Trong khoảng thời gian đen tối tháng Mười ấy, cuộc bán đấu giá đồ đạc trong nhà kéo dài qua tận giữa ngày thứ hai. Ông Tulliver, trong những lúc tỉnh táo đôi khi bắt đầu tỏ rau cáu kỉnh – thứ dường như trực tiếp làm tái phát những cơn co cứng và bất tỉnh – vẫn nằm trong trạng thái chết sống lờ đờ suốt những giờ phút căng thẳng khi tiếng ồn của phiên đấu giá sát ngay phòng ngủ của ông. Ông Turnbull đã quyết định rằng để ông ở lại chỗ cũ sẽ ít rủi ro hơn là chuyển về căn nhà tranh của Luke – một kế hoạch mà anh Luke tốt bụng từng đề xuất với bà Tulliver, vì nghĩ rằng sẽ rất tệ nếu người chủ nhà “tỉnh giấc” trước tiếng ồn ào của buổi đấu giá; và người vợ cùng các con đã ngồi giam mình trong căn phòng tĩnh lặng, nỡi lỏng nỗi sợ hãi khi nhìn thân hình to lớn đang nằm bất động trên giường, thấp thỏm lo âu rằng khuôn mặt vô hồn kia sẽ bất ngờ có phản ứng trước những âm thanh cứ dội vào tai họ với sự lặp đi lặp lại đến đau lòng và ngoan cố.
Nhưng cuối cùng khoảng thời gian đầy ắp sự chắc chắn bức bách và nỗi hồi hộp đến mỏi mắt ấy cũng đã qua đi. Âm thanh sắc lạnh của một giọng nói, gần như mang âm hưởng kim loại hệt như tiếng gõ búa theo sau nó, đã dứt hẳn; tiếng bước chân dậm huỳnh huỵch trên lối đi rải sỏi cũng đã thưa dần rồi mất hẳn. Khuôn mặt hồng hào của bà Tulliver trông già đi tới mười tuổi chỉ sau ba mươi tiếng đồng hồ vừa qua; tâm trí người phụ nữ tội nghiệp cứ bận rộn đoán già đoán non xem những món đồ yêu thích của mình khi nào thì bị chiếc búa tử thần gõ xuống bán mất; tim bà cứ thắt lại khi nghĩ rằng món này rồi đến món kia sẽ bị đem ra nhận diện trong sự ê chề công khai tại quán Golden Lion; vậy mà suốt thời gian đó bà vẫn phải ngồi lặng thồi, không được phép bộc lộ chút bấn loạn nội tâm nào. Những chuyện như vậy để lại nếp nhăn trên những khuôn mặt từng đầy đặn, và làm cho những sợi tóc bạc – vốn từng trông như được nhuộm trong ánh nắng tinh khôi – ngày một lan rộng. Ngay từ lúc ba giờ, Kezia – người nữ gia nhân tốt bụng nhưng hay cáu kỉnh, kẻ coi tất cả những kẻ đến dự đấu giá là kẻ thù truyền kiếp của mình, với thứ bùn bám dưới giày có chất lượng vô cùng bỉ ổi – đã bắt đầu cọ rửa và dội nước với một nguồn năng lượng được tiếp sức bởi những lời lầm bầm không ngớt về “những kẻ đến để vơ vét đồ đạc nhà người khác,” và coi thường việc làm xước “mặt bàn gỗ gụ mà những người sang trọng hơn chúng ta đã từng phải chịu đựng sự suy nhược tinh thần vì nó.” Cô không cọ rửa bừa bãi, bởi sẽ còn lại thứ bùn bẩn ghê tởm tương tự do những kẻ chưa đến khuân đồ đã mua về để lại; nhưng cô quyết tâm đem lại cho căn phòng khách – nơi tên “heo hút thuốc” là tay thừa phát nha từng ngồi – một vẻ tươm tắt hiếm hoi ít ỏi nhờ sự sạch sẽ và vài món đồ đạc đã được mua lại cho gia đình. Kezia nhất quyết bắt chủ nhân và mấy đứa trẻ phải dùng trà ở căn phòng đó vào tối nay.
