Gió cứ thổi qua đồi trọc, ngọn đồi không còn cành cây cọng cỏ nằm phơi xương dưới nắng Phanrang phải chịu thêm ba tháng gió Xalatan miệt mài thổi quyết làm chai lì lớp da vốn đã chai lì của những đồi chết ở phía đông nam làng trong đó ngọn duy nhất nơi có rẫy bắp nhà Saman với cái chòi chỏng chơ được bao bọc bởi mấy khóm trâm bầu cái là còn mang vẻ sống động.
Tôi không có ý làm văn chương tả cảnh, thứ văn sau thành tựu oanh liệt của Tự Lực văn đoàn ít có nhà nào đầu tư thêm, nhất là trong thời buổi tốc độ này. Dù từ chòi này, người ta có thể nhìn lên núi Chàbang lởm chởm đá trắng chất chồng hay quay lại phóng tầm mắt ra phía sau cả trăm mẫu ruộng khô trắng như muốn đe nạt đè bẹp năm sinh thể nhỏ bé đang chụm đầu quanh mâm khô thỏ rừng với mấy két bia, thật đáng để ghi nhận.
Đây là chòi lừng tiếng trong vùng, không phải bởi mình nó dám chống chọi gió Xalatan cuồng nộ suốt mười năm ròng mà bởi hai năm sau bị chính chủ nhân của nó là anh giáo dạy văn cấp II thất bại qua một trận ra quân đánh lớn cuồng nộ nổi lửa đốt trụi.
Văn Khâm đang đọc tờ Công an Thành phố, chốc chốc liếc sang bàn điện thoại: Thak vẫn chưa gọi tới. Sân bay báo đúng mười hai giờ trưa chuyến bay từ Mỹ quá cảnh Osaka đáp sân bay Tân Sơn Nhất. Dù thủ tục nhập cảnh của ta rườm rà tới đâu cũng không hơn ba tiếng đồng hồ được. Đã ba rưỡi, Hà Vân bốn lần hỏi thăm nhưng lúc nào anh cũng trả lời: chưa em ạ. Ba hôm trước, thằng bạn từ Mỹ điện báo cho anh biết dứt khoát ghé anh rồi thuê xe mười hai chỗ ngồi cùng ra Phanrang. Gia đình Thak từ quê vào đón chẳng thấy đâu tăm hơi. Hay Thak, sau mười năm xa quê hương, tranh thủ dạo thành phố đổi mới. Có tiếng gõ cửa: Hà Vân. Cô gái Kinh mê ngôn ngữ Chăm này qua thực tập khi anh lỡ nhận kèm nàng trong cơn ngẫu hứng tại quán bia hơi đường Hai Bà Trưng. Anh cho nàng cạc vizit (lúc này ở ta đang có dịch in cạc vizit). Hôm sau nàng đến. Mang tiếng trí thức Chăm một chữ K đeo lỗ tai không biết: phiền là chỗ đó. Nhưng làm sao có thể chối từ phụ nữ Ywơn mơn mởn hãy còn phòng không này trong khi bà vợ Chăm với ba nhóc ở Krong đã không đoái hoài gì đến anh nữa. Từ ba năm nay. Thế là anh vận dụng kế hoãn binh thứ Bảy sau em lại nhé, anh công tác một tuần về ngay thôi. Tin anh đi. Anh nắm lấy tay nàng thật chặt và lắc lắc: bàn tay mát rười rượi, mèng ơi!
Thế là anh lao sang tôi lúc đó ở khu chung cư Thanh Đa. Tôi ngạc nhiên đến lên tăng-xông trước nhiệt tình quá đáng với tiến bộ nuốt thời gian của anh. Phải học thôi chú nó ạ. Chăm không biết tiếng - chữ Chăm là đồ bỏ đi. Sau này Hà Vân ghé tôi kể nguyên động lực phấn đấu của anh, chúng tôi được một bữa cười rất dễ xa nhau. Vậy đó, thân phận tiếng Chăm tùy thuộc nhiều yếu tố, hoàn cảnh kì lạ trong đó có không ít cái dở mếu dở cười.
