Ba Người Trên Một Chiếc Thuyền (Chưa Kể Con Chó)

Lượt đọc: 235 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Dòng Sông Ngày Chủ Nhật.—trang Phục Trên Sông.—cơ Hội Cho Cánh Đàn Ông.—sự Thiếu Gu Thẩm Mỹ Của Harris.—chiếc Áo Blazer Của George.—một Ngày Cùng Cô Nàng Như Bước Ra Từ Tạp Chí Thời Trang.—lăng Mộ Bà Thomas.—gã Không Thích Mồ Mả, Quan Tài Và Đầu Lâu.—harris Nổi Điên.—quan Điểm Của Hắn Về George, Ngân Hàng Và Nước Chanh.—hắn Biểu Diễn Xiếc.

❊ ❊ ❊

Chính trong lúc đi qua âu thuyền Moulsey, Harris mới kể cho tôi nghe trải nghiệm mê cung của hắn. Chúng tôi mất khá nhiều thời gian mới qua được, bởi chiếc thuyền của chúng tôi đơn độc giữa âu thuyền rộng lớn. Tôi không nhớ là đã từng thấy âu thuyền Moulsey chỉ có duy nhất một chiếc thuyền như thế này bao giờ chưa. Tôi đồ rằng, ngoại trừ Boulter ra, đây là âu thuyền sầm uất nhất trên dòng sông này.

Thỉnh thoảng, tôi lại đứng ngắm nhìn âu thuyền, những lúc mà bạn chẳng còn nhìn thấy mặt nước đâu nữa, chỉ thấy một mớ xáo trộn rực rỡ của những chiếc áo blazer tươi tắn, mũ chóp gập vui mắt, mũ rộng vành xếch ngược tinh nghịch, rồi ô che nắng đủ màu, thảm lụa, áo khoác, những dải ruy-băng bay phơ phất và những bộ đồ trắng muốt điệu đàng. Nhìn từ trên bến xuống âu thuyền, bạn có thể tưởng tượng đó là một chiếc hộp khổng lồ chứa đủ loại hoa muôn hồng ngàn tía được ném hỗn độn vào trong, chất đống thành một khối ngũ sắc phủ kín mọi ngóc ngách.

Vào một ngày Chủ nhật đẹp trời, khung cảnh ấy diễn ra gần như suốt cả ngày. Trong khi đó, ở phía ngược dòng lẫn xuôi dòng, từng đoàn thuyền nối đuôi nhau dài dằng dặc nằm chờ ngoài cổng; hết chiếc này đến chiếc khác tiến lại gần rồi lướt qua, khiến cho dòng sông lấp lánh nắng, từ Cung điện ngược lên tận Nhà thờ Hampton, điểm xuyết rực rỡ những sắc vàng, xanh dương, cam, trắng, đỏ và hồng. Toàn bộ cư dân vùng Hampton và Moulsey đều xum xê xúng xính trong những bộ đồ đi thuyền, kéo nhau ra lượn quanh âu thuyền cùng dắt theo chó cưng, rồi tán tỉnh, hút thuốc và ngắm nhìn thuyền bè qua lại. Nói chung, sự kết hợp giữa mũ và áo may-ô của cánh đàn ông, những bộ váy xinh xắn sặc sỡ của phái nữ, những chú chó hớn hở, những con thuyền dập dềnh, cánh buồm trắng phấp phới, phong cảnh hữu tình cùng mặt nước long lấp láng đã tạo nên một trong những viễn cảnh nhộn nhịp nhất mà tôi từng biết ở gần cái thành phố London cổ kính và ảm đạm này.

