Chúng tôi đã trải qua hai ngày rất dễ chịu ở Oxford. Thị trấn này có vô số chó. Ngay ngày đầu tiên, Montmorency đã tham gia mười một trận hăng máu, và sang ngày thứ hai là mười bốn trận; nó hiển nhiên nghĩ rằng mình đã lên tới Thiên đường.
Đối với những người có thể chất quá yếu ớt, hoặc bản tính quá lười biếng đến mức chẳng thể thích nổi việc chèo thuyền ngược dòng, người ta thường thuê một chiếc thuyền ở Oxford rồi chèo xuôi xuống. Tuy nhiên, đối với những ai tràn đầy năng lượng, hành trình ngược dòng rõ ràng là lựa chọn đáng giá hơn. Thật chẳng thú vị gì khi cứ mãi trôi theo dòng chảy. Phải gồng lưng, chiến đấu chống lại sức nước và tự mở đường tiến lên bất chấp dòng ngược mới mang lại nhiều thỏa nguyện hơn—ít nhất thì tôi cảm thấy thế những lúc Harris và George chèo thuyền, còn tôi cầm lái.

Với những ai đang có ý định chọn Oxford làm điểm khởi hành, tôi khuyên chân thành: hãy đi thuyền của chính mình—trừ khi, lẽ dĩ nhiên, bạn có thể lấy thuyền của ai đó mà không lo bị phát hiện. Những chiếc thuyền cho thuê trên sông Thames đoạn phía trên Marlow nhìn chung đều khá tốt. Chúng tương đối kín nước; và chỉ cần sử dụng cẩn thận, chúng hiếm khi bị vỡ tan tành hay chìm nghỉm. Trên thuyền có chỗ ngồi, cùng đầy đủ—hoặc gần như đầy đủ—các trang thiết bị cần thiết để bạn chèo và lái.

Thế nhưng chúng lại chẳng có giá trị thẩm mỹ. Chiếc thuyền bạn thuê ở đoạn sông phía trên Marlow không phải loại thuyền để bạn vi vu khoe khoang hay làm bộ làm tịch. Nó sẽ nhanh chóng dập tắt mọi thói hợm hĩnh như thế của người ngồi trên. Đó là ưu điểm lớn nhất—và có lẽ là duy nhất—của nó.

Người ngồi trên chiếc thuyền thuê ngược dòng thường rất khiêm tốn và kín đáo. Anh ta thích đi nép vào bóng râm dưới những hàng cây, và tranh thủ di chuyển vào lúc sáng sớm hoặc đêm muộn, khi trên sông không có mấy ai dòm ngó.
Mỗi khi nhỡ nhìn thấy quen ai đó, người đi thuyền thuê ngược dòng sẽ lập tức tấp vào bờ và nấp sau một gốc cây.

Tôi từng nằm trong một nhóm thuê chiếc thuyền ngược dòng như thế vào một mùa hè để đi chơi vài ngày. Trước đó chưa ai trong chúng tôi nhìn thấy hình dáng chiếc thuyền thuê ấy bao giờ; và khi tận mắt chứng kiến, chúng tôi cũng chẳng nhận ra đó là cái gì.
Chúng tôi đã viết thư đặt trước một chiếc thuyền—loại thuyền chèo đôi; và khi xách túi xuống bến thuyền, đọc tên mình ra, gã chủ bến bảo:
“Ồ, đúng rồi; các ông là nhóm đã viết thư đặt chiếc thuyền chèo đôi. Xong xuôi cả rồi. Jim, kéo chiếc ‘Niềm tự hào sông Thames’ ra đây cho các vị.”
Tên chú khố rùa đi vào rồi quay ra năm phút sau, vật lộn kéo theo một khúc gỗ từ thời tiền sử. Trông nó như thể vừa được đào từ đâu lên, mà lại đào rất cẩu thả nên mới bị hư hại thảm hại đến thế.

