Ba Người Trên Một Chiếc Thuyền (Chưa Kể Con Chó)

Lượt đọc: 256 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Marlow. - Tu Viện Bisham. - Các Tu Sĩ Medmenham. - Montmorency Tính Chuyện Hạ Sát Một Chú Mèo Đực Già. - Nhưng Rốt Cuộc Lại Quyết Định Tha Cho Nó Sống. - Tác Phong Đáng Hổ Thẹn Của Một Chú Chó Phốc Tại Cửa Hàng Bách Hóa Dân Chính. - Chúng Tôi Rời Marlow. - Cuộc Diễu Hành Hoành Tráng. - Tàu Máy Xông Hơi, Những Mẹo Hay Để Quấy Rối Và Cản Trở Nó. - Chúng Tôi Từ Chối Uống Nước Sông. - Một Chú Chó Bình Yên. - Sự Biến Mất Kỳ Lạ Của Harris Cùng Ổ Bánh Mì Thịt.

❊ ❊ ❊

Marlow là một trong những trung tâm ven sông dễ chịu nhất mà tôi từng biết. Đây là một thị trấn nhỏ sầm uất, nhộn nhịp; tuy tổng thể không quá nên thơ nhưng vẫn có nhiều góc ngách cổ kính duyên dáng — như những nhịp cầu còn sót lại của chiếc cầu Thời Gian đã sụp đổ, nơi tưởng tượng của chúng ta có thể ngược dòng về lại những ngày Marlow Manor còn thuộc quyền quản lĩnh của chúa tể Saxon Algar, trước khi William Kẻ Chinh Phục chiếm lấy để dâng cho Hoàng hậu Matilda, và trước khi nó chuyền tay sang các Bá tước xứ Warwick hay vị Lord Paget khôn ngoan lọc lõi, cố vấn của bốn đời quân chủ liên tiếp.

Cảnh quan quanh đây cũng thật tuyệt vời nếu sau khi chèo thuyền, bạn muốn đi dạo một chuyến, còn bản thân dòng sông thì đạt đến vẻ đẹp rực rỡ nhất tại chốn này. Đoạn sông xuôi về Cookham, băng qua Rừng Quarry và những đồng cỏ, là một dải nước xinh đẹp tuyệt ngần. Rừng Quarry già cỗi thân thương! Với những con đường nhỏ dốc đứng và những khoảng glade uốn lượn, đến tận giờ phút này ngát hương biết bao ký ức về những ngày hè rực nắng! Những tầm nhìn rợp bóng của ngươi ẩn hiện biết bao bóng hình của những gương mặt cười vang! Từ những vòm lá thì thầm của ngươi, tiếng nói của ngày xưa cũ lại êm đềm buông xuống!

Từ Marlow ngược lên Sonning cảnh vật còn mỹ lệ hơn nữa. Tu viện Bisham cổ kính uy nghi, nơi những bức tường đá từng vang vọng tiếng reo hò của các Hiệp sĩ Dòng Đền, và từng là nơi ở của Anne xứ Cleves rồi đến Nữ hoàng Elizabeth, nằm bên bờ phải chỉ cách cầu Marlow nửa dặm. Tu viện Bisham mang đậm chất kịch tính cổ điển. Nơi đây có một phòng ngủ bọc thảm thêu, và một căn phòng bí mật giấu sâu trong những bức tường dày. Hồn ma của Phu nhân Holy, người đã đánh chết con trai nhỏ của mình, đêm đêm vẫn đi lại nơi đây, cố rửa sạch bàn tay ma quái trong một chiếc chậu vô hình.

Warwick, kẻ tạo dựng nhà vua, nay đang nghỉ ngơi tại đó, chẳng còn bận lòng đến những chuyện phiền thoái như vua chúa hay vương quốc chốn nhân gian; cùng với Salisbury, người đã lập nhiều chiến công tại Poitiers. Ngay trước khi tới tu viện, nằm chễm chệ bên bờ sông, là Nhà thờ Bisham, và nếu có lăng mộ nào đáng để thưởng lãm thì đó chính là những lăng mộ cùng đài kỷ niệm trong nhà thờ này. Chính trong lúc thả trôi thuyền dưới bóng những cây dẻ gai Bisham mà Shelley, khi đó đang sống ở Marlow (bạn có thể nhìn thấy nhà ông ở phố West ngày nay), đã sáng tác tác phẩm *The Revolt of Islam*.