Dòng sông chính là đường catwalk lý tưởng để khoe trang phục. Hiếm hoi lắm mới có dịp cánh đàn ông chúng tôi được phô diễn gu thẩm mỹ về màu sắc, và nếu bạn hỏi tôi, tôi sẽ nói rằng trông chúng tôi bảnh bao cực kỳ. Tôi lúc nào cũng thích chút sắc đỏ trên người—đỏ phối với đen. Bạn biết đấy, tóc tôi có màu nâu kim pha chút sắc vàng, một tông màu khá đẹp như người ta vẫn bảo, và sắc đỏ thẫm thì hợp với nó đến kỳ lạ. Hơn nữa, tôi luôn cho rằng một chiếc cà vạt xanh da trời nhạt đi cùng đôi giày da Nga và chiếc khăn lụa đỏ thắt ngang hông sẽ tạo nên một tổng thể tuyệt hảo—chà, thắt khăn trông phong nhã hơn đeo thắt lưng nhiều chứ.

Harris thì lúc nào cũng trung thành với các tông màu hoặc sự kết hợp giữa cam và vàng, nhưng tôi chẳng nghĩ hắn khôn ngoan tẹo nào khi làm thế. Nước da hắn quá ngăm để hợp với sắc vàng. Vàng không dành cho hắn: điều đó khỏi phải tranh cãi. Tôi đã bảo hắn nên lấy màu xanh làm nền, điểm xuyết thêm màu trắng hoặc màu kem cho nổi bật; nhưng đấy, người nào càng thiếu gu ăn mặc thì lại càng bảo thủ. Thật là đáng tiếc, vì cứ giữ nguyên thế này thì hắn chẳng bao giờ nâng tầm diện mạo được, trong khi chỉ cần chọn đúng một hai tông màu phù hợp là trông hắn (khi đội mũ vào) cũng đâu đến nỗi nào.

George đã mua vài món đồ mới cho chuyến đi này, và điều đó làm tôi khá bực mình. Chiếc áo blazer của hắn chói lọi quá đỗi. Tôi không muốn George biết tôi nghĩ vậy, nhưng thực sự chẳng còn từ nào khác để mô tả nó. Hắn mang nó về nhà và khoe với chúng tôi vào tối thứ Năm. Chúng tôi hỏi hắn gọi đó là màu gì, hắn bảo hắn cũng chịu. Hắn không nghĩ là có một cái tên dành riêng cho cái màu ấy. Tên bán hàng nói với hắn đó là hoa văn Phương Đông. George khoác áo vào rồi hỏi chúng tôi thấy thế nào. Harris phán rằng, nếu dùng làm vật treo trên bồn hoa đầu mùa xuân để đuổi chim thì hắn rất tôn trọng chiếc áo; nhưng xét trên phương diện một món đồ thời trang dành cho con người, trừ mấy gã da đen hát dạo ở Margate out, thì nó làm hắn muốn buồn nôn. George dỗi ra mặt; nhưng như Harris đã nói, nếu không muốn nghe ý kiến thì hỏi làm cái quái gì?

Điều làm Harris và tôi lo lắng nhất về chiếc áo đó là chúng tôi e rằng nó sẽ thu hút mọi sự chú ý vào con thuyền của mình.

Các cô gái khi ngồi trên thuyền trông cũng chẳng tồi chút nào, miễn là ăn mặc đẹp đẽ. Theo tôi, không có gì cuốn hút hơn một bộ trang phục đi thuyền có gu. Tuy nhiên, các quý cô cũng nên hiểu cho rằng, một "trang phục đi thuyền" phải là thứ mặc được trên thuyền chứ không phải loại chỉ để chưng trong tủ kính. Chuyến dạo chơi sẽ bị hỏng bét nếu trên thuyền có những người suốt ngày chỉ chăm chăm lo cho bộ váy áo của họ hơn là tận hưởng chuyến đi. Tôi từng gặp xui xẻo một lần khi đi dã ngoại trên sông với hai quý cô thuộc thể loại này. Ôi chao, một trải nghiệm thật là "sôi động"!

Cả hai cô đều ăn bận cầu kỳ vô cùng—toàn ren với lụa, hoa lá, ruy-băng, rồi giày điệu đàng cùng găng tay sáng màu. Nhưng họ hợp để đứng trong tiệm chụp ảnh hơn là đi dã ngoại trên sông. Đó là những "trang phục đi thuyền" cắt ra từ tạp chí thời trang Pháp. Thật lố bịch khi lê lết những thứ đó ở bất kỳ nơi đâu gần với đất, trời và nước thật.

