Ba Người Trên Một Chiếc Thuyền (Chưa Kể Con Chó)

Lượt đọc: 217 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Kế Hoạch Đã Định.—cách Làm Việc Của Harris.—người Đàn Ông Của Gia Đình Treo Tranh Thế Nào.—george Đưa Ra Một Nhận Xét Chí Lý.—thú Tắm Sớm.—dự Phòng Cho Việc Lật Thuyền.

❊ ❊ ❊

Kế hoạch đã định.—Cách làm việc của Harris.—Người đàn ông của gia đình treo tranh thế nào.—George đưa ra một nhận xét chí lý.—Thú tắm sớm.—Dự phòng cho việc lật thuyền.

Thế là vào buổi tối hôm sau, chúng tôi lại tụ họp để bàn bạc và lên kế hoạch. Harris mở lời:

“Nào, việc đầu tiên cần quyết là mang theo những gì. Cậu lấy mẩu giấy ra ghi chép đi, J., còn George lấy danh mục hàng tạp hóa lại đây, ai đó đưa tôi mẩu bút chì, rồi tôi sẽ lập danh sách.”

Harris luôn là thế—lúc nào cũng sốt sắng ôm đồm gánh nặng mọi việc vào mình, rồi trút sạch lên lưng kẻ khác.

Anh ta luôn làm tôi nhớ đến ông chú Podger tội nghiệp của mình. Cả đời bạn chưa từng thấy cảnh tượng cả nhà nháo nhào, náo loạn ngược xuôi như lúc chú Podger của tôi nhận làm một việc gì đó đâu. Chẳng hạn một bức tranh vừa được đóng khung đem về, đang dựng ở phòng ăn chờ treo lên; thím Podger mới hỏi xem nên xử trí thế nào, chú Podger bèn bảo:

“Ôi, mình cứ để đấy cho tôi. Mọi người đừng ai phải bận tâm việc đó làm gì. Tôi sẽ lo hết.”

Thế rồi chú cởi áo khoác ngoài ra và bắt đầu. Chú sai con bé người làm chạy đi mua sáu xu tiền đinh, rồi lại sai một thằng bé chạy đuổi theo để bảo xem phải lấy cỡ nào; và cứ từ cái đà ấy, chú dần dần lôi cả nhà vào cuộc, khởi động bộ máy phục vụ mình.

“Nào Will, chạy đi lấy búa cho bố!” chú hét tướng lên; “Tom mang thước dây lại đây; bố sẽ cần cái thang gấp, mà kiếm thêm cái ghế bếp nữa thì hơn; còn Jim! Chạy sang nhà bác Goggles, bảo là: ‘Bố cháu gửi lời hỏi thăm, mong chân bác đỡ hơn; bác có thể cho bố cháu mượn cái thước thủy được không ạ?’ Đừng đi vội Maria, tôi cần mình đứng soi đèn; con bé người làm về thì bảo nó phải đi mua thêm ít dây treo tranh nữa nhé; còn Tom!—Tom đâu rồi?—Tom lại đây, bố cần con đỡ bức tranh đưa lên cho bố.”

Thế rồi chú nhấc bức tranh lên, làm rơi; kính vỡ bung khỏi khung, chú vội đưa tay đỡ lấy tấm kính và bị cứa đứt tay; đoạn chú nhảy choi choi quanh phòng để tìm khăn tay. Chú chẳng tìm thấy khăn đâu vì nó nằm trong túi chiếc áo khoác chú đã cởi ra lúc nãy, mà chú lại chẳng nhớ đã quẳng cái áo ở xó nào, thế là cả nhà phải bỏ dở việc tìm đồ nghề để đi tìm áo cho chú; trong khi chú cứ lăng xăng nhảy nhót cản trở mọi người.

“Cả cái nhà này không ai biết cái áo của tôi ở đâu hả? Cả đời tôi chưa từng thấy lũ người nào như thế này—nói thật lòng đấy. Sáu con người!—mà không tìm nổi cái áo tôi mới đặt xuống chưa đầy năm phút trước! Thật hết chỗ nói—”

Rồi chú đứng phắt dậy, phát hiện ra nãy giờ mình đang ngồi đè lên nó, bèn gắt tướng lên:

“Thôi, không phải tìm nữa! Tôi tự tìm thấy rồi. Nhờ các người tìm hộ thì thà bảo con mèo đi tìm còn nhanh hơn.”