Tại đập Hurley, cao hơn một chút, tôi thường nghĩ mình có thể ở lại cả tháng trời mà vẫn không đủ thời gian để uống trọn vẻ đẹp của khung cảnh nơi đây. Làng Hurley, cách âu thuyền năm phút đi bộ, là một điểm đến cổ kính vào bậc nhất trên dòng sông, tồn tại từ "thời Vua Sebert và Vua Offa", như văn phong cổ xưa của những ngày mờ sương ấy từng ghi lại. Vừa qua đập nước (hướng đi lên) là Cánh đồng Người Đan Mạch, nơi quân Đan Mạch xâm lược từng hạ trại trong cuộc tiến quân đến Gloucestershire; và xa hơn một chút, nép mình bên một góc sông êm đềm, là những gì còn lại của Tu viện Medmenham.

Các tu sĩ Medmenham nổi tiếng, hay còn gọi là "CLB Tội Lỗi" như thiên hạ vẫn thường gọi, mà trong đó nhà chính trị tai tiếng Wilkes là một thành viên, là một hội nhóm với khẩu hiệu "Thích gì làm nấy", và lời mời gọi đó đến nay vẫn còn khắc trên vòm cửa sụp đổ của tu viện. Nhiều năm trước khi cái tu viện giả hiệu với giáo đoàn gồm những kẻ giễu cợt bất kính này được thành lập, trên chính khoảng đất này từng tồn tại một tu viện nghiêm cẩn hơn nhiều, nơi các tu sĩ mang phong thái hoàn toàn khác biệt với những kẻ ăn chơi sa đọa đến sau họ năm trăm năm.

Các tu sĩ dòng Xơ-tô, những người sở hữu tu viện vào thế kỷ thứ mười ba, không mặc gì ngoài áo khoác thô và mũ trùm, chẳng ăn thịt, cá hay trứng. Họ nằm trên rơm và thức dậy lúc nửa đêm để lễ Misa. Họ dành trọn ngày cho lao động, đọc sách và cầu nguyện; và bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của họ là một sự im lặng như tờ của cái chết, bởi không một ai cất tiếng.

Một giáo hội ảm đạm, sống những cuộc đời ảm đạm tại một chốn êm đềm mà Thiên Chúa đã tạo ra thật rực rỡ! Thật kỳ lạ khi muôn vàn âm thanh của Tự nhiên quanh họ — tiếng hát êm dịu của dòng nước, tiếng thì thầm của cỏ cây ven sông, khúc nhạc của làn gió cuộn trôi — lại không thể dạy cho họ một ý nghĩa chân thực hơn về cuộc sống. Họ ngồi đó lắng nghe, qua những ngày dài, trong im lặng, chờ đợi một tiếng nói từ thiên đường; và suốt cả ngày cùng những đêm trang nghiêm, tiếng nói ấy đã cất lên với họ bằng vô vàn sắc thái, vậy mà họ chẳng hề nghe thấy.

Từ Medmenham đến âu thuyền Hambledon êm đềm, dòng sông tràn ngập vẻ đẹp thanh bình, nhưng sau khi qua Greenlands — dinh thự ven sông nhìn khá tẻ nhạt của ông chủ đại lý báo chí của tôi, một quý ông tuổi tác khiêm nhường và lặng lẽ, người ta thường gặp ông ở vùng này trong những tháng hè, tự mình chèo thuyền nhẹ nhàng mà khỏe khoắn, hoặc trò chuyện vui vẻ với một người gác âu thuyền già khi đi qua — cho đến tận bên kia Henley, cảnh vật có phần trơ trọi và buồn tẻ.

Sáng thứ Hai, chúng tôi dậy khá sớm ở Marlow và đi tắm sông trước bữa sáng; lúc trở về, Montmorency đã xử sự như một kẻ ngốc nghếch hết chỗ nói. Củ xát duy nhất khiến tôi và Montmorency bất đồng quan điểm nghiêm trọng chính là loài mèo. Tôi thích mèo; Montmorency thì không.

Khi gặp một con mèo, tôi sẽ bảo: "Mèo con ngoan!" rồi cúi xuống gãi nhẹ bên đầu nó; con mèo sẽ dựng đứng đuôi lên cứng đờ như sắt đúc, uốn cong lưng và cọ mũi vào quần tôi; mọi thứ thật dịu dàng và bình yên. Còn khi Montmorency gặp một con mèo, cả con phố sẽ biết ngay; và lượng từ ngữ thô tục lãng phí trong vòng mười giây đủ để một người đàng hoàng dùng cả đời nếu biết tiết kiệm.

Tôi không trách chú chó (thường chỉ tự hài lòng bằng cách gõ vào đầu nó hoặc ném đá đuổi đi), vì tôi hiểu đó là bản tính của nó. Chó phốc sinh ra đã mang trong mình lượng nguyên tội gấp bốn lần các loài chó khác, và phải mất nhiều năm nỗ lực kiên trì của những tín đồ Đấng Christ chúng tôi mới tạo ra được sự cải thiện đáng kể trong bản tính ngông ngênh của giống chó phốc.

