Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Những Cánh Cổng Vàng Đã Khép Lại

❊ ❊ ❊

Thế là Tom tiếp tục học đến học kỳ thứ năm của năm thứ hai—cho đến khi tròn mười tuổi—tại King’s Lorton, trong khi Maggie lớn vụt lên với tốc độ mà các dì coi là vô cùng đáng trách, tại trường nội trú của cô Firniss ở thị trấn cổ Laceham bên bờ sông Floss, cùng với người họ hàng Lucy làm bạn đồng hành. Trong những bức thư đầu gửi cho Tom, con bé luôn gửi lời hỏi thăm đến Philip và gặng hỏi rất nhiều điều về cậu, nhưng chỉ nhận được những câu đáp ngắn ngủi về cơn đau răng của Tom, hay về một ngôi nhà bằng cỏ mà cậu đang phụ giúp xây dựng trong vườn, cùng vài chuyện vặt vãnh tương tự. Con bé lấy làm tiếc khi nghe Tom kể trong kỳ nghỉ rằng Philip lại kỳ cục như xưa và hay cáu gắt. Nó nhận ra họ không còn là đôi bạn thân thiết nữa; và khi nó nhắc Tom rằng em phải luôn yêu quý Philip vì cậu đã đối xử rất tốt với em lúc chân em bị thương, Tom đáp: “Thì đâu phải lỗi tại em; em có làm gì cậu ấy đâu.” Suốt những năm tháng đi học còn lại, hầu như chẳng bao giờ nó gặp lại Philip; vào kỳ nghỉ hè, cậu luôn đi nghỉ ở miền biển, còn vào dịp Giáng sinh, nó chỉ có thể chớp nhoáng chạm mặt cậu trên đường phố St Ogg’s. Khi chạm mặt, nó nhớ lại lời hứa hôn sẽ hôn cậu, nhưng với tư cách là một thiếu nữ đã từng học nội trú, giờ đây nó thừa hiểu một cách chào hỏi như thế là điều không thể, và Philip cũng chẳng trông mong gì điều đó. Lời hứa ấy đã trở nên vô hiệu, giống như bao lời hứa ngọt ngào nhưng hão huyền khác của tuổi thơ chúng ta; vô hiệu như những lời thề nguyện chốn Địa Đàng trước khi các mùa thay đổi, và khi những đóa hoa lấp lánh mọc kề bên quả đào đang chín mọng—một điều không thể thực hiện nổi một khi những cánh cổng vàng đã khép lại.

Nhưng khi cha chúng thực sự vướng vào vụ kiện kéo dài đã lâu, và Wakem, với tư cách là kẻ đại diện cho cả Pivart lẫn Old Harry, đang chống lại ông, thì ngay cả Maggie cũng mang theo nỗi buồn thầm kín rằng họ có lẽ chẳng bao giờ còn có thể thân thiết với Philip được nữa; chính cái tên Wakem cũng đủ khiến cha nó nổi giận, và nó từng nghe ông nói rằng nếu cái thằng con trai gù lưng ấy sống để thừa hưởng những tài sản bất nghĩa của cha nó, thì sẽ có một lời nguyền giáng xuống đầu hắn. “Con hãy bớt giao du với nó ở trường hết mức có thể nhé, con trai,” ông bảo Tom; và mệnh lệnh ấy càng được tuân thủ dễ dàng hơn bởi lúc bấy giờ ông Stelling đã nhận thêm hai học sinh nữa; vì dẫu cho sự thăng tiến ở đời của vị quý ông này không diễn ra với tốc độ tựa sao băng như những kẻ hâm mộ tài hùng biện ứng khẩu của ông từng kỳ vọng đối với một mục sư có tiếng nói đòi hỏi một không gian rộng lớn đến thế, thì ông vẫn có đủ sự thịnh phát đang lên để cho phép bản thân gia tăng chi tiêu vượt mức thu nhập một cách triền miên.