Hôm nay nàng cùng anh về quê. Nàng nói nàng đang không việc gì và cần thâm nhập thực tế. Văn Khâm ngồi xích qua bên nhường phần ghế lành cho Hà Vân. Anh đã trao đổi với cửa hiệu bán trả góp cả tuần rồi mà mãi hôm nay họ chưa cho chở bộ bàn ghế mới sang. Ẹ thật!
– Đợi chút nữa em, chắc trục trặc gì đó.
Chuông điện thoại réo. Anh chồm tới chộp lấy ống nghe. Thằng bạn quý với bầy đàn thê tử đã về đến Phan Thiết báo anh biết ông lên xe đò tối nay để mai gặp nhé! Anh tái mặt. Anh không nghĩ Thak tiếc anh chỗ ngồi. Có vấn đề gì đó không ổn. Hắn báo đích xác ngày giờ hắn về đến Sài Gòn, cả ngày giờ lên rẫy Saman nhóm bạn – chỉ ba bạn cũ với nhau cùng đứa lo món nhấp. Đằng này, ví anh giận không đến thì có nhỡ việc rồi sứt mẻ không. Thằng này mãi chưa chừa tật quyết định tréo ngoe, bất tử mà lí thì luôn về hắn.
– Ảnh về chung với gia đình rồi. Anh thở ra một hơi dài, một lát: Chờ anh xíu nhé.
Anh chạy qua nhà ông tổ phó khu phố rồi quay lại bấm số máy Công ty du lịch thành phố.
Gió Xalatan thổi mang từng ánh sóng nắng hất vào đồi tràn qua chòi Saman nấp mình sau vài khóm chùm bầu cái mà lối đi lên anh đã thuộc nằm lòng. Văn Khâm sải bước đi tới, chốc chốc dừng lại chờ Hà Vân để nắm tay nàng kéo lên đoạn dốc. Thak không vồn vã với anh như thường lệ. Và khi ngó sang Hà Vân, hắn cười méo xệch, mặt đỏ như đít ếch.
– Em chào các anh. Hà Vân nói.
– Một nữ phó tiến sĩ ngôn ngữ Chăm và là giảng viên đại học sáng giá. Anh giới thiệu. Khi theo Thak ra sau chòi anh nghe Quân nói to cô nàng có vẻ khoái chàng ra mặt, không biết ông kĩ sư nhà ta đã đè được chưa, anh liền nói to hơn Hà Vân giỏi tiếng Chăm còn hơn tụi mình nữa các vị ơi, đừng hòng nói xấu cô giáo tui đấy nhé. Và cười to.
– Em cũng rất muốn được ông kĩ sư đè lắm nhưng cuộc thi công cũng chưa tới đâu. Nàng nói khi vừa thấy Văn Khâm và Thak quay lại. Mọi người cùng cười. Không khí thân mật hơn.
– Thôi ngồi vào bàn đi các bác. Saman nói. Mời chị…
– Chị với má gì, em tuốt, Văn Khâm nói. Lưu lại đồi gió quét này các vị cứ 333 với Mạc-râu thoải mái do Chăm kiều đãi. Hoan hô những Chăm kiều! Hoan hô Chăm kiều Đàng John Thak. Dẫu tương tư đôla tới đâu vẫn luôn nhớ tìm về quê hương, bằng hữu. Tình quê hương và bằng hữu bất diệt muôn năm!
Tất cả cùng cười to. Và Chăm khi vào bàn thì đâu kể trời trăng gì nữa. Nhất là có thêm phụ nữ lại là phụ nữ Kinh tố chất muôn đời kích thích đàn ông Chăm lao tới và lao tới. Dù như anh bạn nhỏ con của tôi nói cả về phương diện lịch đại và đồng (đương) đại, phụ nữ Kinh luôn là mối kinh hoàng cho Chăm qua kinh nghiệm xương da song chúng ta trót mang máu Po Rome rồi. Lên Tây Nguyên, qua Lào, xuống Mã Lai hay lang bạt khắp vùng miền đất nước, chúng ta không quên vãi gieo hạt giống đầy hào phóng. Không nói đất Quảng xa xưa mà gốc rễ chúng ta đâm chồi đến mười mấy thế kỉ, không kể vùng đất Sở ở ngoại thành Hà Nội ngày nay mà các tù nhân (toàn các nghệ nhân kiệt xuất) từ thời nhà Trần, Lý lưu lại lấy vợ sinh con đẻ cháu, ngay xứ Sàigòn mới mẻ kia thôi, hạt giống và dòng máu chúng ta bàng bạc.