Tôi nhớ có lần ở sảnh Cửa hàng Bách hóa Haymarket, quanh tôi là đủ loại chó đang nằm chờ chủ quay lại sau khi mua sắm bên trong. Có một con chó ngao, một vài con Collie, một con St. Bernard, vài con Retriever và Newfoundland, một con chó săn lợn lòi, một con Poodle Pháp lông xù quanh đầu nhưng lại bị ghẻ ở giữa lưng; một con Chó bò, vài con vật bé tẹo cỡ con chuột kiểu như ở chợ Lowther Arcade, và một cặp chó Yorkshire.

Chúng ngồi đó, kiên nhẫn, ngoan ngoãn và trầm tư. Một sự bình yên trang nghiêm như bao trùm cả cái sảnh ấy. Bầu không khí tĩnh lặng và nhẫn nại — một nỗi buồn dịu nhẹ lan tỏa khắp gian phòng.

Thế rồi một cô gái trẻ xinh đẹp bước vào, dẫn theo một chú chó phốc nhỏ nhắn trông rất ngoan ngoãn, rồi xích nó lại đó, giữa con chó bò và con Poodle. Chú ta ngồi nhìn quanh một phút. Rồi chú ngước mắt lên trần nhà, và dựa vào nét mặt thì hình như chú đang nhớ về mẹ mình. Rồi chú ngáp một cái. Rồi chú quay sang nhìn những con chó khác, tất cả đều im lặng, nghiêm nghị và trang trọng.

Chú nhìn con chó bò đang ngủ không mộng mị bên phải. Chú nhìn con Poodle đang đứng thẳng kiêu hãnh bên trái. Thế rồi, không một lời cảnh báo, không một chút khiêu khích, chú đớp ngay vào chân trước bên trái của con Poodle, và một tiếng ẳng đau đớn vang vọng khắp không gian tĩnh lặng của cái sảnh.

Kết quả của thử nghiệm đầu tiên có vẻ khiến chú ta vô cùng hài lòng, và chú quyết định tiếp tục khuấy động bầu không khí cho xôm trò. Chú nhảy qua con Poodle và tấn công dữ dội một con Collie, con Collie tỉnh giấc và lập tức lao vào cuộc chiến nảy lửa và ồn ào với con Poodle. Sau đó chú phốc mò về chỗ cũ, ngoạm lấy tai con chó bò và cố quăng nó đi; con chó bò, một loài vật công bằng một cách kỳ quặc, liền lao vào đớp bất cứ thứ gì trong tầm với, kể cả người gác sảnh, tạo cơ hội cho chú chó phốc đáng yêu tận hưởng một cuộc chiến riêng không ai quấy rầy với con chó Yorkshire cũng đang máu chiến không kém.

Bất kỳ ai hiểu bản tính loài chó đều chẳng cần phải nghe kể tiếp cũng biết rằng, đến lúc này toàn bộ những con chó khác trong sảnh đều lao vào cắn xé nhau như thể nhà cửa của chúng phụ thuộc vào trận chiến này vậy. Những con chó lớn cắn nhau hỗn loạn; còn những con chó nhỏ thì tự chiến với nhau, và tranh thủ thời gian rảnh để cắn vào chân các con chó lớn.

Toàn bộ cái sảnh biến thành một mớ hỗn độn kinh hoàng, và tiếng ồn thì thật khủng khiếp. Một đám đông tụ tập bên ngoài phố Haymarket, hỏi xem có phải hội đồng giáo xứ đang họp không; hoặc nếu không thì ai đang bị sát hại và tại sao?

Và giữa mớ hỗn loạn đó, cô gái trẻ xinh đẹp kia quay lại, bế xóc chú chó cún đáng yêu của mình lên (nó vừa nằm đè con chó Yorkshire cả tháng nay, và giờ đang mang nét mặt của một chú chiên con mới sinh) vào lòng, hôn nó, và hỏi xem nó có bị đánh chết không, rồi mấy con thú dữ tợn kia đã làm gì nó; chú cún nép vào lòng cô, ngước nhìn lên mặt cô với ánh mắt như muốn nói: "Ôi, em mừng quá vì chị đã đến đưa em rời khỏi cái cảnh tượng ô trọc này!"

Cô bảo rằng người ở cửa hàng không có quyền cho những con thú dữ tợn như thế ở cùng với chó của những người đàng hoàng, và cô đang tính chuyện kiện ai đó ra tòa.