Sau khi mất toi nửa tiếng đồng hồ để băng bó ngón tay, mua tấm kính mới, cùng với đồ nghề, thang, ghế và nến đã được mang đủ đến nơi, chú lại bắt đầu lượt thứ hai. Cả nhà—kể cả con bé người làm lẫn bà giặt thuê—đều đứng vây quanh thành hình bán nguyệt, sẵn sàng ứng trực. Hai người phải giữ chặt ghế, người thứ ba đỡ chú trèo lên rồi bám giữ người chú ở trên đó, người thứ tư đưa đinh, người thứ năm chuyền búa, chú vừa cầm lấy cái đinh thì tuột tay đánh rơi.

“Đấy!” chú càu nhàu với giọng điệu đầy ấm ức, “mất cái đinh rồi.”

Thế là tất cả chúng tôi lại phải quỳ mọp xuống đất, bò lê bò càng đi tìm đinh, trong khi chú đứng trên ghế càu nhàu và gắt gỏng hỏi xem có phải chúng tôi định bắt chú đứng chôn chân ở đấy suốt cả buổi tối hay không.

Cuối cùng cũng tìm thấy đinh, nhưng đến lúc ấy thì chú lại làm mất búa.

“Cái búa đâu rồi? Tôi vừa để cái búa ở đâu nhỉ? Trời đất ơi! Bảy người đứng trố mắt ra đấy mà không ai biết tôi để cái búa ở đâu!”

Chúng tôi lại đi tìm búa cho chú, nhưng tìm xong thì chú đã quên béng mất dấu vết chú vừa đánh trên tường—chỗ định đóng đinh vào. Từng người một lại phải leo lên ghế bên cạnh chú để xem có thấy cái dấu ấy không; mỗi người lại chỉ ra một chỗ khác nhau, và chú mắng mỏ từng người một là đồ ngốc rồi xua tất cả xuống. Đoạn chú lấy thước dây đo lại, tính ra khoảng cách cần là một nửa của ba mươi mốt inch và ba phần tám tính từ góc tường; chú cố nhẩm tính trong đầu rồi phát cáu lên.

Tất cả chúng tôi cũng đều cố nhẩm tính, mỗi người ra một kết quả khác nhau rồi quay sang chế giễu lẫn nhau. Giữa trận cãi cọ ầm ĩ đó, con số ban đầu trôi tuột khỏi đầu, và chú Podger lại phải đo đạc từ đầu.

Lần này chú dùng một đoạn dây, và đúng vào khoảnh khắc then chốt—khi lão già ngốc nghếch ấy đang nhoài người khỏi ghế một góc bốn mươi lăm độ, cố với tới một điểm cách tầm với của mình những ba inch—thì sợi dây tuột ra. Chú trượt thẳng xuống nóc đàn dương cầm; một hiệu ứng âm nhạc vô cùng đặc sắc vang lên khi đầu và thân hình chú cùng lúc giáng sầm xuống khắp các phím đàn.

Thím Maria bèn tuyên bố thím không thể để lũ trẻ đứng nghe những lời lẽ tục tĩu như thế được.

Cuối cùng, chú Podger cũng xác định lại được vị trí, tay trái ghì mũi đinh vào tường, tay phải vung búa. Và ngay nhát gõ đầu tiên, chú đập bẹp ngón tay cái của mình, buông rơi chiếc búa kèm theo một tiếng hét thất thanh xuống đúng ngón chân một người đứng dưới.

Thím Maria ôn tồn nhận xét rằng lần sau nếu chú Podger có định đóng một cái đinh vào tường, thím mong chú báo trước cho thím một tiếng, để thím còn kịp thu xếp về nhà ngoại ở chơi một tuần trong lúc chú thi công.

“Ôi dào! Đàn bà các cô cứ chuyện bé xé ra to,” chú Podger vừa lồm cồm bò dậy vừa đáp. “Có gì đâu, tôi thích tự tay làm mấy việc vặt vãnh này mà.”

Rồi chú lại thử lần nữa, và ở nhát búa thứ hai, cây đinh cắm ngập xuyên qua lớp vữa, kéo theo nửa cán búa chui tọt vào trong, còn chú Podger thì bị đà xô đập mạnh vào tường đến suýt bẹp cả mũi.

Thế rồi chúng tôi lại phải đi tìm thước và dây, đục một lỗ mới; mãi đến tầm nửa đêm, bức tranh mới được treo lên—xiêu vẹo và lỏng lẻo một cách thảm hại, mảng tường xung quanh rộng hàng thước trông chẳng khác nào vừa bị cào xới bằng bừa sắt, còn mọi người thì mệt lử và khốn khổ—ngoại trừ chú Podger.