Còn về con đường học vấn của Tom, nó cứ trôi qua với vẻ đơn điệu nhàm chàm như cối xay, tâm trí cậu vẫn tiếp tục vận hành với nhịp đập chậm chạp, ngột ngạt giữa một môi trường chứa đầy những ý tưởng nhạt nhẽo hoặc khó hiểu. Thế nhưng qua mỗi kỳ nghỉ, cậu lại mang về nhà những bức tranh ngày càng lớn hơn với kỹ thuật tả cảnh mượt mà như lụa, những bức tranh màu nước với sắc xanh tươi rói, cùng những cuốn vở bài tập và bài toán đầy ắp mà nét chữ lại càng đẹp hơn bởi cậu đã dồn hết tâm trí vào đó. Mỗi kỳ nghỉ, cậu lại mang về nhà một hoặc hai cuốn sách mới, đánh dấu bước tiến của mình qua các chặng đường lịch sử, giáo lý Cơ đốc và văn học Latinh; và chặng hành trình ấy không phải là không mang lại kết quả, bên cạnh việc sở hữu những cuốn sách. Tai và lưỡi của Tom đã quen thuộc với rất rất nhiều từ ngữ và cụm từ được xem là dấu hiệu của một người có học thức; và dẫu cậu chưa bao giờ thực sự đặt tâm trí vào bất kỳ bài học nào, thì các bài học ấy cũng để lại một lớp cặn gồm những khái niệm mơ hồ, rời rạc, vô tích sự. Ông Tulliver, khi nhìn thấy những dấu hiệu học vấn vượt ngoài tầm phán đoán của chính mình, liền nghĩ rằng việc học hành của Tom có lẽ chẳng có gì đáng ngại; quả thực, ông nhận thấy chẳng có bản đồ nào cả, và cũng chẳng có đủ những bài “làm toán”; nhưng ông không hề đưa ra lời phàn nàn chính thức nào với ông Stelling. Quả là một chuyện rắc rối, việc học hành này; và nếu ông bắt Tom nghỉ học, thì ông có thể gửi nó đi đâu với kết quả khả quan hơn đây?

Vào thời điểm Tom bước vào quý học cuối cùng tại King’s Lorton, những năm tháng đã tạo ra những thay đổi nổi bật ở cậu kể từ ngày ta thấy cậu trở về từ học viện của ông Jacobs. Giờ đây cậu là một thiếu niên cao ráo, đi đứng không hề chút vụng về, và nói năng chẳng chút rụt rè nào ngoài vẻ e ấp pha lẫn niềm tự hào đầy duyên dáng; cậu mặc chiếc áo đuôi tôm và diện cổ áo cứng đứng thẳng, hồi hộp dõi theo lớp lông tơ trên môi, ngày ngày ngắm nghía chiếc dao cạo trinh nguyên mà cậu đã tự sắm cho mình vào kỳ nghỉ trước. Philip đã đi rồi—vào quý mùa thu—để đến miền Nam trú đông vì lý do sức khỏe; và sự đổi thay này góp phần mang lại cho Tom cảm giác chông chênh, phấn khích thường thấy trong những tháng cuối cùng trước khi rời ghế nhà trường. Hơn nữa, vào quý này, đã có chút hy vọng rằng vụ kiện của cha cậu sắp được định đoạt; điều đó khiến viễn cảnh về nhà trở nên trọn vẹn niềm vui hơn. Bởi Tom, người đã thu lượm cái nhìn về vụ kiện từ những cuộc trò chuyện với cha, không hề hoài nghi việc Pivart sẽ bị đánh bại.

Tom đã không nhận được bất kỳ tin tức nào từ nhà trong mấy tuần liền—một thực tế không khiến cậu ngạc nhiên, bởi cha mẹ cậu vốn chẳng hay bày tỏ tình cảm qua những bức thư không cần thiết—thì đến sự ngạc nhiên tột độ của cậu, vào một buổi sáng trời âm u, giá lạnh gần cuối tháng mười một, ngay sau khi bước vào phòng học lúc chín giờ, cậu được thông báo rằng em gái mình đang ở phòng khách. Chính bà Stelling là người đã vào phòng học để báo cho cậu, rồi để cậu tự mình bước vào phòng khách.

Maggie giờ đây cũng đã cao lớn, với mái tóc tết và cuộn tròn; nó cao gần bằng Tom, dù mới chỉ mười ba tuổi; và trông nó thực sự có vẻ già dặn hơn cậu vào khoảnh khắc ấy. Nó đã vứt chiếc mũ vải sang một bên, những bím tóc dày bị đẩy ngược khỏi trán như thể trán nó không chịu nổi gánh nặng thêm ấy, và gương mặt non trẻ của nó mang một vẻ mệt mỏi lạ lùng khi đôi mắt hướng về phía cửa đầy lo âu. Lúc Tom bước vào, nó không nói gì, chỉ tiến lại gần, vòng tay ôm lấy cổ cậu và hôn cậu thật tha thiết. Cậu đã quen với đủ mọi tâm trạng của nó, nên chẳng mảy may lo lắng trước sự nghiêm túc bất thường trong cách chào hỏi của con bé.

“Ơ hay, sao em lại đến sớm thế vào cái buổi sáng lạnh buốt này vậy, Maggie? Em đi xe ngựa à?” Tom hỏi, khi con bé lùi về phía ghế sofa và kéo cậu ngồi cạnh.