Khoảng từ năm đến sáu giờ, gần giờ uống trà thường lệ, cô bước lên lầu và thông báo rằng có người muốn gặp Cậu chủ Tom. Người tìm cậu đang ở dưới bếp, và trong những khoảnh khắc đầu tiên, dưới ánh nến và ánh lửaập lờ, Tom thậm chí còn chẳng mang chút mơ hồ nào về việc mình quen biết cái dáng người hơi mập mạp nhưng lanh lợi ấy – có lẽ lớn hơn cậu chừng hai tuổi – đang nhìn cậu bằng một cặp mắt xanh thẳm nằm giữa vòng tròn tàn nhang, đưa tay giật giật mấy lọn tóc xoăn đỏ rực với vẻ tôn kính rõ mười mươi. Chiếc mũ tròn vành bọc vải dầu, cùng một lớp bùn bóng nhẫy bám trên phần còn lại của trang phục, trông tựa như mấy tấm bảng để viết, gợi lên một nghề nghiệp có liên quan đến thuyền bè; thế nhưng điều đó chẳng giúp gì cho trí nhớ của Tom.
“Chào ngài Tom,” kẻ tóc đỏ cất lời, kèm theo một nụ cười như cố phá vỡ cái vẻ ủ dột do chính hắn tự tạo ra. “Chắc ngài không nhận ra tôi nữa đâu nhỉ,” hắn nói tiếp, khi Tom vẫn tiếp tục nhìn hắn với vẻ dò hỏi; “nhưng tôi muốn được nói chuyện riêng với ngài một lát, làm ơn.”
“Có lửa trong phòng khách đấy, Cậu chủ Tom ạ,” Kezia lên tiếng, vốn là người không muốn rời căn bếp vào đúng lúc then chốt đang nướng bánh mì.
“Vậy đi lối này,” Tom nói, tự hỏi không biết gã thanh niên này có thuộc bến tàu của hãng Guest & Co. hay không, bởi tâm trí cậu cứ hướng hoài về cái địa điểm cụ thể ấy; và bác Deane có thể sai người gọi cậu bất cứ lúc nào để báo rằng có một chỗ làm đang trống.
Ngọn lửa bùng cháy rực rỡ trong phòng khách là thứ ánh sáng duy nhất soi tỏ vài chiếc ghế, chiếc tủ đựng giấy tờ, sàn nhà trơ trụi không thảm và chiếc bàn duy nhất – không, không phải một chiếc bàn; có chiếc bàn thứ hai ở một góc phòng, trên đặt một cuốn Kinh Thánh lớn và vài cuốn sách khác. Sự trống trải mới lạ và trần trụi này là điều Tom cảm nhận được trước tiên, trước khi cậu kịp nhìn lại khuôn mặt cũng được ánh lửa soi sáng ấy – khuôn mặt đang len lén đưa ra một cái nhìn vừa ngượng ngùng vừa dò xét về phía cậu khi một giọng nói hoàn toàn xa lạ vang lên:
“Ủa! Thế ngài không nhớ Bob, cái đứa mà ngài từng tặng con dao bỏ túi cho đấy à, Cậu Tom?”
Ngay khoảnh khắc đó, con dao bỏ túi có phần cán sần sùi được rút ra, và lưỡi dao lớn nhất được bật mở ra như một minh chứng không thể chối cãi.
“Gì cơ! Bob Jakin á?” Tom thốt lên, không giấu vẻ hồ hởi thân thiện cho lắm, bởi cậu cảm thấy hơi xấu hổ về mối thâm tình thuở nhỏ được biểu tượng hóa qua con dao bỏ túi ấy, và chẳng hề chắc chắn chút nào rằng dụng ý gợi nhắc lại chuyện đó của Bob hoàn toàn đáng khen ngợi.
“Vâng, vâng, Bob Jakin đây, nếu phải là Jakin, bởi vì có quá nhiều đứa tên Bob mà ngài từng cùng đi săn sóc sóc vào cái ngày mà tôi ngã cắm đầu từ trên cành cây xuống và thâm tím cả ống chân ấy – nhưng dù sao tôi vẫn tóm chặt được con sóc đấy, mà nó cào ác liệt phết. Và lưỡi dao nhỏ này bị gãy rồi đây này, ngài thấy không, nhưng tôi nhất định không chịu thay lưỡi mới đâu, vì sợ bọn chúng lừa đảo rồi đổi mất con dao khác của tôi, chứ chẳng có lưỡi dao nào trong xứ này bằng nó cả — nó dùng quen tay tôi mất rồi. Và chưa từng có ai cho tôi bất cứ thứ gì ngoài những gì tôi tự kiếm được bằng sự lanh lợi của mình, ngoại trừ ngài, Cậu Tom ạ; trừ phi là lão Bill Fawks đã cho tôi con chó sục thay vì dìm chết nó, mà tôi đã phải cãi nhau với lão một trận tơi bời trước khi lão chịu giao nó cho tôi.”