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy vật thể đó là một cổ vật thời La Mã—cổ vật gì thì chịu, có lẽ là một mảnh quan tài.
Vùng thượng nguồn sông Thames rất giàu di tích La Mã, nên suy đoán của tôi nghe có vẻ cực kỳ hợp lý; thế nhưng gã thanh niên nghiêm túc trong nhóm chúng tôi, một kẻ hơi am hiểu địa chất, lại bĩu môi coi thường thuyết cổ vật La Mã của tôi. Hắn bảo ngay cả bộ óc đần độn nhất (mà hắn có vẻ rất tiếc vì không thể xếp bộ óc của tôi vào đó một cách công tâm) cũng thấy rõ ràng rằng thứ mà chú khố rùa tìm thấy là hoá thạch của một con cá voi; rồi hắn chỉ cho chúng tôi đủ thứ bằng chứng chứng minh nó hẳn phải thuộc về thời kỳ tiền băng hà.
Để phân xử, chúng tôi hỏi thẳng chú khố rùa. Chúng tôi bảo cậu ta đừng sợ, cứ nói thật lòng: Đó là hoá thạch của con cá voi thời tiền Hồng thủy, hay là cái quan tài La Mã cổ?
Thằng bé đáp đó là chiếc “Niềm tự hào sông Thames”.
Mới đầu chúng tôi tưởng đó là câu đáp dí dỏm của thằng bé, và có người đã cho nó hai xu để thưởng cho sự ứng biến nhanh trí; nhưng khi nó cứ khăng khăng giữ cái trò đùa ấy quá lâu, chúng tôi bắt đầu phát bực.
“Thôi nào, nhóc!” người trưởng đoàn của chúng tôi gắt lên, “đừng vớ vẩn nữa. Cầm cái chậu rửa quần áo của mẹ chú mày về nhà đi, rồi mang cho chúng tao một chiếc thuyền tử tế.”
Lúc ấy gã thợ đóng thuyền mới bước ra, lấy danh dự của một người trong nghề ra đảm bảo rằng cái vật thể kia đúng thực là một chiếc thuyền—chính xác là chiếc thuyền chèo đôi đã được chọn để đưa chúng tôi du ngoạn xuôi dòng.
Chúng tôi càu nhàu dữ dội. Chúng tôi nghĩ ít ra gã cũng phải quét vôi hoặc bôi hắc ín lên—làm cái gì đó để người ta phân biệt nó với một mảnh tàu đắm chứ; nhưng gã lại chẳng tìm thấy điểm gì để chê trách ở nó cả.
Gã thậm chí còn tỏ ra phật ý trước những lời nhận xét của chúng tôi. Gã bảo gã đã chọn cho chúng tôi chiếc thuyền tốt nhất trong kho, đáng lý chúng tôi phải biết ơn mới đúng.
Gã bảo chiếc “Niềm tự hào sông Thames” này, nguyên vẹn như hiện tại (hay đúng hơn là dính liền với nhau như hiện tại), đã được sử dụng suốt bốn mươi năm qua theo như gã biết, chưa một ai phàn nàn câu nào, gã chẳng hiểu sao chúng tôi lại là những kẻ đầu tiên giơ đầu dái bới vết tìm lông.
Chúng tôi không tranh cãi thêm nữa.
Chúng tôi buộc cái gọi là chiếc thuyền ấy lại bằng vài dây sợi, lấy chút giấy dán tường dán đè lên những chỗ xơ xác nhất, cầu nguyện một câu rồi bước lên thuyền.
Họ lấy của chúng tôi ba mươi lăm shilling cho sáu ngày thuê cái phế tích ấy; trong khi với bốn shilling sáu pence, chúng tôi thừa sức mua đứt nó ở bất kỳ buổi bán đấu giá gỗ dạt bờ nào dọc bờ biển.