“Không, em đi xe khách. Em đi bộ từ ngã ba đường cái vào đấy.”

“Nhưng sao em lại không ở trường? Đã nghỉ lễ đâu nhỉ?”

“Cha gọi em về nhà,” Maggie nói, môi khẽ run rẩy. “Em đã về nhà được ba bốn ngày rồi.”

“Cha không khỏe à?” Tom hỏi, có phần lo lắng.

“Không hẳn đâu,” Maggie đáp. “Cha rất đau khổ, Tom ạ. Vụ kiện đã ngã ngũ, và em đến để báo cho anh vì nghĩ rằng anh nên biết trước khi về nhà, chứ em không nỡ chỉ gửi một lá thư.”

“Cha không thua kiện đấy chứ?” Tom vội vã hỏi, chồm dậy khỏi chiếc ghế sofa và đứng trước mặt Maggie, hai tay đột ngột đút sâu vào túi quần.

“Vâng, anh Tom yêu quý ạ,” Maggie nói, ngước nhìn cậu với đôi mắt run rẩy.

Tom lặng thinh suốt một hai phút, mắt đăm đăm nhìn xuống sàn nhà. Rồi cậu cất lời:

“Vậy là cha sẽ phải trả rất nhiều tiền sao?”

“Vâng,” Maggie đáp, giọng có phần yếu ớt.

“Thôi đành chịu chứ biết sao giờ,” Tom tỏ vẻ can đảm nói, chưa thể hình dung việc mất đi một số tiền lớn sẽ dẫn đến những hệ lụy cụ thể nào. “Nhưng chắc cha bực bội lắm nhỉ?” cậu nói thêm, nhìn Maggie và đinh ninh rằng gương mặt đầy vẻ xúc động của con bé chỉ là cách trẻ con hay làm quá mọi chuyện lên mà thôi.

“Vâng,” Maggie lại đáp nhỏ. Rồi, bị thôi thúc phải nói rõ hơn bởi thái độ vô tư chẳng hay biết gì của Tom, nó cất cao giọng và tuôn ra một mạch như thể những chực trào buột ra khỏi lồng ngực: “Ôi, Tom, cha sẽ mất cả cái cối xay, cả đất đai lẫn mọi thứ; cha chẳng còn lại gì nữa đâu.”

Đôi mắt Tom lóe lên một cái nhìn kinh ngạc hướng về phía nó, trước khi mặt cậu tái mét và run lên bần bật. Cậu không nói năng gì, chỉ lặng lẽ ngồi phịch xuống ghế sofa, thẫn thờ nhìn ra khung cửa sổ đối diện.

Nỗi lo âu về tương lai chưa bao giờ bén mảng vào tâm trí Tom. Cha cậu vẫn luôn cỡi một con ngựa tốt, sống trong một cơ ngơi khang trang, và mang phong thái hào phóng, tự tin của một kẻ có sẵn của ăn của để để dựa vào. Tom chưa từng mộng tưởng rằng cha mình sẽ bị “phá sản”; đó là một dạng bất hạnh mà cậu vẫn thường nghe người ta nhắc đến như một nỗi nhục nhã ê chề, và sự nhục nhã là thứ khái niệm cậu không tài nào gắn kết với bất kỳ người thân nào trong gia đình, nhất là với cha mình. Niềm tự hào kiêu hãnh về gia phong vốn là một phần bầu không khí mà Tom sinh ra và lớn lên. Cậu biết ở St Ogg’s có những kẻ thích làm sang mà chẳng có tiền bạc để chống lưng, và cậu vẫn luôn nghe những người thân quen của mình bàn về hạng người ấy với giọng điệu khinh miệt, chê bai. Cậu mang một niềm tin mãnh liệt, vốn đã trở thành thói quen cả đời và chẳng cần đến bằng chứng xác thực nào để bấu víu, rằng cha mình có thể vung tay tiêu xài thỏa thích nếu ông muốn; và kể từ khi việc học hành dưới sự dẫn dắt của ông Stelling mang lại cho cậu một cái nhìn tốn kém hơn về cuộc sống, cậu vẫn thường nghĩ rằng khi lớn lên, cậu sẽ làm rạng danh thiên hạ với cỗ mãng xà, bầy chó săn, chiếc yên cương cùng những vật dụng bảnh tỏn khác của một tay công tử bột, đồng thời chứng tỏ bản thân chẳng hề thua kém bất kỳ bạn bè đồng trang lứa nào ở St Ogg’s—những kẻ có thể tự cho mình đứng trên cậu một bậc trong xã hội chỉ vì cha họ hành nghề trí thức hoặc sở hữu những xưởng ép dầu lớn. Còn về những lời tiên đoán hay cái lắc đầu ngao ngán của các ông dì bà bác, chúng chưa từng tác động dù chỉ một chút đến cậu, ngoại trừ việc khiến cậu nghĩ rằng họ hàng bên nội ngoại quả là những kẻ khó ưa; cậu đã nghe họ chê bai bằng cái giọng điệu y hệt như thế từ thủa còn thơ bé. Cha cậu rõ đời hơn họ nhiều.