Bob nói với một thứ tốc độ líu lo, sắc sảo và có phần cao giọng, tuôn một hơi dài đầy ngạc nhiên, rồi sau khi dứt lời liền lấy tay áo âu yếm lau lên lưỡi dao.
“Nào, Bob,” Tom nói với một chút vẻ bề trên, những hoài niệm vừa rồi đã khiến cậu cởi mở và thân thiện hơn mức cần thiết, dù rằng chẳng có phần nào trong mối quen biết với Bob mà cậu nhớ rõ hơn nguyên nhân dẫn đến trận cãi vã khiến hai người đường ai nấy bước; “có chuyện gì ta có thể giúp được cậu không?”
“À, không đâu ngài Tom,” Bob đáp, vừa bấm cụp lưỡi dao lại vừa nhét vào túi quần, nơi hắn dường như đang sờ soạng tìm kiếm thứ gì khác. “Lẽ ra tôi đã không đến tìm ngài vào lúc ngài đang hoạn nạn thế này, và mọi người bảo rằng người chủ nhà – kẻ mà ngày trước tôi từng trông coi chim giúp, và lão từng đánh đòn tôi một trận cho vui khi bắt gặp tôi ăn cắp củ cải – người ta bảo lão sẽ chẳng bao giờ gượng dậy nổi nữa cơ chứ... lẽ ra tôi đã không đến bây giờ để xin ngài cho tôi một con dao khác chỉ vì ngài từng cho tôi một chiếc trước đây. Nếu một tên nện tôi một bầm tím mắt, thế là đủ với tôi rồi; tôi sẽ chẳng đời nào xin hắn thêm cái nữa trước khi tôi kịp tính sổ với hắn; dẫu sao thì một ơn phước cũng đáng giá bằng một tội lỗi thôi. Tôi sẽ chẳng bao giờ thấp đi được đâu, ngài Tom ạ, và ngài chính là cậu nhóc mà tôi quý nhất hồi chúng tôi còn bé tí, dù cho ngài từng nện tôi nhừ tử và chẳng thèm ngó ngàng gì đến tôi nữa. Còn cái thằng Dick Brumby kia kìa, tôi thích nện nó bao nhiêu cũng được; nhưng lạy Chúa! Ngài sẽ thấy chán ngấy việc nện một thằng cu mà chẳng bao giờ khiến nó hiểu nổi ngài muốn nó ném vào cái gì. Tôi từng thấy mấy gã cứ đứng trân trân nhìn đơ cả mắt vào một nhành cây mãi cho đến khi mỏi nhừ ra, trước khi chúng chịu nhận ra cái đuôi con chim không phải là chiếc lá. Thật là uổng công khi đi lại với tụi vô tích sự ấy. Nhưng ngài thì lúc nào cũng cừ khôi trong khoản ném chuẩn, ngài Tom ạ, và tôi hoàn toàn có thể tin tưởng vào ngài khi ngài cầm gậy giáng xuống đúng lúc một con chuột đang chạy, hay một con chồn, hoặc những thứ đại loại thế, trong lúc tôi đang khua bụi rậm.”
Bob vừa lôi ra một chiếc túi vải bố bẩn thỉu, và có lẽ hắn đã không dừng lại lúc đó nếu Maggie không bước vào phòng, ném về phía hắn một cái nhìn đầy ngạc nhiên và tò mò, khiến hắn phải vội vàng đưa tay kéo những lọn tóc đỏ tỏ ý kính trọng đúng mực. Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, cảm giác về căn phòng đã đổi thay ập đến tâm trí Maggie mạnh mẽ đến mức lấn át cả sự hiện diện của Bob. Đôi mắt cô lập tức rời khỏi hắn để hướng đến nơi chiếc tủ sách từng treo; giờ đây chẳng còn gì ngoài khoảng tường hình chữ nhật chưa bị phai màu, và bên dưới là chiếc bàn nhỏ bày cuốn Kinh Thánh cùng vài cuốn sách khác.