Thời tiết chuyển xấu vào ngày thứ ba,—Ồ! Tôi đang nói về chuyến đi hiện tại của chúng tôi đấy nhá,—và chúng tôi xuất phát từ Oxford cho hành trình trở về giữa một màn mưa phun dầm dề.
Dòng sông—khi ánh nắng lấp lánh trên từng gợn sóng nhấp nhô, dát vàng lên những thân cây bồ đề xám xịt, xuyên qua những lối đi mạ mát rượi gieo ánh sáng, đuổi theo bóng râm trên bãi cạn, bắn tung ngọc cương từ guồng nước cối xay, gửi nụ hôn tới những nhành hoa súng, nô giỡn với bọt nước trắng xoá nơi đập tràn, phủ sắc bạc lên những bức tường và cây cầu rêu phong, làm bừng sáng từng thị trấn nhỏ, ướp hương thơm cho từng con ngõ và bãi cỏ, quấn quít nơi rặng sậy, ghé mắt cười đùa từ mọi ngạch nước, phản chiếu rực rỡ lên những cánh buồm xa, làm dịu mát không gian bằng thứ ánh sáng lung linh—chính là một dòng sông tiên cảnh dát vàng.
Nhưng dòng sông ấy—khi lạnh lẽo và mệt mỏi, với những giọt mưa rơi không ngớt xuống làn nước đục ngầu ủ dột, vang lên âm thanh như tiếng người phụ nữ khóc thầm trong căn phòng tối; trong khi núi rừng ảm đạm và lặng thinh, chìm trong màn sương mù bao phủ, đứng như những hồn ma bên bờ sông; những hồn ma lặng lẽ với ánh mắt oán trách, như bóng hình của những việc làm tội lỗi, như bóng hình của những người bạn bị lãng quên—lại là một vùng nước đầy ma quái chảy qua xứ sở của những niềm hối tiếc muộn màng.
Ánh nắng là nhựa sống của Tự nhiên. Mẹ Trái Đất nhìn chúng ta bằng đôi mắt đờ đẫn, vô hồn biết bao khi ánh nắng rời bỏ bà. Ở bên bà lúc ấy thật buồn; bà dường như chẳng còn nhận ra hay bận lòng đến chúng ta nữa. Bà như người phụ nữ góa dại mất đi người chồng yêu thương, lũ trẻ nắm lấy tay bà, ngước nhìn vào mắt bà, nhưng chẳng nhận lại dù chỉ một nụ cười.
Chúng tôi chèo thuyền suốt cả ngày hôm đó dưới trời mưa, một công việc vô cùng ảm đạm. Mới đầu, chúng tôi giả vờ như mình đang tận hưởng. Chúng tôi bảo thế này cũng là một sự đổi thay, và chúng tôi thích ngắm dòng sông dưới mọi diện mạo khác nhau. Chúng tôi bảo không thể trông chờ trời lúc nào cũng nắng, mà chúng tôi cũng chẳng ước như thế. Chúng tôi bảo nhau rằng Tự nhiên vẫn đẹp ngay cả khi nàng lệ rơi.
Quả thực, Harris và tôi đã cực kỳ hào hứng trong vài giờ đầu. Chúng tôi còn hát một bài về cuộc đời du mục, rằng đời du mục mới sung sướng làm sao!—tự do trước dông bão lẫn nắng nỏ, và trước mọi ngọn gió nổ ra!—rồi gã du mục yêu mưa thế nào, mưa mang lại cho gã bao nhiêu điều tốt lành ra sao; và gã đã cười nhạo những kẻ chê mưa thế nào.

George thì đón nhận niềm vui ấy một cách trầm ngâm hơn, hắn cứ ôm khít lấy cái ô.
Chúng tôi giăng bạt che trước khi ăn trưa và giữ nguyên như thế suốt cả buổi chiều, chỉ chừa lại một khoảng nhỏ ở mũi thuyền để một người có thể chèo gác và quan sát. Bằng cách đó, chúng tôi đi được chín dặm và dừng thuyền nghỉ đêm ở phía dưới đập Day’s Lock một chút.