Lớp lông tơ đã nhú trên môi Tom, thế nhưng những suy nghĩ và kỳ vọng của cậu cho đến nay vẫn chỉ là sự tái hiện, dưới những hình thái đổi khác, của những giấc mơ thơ trẻ mà cậu từng ôm ấp từ ba năm về trước. Giờ đây, cậu bừng tỉnh trong một cú sốc dữ dội.

Maggie sợ hãi trước sự im lặng tái nhợt và run rẩy của Tom. Vẫn còn một điều nữa cần phải nói với cậu—một điều tồi tệ hơn. Cuối cùng, nó vòng tay ôm lấy cậu và nghẹn ngào cất lời:

“Ôi, Tom—anh Tom yêu quý, anh đừng dằn vặt quá; hãy cố gắng chịu đựng qua chuyện này nhé.”

Tom thẫn thờ quay má đón nhận những cái hôn nài nỉ của em, và khóe mắt cậu rưng rưng ngấn lệ, chỉ chực dùng tay quẹt đi. Hành động ấy dường như đã vực cậu dậy, bởi cậu tự xốc người lại và nói: “Anh sẽ về nhà cùng em, Maggie. Chẳng phải cha đã dặn là anh được về đấy chứ?”

“Không, Tom, cha không muốn thế đâu,” Maggie nói, nỗi lo lắng về tâm trạng của anh đã tiếp cho nó sức mạnh để chế ngự cơn xúc động. Liệu anh sẽ làm gì khi nó kể hết mọi chuyện đây? “Nhưng mẹ muốn anh về—tội nghiệp mẹ quá!—mẹ khóc nhiều lắm. Ổi, Tom, ở nhà kinh khủng lắm anh ạ.”

Môi Maggie tái ngoét đi, và nó bắt đầu run rẩy chẳng khác nào Tom lúc nãy. Hai đứa trẻ tội nghiệp cứ thế bấu víu chặt lấy nhau, run lẩy bẩy—đứa thì vì một nỗi sợ hãi mơ hồ chưa hình hài, đứa thì vì hình ảnh của một thực tại phũ phàng đến tột cùng. Khi Maggie cất lời, tiếng nói ấy gần như chỉ là một tiếng thì thầm.

“Và—và—tội nghiệp cha……”

Maggie không tài nào thốt lên lời. Nhưng sự chờ đợi lấp lửng ấy thật quá sức chịu đựng đối với Tom. Ý nghĩ mơ hồ về việc phải vào tù vì nợ nần chính là hình hài mà nỗi sợ hãi của cậu bắt đầu mang lấy.

“Cha đâu rồi?” cậu số ruột hỏi. “Nói cho anh biết đi, Maggie.”

“Cha ở nhà,” Maggie đáp, thấy việc trả lời câu hỏi ấy dễ dàng hơn phần nào. “Nhưng,” nó nói thêm sau một khoảng lặng, “cha không còn được như trước nữa—cha ngã ngựa. Từ dạo ấy cha chẳng nhận ra ai ngoài em—hình như cha mất trí rồi. Ôi cha ơi, cha ơi……”

Cùng với những lời cuối cùng ấy, tiếng nức nở của Maggie bùng lên càng lúc càng dữ dội tựa như không thể kìm nén thêm được nữa sau chuỗi ngày cố gắng gồng mình chống chọi. Tom cảm thấy lồng ngực mình thắt nghẹn lại đến mức chẳng thể rơi lệ; cậu không có cái nhìn rõ mồn một về những khốn khó của gia đình như Maggie, đứa bé đã ở nhà; cậu chỉ cảm nhận được sức nặng đè bẹp của thứ tai ương tưởng chừng không có lấy một lối thoát. Cậu siết chặt vòng tay gần như vô thức quanh người Maggie đang nức nở, nhưng gương mặt cậu cứng đờ và khô khốc lệ, đôi mắt vô hồn—tựa như một bức màn mây đen kịt vừa bất ngờ sụp xuống trên con đường đời của cậu.