Mười lăm năm lang thang hay đóng đô các tỉnh phía Nam luôn cho tôi những bất ngờ không tưởng: cô sinh viên chào hàng bia Foster's trong một quán ăn đã nhận gốc Chăm chính hiệu từ Bình Định với giấy chứng minh khai họ Chế dân tộc Chăm; ông già chài lưới tận Cà Mau lao tới ôm chầm lấy tôi khi biết tôi Chăm Panduranga thuần chủng (?); nhà sử học khuôn mặt bầu bĩnh trắng như Tàu tự nhận cháu bốn đời của Chăm; một gia đình ở Long Khánh khai sinh dân tộc Kinh nhưng lại treo Ciet ngay giữa xà nhà thay vì bàn thờ tổ tiên. Và khi người ta đồn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay thi sĩ Thanh Thảo mang ít nhiều dòng máu Chăm thì ai dám nói đó chỉ là tin đồn nhảm thất thiệt gây hoang mang?
Thế đấy! Hạt giống chúng ta ban phát khắp trời Đông, hôm nay tiếp tục xuất sang trời Tây tận Âu Mỹ gieo cấy. Nên khi Thak than rằng Chăm kiều ta quá ít không tạo nổi một cộng đồng, đã thế Islam đang lôi kéo Chăm Bàni còn Tin Lành thao túng Chăm Bà-la-môn thì đích thị quê hương tan rã rồi thì Saman bảo cha Haman chớ to cái lo và tuyên bố Cộng đồng Chăm ngày mai không đóng khung bởi đất và nước, không cần khai sinh dân tộc Chăm mà là cái gì vĩ đại hơn, nhân loại hơn. Tôi muốn chính danh: Cộng đồng mở. Nó chỉ chịu thu nhận công dân tự nguyện. Sự liên lạc, sinh hoạt và tình yêu cộng đồng đều vun đắp qua hơi thở trên mạng internet.
– Một sáng kiến vĩ đại vừa khai sinh! Dzô trăm phần trăm để chúc mừng đi. Văn Khâm kêu lên.
– Em sẽ là người đầu tiên làm đơn gia nhập Cộng đồng đó. Hà vân nói.
– Thôi! Tui van quý ông đừng đùa nữa. Ngoài kia đã vậy, trong này chẳng khá hơn. Chiều qua nghe Quân kể tình hình Chăm nội địa mình muốn thúi ruột đây.
– Không đùa đâu. Một ý tưởng đại nghiêm túc đấy.
– Nhưng cho đến khi ý tưởng vĩ mô đại nghiêm túc đó được mang ra thực thi, từ nay chúng ta phải làm gì? Trong khi cả nhân loại đang lao về phía trước bằng những sải bước dài.
– Ngài Chăm kiều đừng lo, quả đất tròn chúng ta cứ thư thả, ngoái lại chắc sẽ thấy họ lọt tọt đằng sau thôi.
– Lại cãi nhau nữa rồi. Mười nhân ba trăm sáu mươi lăm ngày của tháng năm cưỡi lên đầu rồi mà chưa chịu chừa cái tật. Dzô đi! Vui vẻ đi! Văn Khâm nâng cốc.
– Ờ, sung sướng đi. Saman đồng tình. Đừng dại lây bệnh lo xã hội của dân Chakleng đến nửa làng đi soạn từ điển còn nửa kia nghiên cứu lịch để không mống nào chịu giở nó lên xem cả. Hãy quên quá khứ đi, tất cả cho ngày hôm nay. Quên xã hội đi và hãy lo cho mình thôi! Bởi thế giới chỉ tốt đẹp và trong sạch khi cuộc sống của bản thân chúng ta tốt đẹp và trong sạch. Vivekananda, đại sư Bà-la-môn đấy!