Mối bận tâm đầu tiên của họ là chê thuyền không sạch. Chúng tôi đã phủi sạch bụi trên tất cả các chỗ ngồi cho họ, rồi đoan đoan chắc chắn là thuyền đã sạch lắm rồi, nhưng họ đâu có tin. Một cô dùng ngón tay trỏ của chiếc găng đang đeo quệt vào đệm ghế rồi đưa kết quả cho cô kia xem, cả hai cùng thở dài rồi ngồi xuống với thần thái của những tín đồ Đấng Christ tử đạo thời kỳ đầu đang cố tự làm mình dễ chịu trước khi bị thiêu trên cọc gỗ. Đã chèo thuyền thì thỉnh thoảng không tránh khỏi việc làm bắn chút nước, và có vẻ như chỉ một giọt nước thôi cũng đủ hủy hoại những bộ trang phục ấy. Vết nước không bao giờ mất đi, và một vết ố sẽ ở lại trên bộ váy mãi mãi.

Tôi ngồi ở vị trí chèo chính. Tôi đã cố hết sức mình. Tôi nhấc mái chèo cao hẳn hai foot khỏi mặt nước, dừng lại một nhịp ở cuối mỗi nhịp chèo để nước dốc hết khỏi lưỡi chèo trước khi đưa về phía trước, và lần nào tôi cũng chọn đúng vùng nước phẳng lặng nhất để thả lưỡi chèo xuống. (Gã ngồi ở vị trí chèo phụ sau một hồi đã bảo rằng gã thấy mình chưa đủ trình độ chèo thuyền để sóng đôi cùng tôi, nhưng gã xin phép được ngồi yên quan sát nhịp chèo của tôi. Gã bảo gã thấy rất hứng thú.) Thế nhưng, mặc cho tất cả những nỗ lực ấy và dù tôi có cố gắng thế nào đi nữa, tôi vẫn không thể ngăn được vài giọt nước thỉnh thoảng lại bắn lên những bộ váy kia.

Các cô gái không phàn nàn một lời, nhưng họ co rúm người lại sát bên nhau, mím chặt môi, và mỗi lần có giọt nước nào chạm vào người, họ lại giật mình chực run lên thấy rõ. Nhìn họ chịu đựng trong âm thầm như thế thật là một nghĩa cử cao đẹp, nhưng nó lại làm tôi hoàn toàn hoảng loạn. Tôi vốn quá nhạy cảm. Tay chèo của tôi bắt đầu trở nên loạn nhịp và thất thường, tôi càng cố không làm bắn nước thì nước lại càng bắn tung tóe.

Cuối cùng tôi đành chịu thua; tôi bảo tôi sẽ chuyển sang chèo ở vị trí phụ. Gã chèo phụ cũng nghĩ sự sắp xếp đó sẽ tốt hơn, thế là chúng tôi đổi chỗ cho nhau. Hai quý cô thở phào nhẹ nhõm một cách vô thức khi thấy tôi dời đi, và sắc mặt họ rạng rỡ hẳn lên trong giây lát. Tội nghiệp các cô gái! Thà rằng họ cứ chịu đựng tôi thì hơn. Gã vừa tiếp quản vị trí chèo chính lại là một gã vui vẻ, vô tư nhưng đầu óc thì phẳng lì, mức độ nhạy cảm của gã chắc cũng chỉ ngang ngửa một chú chó con giống Newfoundland. Bạn có thể giương mắt nhìn gã đầy hình viên đạn suốt một giờ đồng hồ mà gã chẳng buồn bận tâm, hoặc nếu có nhận ra gã cũng chẳng lấy làm phiền. Gã vung những nhịp chèo dồn dập, mạnh mẽ làm bọt nước tung tòe khắp thuyền như vòi phun nước, khiến cả hội phải ngồi thẳng lưng ngay lập tức. Khi gã xối hẳn hơn một pint nước lên một trong những bộ váy ấy, gã chỉ nở một nụ cười tươi xắn rồi bảo:

"Tôi xin lỗi nhé, thật đấy;" rồi đưa chiếc khăn tay của mình cho họ để lau khô.