Tôi không thể dối lòng rằng chúng tôi đã có một buổi tối vui vẻ. Mưa cứ dai dẳng trút xuống. Mọi thứ trên thuyền đều ẩm ướt và dính nhẹp. Bữa tối thất bại thảm hại. Món bánh nhân thịt bê nguội ngắt, khi bụng chẳng thấy cào cấu, rất dễ làm người ta phát ngấy. Tôi cảm thấy thèm món cá bống chiên và một miếng sườn cừu; Harris thì lảm nhảm về món cá thờn bơn sốt kem trắng, rồi đưa phần bánh còn thừa cho Montmorency. Con chó từ chối, và dường như cảm thấy bị xúc phạm bởi lời mời ấy, nó đi sang tận đầu kia của chiếc thuyền ngồi một mình.
George yêu cầu chúng tôi đừng nhắc đến những món đó nữa, ít nhất là cho đến khi hắn ăn xong đĩa thịt bò luộc nguội không có mù tạt.
Ăn tối xong, chúng tôi chơi bài nap tính tiền xu. Chúng tôi chơi khoảng một tiếng rưỡi, đến cuối buổi thì George thắng được bốn pence—George lúc nào cũng đỏ bài—còn Harris và tôi mỗi người thua đúng hai pence.
Chúng tôi nghĩ nên dừng trò đỏ đen lại. Như Harris nói, trò này dính vào sâu quá chỉ sinh ra sự kích động không lành mạnh. George đề nghị chơi tiếp để chúng tôi gỡ gạc; nhưng Harris và tôi quyết định không chống lại Số phận nữa.
Sau đó, chúng tôi pha ít rượu toddy nóng, ngồi quây quần trò chuyện. George kể cho chúng tôi nghe về một người quen của hắn, hai năm trước từng đi thuyền ngược dòng và ngủ lại trên chiếc thuyền ẩm ướt vào một đêm đúng như đêm nay. Anh ta bị sốt thấp khớp, không gì cứu chữa nổi và đã qua đời trong đau đớn dữ dội mười ngày sau đó. George bảo anh ta còn rất trẻ và sắp kết hôn. Hắn bảo đó là một trong những chuyện chua xát nhất hắn từng biết.
Câu chuyện đó làm Harris nhớ đến một người bạn trong Lực lượng Tình nguyện, người từng ngủ dưới lều bạt vào một đêm mưa rào ở Aldershot, “đúng một đêm hệt như đêm nay,” Harris nói; và sáng ra khi tỉnh dậy, anh ta đã thành kẻ tàn phế suốt đời. Harris bảo khi về lại thành phố sẽ giới thiệu cả hai chúng tôi với người đó; nhìn cảnh ấy chắc chắn tim chúng tôi sẽ rớm máu.
Chuyện này tự nhiên dẫn đến một cuộc tán thưởng rôm rả về bệnh đau thần kinh tọa, các cơn sốt, cảm lạnh, bệnh phổi và viêm phế quản; Harris còn bảo sẽ phiền phức biết mấy nếu một trong số chúng tôi dở chứng bệnh nặng giữa đêm, nhất là khi chúng tôi đang ở quá xa bác sĩ.
Dường như ai cũng muốn có cái gì đó sôi nổi hơn để nối tiếp cuộc trò chuyện này, và trong một phút yếu lòng, tôi gợi ý George lấy đàn banjo ra xem có thể hát tặng cả hội một bài tếu táo không.
Phải công nhận một điều là George chẳng cần chèo kéo gì. Hắn không hề quanh co mấy trò như quên nốt nhạc ở nhà hay đại loại thế. Hắn lập tức lôi cây đàn ra và bắt đầu gảy bài “Hai con mắt đen xinh”.