– Dẹp mấy thứ tôn giáo ngu dân kia đi. Thực tế, thực tế và thực tế. Thak hét lên, gõ cộc cộc li lên mặt bàn thô bằng gỗ gụ.
– Đừng nóng, đừng nóng. Mình rót đầy cho ngài đây. Văn Khâm nói kéo dài giọng, rót bia. Quay sang Quân:
– Cho thêm đá đi em. Đưa cho Thak: cha Haman cầm lên đi. Thak cầm lên rồi lại để ngay xuống. Ừ, thì thông cảm chú nó về vụ ngăn múi cách giờ. Và để thay đổi bầu không khí …
– Tôi xin trình bày hầu quí vị vài bài … chứ gì. Thak nhại giọng nhạc sĩ Amư Nhân.
– Không, một bài thơ của ông bạn ở Sàigòn, rất ứng hoàn cảnh chúng ta hôm xưa và hôm nay.
KHUÔN MẶT
Ba khuôn mặt như mùa xuân tạc
Mùa xuân ấy xa xôi
Rồi đi - cuốn dòng đời.
Mười năm
Mặt chảy màu bơ mật
Mặt cháy mùi than
Mặt ủ mầm ẩm mốc.
Khuôn mặt nào
Còn đọng chút trời xuân?
– Anh cũng thích thơ à?
– Em làm như anh chỉ biết mê mấy con vít với bù loong. Nên nhớ mỗi Chăm là một nghệ sĩ chưa ló dạng.
– Thi hóa rất ngon lành tư tưởng Vivekananda. Thế giới và cả bản thân chúng ta biến động. Saman này lên rẫy mặt cháy mùi than, anh kĩ sư Văn Khâm suốt ngày ru rú với bàn giấy mặt ủ mầm ẩm mốc, còn ngài Chăm kiều Đàng John Thak mặt chảy màu bơ mật, ai còn giữ được trong tâm hồn chút nắng xuân, ít mây trời tuổi trẻ?
– Mình không ưa thơ. Mình cũng chả ưa gì thơ của tay man mát này.
– Đúng. Sống ở Mỹ mười năm mà ông vẫn bảo tồn được dân tộc tính là rất quý: Chăm có bao giờ ưa nhau đâu!
– Ông đừng chuyện nọ xỏ chuyện kia. Thơ mà giải quyết được quái gì. Thak giận dữ rất kịch. Hắn nói như cãi nhau một nửa thanh niên Thành Tín trôi vào Đồng Nai tìm việc, một phần tư phụ nữ Hữu Đức lên Cao Nguyên đi Cru [1]; dân Hiếu Lễ bỏ trống làng lên Raglai hái bông mướn; hàng ngàn thiếu nữ Chăm kéo nhau vào đạo chỉ với mục đích có nơi nương thân mà học việc… Với cả ngàn vấn đề lớn nhỏ khác nữa. Hỏi chứ tay nhà thơ kia trả lời sao đây?
Hắn nói mười năm đổi mới GDP Chăm nhích lên tới đâu, xã hội Chăm nhích lên tới đâu, hay chỉ lẹt đẹt sinh đẻ có kế hoạch: một phó tiến sĩ, một nhạc sĩ, một họa sĩ, một nhà thơ, một nhà nghiên cứu, một đại biểu quốc hội, một vân vân và vân vân.
– Và Chăm kiều cũng mới đẻ một tiến sĩ, với một tế bào … giống Chakleng. Saman cười to. Tiếng cười dễ khiến mọi ứng viên nghẽn mạch, và làm cho cơn mỉa mai đang ngon trớn của John Thak cụt hứng. Dù sau đó Thak cố gượng gỡ gạc bằng đối sánh (kèm theo nét mặt đưa đám đầy tâm trạng) cái khổ của bà mẹ Chăm cơ cực đủ điều để làm ra đồng tiền hạt gạo trong khi đám con trai cứ phây phây tập tành thuốc Jet gói bằng ba cân gạo, bia năm mươi chai bằng nửa buổi em gái chúng chổng mông nhổ cỏ ngoài nắng, đến khi Saman bảo thằng bạn mình ở Bà Láp nói uống bia mấy ông không bao giờ được ngon miệng thật chí phải thì John Thak mới thật sự tắt tị.