Bản tính của chó phốc là thế; và vì vậy, tôi không trách Montmorency vì thói quen hay gây sự với mèo; nhưng sáng hôm đó chú ta đã phải ước gì mình đừng nuông chiều bản tính ấy.

Như tôi đã nói, chúng tôi đang trên đường tắm về, và đến giữa phố High Street thì một con mèo từ một trong những căn nhà trước mặt lao ra, bắt đầu sải bước chạy qua đường. Montmorency cất tiếng reo vui — tiếng reo của một chiến binh đĩnh đạc khi thấy kẻ thù lọt vào tay mình — kiểu tiếng reo mà Cromwell có thể đã cất lên khi người Scotland tràn xuống núi — và lao theo con mồi.

Nạn nhân của nó là một con mèo đực đen to xác. Tôi chưa từng thấy con mèo nào to hơn, cũng chưa thấy con mèo nào trông bẩn thỉu giang hồ hơn. Nó đã mất một nửa cái đuôi, một bên tai và một phần rỏ rệt của cái mũi. Đó là một con vật dài đòn, gân guốc. Nó mang một phong thái bình thản, tự tại.

Montmorency lao về phía con mèo tội nghiệp đó với tốc độ hai mươi dặm một giờ; nhưng con mèo chẳng hề vội vã — hình như nó không hề nhận ra mạng sống mình đang bị đe dọa. Nó thong thả bước tiếp cho đến khi kẻ muốn sát hại nó chỉ còn cách một thước, rồi nó quay người lại, ngồi chễm chệ giữa đường, và nhìn Montmorency với một nét mặt dịu dàng, tò mò như muốn hỏi:

"Ừ! Mày muốn gì à?"

Montmorency không thiếu dũng khí; nhưng có cái gì đó trong ánh mắt của con mèo ấy có thể làm lạnh giá trái tim của con chó gan hùm nhất. Chú ta khựng lại đột ngột, và nhìn đáp lại chú mèo.

Chẳng con nào cất tiếng; nhưng cuộc trò chuyện mà người ta có thể hình dung rõ ràng diễn ra như sau:—

Con Mèo: "Tôi có thể giúp gì cho chú không?"

Montmorency: "Không—không, cảm ơn."

Con Mèo: "Đừng ngại nói ra nhé, nếu chú thực sự cần gì đó."

Montmorency (thụt lùi dần xuống phố High Street): "Ôi, không—không có gì đâu—chắc chắn rồi—đừng bận tâm. Tôi—tôi e là mình nhầm người. Tôi tưởng tôi quen ông. Xin lỗi vì đã quấy rầy."

Con Mèo: "Không có chi—rất hân hạnh. Chắc chắn là không cần gì chứ?"

Montmorency (vẫn tiếp tục lùi): "Cảm ơn, không cần đâu—không có gì—ông thật tốt bụng. Chúc ông một ngày tốt lành."

Con Mèo: "Chúc một ngày tốt lành."

Sau đó con mèo đứng dậy, tiếp tục bước thong thả; còn Montmorency, cẩn thận thu cái mà chú gọi là đuôi vào đúng nếp, quay lại phía chúng tôi và nhận một vị trí không mấy quan trọng ở phía sau.

Đến tận ngày nay, nếu bạn nói từ "Mèo!" với Montmorency, chú ta sẽ co rúm người lại một cách rõ rệt và ngước nhìn bạn đầy tội nghiệp, như muốn nói:

"Xin đừng nhắc đến nữa."

Chúng tôi đi chợ sau bữa sáng và tiếp tế lương thực cho con thuyền đủ dùng trong ba ngày. George nói chúng tôi nên mang theo rau — không ăn rau là không tốt cho sức khỏe. Cậu ấy bảo rau rất dễ nấu và cậu ấy sẽ lo việc đó; vì vậy chúng tôi mua mười cân khoai tây, một bẩy đậu Hà Lan, và vài cây bắp cải. Chúng tôi lấy một chiếc bánh nhân thịt bò steak, hai chiếc bánh tart quả lý chua, và một đùi cừu từ khách sạn; cùng trái cây, bánh ngọt, bánh mì, bơ, mứt, thịt muối, trứng và những thứ khác mà chúng tôi đi lùng quanh thị trấn.

Việc chúng tôi rời khỏi Marlow được tôi coi là một trong những thành công lớn nhất. Nó mang tính trang trọng và đầy ấn tượng mà không hề phô trương. Chúng tôi đã quả quyết tại tất cả các cửa hàng mình ghé qua rằng đồ đạc phải được chuyển đi cùng chúng tôi ngay lập tức. Chẳng có chuyện "Vâng, thưa ông, tôi sẽ gửi đi ngay: thằng bé sẽ đến bến trước các ông đấy ạ!" để rồi lượn lờ ở bến thuyền và phải quay lại cửa hàng hai lần để cãi nhau về mấy món đồ đó. Chúng tôi đứng đợi trong khi giỏ đồ được đóng gói, và dẫn theo thằng bé đi cùng.