“Ôi, Tom!” cô bật kêu lên, hai tay đan chặt vào nhau, “sách đâu rồi? Em tưởng bác Glegg nói bác ấy sẽ mua chúng cơ mà. Không phải thế sao? Đây là tất cả những gì họ chừa lại cho chúng ta ư?”
“Anh nghĩ vậy,” Tom đáp với một vẻ dửng dưng đến liều lĩnh. “Sao họ lại phải mua nhiều sách trong khi họ mua có chút xíu đồ đạc?”
“Ôi, nhưng mà Tom,” Maggie nói, đôi mắt ngấn lệ khi cô lao vội đến chiếc bàn để xem những cuốn sách nào đã được cứu vãn. “Cuốn Hành Trình Của Người Hành Hương cũ kỹ thân thương mà anh từng tô màu bằng mấy hộp màu bé xíu; và bức tranh vẽ người hành hương khoác áo choàng, trông hệt như một con rùa biển ấy – ôi trời ơi!” Maggie nói tiếp, nghẹn ngào nức nở khi lật giở vài cuốn sách ít ỏi, “Em cứ ngỡ chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải rời xa chúng chừng nào còn sống; mọi thứ đang rời bỏ chúng ta rồi! Quãng đời sau này của chúng ta sẽ chẳng còn gì giống như thuở ban đầu nữa!”
Maggie quay phắt đi khỏi bàn và ngã người xuống chiếc ghế, những giọt nước mắt lớn chực trào lăn trên má, hoàn toàn phớt lờ sự hiện diện của Bob – kẻ đang nhìn cô với ánh mắt đờ đẫn của một loài động vật thông minh nhưng câm lặng, với khả năng nhận thức sắc bén hơn cả sự hiểu biết của hắn.
“Nào, Bob,” Tom lên tiếng, cảm thấy rằng chủ đề về sách vở lúc này không đúng lúc cho lắm, “chắc cậu đến đây chỉ vì thấy nhà ta đang gặp hoạn nạn phải không? Cậu thật tốt bụng quá.”
“Tôi sẽ kể ngài nghe cơ sự thế này, Cậu chủ Tom ạ,” Bob vừa nói vừa bắt đầu tháo nút chiếc túi vải bố của mình. “Số là, tôi đã làm thuê trên một chiếc sà lan suốt hai năm nay; tôi kiếm sống bằng cách đó đấy – ngoại trừ những lúc tôi phải trông nom lò hơi, tranh thủ mấy khoảng trống, ở nhà máy của Torry. Nhưng cách đây nửa tháng, tôi gặp được một vận may hiếm có – tôi vẫn luôn nghĩ mình là một đứa may mắn, vì tôi chẳng bao giờ đặt bẫy mà lại không tóm được con gì; nhưng lần này không phải cái bẫy, mà là một đám cháy ở nhà máy của Torry, và tôi đã dập tắt nó, nếu không thì dầu đã bén lửa rồi, và ngài chủ nhà đã thưởng cho tôi mười đồng sovereign; chính tay ngài ấy đưa cho tôi tuần trước đấy. Ban đầu ngài ấy bảo tôi là một thằng nhóc gan dạ – nhưng chuyện đó thì tôi biết thừa từ trước rồi – thế rồi ngài ấy móc ra mười đồng sovereign, và đấy mới là chuyện lạ. Đây này, chúng đây, thiếu đúng một đồng!” Đến đây Bob trút sạch chiếc túi vải bố lên bàn. “Và khi cầm được chúng trong tay, đầu óc tôi sôi sùng sục hệt như một nồi canh, cứ nghĩ xem mình nên theo nghề gì đây, vì có bao nhiêu là nghề tôi đã tong tính đến; còn cái vụ sà lan thì tôi chán ngấy đến tận cổ rồi, vì nó kéo lê thời gian dài dằng dặc như ruột lợn ấy. Và thoạt đầu tôi định sẽ nuôi chồn và chó để làm nghề bắt chuột; rồi sau đó tôi lại nghĩ mình thích một lối sống lớn lao hơn, thứ mà tôi chưa rõ lắm; vì nghề bắt chuột thì tôi đã thấu tận đáy rồi; và tôi cứ nghĩ ngợi mãi, cho đến khi tôi quyết định sẽ làm một tay bán hàng rong – vì bọn họ là những gã ranh mãnh lắm, mấy gã bán hàng rong ấy mà – và tôi sẽ mang theo những món đồ nhẹ nhất có thể trong bọc của mình; và như thế cái lưỡi của một thằng cu mới có đất dụng võ, chứ với lũ chuột hay mấy chiếc sà lan thì cái lưỡi chẳng tích sự gì sất. Rồi tôi sẽ đi khắp muôn nơi khắp chốn, dùng cái lưỡi ngọt ngào để lừa phỉnh mấy bà nội trợ, và được ăn bữa tối nóng hổi ở quán rượu – lạy Chúa! Quả là một cuộc sống tuyệt diệu!”