"Ồ, không sao đâu ạ," các cô gái tội nghiệp thào thào đáp lại, rồi lén lút kéo thảm và áo khoác phủ lên người, cố dùng những chiếc ô ren để che chắn.

Đến giờ ăn trưa, họ lại trải qua một khoảng thời gian tồi tệ. Mọi người muốn họ ngồi xuống cỏ, nhưng cỏ thì đầy bụi; còn những thân cây mà mọi người mời họ dựa vào thì có vẻ như cả tuần rồi chưa ai quét bụi; thế là họ trải khăn tay của mình xuống đất rồi ngồi lên đó, lưng thẳng tắp như cột nhà. Có gã nào đó vừa đi loanh quanh vừa cầm đĩa bánh pie thịt bò thì vấp phải rễ cây, làm cái bánh bay tung xé gió. May mắn là không có miếng nào văng vào người hai cô, nhưng tai nạn đó lại gợi ra một mối nguy hiểm mới làm họ hoảng hốt; từ đó trở đi, hễ có ai di chuyển mà cầm theo thứ gì có thể rơi vỡ hay gây bẩn là họ lại nơm nớp theo dõi gã đó với niềm lo âu ngày càng tăng cho đến khi gã chịu ngồi xuống mới thôi.

"Nào các cô gái," gã chèo phụ của chúng ta cất giọng vui vẻ bảo họ sau khi bữa ăn kết thúc, "lại đây nào, đến lượt các cô rửa bát đấy!"

Mới đầu họ chẳng hiểu gã nói gì. Khi đã hiểu ra ý gã, họ bảo họ e rằng họ không biết rửa bát.

"Ồ, tôi sẽ chỉ cho ngay đây," gã reo lên; "vui lắm đấy! Các cô chỉ cần nằm úp—ý tôi là nhoài người qua bờ sông, rồi quấy quấy mấy cái đồ này trong nước ấy."

Người chị cả bảo rằng cô e là họ mặc bộ váy không phù hợp cho công việc này.

"Ôi, không sao đâu mà," gã vô tư nói; "xắn nó lên là được."

Và gã bắt họ làm thật. Gã bảo với họ rằng mấy trò kiểu này mới là một nửa niềm vui của dã ngoại. Họ đành ngậm ngùi bảo rằng điều đó thật là thú vị.

Giờ ngẫm lại, không biết anh thanh niên đó có thực sự đần độn như chúng tôi nghĩ không? Hay là gã—không, không thể nào! Trông gã có một vẻ mặt ngây thơ, trong sáng như một đứa trẻ thế cơ mà!

Harris muốn lên bờ ở Nhà thờ Hampton để đi xem lăng mộ của bà Thomas.

"Bà Thomas là ai?" Tôi hỏi.

"Làm sao tớ biết được?" Harris đáp. "Bà ấy là một quý bà có cái mộ rất buồn cười, và tớ muốn xem nó."

Tôi phản đối. Tôi không biết có phải cấu tạo con người tôi có vấn đề gì không, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ thấy thèm thuồng việc đi ngắm bia mộ cả. Tôi biết rằng việc nên làm khi đến một ngôi làng hay một thị trấn là lao ngay ra nghĩa trang giáo xứ để tận hưởng những ngôi mộ; nhưng đó là một hình thức giải trí mà tôi luôn từ chối tham gia. Tôi chẳng thấy có chút hứng thú nào trong việc đi mò mẫm quanh những ngôi nhà thờ tối tăm, lạnh lẽo sau lưng mấy ông lão khẹc khẹc ho hen để đọc các dòng bia điệp. Ngay cả việc nhìn thấy một miếng đồng nứt nẻ gắn vào tấm đá cũng chẳng mang lại cho tôi cái thứ mà tôi gọi là hạnh phúc thực sự.