“Đấy, xong rồi nhé,” chú nói, bước mạnh từ trên ghế xuống giẫm bẹp cả vết chai chân của bà giặt thuê, đoạn ngắm nghía cái bãi chiến trường mình vừa tạo ra với vẻ tự hào thấy rõ. “Đấy, người khác là họ phải thuê thợ đến để làm một cái việc con con như thế rồi đấy!”

Lớn lên Harris chắc chắn cũng sẽ thành một người như thế, tôi biết mười mươi, và tôi đã nói thẳng vào mặt anh ta như vậy. Tôi bảo tôi không thể nhẫn tâm để anh ta phải gánh vác nhiều nhọc nhằn đến thế. Tôi nói:

“Thôi; cậu đi lấy giấy, bút chì và danh mục hàng lại đây, George lo việc ghi chép, còn tôi sẽ tính toán danh sách cho.”

Bản danh sách đầu tiên chúng tôi lập ra đành phải vứt đi. Rõ ràng là khúc thượng lưu sông Thames không đời nào dung nạp nổi một con thuyền đủ lớn để chở hết ngần ấy thứ mà chúng tôi coi là “tối cần thiết”; thế là chúng tôi xé toạc tờ danh sách rồi trố mắt nhìn nhau!

George lên tiếng:

“Các cậu biết không, chúng ta đang đi trật đường ray hoàn toàn rồi. Chúng ta không được nghĩ đến những thứ mình có thể dùng được, mà chỉ được nghĩ đến những thứ mình không thể sống thiếu mà thôi.”

Thỉnh thoảng George lại thốt ra những lời chí lý đến bất ngờ. Bạn sẽ phải ngạc nhiên đấy. Tôi coi đó là sự thông thái đích thực, không chỉ đối với trường hợp trước mắt này, mà còn xét trên cả chuyến hải trình ngược dòng sông cuộc đời nói chung. Trên chuyến đi ấy, biết bao người cứ chất đống lên con thuyền của mình cho đến khi nó chực chìm nghỉm dưới cả kho đồ đạc ngớ ngẩn mà họ ngỡ là cốt yếu cho sự hưởng lạc và tiện nghi, nhưng thực chất chỉ là mớ rác rưởi cồng kềnh vô dụng.

Họ chất cao ngất ngưởng tới tận đỉnh cột buồm con thuyền bé nhỏ tội nghiệp kia biết bao xiêm áo lộng lẫy và những dinh cơ tráng lệ; những kẻ hầu người hạ vô tích sự, cùng một lũ bạn bè quý tộc rởm đời—những kẻ chẳng mảy may bận tâm đến họ một xu, mà chính họ cũng chẳng coi trọng nửa cắc; những cuộc tiệc tùng tốn kém chẳng đem lại niềm vui cho ai, những nghi thức câu nệ và thói đua đòi phù phiếm, cùng thói giả tạo và khoe khoang, và—than ôi, thứ hành lý nặng nề và điên rồ nhất trần đời!—nỗi sợ hãi khôn nguôi về việc người đời sẽ nghĩ gì, những thứ xa hoa chỉ tổ làm ta phát ngấy, những thú vui tẻ nhạt, cùng cảnh phô trương rỗng tuếch mà tựa như chiếc vương miện sắt tra tấn tội nhân thuở trước, khiến cái đầu nhức nhối đội nó phải ứa máu và ngất đi!

Toàn là của nợ cồng kềnh, bạn ơi—tất cả chỉ là của nợ! Hãy ném phăng nó xuống nước đi. Nó làm con thuyền nặng trĩu khiến bạn chèo đến kiệt sức, muốn ngất lịm bên mái chèo. Nó khiến việc lèo lái trở nên vướng víu và hiểm nguy, bạn chẳng lúc nào thoát khỏi âu lo phiền muộn, chẳng tìm nổi một khoảnh khắc thảnh thơi để thả hồn mơ mộng—chẳng còn thời giờ ngắm nhìn bóng gió lướt nhẹ qua những bãi cạn, hay những tia nắng lấp lánh chập chờn ẩn hiện giữa làn sóng lăn tăn, hay những tán cây cổ thụ ven bờ soi bóng xuống làn nước biếc, hay những cánh rừng mướt xanh lẫn sắc vàng ươm, những khóm hoa súng trắng và vàng, hay những rặng lau sậy u trầm dập dềnh trong gió, những ngọn cỏ lác, hoa lan, cùng những nhành lưu ly xanh ngắt.

Hãy vứt bỏ mớ của nợ ấy đi, bạn ơi! Hãy để con thuyền đời mình được nhẹ tênh, chỉ chở theo những gì thực sự cần thiết—một mái ấm mộc mạc và những niềm vui giản dị, một hai người bạn xứng danh tri kỷ, một người để yêu thương và một người yêu thương mình, một chú mèo, một con chó cùng một đôi tẩu thuốc, đủ cái ăn và đủ cái mặc, và thêm chút rượu chè quá mức cần thiết một tẹo; bởi lẽ cơn khát là một điều nguy hiểm.