Bob khựng lại, rồi quả quyết tuyên bố với giọng điệu thách thức, như thể đang dứt khoát quay lưng lại với bức tranh thiên đường ấy:
“Nhưng tôi chẳng màng đến nó nữa đâu, dẫu chỉ một xu! Tôi đã đổi một đồng sovereign để mua cho u tôi con ngỗng ăn mừng lễ, và tôi đã sắm một chiếc áo ghi-lê nhung xanh cùng một chiếc mũ lông hải cẩu – vì đã định làm thợ bán hàng rong thì tôi phải làm cho ra dáng đàng hoàng. Nhưng tôi chẳng tiếc nuối gì sất! Đầu óc tôi không phải củ cải, và chẳng mấy chốc tôi lại có cơ hội dập tắt một đám cháy khác ấy chứ. Tôi là một đứa may mắn mà. Thế nên tôi xin ngài nhận lấy chín đồng sovereign này, ngài Tom ạ, và dùng chúng để gầy dựng lại cơ ngơi cách nào đó, nếu quả thực ngài chủ nhà đã khánh kiệt. Dù số tiền ấy chẳng thấm vào đâu, nhưng ít nhiều cũng sẽ giúp được phần nào.”
Tom cảm động sâu sắc đến mức quên béng đi niềm kiêu hãnh và sự hoài nghi của mình.
“Cậu thật là một người tốt bụng, Bob,” cậu nói, mặt đỏ bừng, kèm theo cái run rẩy dè dặt quen thuộc trong giọng nói – thứ đã mang lại một sức hút nhất định ngay cả cho lòng kiêu hãnh và sự nghiêm nghị của Tom, “và tôi sẽ không bao giờ quên cậu nữa, dù tối nay tôi đã không nhận ra cậu. Nhưng tôi không thể nhận chín đồng sovereign ấy; làm thế chẳng khác nào tôi cướp đi cả gia tài nhỏ nhoi của cậu, mà chúng cũng chẳng giúp ích gì nhiều cho tôi đâu.”
“Không giúp được gì thật sao, ngài Tom?” Bob nói với giọng tiếc nuối. “Xin ngài đừng nói thế chỉ vì nghĩ rằng tôi đang cần chúng nhé. Tôi đâu phải là một gã nghèo túng. U tôi kiếm được khối tiền kha khá từ việc nhặt lông vũ và mấy thứ linh tinh; và dù u có ăn toàn bánh mì với nước lã đi chăng nữa thì người vẫn cứ béo múp míp ra thôi. Hơn nữa tôi lại là một đứa may mắn; và ngài thì xem chừng lại không được may mắn cho lắm, ngài Tom ạ – dẫu sao thì ông cụ nhà ta cũng thế mà – cho nên ngài cứ việc nhận lấy một phần vận may của tôi đi, chẳng tổn hại gì đâu. Chúa ơi! Có bận tôi còn vớt được cả một cái giò heo dưới sông đấy; chắc chắn nó rơi ra từ một trong mấy chiếc thuyền buôn đuôi tròn của người Hà Lan rồi. Nào, ngài hãy nghĩ lại đi, ngài Tom, vì tình nghĩa xưa cũ, bằng không tôi sẽ tưởng là ngài vẫn còn ghim thù tôi đấy.”
Bob đẩy mấy đồng sovereign về phía trước, nhưng trước khi Tom kịp cất lời, Maggie đã đan chặt hai tay vào nhau, nhìn Bob với vẻ đầy hối lỗi và nói:
“Ôi, em tiếc quá, Bob ạ; chưa bao giờ em nghĩ anh lại tốt đến thế. Chà, em thấy anh là người tốt bụng nhất trên đời này đấy!”