Tôi làm cho mấy ông từ giữ nghĩa trang đứng đắn phải bàng hoàng bởi sự thản nhiên đến tráo trở của mình trước những dòng chữ khắc đầy tự hào, cũng như sự thiếu hào hứng của tôi đối với lịch sử các gia tộc địa phương, trong khi sự sốt ruột muốn bước ra ngoài mà tôi cố che giấu lại làm tổn thương tình cảm của họ.

Vào một buổi sáng nắng vàng rực rỡ, tôi tựa mình vào bức tường đá thấp bao quanh một ngôi nhà thờ làng nhỏ bé, tôi hút thuốc và hít hà niềm niềm vui trọn vẹn, sâu lắng từ khung cảnh thanh bình, êm ả—ngôi nhà thờ cổ màu xám với những chùm dây thường xuân bao phủ và chiếc cổng gỗ chạm khắc cổ kính, con đường nhỏ màu trắng ngoằn ngoèo đổ xuống đồi giữa hai hàng cây du cao vút, những mái nhà tranh lấp ló sau những hàng rào được cắt tỉa gọn gàng, dòng sông bạc lung linh dưới thung lũng, và những ngọn đồi phủ đầy cây xanh ở phía xa!

Đó là một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp. Nó mang nét thơ mộng, trữ tình và tiếp thêm nguồn cảm hứng cho tôi. Tôi cảm thấy mình thật tốt đẹp và cao quý. Tôi cảm thấy mình không muốn sống tội lỗi và xấu xa nữa. Tôi muốn đến đây sinh sống, không bao giờ làm điều gì sai trái nữa, sống một cuộc đời thanh cao, đẹp đẽ, và khi về già sẽ có mái tóc bạc phơ, cùng tất cả những điều tuyệt vời tương tự.

Trong khoảnh khắc đó, tôi đã tha thứ cho tất cả bạn bè và người thân vì những sự xấu xa và đần độn của họ, và tôi cầu phúc cho họ. Họ nào đâu biết rằng tôi đang cầu phúc cho họ. Họ vẫn tiếp tục đi trên con đường tội lỗi của mình mà hoàn toàn không hay biết những gì tôi, ở một nơi xa xôi trong ngôi làng yên bình này, đang làm cho họ; nhưng tôi đã làm điều đó, và tôi ước mình có thể cho họ biết tôi đã làm vậy, bởi vì tôi muốn làm họ hạnh phúc. Tôi đang mải mê chìm đắm trong những suy nghĩ cao đẹp và dịu dàng ấy thì sự mơ mộng của tôi bị ngắt quãng bởi một giọng nói chan chát cất lên:

"Được rồi ngài ơi, tôi đến đây, tôi đến đây. Không sao đâu ngài, ngài đừng có vội."

Tôi ngước nhìn và thấy một ông lão hói đầu đang khập khiễng đi qua nghĩa trang về phía tôi, tay cầm một chùm chìa khóa khổng lồ rung lên lách cách theo từng bước chân.

Tôi xua tay ra hiệu cho ông ta đi đi với một sự uy nghiêm lặng lẽ, nhưng ông ta vẫn tiến lại gần, vừa đi vừa kêu lớn:

"Tôi đến đây ngài ơi, tôi đến đây. Chân tôi hơi thọt chút. Tôi không còn nhanh nhẹn như trước nữa. Lối này thưa ngài."

"Đi đi, gã lão già tội nghiệp kia," tôi nói.

"Tôi đã đến nhanh nhất có thể rồi ngài ơi," ông ta đáp. "Bà nhà tôi vừa mới nhìn thấy ngài xong. Ngài đi theo tôi."

"Đi đi," tôi nhắc lại; "biến đi trước khi tôi trèo qua tường và hạ sát ông đấy."

Ông ta có vẻ ngạc nhiên.

"Ngài không muốn xem mấy ngôi mộ sao?" Ông ta hỏi.