Tôi vẫn luôn coi “Hai con mắt đen xinh” là một giai điệu khá bình dân cho đến tận tối hôm đó. Mạch sầu thảm cuộn trào mà George rút ra được từ bài hát khiến tôi hoàn toàn kinh ngạc.
Khao khát trỗi dậy trong lòng Harris và tôi theo từng giai điệu u buồn ấy là gục đầu vào cổ nhau mà khóc nức nở; nhưng bằng nỗ lực phi thường, chúng tôi đã nén được dòng nước mắt đang dâng lên và im lặng lắng nghe giai điệu da diết, khắc khoải ấy.
Đến đoạn điệp khúc, chúng tôi thậm chí đã cố gắng hết sức để gượng vui. Chúng tôi rót đầy lại ly và hát theo; Harris dẫn dắt bằng một giọng rung lên vì xúc động, còn George và tôi cất lời đuổi theo sau vài từ:
“Hai
con mắt đen xinh;
Ôi! Thật bất ngờ làm sao!
Chỉ vì bảo một gã rằng hắn đã sai,
Mà hai—”
Đến đó thì chúng tôi nghẹn ngào. Sự bi ai không lời trong đoạn George đệm cho từ “hai” ấy, trong tình cảnh suy sụp lúc bấy giờ, là quá sức chịu đựng của chúng tôi. Harris khóc sụt sùi như một đứa trẻ, còn con chó thì hú lên từng hồi đến mức tôi tưởng chừng tim hay hàm của nó sắp nát vụn ra mất.
George muốn hát tiếp khổ nữa. Hắn nghĩ khi đã quen tay đàn hơn và có thể dốc hết “buông lơi” vào bản diễn tấu, bài hát biết đâu sẽ bớt buồn hơn. Tuy nhiên, phần lớn ý kiến đều phản đối cuộc thử nghiệm này.
Chẳng còn việc gì làm, chúng tôi đi ngủ—nghĩa là trút bỏ quần áo và trằn trọc dưới đáy thuyền suốt ba bốn tiếng đồng hồ. Sau đó, chúng tôi cũng chợp mắt được chập chờn cho đến năm giờ sáng, khi tất cả cùng dậy ăn sáng.
Ngày thứ hai diễn ra hệt như ngày thứ nhất. Mưa vẫn trút xuống không ngừng, còn chúng tôi ngồi quấn chặt trong những chiếc áo mưa dưới mái bạt, chậm rãi trôi xuôi dòng.
Một trong số chúng tôi—giờ tôi chẳng nhớ là ai, nhưng tôi nghi thiên về bản thân mình hơn—đã có vài nỗ lực yếu ớt trong buổi sáng nhằm gợi lại cái trò ngô nghê du mục cũ rích về việc làm con cái của Tự nhiên và tận hưởng làn mưa; nhưng chuyện đó chẳng xuôi tai chút nào. Cái câu—
“Ta đâu có sợ mưa rơi, ta đâu có sợ!”
đã thể hiện tâm trạng của mỗi người một cách rõ ràng đến chua chát, khiến việc hát nó lên trở nên hoàn toàn thừa thãi.
Về một điểm thì tất cả chúng tôi đều thống nhất: dù có chuyện gì xảy ra, chúng tôi vẫn sẽ đi trọn hành trình này cho đến cùng. Chúng tôi ra đi để tận hưởng nửa tháng trên sông, và nửa tháng tận hưởng trên sông là điều chúng tôi nhất quyết phải có. Dù nó có giết chết chúng tôi đi nữa! Chà, đó sẽ là chuyện buồn cho bạn bè và người thân đấy, nhưng chẳng thể làm khác được. Chúng tôi cảm thấy việc đầu hàng thời tiết trong một khí hậu như thế này sẽ là một tiền lệ cực kỳ tai hại.
“Chỉ còn hai ngày nữa thôi,” Harris nói, “chúng ta còn trẻ và khỏe. Biết đâu rốt cuộc chúng ta vẫn qua khỏi bình an.”
Khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi bắt đầu bàn tính kế hoạch cho buổi tối. Lúc đó chúng tôi đã qua khỏi Goring một chút, và quyết định chèo tiếp đến Pangbourne rồi nghỉ lại đó qua đêm.
“Lại một buổi tối vui vẻ nữa đây!” George thì thầm.
Chúng tôi ngồi ngẫm nghĩ về viễn cảnh đó. Chúng tôi sẽ đến Pangbourne lúc năm giờ. Chúng tôi sẽ ăn tối xong vào khoảng năm rưỡi. Sau đó, chúng tôi có thể đi dạo quanh làng dưới trời mưa tầm tã cho đến giờ đi ngủ; hoặc chúng tôi có thể ngồi trong một phòng trà mờ tối của quán rượu mà đọc lịch sách.
“Thà đến nhà hát Alhambra còn xôm xóm hơn,” Harris liều lĩnh thò đầu ra ngoài mái che một chút để quan sát bầu trời.
“Rồi sau đó đánh một bữa tối nhẹ ở --- [311],” tôi vô thức thêm vào.
“Ừ, kể ra cũng hơi tiếc vì chúng ta đã quyết tâm bám lấy chiếc thuyền này,” Harris đáp; rồi không gian lại chìm vào yên lặng một lúc.
“Nếu chúng ta không hạ quyết tâm chuốc lấy cái chết cầm chắc trong cái quan tài mục nát này,” George lên tiếng, liếc một ánh mắt tràn ngập hằn học về phía chiếc thuyền, “thì cũng đáng để nhắc rằng có một chuyến tàu rời Pangbourne soon sau năm giờ một chút, vừa kịp đưa chúng ta về thành phố vào giờ thoải mái để làm một miếng sườn nướng, rồi sau đó đến cái nơi ông vừa nhắc.”
Không ai nói gì. Chúng tôi nhìn nhau, và mỗi người dường như đều thấy những hèn hạ, tội lỗi của chính mình phản chiếu trên gương mặt của những người kia. Trong im lặng, chúng tôi lôi chiếc va li Gladstone ra kiểm tra. Chúng tôi nhìn xuôi dòng rồi nhìn ngược dòng; không một bóng người!

Hai mươi phút sau, ba bóng người, theo sau là một con chó vẻ mặt đầy xấu hổ, có thể được trông thấy đang lén lút lẻn từ nhà thuyền ở quán “Con Thiên Nga” về phía ga tàu, trên người khoác bộ trang phục chẳng hề tươm tấp mà cũng chẳng mấy sang trọng:
Giày da đen, bẩn thỉu; bộ đồ nỉ đi thuyền, cực kỳ bẩn thỉu; mũ dạ nâu, móp méo nặng; áo mưa, ướt sũng; ô cầm tay.
Chúng tôi đã lừa dối gã trông thuyền ở Pangbourne. Chúng tôi không đủ trơ tráo để thú nhận với gã rằng mình đang chạy trốn cơn mưa. Chúng tôi để chiếc thuyền cùng tất cả đồ đạc bên trong lại cho gã trông nom, kèm theo lời dặn phải chuẩn bị sẵn sàng cho chúng tôi vào lúc chín giờ sáng hôm sau. Nếu—chúng tôi bảo—nếu có điều gì bất ngờ xảy ra ngăn cản chúng tôi quay lại, chúng tôi sẽ viết thư cho gã.
Chúng tôi đến ga Paddington lúc bảy giờ, rồi bắt xe đến thẳng nhà hàng mà tôi đã mô tả trước đó. Tại đây, chúng tôi dùng một bữa ăn nhẹ, để Montmorency ở lại cùng những dặn dò chuẩn bị cho bữa tối lúc mười giờ rưỡi, rồi tiếp tục hành trình đến Quảng trường Leicester.