Chúng tôi ghé khá nhiều cửa hàng, áp dụng nguyên tắc này ở từng nơi; và kết quả là, khi hoàn thành, chúng tôi đã có một đội ngũ các chú bé xách giỏ đi theo hoành tráng như mong ước; và cuộc diễu hành cuối cùng xuống giữa phố High Street, hướng ra sông, hẳn phải là một quang cảnh uy nghi nhất mà Marlow từng chứng kiến trong nhiều ngày qua.

Thứ tự của đoàn diễu hành như sau:—

Montmorency, tha một cái gậy.

Hai con chó lai bẩn thỉu, bạn của Montmorency.

George, mang áo khoác và chăn, ngậm tẩu ngắn.

Harris, cố bước đi với vẻ tao nhã tự nhiên,

trong khi tay cầm một chiếc túi Gladstone căng phồng,

tay kia xách một chai nước cốt chanh.

Cậu bé tiệm rau và cậu bé tiệm bánh mì,

xách giỏ.

Nhân viên khách sạn, xách giỏ mây lớn.

Cậu bé tiệm bánh ngọt, xách giỏ.

Cậu bé tiệm tạp hóa, xách giỏ.

Một con chó lông dài.

Cậu bé tiệm pho mát, xách giỏ.

An ninh tự do, xách một cái túi.

Cạ cứng của anh ta, hai tay đút túi quần,

hút tẩu đất ngắn.

Cậu bé tiệm hoa quả, xách giỏ.

Tôi, tay cầm ba chiếc mũ và một đôi ủng,

và cố tỏ ra như thể mình không hề nhận ra điều đó.

Sáu đứa trẻ nhỏ, và bốn con chó lang thang.

Khi chúng tôi xuống đến bến thuyền, người cho thuê thuyền hỏi:

"Để tôi xem nào, thưa ông; thuyền của các ông là tàu máy xông hơi hay nhà thuyền?"

Khi chúng tôi báo cho ông ta biết đó là một chiếc thuyền chèo đôi, ông ta có vẻ ngạc nhiên.

Sáng hôm đó chúng tôi gặp khá nhiều rắc rối với các tàu máy xông hơi. Đó là thời điểm ngay trước tuần lễ Henley, và chúng đang ngược dòng với số lượng lớn; một số đi riêng lẻ, một số kéo theo nhà thuyền. Tôi cực kỳ ghét tàu máy xông hơi: tôi đồ rằng bất kỳ ai chèo thuyền cũng vậy. Không bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc tàu máy xông hơi mà lại không thấy muốn dụ nó vào một đoạn sông vắng vẻ, rồi ở đó, trong sự im lặng và cô độc, siết cổ nó.

Có một sự hợm hĩnh tráo trở ở tàu máy xông hơi có khả năng khơi dậy mọi bản năng tồi tệ trong bản tính của tôi, và tôi khao khát những ngày xưa cũ tốt đẹp, khi người ta có thể đi quanh và nói cho người khác biết mình nghĩ gì về họ bằng một cây rìu cùng cung tên. Nét mặt của kẻ đứng ở đài ngắm phía sau, tay đút túi quần, phì phèo điếu xì-gà, bản thân nó đã đủ để bào chữa cho một hành vi phá rối trật tự công cộng; và tiếng còi hách dịch đòi bạn phải tránh đường, tôi tin chắc, sẽ đảm bảo một bản án "sát nhân chính đáng" từ bất kỳ bồi thẩm đoàn nào gồm những người đi sông.

Chúng từng phải kéo còi đòi chúng tôi tránh đường. Nếu tôi có thể nói điều này mà không có vẻ khoe khoang, tôi nghĩ mình có thể trung thực mà rằng chiếc thuyền nhỏ duy nhất của chúng tôi, trong tuần đó, đã gây ra nhiều sự phiền ngoái, chậm trễ và bực mình cho những chiếc tàu máy xông hơi mà chúng tôi gặp hơn tất cả các thuyền bè khác trên sông cộng lại.

"Tàu máy đến kìa!" một người trong chúng tôi sẽ hô lên khi nhìn thấy kẻ thù từ xa; và trong chớp mắt, mọi thứ được chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp nó. Tôi sẽ cầm dây lái, còn Harris và George sẽ ngồi xuống bên cạnh tôi, tất cả chúng tôi đều quay lưng về phía chiếc tàu máy, và con thuyền sẽ lặng lẽ trôi ra giữa dòng.