"Không," tôi trả lời, "tôi không muốn. Tôi muốn đứng yên ở đây, tựa vào cái bức tường đá cũ kỹ thô ráp này. Đi đi và đừng quấy rợn tôi. Tôi đang tràn ngập những suy nghĩ đẹp đẽ và cao quý, và tôi muốn giữ nguyên như thế vì cảm giác thật dễ chịu và tốt lành. Đừng có đến đây làm trò hề khiến tôi nổi giận, xua đuổi hết những cảm xúc tốt đẹp của tôi bằng mấy cái trò bia mộ vớ vẩn này của ông. Đi đi, và nhờ ai đó chôn cất ông cho rẻ vào, tôi sẽ trả một nửa chi phí."

Ông ta bối rối trong giây lát. Ông ta dụi mắt và nhìn chằm chằm vào tôi. Trông bề ngoài tôi có vẻ giống người bình thường: ông ta không thể hiểu nổi.

Ông ta nói:

"Ngài là người lạ ở vùng này sao? Ngài không sống ở đây à?"

"Không," tôi nói, "tôi không sống ở đây. Nếu tôi sống ở đây thì ông đã chẳng ở đây rồi."

"Ồ vậy thì," ông ta nói, "ngài hẳn là muốn xem mấy ngôi mộ—mấy cái huyệt—những người đã được chôn cất ấy, ngài biết đấy—mấy cái quan tài!"

"Ông là kẻ dối trá," tôi đáp, bắt đầu nổi gân cổ; "tôi không muốn xem mộ—nhất là mộ của ông. Tại sao tôi phải xem chứ? Gia đình chúng tôi cũng có mộ riêng vậy. Chú Podger của tôi có một ngôi mộ ở Nghĩa trang Kensal Green, đó là niềm tự hào của cả vùng đó; còn hầm mộ của ông ngoại tôi ở Bow có thể chứa được tám người vào thăm, trong khi bà cô Susan của tôi có một ngôi mộ gạch ở Nghĩa trang Nhà thờ Finchley, có bia đá chạm nổi hình cái ấm pha cà phê và một dải đá trắng tốt nhất rộng sáu inch bao quanh toàn bộ, tốn đến hàng bảng Anh. Khi tôi muốn ngắm mộ, tôi sẽ đến những nơi đó mà thưởng thức. Tôi không muốn ngắm mộ của người khác. Khi nào chính ông được chôn xuống, tôi sẽ đến thăm mộ của ông. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm cho ông."

Ông ta bật khóc. Ông ta bảo rằng một trong những ngôi mộ có một mảnh đá ở trên đỉnh mà một số người nói có lẽ là một phần còn lại của bức tượng hình người, và một ngôi mộ khác có vài chữ chạm khắc trên đó mà chưa ai từng đọc được.

Tôi vẫn ngoan cố không lay chuyển, và với giọng điệu tan nát con tim, ông ta nói:

"Vậy ngài không vào xem cửa sổ tưởng niệm sao?"

Tôi thậm chí chẳng buồn xem cái đó, thế là ông ta tung ra quân bài cuối cùng. Ông ta tiến lại gần, khàn khàn thì thầm:

"Tôi có một đôi đầu lâu dưới hầm mộ đấy," ông ta nói; "vào xem đi ngài. Ôi, vào xem mấy cái đầu lâu đi! Ngài là một thanh niên đi nghỉ mát, ngài muốn được vui vẻ mà. Vào xem mấy cái đầu lâu đi!"

Thế là tôi quay lưng bỏ chạy, và khi tôi lao đi, tôi vẫn nghe thấy ông ta gọi với theo:

"Ôi, vào xem mấy cái đầu lâu đi; quay lại xem mấy cái đầu lâu đi!"

Thế nhưng Harris lại mê mẩn mấy cái lăng mộ, mồ mả, bia đúp, và những dòng chữ tưởng niệm, và nghĩ đến việc không được xem mộ của bà Thomas làm hắn phát điên. Hắn bảo hắn đã mong chờ được xem mộ của bà Thomas ngay từ khoảnh khắc đầu tiên chuyến đi này được đề xuất—hắn bảo hắn sẽ không tham gia nếu không vì ý định đi xem lăng mộ của bà Thomas.