Nhưng rồi Maggie nhanh chóng nén lại cơn xúc động; một ý nghĩ duy nhất vừa tác động lên nó tựa như một tiếng động giật mình.

“Chúng ta phải lên đường thôi, Tom, không được chần chừ nữa đâu. Cha sẽ trông chừng em; mình phải đến ngã ba đường lúc mười giờ để kịp đón xe khách.” Nó vừa nói với vẻ quyết đoán vội vã, vừa dụi mắt rồi đứng phắt dậy với lấy chiếc mũ.

Tom ngay lập tức cảm thấy thôi thúc tương lai và cũng đứng bật dậy. “Đợi anh một phút, Maggie,” cậu nói. “Anh phải vào thưa chuyện với ông Stelling cái đã, rồi chúng ta sẽ đi.”

Cậu đinh ninh mình phải vào phòng học nơi các cậu học sinh đang ngồi; nhưng dọc đường, cậu gặp ông Stelling—vợ ông đã kể cho ông nghe chuyện Maggie có vẻ đang gặp rắc rối khi hỏi tìm anh trai, và giờ đây, nghĩ rằng hai anh em đã có đủ khoảng không gian riêng tư, ông đang bước tới để thăm dò và ngỏ lời đồng cảm.

“Thưa thầy, em phải về nhà đây ạ,” Tom đột ngột lên tiếng khi chạm mặt ông Stelling ở hành lang. “Em phải về ngay lập tức cùng em gái em. Cha em vừa thua kiện—ông mất hết sản cơ rồi—và ông đang lâm bệnh nặng.”

Ông Stelling cảm thấy động lòng như một người nhân hậu; ông lường trước khả năng bản thân có thể sẽ chịu thiệt hại về tiền bạc, nhưng điều đó chẳng mảy may chiếm chút tỷ trọng nào trong cảm xúc của ông, trong lúc ông đăm đăm nhìn với ánh mắt đầy thương cảm dành cho hai đứa trẻ mà tuổi trẻ và nỗi buồn đã ập đến cùng một lúc. Khi biết Maggie đã đến bằng cách nào và nó nôn nóng muốn về nhà ra sao, ông liền giục chúng lên đường, chỉ thì thầm dặn dò điều gì đó với bà Stelling—người vừa đi theo ông và lập tức rời khỏi phòng.

Tom và Maggie đang đứng ngoài thềm cửa, sẵn sàng cất bước thì bà Stelling mang ra một chiếc giỏ nhỏ treo lên tay Maggie, vừa dặn dò: “Em nhớ ăn chút gì dọc đường nhé, con yêu.” Cõi lòng Maggie bỗng dâng trào niềm cảm mến dành cho người phụ nữ mà từ trước đến nay nó chưa từng ưa, và nó lặng lẽ cúi đầu hôn bà. Đó là dấu hiệu đầu tiên chớm nở trong lòng đứa trẻ tội nghiệp về thứ cảm giác mới mẻ mà nỗi buồn ban tặng—sức nhạy cảm trước những nghĩa cử thô mộc của tình người, thứ nâng tầm chúng thành một mối dây liên kết chan chứa tình yêu thương, tựa như giữa chốn băng sơn hoang lạnh, sự hiện diện đơn thuần của một người bạn đồng hành bình thường cũng đủ làm khơi nguồn những dòng suối tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn những kẻ kiệt sức.

Ông Stelling đặt tay lên vai Tom và bảo: “Chúa phù hộ em, cậu bé của tôi; hãy cho thầy hay tình hình của em thế rồi ra sao nhé.” Đoạn ông siết nhẹ tay Maggie; nhưng chẳng có lời từ biệt nào được thốt lên thành tiếng. Tom đã từng biết bao lần mộng tưởng về việc cậu sẽ vui sướng nhường nào vào cái ngày được rời ghế nhà trường “vĩnh viễn”! Thế nhưng giờ đây, những năm tháng cắp sách đến trường của cậu lại tựa như một kỳ nghỉ hè đã đi đến hồi kết.

Hai bóng dáng gầy gò, trẻ trung ấy chẳng mấy chốc đã nhạt nhòa trên con đường xa tắp—rồi khuất hẳn sau hàng rào cây xanh nhô ra.

Chúng đã cùng nhau bước ra thế giới buồn đau của cuộc đời, và từ nay sẽ chẳng bao giờ còn nhìn thấy ánh thái dương không bị che khuất bởi những bận lòng vương vấn. Chúng đã bước vào chốn hoang vu đầy gai góc, và những cánh cổng vàng của tuổi thơ đã vĩnh viễn khép lại sau lưng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.