– Quân mầy xuống làng bảo chị giở cơm với mang bình rượu gạo lên đây. Hắn lạng quạng đứng dậy.
Hà Vân uể oải đứng lên.
– Em đi dạo đồi trăng một vòng chị nhé. Mân đang dọn chén dĩa phía sau chòi không thấy trả lời.
– Dùng trà đã chứ phó tiến sĩ gái. Saman nói.
– Để quý ông còn vào hiệp hai. Cho em xin một ly.
Trăng mười hai sáng, chưa bao giờ nàng thấy sáng hơn thế, chiếu sáng cả một khoảng rừng thưa rộng lớn. Và sao chi chít nền trời trong vắt. Gió bớt thổi. Hà Vân tìm đến tảng đá to khá cao khuất với tầm nhìn từ chòi. Có lẽ chủ nhân rẫy hay lên đây: mặt đá mòn và phẳng như có sự gia công không cố ý của con người (vài thế hệ con người) vừa ưu tư vừa mơ mộng. Vào những ngày như ngày này, giờ này, ngồi nơi đây con người Chăm nghĩ gì khi đối diện với khoảng sáng bao la của bầu trời kia, nỗi trơ lì khô khốc gần như vô cảm của đồi kia hay cái hanh hao lởm chởm của vài mảnh rẫy đói mưa kia? Các vùng sắc tộc thiểu số, nàng đã đi nhiều. Cấu trúc văn hóa hay phong thổ khiến các dân tộc như Raglai, Êđê, Bana… ít có khuynh hướng suy tư, trầm mặc. Chăm hầu như ngược lại. Lối trèo lên và bề mặt tảng đá trĩu nặng bao dày vò suy tư và cả nỗi mộng mơ bay bổng chốc lát. Nàng bỗng nhớ đôi giày Van Gogh. Hồi chiều, trả lời câu hỏi của anh Chăm kiều lấp ló học đòi thực dụng Mỹ lúc này ông đang làm gì, Saman bảo hè mình lên rẫy.
– Lên rẫy thôi à? – Ừa – Không làm gì cả cũng lên? – Đâu cần phải làm gì mới lên.
Anh Chăm kiều kia đã không hiểu bạn mình, nhưng Hà Vân hiểu.
Giáo sư Trần Hùng bảo Chăm mang tinh thần ẩn cư. Hơn mười sáu thế kỉ tồn tại, những con người xuất sắc nhất Champa sau thất bại trong đấu tranh giành quyền lực, luôn đi vào rừng. Họ một đi không trở lại, không ngoảnh trở lại. Chúng ta giấu mình là chờ vị minh quân xuất hiện, biết đến mà vời, giấu mình để chờ thời. Dù chán giận thế thái nhân tình đến mấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ngoảnh lại xã hội bằng ý kiến thức thời đến vua chúa. Đừng mong tìm thấy mẫu người như Nguyễn Công Trứ trong lịch sử Champa, ngay như tinh thần một Nguyễn Trãi cũng không nốt. Dù mỗi người đàn ông Chăm (ít ra là các thế hệ trước 75) luôn mơ một Cộng đồng Chăm thống nhất và nhất quán và chặt chẽ và đầy tính văn hóa với không mãi canh chừng nhau, xấu tâm nóng mắt hay nói lén nói chùng mà yêu thương đùm bọc và không bị mất mát gì nữa. Mơ mộng và mơ tưởng, ở thực tế họ muôn năm có phản ứng hỏng chân. Saman mơ đến một thứ Cộng đồng trên mạng (Văn Khâm đùa là mạng nhện), Thak hùng hổ thế nhưng vẫn là thứ lo hão và hỏng chân có hạng trong các thứ hỏng chân, Văn Khâm hoàn toàn tự nguyện chìm. Không thể bảo anh hời hợt. Hà Vân nghiệm rằng đôi