Tôi nhắc hắn nhớ đến George, và việc chúng tôi phải đưa thuyền đến Shepperton trước năm giờ để gặp hắn, thế là hắn chĩa mũi nhọn sang George. Tại sao George lại được đi chơi bời dông dài cả ngày, để mặc chúng tôi tự xoay xở với cái sà xà cồng kềnh, nặng chịch này ngược xuôi dòng sông để đến đón hắn? Tại sao George không đến mà làm chút việc đi? Tại sao hắn không xin nghỉ một ngày rồi đi cùng chúng tôi? Ngân hàng cái quái gì chứ! Hắn làm được cái tích sự gì ở ngân hàng cơ chứ?

"Tớ chẳng bao giờ thấy hắn làm việc gì ở đó cả," Harris tiếp tục, "mỗi lần tớ bước vào. Hắn ngồi sau một tấm kính suốt cả ngày, cố tỏ ra như thể mình đang làm cái gì đó. Một gã ngồi sau tấm kính thì có tác dụng gì chứ? Tớ phải làm việc để kiếm sống đây này. Tại sao hắn không làm việc? Hắn ở đó có ích gì, và mấy cái ngân hàng của họ thì có lợi gì? Họ cầm tiền của mình, rồi đến khi mình rút séc, họ lại gửi trả về với một đống dấu lem luốc ghi 'Không đủ tiền trả', 'Hỏi lại người ký phát'. Thế thì có lợi gì cơ chứ? Mấy cái trò kiểu đó họ làm với tớ hai lần tuần trước rồi đấy. Tớ không chịu đựng thêm nữa đâu. Tớ sẽ rút hết tài khoản. Nếu hắn ở đây, chúng ta đã có thể đi xem ngôi mộ đó rồi. Tớ chẳng tin hắn đang ở ngân hàng đâu. Hắn đang la cà ở đâu đó thì có, đấy là những gì hắn đang làm, bỏ mặc chúng ta làm hết mọi việc. Tớ sẽ lên bờ làm một ly đây."

Tôi chỉ cho hắn thấy rằng chúng tôi đang cách xa quán rượu hàng dặm; thế là hắn lại cằn nhằn về dòng sông, và dòng sông thì có ích gì, và liệu có phải ai đến đây cũng đều phải chết vì khát hay không?

Tốt nhất là cứ để cho Harris xả hết cơn giận khi hắn trở nên như thế này. Khi xả hết hơi rồi, hắn sẽ ngoan ngoãn trở lại thôi.

Tôi nhắc hắn rằng trong giỏ đồ ăn có nước chanh đậm đặc, và ở mũi thuyền có một hũ nước một gallon, chỉ cần pha hai thứ đó lại là có một món đồ uống mát lạnh và sảng khoái.

Thế là hắn lại phát tiết về nước chanh, và "mấy thứ nước nhạt nhẽo của trường chủ nhật" như hắn gọi, nào là bia gừng, xirô dâu, v.v. Hắn bảo mấy thứ đó đều gây ra bệnh tỳ vị trướng mãn, hủy hoại cả thể xác lẫn tâm hồn, và là nguyên nhân của một nửa số tội ác ở nước Anh.

Tuy nhiên, hắn bảo hắn vẫn phải uống cái gì đó, thế là hắn trèo lên ghế, nhoài người ra để lấy chai nước. Nó nằm ngay dưới đáy giỏ đồ ăn và có vẻ khó tìm, thế là hắn phải nhoài người ngày càng xa hơn, và trong lúc cố gắng bẻ lái cùng lúc từ một góc nhìn lộn ngược, hắn đã kéo nhầm dây lái, làm con thuyền lao thẳng vào bờ sông; cú va chạm khiến hắn mất thăng bằng và cắm đầu chổng ngược ngay vào trong giỏ đồ ăn, đứng gieo mình ở đó, hai tay bám chặt lấy thành thuyền như chết trôi, còn hai chân thì chổng ngược lên trời. Hắn không ngần cử động vì sợ lật thuyền, và đành phải nằm yên ở đó cho đến khi tôi có thể tóm lấy chân hắn và kéo hắn trở lại, và điều đó càng làm hắn phát điên hơn bao giờ hết.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jerome K. Jerome

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.