anh ta tự đề ra một quy tắc cuối cùng và nghiêm ngặt tuân thủ từ đó về sau: cứ mỗi con cá câu được sẽ tính thành mười con, và mặc định có sẵn mười con làm vốn. Chẳng hạn, nếu anh ta không câu được con cá nào, anh ta sẽ tuyên bố mình bắt được mười con—theo hệ thống của anh ta thì bạn không bao giờ câu ít hơn mười con; đó là con số nền tảng. Sau đó, nếu may mắn câu được thực sự một con, anh ta sẽ gọi đó là hai mươi con, hai con tính thành ba mươi, ba con thành bốn mươi, cứ thế mà tiến.

Đó là một phương pháp đơn giản, dễ vận hành, và gần đây đang có tin đồn giới cần thủ nói chung định áp dụng nó. Thực ra, Ban chấp hành Hội Cần thủ Sông Thames đã từng đề xuất áp dụng cách này từ hai năm trước, nhưng một số hội viên lâu năm lại phản đối. Họ bảo họ sẽ cân nhắc ý tưởng đó nếu số nhân được tăng gấp đôi, tức là mỗi con cá tính thành hai mươi con.

Nếu có một buổi tối rảnh rỗi ở ven sông, tôi khuyên bạn nên ghé vào một quán trọ nhỏ trong làng và ngồi ở phòng uống rượu. Nhất định bạn sẽ gặp một vài tay câu lão luyện đang nhâm nhi ly rượu nóng ở đó, và chỉ trong nửa giờ, họ sẽ nhồi vào tai bạn đủ thứ chuyện xạo về cá đến mức bạn phải bội thực cả tháng.

George và tôi—tôi chẳng biết Harris biến đi đằng nào nữa; anh ta đi cạo râu từ đầu giờ chiều, rồi quay về dành hẳn bốn mươi phút để đánh phấn trắng cho đôi giày, từ lúc đó chúng tôi không thấy mặt anh ta đâu—vì thế George, tôi và con chó, chỉ còn lại với nhau, đã đi dạo đến Wallingford vào buổi tối thứ hai. Trên đường về, chúng tôi ghé vào một quán trọ nhỏ ven sông để nghỉ chân và uống chút nước.

Chúng tôi vào phòng khách và ngồi xuống. Trong phòng có một ông lão đang hút tẩu đất dài, và chúng tôi tự nhiên bắt chuyện với ông.

Ông lão bảo hôm nay trời đẹp thật, chúng tôi bảo hôm qua trời cũng đẹp, rồi tất cả cùng đồng tình rằng ngày mai chắc cũng sẽ là một ngày đẹp trời; George thì nhận xét hoa màu có vẻ đang lên rất tốt.

Sau đó, không hiểu sao chuyện lại dẫn đến việc chúng tôi là khách phương xa tới và sẽ rời đi vào sáng hôm sau.

Cuộc trò chuyện rơi vào khoảng lặng, mắt chúng tôi bắt đầu đảo quanh phòng. Cuối cùng, ánh mắt chúng tôi dừng lại ở một chiếc hộp kính cũ kỹ đầy bụi treo rất cao phía trên kệ lò sưởi, bên trong có nhồi xác một con cá hồi. Con cá hồi đó có lực hút kỳ lạ đối với tôi; nó to một cách phi thường. Thực sự, mới nhìn qua tôi còn tưởng đó là một con cá thu cơ đấy.

"Chà!" Ông lão nói, mắt nhìn theo hướng chú ý của tôi, "con cá cừ đấy chứ, đúng không?"

"Cực kỳ hiếm có," tôi thì thầm; còn George hỏi ông lão xem ông đoán con cá đó nặng bao nhiêu.

"Mười tám pound sáu ounce," ông bạn chúng tôi nói, đứng dậy và lấy chiếc áo khoác xuống. "Phải đấy," ông nói tiếp, "đúng mùng ba tháng sau là tròn mười sáu năm ngày tôi kéo nó lên. Tôi câu được nó ngay dưới chân cầu bằng mồi cá bống. Người ta bảo với tôi có con cá đó dưới sông, tôi bảo tôi sẽ bắt bằng được, và tôi đã làm được. Giờ quanh đây chả mấy khi thấy con cá nào to cỡ đó đâu. Chúc các chú em buổi tối tốt lành."

Nói rồi ông đi ra ngoài, để lại chúng tôi một mình.

Chúng tôi không thể rời mắt khỏi con cá sau đó. Nó quả thực là một con cá to kinh ngạc. Chúng tôi vẫn đang dán mắt vào nó thì gác bác đưa hàng địa phương, người vừa dừng chân tại quán trọ, bước tới cửa phòng với ly bia trên tay, và bác ta cũng nhìn con cá.

"Con cá hồi to gớm nhỉ," George quay sang bảo bác ta.

"Ồ! Bác nói chuẩn đấy ạ," người đàn ông đáp; rồi sau khi nhấp một ngụm bia, bác ta nói thêm, "Chắc hồi câu được con cá đó các bác chưa ở đây nhỉ?"

"Chưa," chúng tôi đáp. Chúng tôi là người nơi khác mới đến.

"Á chà!" Bác đưa hàng nói, "thế thì làm sao các bác biết được? Tôi câu được con cá hồi đó cách đây gần năm năm rồi."

"Ồ! Hóa ra là bác câu được nó à?" Tôi hỏi.