mắt buồn hiếm khi đi cặp tâm hồn nông cạn. Anh bị tinh thần văn hóa ẩn cư Chăm khuôn định. Anh muốn ẩn mình trong thành phố Sài Gòn hoa lệ, đắm vào cặp mắt của phụ nữ thành thị sắc ngọt hay men bia hơi đắng chát khi bất lực với chương trình ở quê. Đỏ con mắt cũng không tìm thấy tinh thần quật khởi trong thanh niên Chăm. Bước khỏi cổng Đại học, anh phác trong đầu (chỉ trong đầu thôi, chứ chưa xuống trang giấy) cơ man chương trình ngắn và dài hạn với chỉ có rộng mở và xán lạn. Nhưng rồi khi nhắm mắt lao vào cửa hôn nhân hôm trước, hôm sau anh bị dội lại như là tông vào bức tường vô hình rắn quá đá. Chúng rối rắm rậm rịt đến không gỡ ra được, dù thiện chí của anh lẫn bà xã có học. Nàng cũng đang mắc tóc và bám cẳng anh để cả hai cùng níu nhau chết chùm. Cho đến khi nỗi chán nản triền miên biến anh thành loài sứa trơn trợt: anh thoát lọt ra khỏi lưới. Anh thấy mình không còn trong cộng đồng nữa, không là người của cộng đồng nữa. Anh nghe mình cô độc, anh hốt hoảng và muốn khóc (có thể mấy lần anh khóc). Rồi anh giạt xứ mà đi, biệt vô âm tín. Anh giấu mặt và giấu mặt khi gặp Chăm, thấy Chăm – dù anh rất đau khổ, dằn vặt. Có mặt người Kinh, Mông anh nói tiếng Việt với kẻ đồng tộc tội nghiệp, mắt lấm lét như phạm nhân. Có vai vế trong cơ quan, in cạc vizit anh thay họ Đàng, họ Hán… thành Đặng, Hàn hoặc anh chùi tịt nó đi chỉ giữ lại mỗi cái lót: Văn (như thể họ xa với Văn Cao vĩ đại). Thi thoảng ai đó vô ý đụng chạm Chăm, anh nổi cơn tự ái dân tộc muốn xông tới đập vào mặt thằng chó đẻ mặc nó ra sao thì ra, nhưng rồi anh dằn lại được, cười lãng bằng cái miệng rộng như mếu.
Cho đến khi anh gặp Hà Vân.
Nàng mở mắt anh nhìn trở lại chứng minh thư ban đầu của mình – Họ và tên: Đàng Văn Khâm; dân tộc: Chăm ; cha: Đàng Lói; mẹ: Thị Hao. Dù nước da anh trăng trắng (trắng như Kinh) nhưng mái tóc gợn sóng này, lông mày rậm với cái miệng rộng này, nhất là mắt buồn buồn này thì không thể chối Chăm được rồi.
Nàng thấy thương anh, như chị thương em gái ấy, ngủ ngoan akay ơi akay hỡi. Cả người phụ nữ Chăm vợ anh với mấy nhóc đang bị bỏ lại ở Krong. Nàng đã lén anh ra thăm họ vào tháng trước: lam lũ, cơ khổ và chịu đựng.
Lúc này anh đang đi tới với nàng, dáng thịt thà lù lù dưới ánh trăng. Nàng leo xuống.
– Bọn họ lệnh cho anh đi tìm em. Văn Khâm nói, áp sát vào nàng. Nàng nghe lồng ngực mình nóng bừng. Đột ngột anh ôm lấy nàng, cúi xuống tìm môi nàng. Hà Vân đứng lặng không nhúc nhích. Đến khi lưỡi anh quét qua môi nàng thì nàng xô mạnh anh ra: nồng nặc mùi rượu. Nàng bỗng nhớ cái lưỡi trắng nhợt của ngài giáo sư Trần Hùng năm xưa. Anh không tuân theo ý nàng nữa, đẩy nàng tới, ép nàng vào vách đá.