Khi ấy bạn sẽ thấy chèo thuyền nhẹ nhàng hơn biết bao, thuyền cũng bớt nguy cơ bị lật úp, mà dẫu có lật thì cũng chẳng sao; hàng hóa mộc mạc tốt tươi thì sá gì nước ướt. Bạn sẽ có thời gian để suy ngẫm cũng như làm việc. Thời gian để tắm mình trong ánh nắng cuộc đời—thời gian để lắng nghe khúc nhạc thần tiên mà ngọn gió của Chúa tấu lên từ những dây tơ lòng của nhân thế quanh ta—thời gian để—

Xin lỗi quý vị, tôi thật sự thứ lỗi. Tôi trót đãng trí quá lời.

Thôi thì, chúng tôi giao lại việc lập danh sách cho George, và anh ta bắt đầu.

“Chúng ta sẽ không mang lều,” George gợi ý; “chúng ta sẽ dùng một chiếc thuyền có mui bạt. Như thế vừa tiện hơn nhiều lại vừa thoải mái.”

Ý kiến đó nghe có vẻ hay, và chúng tôi đồng ý ngay. Tôi không biết bạn đã từng thấy cái thứ tôi đang nói đến bao giờ chưa. Người ta dựng những khung vòm sắt bắc ngang thuyền, rồi căng một tấm bạt lớn phủ lên trên, chằng chặt xung quanh từ mũi chí lái; thế là nó biến con thuyền thành một thứ nhà thu nhỏ, ấm cúng tuyệt vời, tuy có hơi ngột ngạt một chút; nhưng đời mà, cái gì chẳng có mặt trái của nó, như gã nọ từng bảo khi mẹ vợ chết và người ta đòi gã thanh toán tiền ma chay vậy.

George nói trong trường hợp đó, mỗi người chúng tôi phải mang một tấm chăn len, một cây đèn, ít xà phòng, một chiếc lược và bàn chải tóc (dùng chung), một bàn chải đánh răng (mỗi người một chiếc), một cái chậu, ít bột đánh răng, ít đồ nghề cạo râu (nghe cứ như bài tập tiếng Pháp ấy nhỉ?), và một đôi khăn tắm lớn để đi bơi. Tôi nhận thấy người ta lúc nào cũng chuẩn bị những kế hoạch tắm rửa thật quy mô hoành tráng mỗi khi sắp đến gần sông nước, nhưng đến nơi rồi thì lại chẳng mấy khi chịu xuống tắm.

Đi nghỉ mát ở bờ biển cũng y như vậy. Khi ở London tính toán chuyện này, tôi luôn đinh ninh rằng sáng nào mình cũng sẽ dậy sớm để đi ngâm mình một lát trước bữa điểm tâm, và tôi ngoan ngoãn xếp sẵn vào va ly một chiếc quần bơi cùng chiếc khăn tắm. Tôi luôn chọn quần bơi màu đỏ. Tôi khá tự đắc khi mặc quần đỏ. Chúng rất hợp với nước da của tôi. Nhưng khi ra tới biển, chẳng hiểu sao tôi lại không còn thấy háo hức với cái thú tắm sáng sớm ấy nhiều như hồi còn ở thành phố nữa.

Trái lại, tôi lại chỉ muốn nằm ườn trên giường cho đến phút chót, rồi uể oải xuống ăn sáng. Một đôi lần sự hướng thiện cũng chiến thắng thói lười biếng, tôi thức dậy lúc sáu giờ, mặc vội nửa số quần áo, cầm quần bơi với khăn tắm rồi ủ rũ bước đi xiêu vẹo. Nhưng tôi chẳng thấy thích thú gì cho cam. Hình như trời đất luôn để dành sẵn một luồng gió đông buốt giá chỉ chực chờ tôi ra tắm sớm; người ta nhặt hết những hòn đá ba góc nhọn hoắt xếp lên trên cùng, mài sắc những tảng đá ngầm rồi rải một lớp cát mỏng lên che đi để tôi không nhìn thấy, đoạn họ dời mặt biển ra xa tít mù tắp tới hai dặm, hại tôi phải co ro ôm lấy hai cánh tay, vừa run lập cập vừa nhảy lò cò qua chỗ nước ngập ngang mắt cá chân. Và khi tôi ra tới mép nước, sóng biển lại gầm gào hung hãn như muốn lăng mạ người ta.