Chiếc tàu máy tiến tới, rúc còi liên hụ, và chúng tôi tiếp tục trôi. Ở khoảng cách khoảng một trăm thước, nó sẽ bắt đầu rúc còi như điên, và người ta sẽ nhô người ra khỏi mạn tàu, gầm lên với chúng tôi; nhưng chúng tôi chẳng hề nghe thấy! Harris đang kể cho chúng tôi nghe một giai thoại về mẹ cậu ấy, và George cùng tôi sẽ chẳng đời nào bỏ lỡ một từ nào vì bất cứ giá nào.

Rồi chiếc tàu máy đó sẽ cất lên một tiếng thét còi cuối cùng suýt nữa thì làm nổ nồi hơi, nó sẽ đảo ngược động cơ, xả hơi nước, xoay ngang và mắc bẫy vào bãi cát; mọi người trên tàu sẽ lao ra mũi tàu mà la lối chúng tôi, người trên bờ sẽ đứng kêu gào, và tất cả các thuyền khác đi qua sẽ dừng lại tham gia, cho đến khi toàn bộ dòng sông trong vòng mấy dặm ngược xuôi rơi vào trạng thái náo loạn cuồng nhiệt. Và rồi Harris sẽ ngắt lời ở đoạn thú vị nhất trong câu chuyện của mình, ngước nhìn lên với sự ngạc nhiên nhẹ nhàng và bảo George:

"Chà, George, khéo chưa, đây chẳng phải là một chiếc tàu máy xông hơi sao!"

Và George sẽ đáp:

"Ừ, cậu biết không, tớ lại cứ tưởng tớ nghe thấy cái gì đó đấy!"

Thế rồi chúng tôi sẽ trở nên bối rối và cuống quýt, không biết làm sao để đưa thuyền tránh đường, và người trên tàu máy sẽ xúm lại hướng dẫn chúng tôi:

"Kéo bên phải—mày, đồ ngu này! lùi bên trái. Không, không phải mày—người kia—buông cái dây lái ra, không được à—nào, cả hai cùng lúc. KHÔNG PHẢI hướng đó. Ôi, cái đồ—!"

Sau đó họ sẽ thả một chiếc thuyền con xuống và đến hỗ trợ chúng tôi; và sau mười lăm phút nỗ lực, mới đưa chúng tôi hoàn toàn ra khỏi đường đi của họ để họ có thể tiếp tục; và chúng tôi sẽ cảm ơn họ rất nhiều, rồi nhờ họ kéo giúp thuyền chúng tôi đi nhờ. Nhưng họ chẳng bao giờ chịu.

Một cách hay khác mà chúng tôi phát hiện ra để chọc tức loại tàu máy xông hơi kiểu quý tộc, là nhầm chúng với một buổi dã ngoại công ty, rồi hỏi xem họ có phải là nhóm của công ty Cubit hay hội Bermondsey Good Templars không, và họ có thể cho chúng tôi mượn cái xoong được không.

Những bà lão không quen đi sông nước luôn cực kỳ sợ hãi tàu máy xông hơi. Tôi nhớ có lần đi ngược từ Staines đến Windsor — một đoạn nước đặc biệt nhiều những quái vật cơ khí này — cùng một nhóm có ba phụ nữ thuộc tuýp người như vậy. Thật là kịch tính. Ngay từ cái nhìn đầu tiên về mỗi chiếc tàu máy xông hơi xuất hiện trong tầm mắt, họ đều nhất quyết đòi lên bờ và ngồi xuống bãi cỏ cho đến khi nó biến mất khỏi tầm mắt mới thôi. Họ bảo họ rất làm tiếc, nhưng họ có trách nhiệm với gia đình nên không thể liều lĩnh được.

Chúng tôi thấy mình bị thiếu nước ở âu thuyền Hambledon; vì vậy chúng tôi mang chiếc bình của mình lên nhà người gác âu thuyền để xin một ít.

George là người đại diện. Cậu ấy nở một nụ cười đắm thắm và bảo:

"Ôi, làm ơn cho chúng cháu xin chút nước được không ạ?"

"Chắc chắn rồi," ông lão đáp; "cứ lấy bao nhiêu tùy thích, rồi để lại phần còn lại."

"Cảm ơn bác nhiều lắm," George thì thầm, nhìn quanh. "Bác—bác để nó ở đâu ạ?"

"Nó luôn ở cùng một chỗ thôi con trai," câu trả lời thản nhiên: "ngay sau lưng cháu đấy."

"Cháu không thấy," George nói, quay người lại.