– Anh! Nàng la lên và vùng ra khỏi vòng ôm của anh. Nàng thấy anh mất thăng bằng qua cú đẩy dứt khoát, ngã lăn trên mô đất.
– Anh xin lỗi em.
– Không, trời ơi, anh! Nàng dấn tới đỡ anh ngồi dậy.
– Mình vào đi em. Văn Khâm cúi xuống phủi bụi.
– Anh đến với họ trước đi, xíu nữa em sang.
Hà Vân nhìn theo cho tới bóng anh lủi thủi khuất sau lùm cây, leo lên tảng đá trở lại. Nàng không muốn cho người phụ nữ Chăm kia đau khổ thêm. Thế nào rồi anh cũng trở về với họ, sớm chừng nào hay chừng nấy. Anh đang ở tuổi đứng bóng mặt trời (cả nàng cũng thế). Sẽ xế chiều nay mai. Nàng muốn anh cống hiến sức lực còn lại cho gia đình. Chứ không đợi lúc tàn chiều mới lê thân rách bươm cho con cái nuôi rồi còn lo chuyện vào Kut. Nàng hiểu phụ nữ Kinh bị dư luận Chăm lên án vắt chanh ông chồng Chăm rồi vứt khi chỉ còn [xác] xơ. Xơ này theo ngọn gió mùa giạt về làng plây không xu dính túi, trí và lực cạn kiệt. Cái án oan cho chị em Kinh không ít. Các đức ông chồng Chăm mang phức cảm tự ti - tự tôn động tí là tự ái, có khi bởi lời nói hay hành vi ôi vu vơ. Càng về chiều tự ái vụn kia càng phồng căng lớn dậy rất dễ xì hơi. Cho đến khi không ai mời mà đến chẳng ai khiến mà đi. Ăn quần ăn áo. Làng xa làng gần với trăm nhân chứng sống lộ thiên như muốn làm nặng thêm bài xã hội học vỡ lòng mà các bạn trẻ không thuộc cứ lao bừa vào.
– Chị Hà Vân ơi!
Mân đang đứng trên mô đất cao ngó quanh. Hà Vân im lặng quan sát: người phụ nữ kia mặn mà biết bao, đẹp huyền ảo dưới ánh trăng rừng, dù chị sắp sửa bốn mươi, và dù bao nhiêu là nắng gió Phanrang hùa với cái đói khổ kinh niên cố tình vùi dập, đến nỗi không ai biết chị dân nhà quê Chăm nếu không mang trên mình cái váy (Saman chồng chị bảo bạn mình nói Chăm không có tháp Chàm, chữ viết với cái váy thì đã mất đời nảo đời nao rồi, mình cãi lại hắn chỉ đúng ở hình thức nhưng sai nghiêm trọng ở nội dung: Chăm mất suy tư Chăm là mất ráo). Ví nhan sắc kia được tỉa tót ở thành phố thì nó sẽ ra sao: ánh sáng đèn điện tôn nó lên hay tàn phá và làm biến chất nó; còn mấy cô người mẫu thời trang của hôm nay với kiểu đi ỏng à ỏng ượt kia sống lạc thời Pôn Pốt lùa đi nhổ cỏ, gánh thóc?!
– Chị lên đây với em đi.
Mân ừ, rồi đi vòng sang ngả sau.
– Chị làm gì trên ấy? Làm sao lên kia.
– Chị chưa lên đây bao giờ à?
– Dạ chưa.
Hà Vân đưa tay cho Mân nắm.
– Dưới đó thế nào?
– Quý ông ngủ lăn ra cả rồi.
– Không xuống làng à?
– Dạ, ngủ lại rẫy. Mấy ảnh bảo ba ngày đóng đô lại đồi. Trên này xưa cha em hay ngồi nay lại đến chồng em. Chồng em bảo nhà mình cha truyền con nối có mỗi tảng đá trầm tư. Mân cười phô hai hàng răng trắng, đều.
– Chị đẹp lắm.
– Chị khéo khen.
– Em gặp nhiều phụ nữ Chăm rất đẹp, nàng nói.
- Rồi tàn cũng nhanh.