"Đúng thế, thưa bác," ông lão xởi lởi đáp. "Tôi giật được nó ngay dưới đập nước—ít nhất là chỗ ngày xưa từng là cái đập—vào một chiều thứ Sáu; điều kỳ lạ là tôi lại câu được nó bằng mồi ruồi. Xấu hổ quá, hôm đó tôi đi câu cá măng chứ có nghĩ gì đến cá hồi đâu, thế mà lúc nhìn thấy con cá khổng lồ đó ở đầu dây, tôi muốn đứng hình luôn. Đấy, các bác xem, nó nặng tới hai mươi sáu pound cơ mà. Chúc các bác buổi tối tốt lành nhé."

Năm phút sau, một người thứ ba bước vào và thao thao bất tuyệt kể lại chuyện ông ta đã bắt được con cá đó vào một buổi sáng sớm bằng mồi cá chầy ra sao; rồi ông ta rời đi, nhường chỗ cho một cá nhân trung niên vẻ mặt lầm lì, nghiêm nghị bước vào ngồi xuống cạnh cửa sổ.

Mấy người chúng tôi không ai nói gì một hồi; nhưng cuối cùng, George quay sang người mới đến và lên tiếng:

"Xin lỗi ông, mong ông thứ lỗi cho sự đường đột của chúng tôi—những người hoàn toàn xa lạ ở vùng này—nhưng tôi và bạn tôi đây sẽ rất biết ơn nếu ông có thể kể cho chúng tôi nghe ông đã câu được con cá hồi trên kia như thế nào."

"Kìa, ai bảo với các chú là tôi câu được con cá đó!" Người người xa lạ lầm lì ngạc nhiên hỏi lại.

Chúng tôi đáp rằng chẳng ai nói cả, nhưng không hiểu sao chúng tôi lại có linh cảm chính ông là người đã làm việc đó.

"Chà, đúng là chuyện kỳ lạ thật—kỳ lạ hết sức," gã xa lạ lầm lì bật cười đáp; "vì thực tế là các chú đoán đúng phóc. Chính tôi đã câu được nó đấy. Nhưng nhơ đời thật, sao các chú lại đoán ra được hay thế nhỉ. Trời ạ, đúng là chuyện lạ đời."

Rồi ông ta thao thao kể lại việc ông ta đã mất nửa tiếng đồng hồ mới vật lộn kéo được nó lên, và nó đã làm gãy cần câu của ông ta ra sao. Ông ta bảo khi về đến nhà ông ta đã cân nó rất cẩn thận, và kim cân chỉ đúng ba mươi tư pound.

Rồi đến lượt ông ta ra về, và khi ông ta đi khỏi thì chủ quán đi vào. Chúng tôi kể cho ông chủ nghe những câu chuyện khác nhau mà chúng tôi vừa được nghe về con cá hồi của ông, ông chủ quán nghe xong thì khoái trí vô cùng, và tất cả chúng tôi cùng bật cười khoái trá.

"Tưởng tượng xem cái lão Jim Bates rồi Joe Muggles, ông Jones với cả lão Billy Maunders đều nhận là mình câu được nó kìa. Ha! ha! ha! Thật là buồn cười," ông lão thật thà cười ngặt ngẹo. "Phải rồi, mấy lão đó mà câu được thì đời nào chịu đem cho tôi treo ở phòng khách thế này! Ha! ha! ha!"

Và rồi ông kể cho chúng tôi nghe lịch sử thực sự của con cá. Hóa ra chính ông đã bắt được nó từ nhiều năm trước, khi còn là một thằng nhóc; chẳng phải bằng nghệ thuật hay kỹ năng gì, mà nhờ vào cái may mắn kỳ lạ lúc nào cũng mỉm cười với mấy đứa trẻ trốn học, mò đi câu cá vào một chiều nắng đẹp với một sợi dây thừng buộc vào đầu cành cây.

Ông bảo việc mang con cá hồi đó về nhà đã cứu ông khỏi một trận đòn roi, và ngay cả thầy giáo của ông cũng phải công nhận con cá này còn giá trị hơn cả mấy bài toán tam thuận và toán thực hành cộng lại.

Đến đây thì ông chủ quán được gọi ra ngoài, còn George và tôi lại ngước nhìn con cá.

Đó quả thực là một con cá hồi gây kinh ngạc. Càng ngắm nhìn nó, chúng tôi càng thấy trầm trồ.

Nó làm George phấn khích đến mức anh trèo lên tựa lưng của một chiếc ghế để nhìn cho rõ hơn.

Thế rồi chiếc ghế trượt đi, George với tay bám vội vào hộp kính đựng cá để khỏi ngã, và chiếc hộp rơi xuống đánh xảng một cái, George cùng chiếc ghế đè nghiến lên trên.

"Cậu không làm hỏng con cá đấy chứ?" Tôi hốt hoảng hét lên và lao lại.

"Tớ hy vọng là không," George cẩn trọng đứng dậy, vừa ngó nghiêng vừa nói.

Nhưng anh ấy đã làm hỏng nó thật. Con cá hồi đó vỡ vụn thành hàng nghìn mảnh nhỏ—tôi nói một nghìn, nhưng có khi chỉ tầm chín trăm mảnh thôi. Tôi cũng không đếm kỹ.

Chúng tôi thấy thật kỳ lạ và khó hiểu khi một con cá hồi nhồi bông lại có thể vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ như thế.

Và quả thực nó sẽ rất kỳ lạ và khó hiểu nếu đó là một con cá hồi nhồi bông thật, nhưng sự thực thì không phải.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jerome K. Jerome

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.