"Kìa, lạy Chúa, mắt mũi cháu để đâu thế?" người đàn ông nhận xét khi xoay người George lại và chỉ ngược xuôi dòng sông. "Có đủ nước để nhìn thấy đấy chứ, đúng không?"

"Ôi!" George thốt lên khi hiểu ra ý ông ta; "nhưng chúng cháu không thể uống nước sông được, bác biết đấy!"

"Không; nhưng cháu có thể uống một ít," lão già đáp. "Đó là nước lão đã uống suốt mười lăm năm qua đấy."

"George bảo ông ta rằng diện mạo của ông sau quá trình đó trông có vẻ không phải là một sự quảng cáo đủ tốt cho nhãn hiệu này; và cậu ấy thà lấy nước từ một cái bơm còn hơn."

Chúng tôi lấy được một ít nước từ một ngôi nhà nhỏ cao hơn một chút. Tôi cá rằng đó cũng chỉ là nước sông nếu chúng tôi biết chuyện. Nhưng chúng tôi không biết, nên thế là ổn. Mắt không thấy thì bụng không đau.

Chúng tôi từng thử dùng nước sông một lần, muộn hơn trong mùa đó, nhưng không thành công. Chúng tôi đang đi xuôi dòng, và dừng lại chèo vào một vùng nước đọng gần Windsor để uống trà. Bình của chúng tôi đã cạn, và đó là lựa chọn giữa việc bỏ uống trà hoặc lấy nước từ sông. Harris thì muốn liều một chuyến. Cậu ấy bảo hẳn là sẽ ổn thôi nếu chúng tôi đun sôi nước. Cậu ấy bảo các loại mầm bệnh có trong nước sẽ bị tiêu diệt khi đun sôi. Vì vậy chúng tôi múc đầy ấm nước từ vùng nước đọng của sông Thames, rồi đun sôi; và chúng tôi cẩn thận kiểm tra để đảm bảo nó đã sôi thật sự.

Chúng tôi đã pha trà, và vừa ngồi xuống thoải mái để thưởng thức thì George, với tách trà giơ lên dở dang trên môi, dừng lại và thốt lên:

"Cái gì thế kia?"

"Cái gì là cái gì?" Harris và tôi cùng hỏi.

"Kìa, cái đó!" George nói, nhìn về phía tây.

"Harris và tôi nhìn theo hướng chỉ của cậu ấy, và thấy trôi xuống phía chúng tôi trên dòng nước lờ đờ là một con chó. Đó là một trong những con chó bình yên và thanh thản nhất mà tôi từng thấy. Tôi chưa bao giờ gặp một con chó nào trông thỏa nguyện hơn — thư thái trong lòng hơn. Nó đang nằm ngửa trôi dạt như trong mơ, bốn chân giơ thẳng lên trời. Đó là cái mà tôi gọi là một con chó đầy đặn, với lồng ngực phát triển tốt. Nó tiến đến, thanh thản, trang trọng và điềm tĩnh, cho đến khi ngang mạn thuyền chúng tôi, rồi ở đó, giữa những khóm sậy, nó chậm lại và định cư thoải mái cho buổi tối."

George bảo cậu ấy không muốn uống trà nữa, rồi đổ tách trà xuống sông. Harris cũng không thấy khát, và làm theo. Tôi đã uống hết một nửa, nhưng tôi ước gì mình đã không làm vậy.

Tôi hỏi George xem cậu ấy có nghĩ tôi có khả năng bị thương hàn không.

Cậu ấy bảo: "Ôi, không;" cậu ấy nghĩ tôi có cơ hội rất tốt để thoát khỏi nó đấy. Dù sao thì khoảng hai tuần nữa tôi sẽ biết mình có bị hay không thôi.

Chúng tôi đi ngược vùng nước đọng đến Wargrave. Đó là một đường tắt, dẫn ra từ bờ bên phải khoảng nửa dặm phía trên Âu thuyền Marsh, và rất đáng để đi, vì đây là một đoạn sông nhỏ xinh đẹp, rợp bóng râm, lại tiết kiệm được gần nửa dặm đường.

Dĩ nhiên, lối vào của nó cắm đầy cọc cùng xích, và bao quanh bởi những tấm bảng cảnh báo, đe dọa đủ mọi hình thức tra tấn, tù tày và cái chết cho bất kỳ ai dám đặt mái chèo lên dòng nước của nó — tôi ngạc nhiên là mấy kẻ thô lậu ven sông này không đòi quyền sở hữu cả không khí trên sông và đe dọa phạt bốn mươi shilling với bất kỳ ai hít thở nó — nhưng cọc và xích thì một chút khéo léo là dễ dàng tránh được; còn về mấy tấm bảng, nếu bạn có rảnh năm phút và không có ai quanh đó, bạn có thể tháo một hai tấm xuống rồi ném xuống sông.