Chúng tôi thu hút không ít sự chú ý tại nhà hát Alhambra. Khi chúng tôi xuất hiện ở quầy bán vé, người ta hống hách bảo chúng tôi đi vòng ra Phố Castle, và thông báo rằng chúng tôi đã đến muộn nửa tiếng.
Phải mất một hồi vật lộn chúng tôi mới thuyết phục được gã rằng mình không phải là “những diễn viên uốn dẻo nổi tiếng thế giới đến từ dãy Himalaya”, gã mới chịu cầm tiền và cho chúng tôi qua.
Vào bên trong, chúng tôi còn thành công rực rỡ hơn. Những gương mặt phong trần rạm nắng và trang phục kỳ lạ của chúng tôi thu hút những ánh nhìn ngưỡng mộ khắp mọi nơi. Chúng tôi là tâm điểm của mọi ánh mắt.
Đó là một khoảnh khắc tự hào cho tất cả chúng tôi.
Chúng tôi ra về ngay sau màn múa ballet đầu tiên, rồi rủ nhau quay lại nhà hàng, nơi bữa tối đã được sửa soạn sẵn sàng.
Tôi phải thú nhận rằng mình đã rất tận hưởng bữa tối đó. Suốt mười ngày qua, chúng tôi như thể chỉ sống bằng thịt nguội, bánh ngọt, và bread dán mứt. Đó là một chế độ ăn đơn giản, bổ dưỡng; nhưng chẳng có gì thú vị, và mùi thơm của rượu Burgundy, hương vị của nước sốt Pháp, cùng hình ảnh những chiếc khăn ăn sạch sẽ và những ổ bánh mì dài đã gõ cửa tâm hồn chúng tôi như một vị khách cực kỳ được chào đón.
Chúng tôi cắm cúi ăn uống trong im lặng một lúc, cho đến khi—thay vì ngồi thẳng lưng, tay cầm chặt dao nĩa—chúng tôi ngả người ra sau ghế, thong thả dùng bữa một cách uể oải; khi chúng tôi duỗi dài chân dưới bàn, thả rơi chiếc khăn ăn xuống sàn mà chẳng buồn để ý, và tìm thấy thời gian để ngắm nghía trần nhà đầy khói một cách tỉ mỉ hơn trước; khi chúng tôi đặt ly rượu trong tầm tay trên mặt bàn, cảm thấy thư thái, lắng sâu và bao dung.
RỒi Harris, người ngồi cạnh cửa sổ, vén mành nhìn ra ngoài đường.
Mặt đường ướt nhẹp lấp lánh trong đêm, những ngọn đèn mờ ảo chập chờn theo từng cơn gió, mưa trút đều đặn xuống những vũng nước và chảy dòng dòng qua ống dẫn xuống rãnh nước đang chảy siết. Một vài người đi bộ ướt sũng hối hả bước qua, co quắp dưới chiếc ô sũng nước, những người phụ nữ túm cao tà váy.
“Chà,” Harris nói, với tay lấy ly rượu, “chúng ta đã có một chuyến đi dễ chịu, và tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sông Thames già nua—nhưng tôi nghĩ chúng ta đã đúng khi bỏ dở đúng lúc. Nào, chúc mừng Ba Người đã thoát khỏi Một Chiếc Thuyền!”
Và Montmorency, đứng bằng hai chân sau trước cửa sổ, ghé mắt nhìn ra ngoài đêm tối, cất tiếng sủa ngắn tỏ ý hoàn toàn đồng tình với lời chúc.
[311] Một nhà hàng nhỏ tuyệt vời nằm ở nơi hẻo lánh gần khu vực ---, nơi bạn có thể thưởng thức một trong những bữa ăn tối kiểu Pháp ngon và rẻ nhất mà tôi biết, cùng một chai rượu Beaune hảo hạng, chỉ với giá ba shilling sáu pence; và tôi thì chẳng ngu gì mà đi quảng cáo cho nó cả.

❀ ❀ ❀