Một con sóng khổng lồ chồm tới, túm lấy tôi rồi quật tôi ngồi phịch xuống thật mạnh lên một tảng đá ngầm dường như đã được kê sẵn ở đó chờ tôi. Và trước khi tôi kịp kêu lên một tiếng “Ái! Ối!” để xem mình vừa đánh mất thứ gì, con sóng đã quay ngược trở lại và cuốn phăng tôi ra tít giữa đại dương. Tôi bắt đầu cuống cuồng đập tay đập chân bơi về phía bờ, tự hỏi liệu mình có còn cơ hội gặp lại gia đình và bè bạn nữa hay không, và thầm ước giá như hồi bé mình đối xử tốt hơn với đứa em gái nhỏ (ý tôi là hồi tôi còn bé ấy). Đúng vào lúc tôi đã buông xuôi mọi hy vọng, con sóng rút đi và để tôi nằm sõng soài như một con sao biển trên cát; tôi nhỏm dậy nhìn lại thì thấy nãy giờ mình đang bơi thục mạng để giữ lấy mạng sống ở một chỗ nước chỉ sâu có hai bộ. Tôi lò cò lội ngược vào bờ, mặc quần áo rồi lết về nhà, ở đó tôi lại phải làm bộ như mình vừa có một chuyến tắm biển thú vị lắm.

Trong trường hợp hiện tại này, ba chúng tôi đều nói chuyện như thể sáng nào mình cũng sẽ làm một chầu bơi lội thỏa thích vậy.

George bảo thật khoan khoái biết bao khi thức dậy trên thuyền giữa buổi sớm mai trong lành, rồi lao mình xuống làn nước trong veo của dòng sông. Harris tiếp lời, rằng chẳng có gì giúp ta ăn ngon miệng bằng việc bơi một vòng trước bữa sáng. Anh ta bảo bơi lội lúc nào cũng làm anh ta thèm ăn cồn cào. George nghe vậy bèn nói nếu tắm rửa mà lại làm Harris ăn khỏe hơn mức bình thường anh ta vẫn ăn, thì anh ta cực lực phản đối chuyện Harris đi tắm.

Cậu ta bảo rằng chỉ riêng việc kéo ngược dòng số lương thực đủ cho Harris tọng vào bụng thôi cũng đã quá đủ mệt mỏi rồi.

Dẫu vậy, tôi vẫn hết lời thuyết phục George rằng để một Harris sạch sẽ, thơm tho lăng xăng quanh thuyền thì vẫn dễ chịu hơn nhiều, dẫu chúng tôi có phải chở thêm vài tạ đồ ăn thức uống đi chăng nữa; và cuối cùng cậu ta cũng đồng tình với lý lẽ của tôi mà rút lại lời phản đối chuyện Harris tắm táp.

Rút cuộc, chúng tôi nhất trí mang theo ba chiếc khăn tắm, để khỏi phải đợi chờ lẫn nhau.

Về phần trang phục, George bảo chỉ cần hai bộ đồ nỉ là đủ, vì khi bị bẩn chúng tôi có thể tự giặt ngay dưới sông. Chúng tôi hỏi cậu ta đã bao giờ thử giặt đồ nỉ dưới sông chưa, thì cậu ta đáp: “Chưa, chính bản thân mình thì chưa; nhưng mình biết vài gã từng làm thế rồi, dễ ợt ấy mà;” thế là Harris và tôi lại cả tin cho rằng cậu ta biết rõ điều mình đang nói, và rằng ba chàng thanh niên đứng đắn, không địa vị, chẳng thế lực, lại mù tịt kinh nghiệm giặt giũ, thực sự có thể gột sạch áo sơ mi và quần tây của mình dưới dòng sông Thames chỉ với một mẩu xà phòng.

Mãi những ngày sau này chúng tôi mới vỡ lẽ, khi mọi sự đã quá muộn màng, rằng George chỉ là một kẻ bịp bợm thảm hại, rõ ràng chẳng biết ất giáp gì về cái việc ấy cả. Giá như quý vị được tận mắt thấy những bộ quần áo đó về sau—nhưng thôi, như lời các cuốn tiểu thuyết giật gân ba xu vẫn nói, chúng tôi lại đi trước câu chuyện mất rồi.

George dặn đi dặn lại chúng tôi phải mang theo đồ lót để thay và thật nhiều tất chân, phòng khi thuyền lật còn có cái mà thay; lại phải mang thật nhiều khăn tay để lau chùi đồ đạc, cùng một đôi ủng da bên cạnh giày đi thuyền, bởi lẽ chúng tôi sẽ rất cần đến chúng nếu chẳng may thuyền bị lật.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jerome K. Jerome

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.