Đến giữa đoạn nước đọng, chúng tôi lên bờ ăn trưa; và chính trong bữa ăn trưa này, George và tôi đã nhận một cú sốc khá tồi tệ.

Harris cũng bị sốc; nhưng tôi không nghĩ cú sốc của Harris có thể sánh được với cú sốc mà George và tôi trải qua trong chuyện này.

Bạn thấy đấy, chuyện là thế này: chúng tôi đang ngồi trên một đồng cỏ, cách mép nước khoảng mười thước, và vừa mới ngồi xuống thoải mái để ăn. Harris kẹp chiếc bánh nhân thịt bò giữa hai gối và đang cắt nó, còn George và tôi đứng đợi với đĩa sẵn sàng trên tay.

"Cậu có cái thìa nào ở đó không?" Harris nói; "tớ cần cái thìa để múc nước sốt."

Chiếc giỏ mây nằm ngay sau lưng chúng tôi, và cả George lẫn tôi đều quay lại để lấy một chiếc. Chúng tôi mất chưa đầy năm giây để lấy nó. Khi chúng tôi quay lại lần nữa, Harris và chiếc bánh đã biến mất!

Đó là một cánh đồng rộng lớn, trống trải. Chẳng có lấy một cái cây hay một đoạn hàng rào nào trong vòng hàng trăm thước. Cậu ấy không thể rơi xuống sông được, vì chúng tôi ở phía sát bờ nước hơn cậu ấy, và cậu ấy sẽ phải trèo qua người chúng tôi mới làm được việc đó.

George và tôi nhìn quanh khắp lượt. Rồi chúng tôi nhìn nhau.

"Cậu ấy được rước lên thiên đường rồi à?" tôi nghi vấn.

"Họ chẳng đời nào cầm theo cả chiếc bánh đâu," George nói.

Có vẻ như sự phản đối này có lý, và chúng tôi loại bỏ thuyết thiên đường.

"Tớ đoán sự thật của vấn đề là," George gợi ý, hạ thấp xuống những điều tầm thường và thực tế, "đã có một trận động đất."

Rồi cậu ấy nói thêm, với một chút đượm buồn trong giọng nói: "Tớ ước gì cậu ấy đừng cắt chiếc bánh đó."

Với một tiếng thở dài, chúng tôi lại hướng mắt về phía nơi Harris và chiếc bánh được nhìn thấy lần cuối trên trần thế; và ở đó, khi máu chúng tôi đóng băng trong giọt lệ và tóc dựng ngược cả lên, chúng tôi thấy đầu của Harris — và không có gì ngoài cái đầu của cậu ấy — cắm thẳng đứng giữa đám cỏ cao, khuôn mặt đỏ gay, và mang một nét mặt vô cùng phẫn nộ!

George là người đầu tiên hồi phục.

"Nói đi!" cậu ấy kêu lên, "và cho chúng tớ biết cậu còn sống hay đã chết — và phần còn lại của cậu đâu rồi?"

"Ôi, đừng có làm đồ ngu ngốc nữa!" cái đầu của Harris nói. "Tớ tin là các cậu cố tình làm vậy."

"Làm gì cơ?" George và tôi cùng thốt lên.

"Thì xếp tớ ngồi ở đây này — trò đùa ngớ ngẩn thật! Đây, đỡ lấy chiếc bánh này."

Và từ giữa lòng đất, như chúng tôi cảm thấy, chiếc bánh trồi lên — bị xáo trộn và hư hại khá nhiều; và sau đó, Harris bò ra — nhếch nhác, bẩn thỉu và ướt nhẹp.

Cậu ấy đã ngồi, mà không hề biết, ngay trên mép của một cái gờ rãnh nhỏ, đám cỏ dài đã che khuất nó khỏi tầm mắt; và khi ngửa người ra sau một chút, cậu ấy đã trượt tọt xuống, cả người lẫn bánh.

Cậu ấy bảo chưa bao giờ thấy kinh ngạc đến thế trong đời như khi lần đầu tiên cảm thấy mình bị trượt đi mà không thể đoán định nổi dù là nhỏ nhất chuyện gì đã xảy ra. Lúc đầu cậu ấy còn tưởng ngày tận thế đã đến.

Harris đến tận ngày nay vẫn tin rằng George và tôi đã lên kế hoạch cho tất cả từ trước. Sự nghi ngờ bất công vẫn luôn bám theo ngay cả những người trong sạch nhất là thế đấy, bởi như nhà thơ đã nói, "Ai mà thoát khỏi lời gièm pha?"

Ai, quả thực vậy!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jerome K. Jerome

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.