Bob vốn chẳng hề hay biết về cái đánh giá sai lầm tệ hại mà Maggie đang thầm sám hối trong lòng, nhưng hắn vẫn mỉm cười sung sướng trước lời ca tụng tốt đẹp ấy – nhất là khi nó thốt ra từ miệng một tiểu thư trẻ tuổi, kẻ mà như hắn đã kể với mẹ vào tối hôm đó, sở hữu “những đôi mắt phi thường đến mức nhìn vào làm hắn có cảm giác bấn loạn chẳng biết ra làm sao.”
“Không được đâu Bob, tôi thực sự không thể nhận chúng,” Tom nói; “nhưng đừng vì tôi từ chối mà nghĩ rằng tôi kém phần trân trọng lòng tốt của cậu nhé. Tôi chẳng muốn nhận bất cứ thứ gì từ ai cả, mà muốn tự mình vươn lên bằng đôi chân của mình. Và những đồng sovereign ấy cũng chẳng giúp ích gì cho tôi nhiều – thực sự là không – nếu tôi cầm lấy chúng. Thay vào đó, hãy để tôi bắt tay cậu nhé.”
Tom chìa bàn tay hồng hào ra, và Bob không chần chừ gì mà đặt ngay bàn tay chai sần, bám đầy muội đen của mình vào trong đó.
“Hãy để em nhặt mấy đồng sovereign bỏ lại vào túi nhé,” Maggie nói; “và khi nào mua xong bọc hàng, anh nhớ ghé thăm chúng em đấy nhé, Bob.”
“Cứ như thể tôi vừa bước ra từ một vở kịch chỉ để đem chúng đến cho hai người xem vậy,” Bob tỏ vẻ bất mãn khi Maggie trả lại chiếc túi cho hắn, “lại còn phải mang chúng về thế này nữa chứ. Ngài biết đấy, tôi cũng hơi ranh mãnh một chút; nhưng không phải kiểu lừa lọc đó đâu – chỉ là khi gặp phải một tên ngốc nghếch hay một gã khờ khạo lớn lao nào đó, tôi thích lừa hắn một vố cho biết mùi đời thế thôi.”
“Nào, đừng có giở trò quỷ quái gì đấy nhé Bob,” Tom nhắc nhở, “kẻo có ngày cậu bị lưu đày đấy.”
“Không, không; đời nào tôi làm thế, ngài Tom,” Bob đáp với vẻ tự tin vui vẻ. “Chẳng có luật nào cấm cắn mọt cả. Nếu tôi không lừa phỉnh mấy gã ngốc đôi ba bận, thì chẳng bao giờ chúng khôn ra được. Nhưng mà này! Xin ngài hãy nhận lấy một đồng sovereign để mua cho ngài và cô chủ nhỏ thứ gì đó đi, coi như là vật kỷ niệm thôi – để xứng đôi với con dao bỏ túi của tôi chứ lị.”
Trong lúc nói, Bob đặt đồng sovereign xuống bàn rồi kiên quyết cuộn chặt chiếc túi lại. Tom đẩy lùi đồng tiền vàng về phía hắn và nói: “Không đời nào, Bob ạ; vô cùng cảm ơn cậu, nhưng tôi không thể nhận nó.” Còn Maggie, cầm đồng tiền giữa những ngón tay, giơ lên trước mặt Bob và nài nỉ bằng giọng tha thiết hơn:
“Không phải bây giờ, nhưng có lẽ là dịp khác. Nếu sau này Tom hay bố em cần sự giúp đỡ mà anh có thể cho, chúng em sẽ nhắn tin cho anh; phải không hả Tom? Đó là điều anh thích phải không – để chúng ta luôn có thể dựa dẫm vào anh như một người bạn mà chúng ta có thể tìm đến – đúng thế không hả Bob?”
“Vâng, thưa cô, và cảm ơn cô,” Bob miễn cưỡng cầm lấy tiền; “đó chính là điều tôi thích đấy, bất cứ thứ gì cô muốn. Và tôi xin phép chào cô, chúc ngài Tom gặp nhiều may mắn, và cảm ơn ngài vì đã bắt tay với tôi, dù ngài không chịu nhận tiền.”
Sự xuất hiện của Kezia với bộ mặt đen sì để hỏi xem cô đã có thể dọn trà lên chưa, hay cứ để bánh mì nướng cứng ngắc như gạch, chính là một lời nhắc nhở kịp thời chặn đứng dòng thác lời nói của Bob và giục giã hắn cúi chào ra về.