– Không đâu, chị à. Hà Vân nhớ Hathaw, Mưnga… nơi nàng đi qua, xóm làng Chăm luôn sản sinh những người con gái xinh đẹp làm đóa hoa tô thắm đồng nội. Nhan sắc kia tồn tại có khi bất kể năm tháng trong lúc họ muôn năm lam lũ, còn sức chịu đựng thì gần như vô tận.
– Không biết nhận xét thế này có phải không, em thấy các chị làm việc quá nhiều.
– Để các anh lo chuyện xã hội chị ạ, Muk Thruh Palei dạy thế.
– Cả mấy thanh niên trai tráng à?
– Em không rành lắm.
– Em thấy dường như con trai ít khi giúp gia đình trong lúc thành tích học cũng chẳng khá hơn.
Mân không nói.
– Sinh viên Chăm chưa có khuôn mặt nào thật xuất sắc bật lên. Danh sách học bổng Nguyễn Thái Bình bói cũng không ra họ Lâm, Phú, Đàng, Lưu…
Mân ngó trân trân người phụ nữ Kinh nổi tiếng khắp vùng Chăm từng nghe chồng nhắc tên nhiều nhưng mới lần đầu gặp mặt. Chị ngạc nhiên thấy phụ nữ ăn nói thẳng thế, nhận xét sắc thế. Hay đó là cái khôn vượt trội của phụ nữ Ywơn so với Chăm mà Saman hay ca cẩm. Ngạc nhiên hơn khi hôm sau xuống làng, giáo viên trường kể Hà Vân đã đốp chát thẳng thừng với ông anh họ là giáo viên cấp III ở thị xã, khi anh này bảo các nhà nghiên cứu giống loài kên kên đói mồi đâu sà tới xác trâu văn hóa Champa rỉa rúc. Nữ phó tiến sĩ này hỏi tại sao các anh không làm loài kên kên thử lấy nửa lần cho đất nước nhờ? Các anh muốn xác trâu văn hóa Champa thối rữa trơ xương văng lạc tứ tán hay rã mục vào lòng đất ư?
– Tôi biết khối vị phó tiến sĩ sinh hạ qua cuộc tình hữu nghị Việt - Xô. Mang tiếng nghiên cứu văn hóa Chăm mà một chữ dân tộc bẻ đôi không biết.
– Ồ, xin lỗi ngài nhé. Một chữ bẻ đôi là của Việt đấy. Ngài có biết thành ngữ Chăm nào tương cận nó không? Chắc là không rồi, phải chứ! Chỉ một phát ngôn thôi cũng đủ tố cáo khả năng tiếng mẹ đẻ của ngài rồi. Hỏi chứ ngài có biết văn học Chăm nó to hay bé thế nào không? Kiến trúc Chăm nó khổng lồ thế nào không? Hay ngài chỉ quanh quẩn ba cái Po Klaung Girai, Po Rome cùng vốn liếng tiếng mẹ đẻ từ thời còn vịn áo mẹ đi yaung. Hà Vân hoàn toàn đẩy anh họ vào thế bí với câu hỏi điểm huyệt liên tù tì đến khi anh trừng mắt: chị đến đây nghiên cứu hay dạy khôn chúng tôi thì ngay tức thời Hà Vân ra tiếp đòn chí tử: anh không biết chữ Chăm phải không? Nếu thế thì mấy đứa con anh đang học nó trong trường tiểu học kẹt bài hỏi bố thì bố cháu trả lời sao đây? Quý phụ huynh mù chữ này có tự đặt câu hỏi đó với mình chưa?
Người phụ nữ này đã vờn anh giáo thành một loài chuột tội nghiệp. Ai khiến!?
Mấy hôm sau xuống rẫy Mân đem chuyện thời sự nông thôn này kể cho Saman nghe và anh kêu cần phải khen thưởng xứng đáng bác nó bởi thành tích đã dũng cảm đối mặt với một phó tiến sĩ Sài thành mà không ngại phơi trần cái dốt của mình ra cho người thiên hạ chiêm bái!
Câu chuyện nghiêm trọng, thà mất đôi trâu còn hơn hổ mặt không hiểu xuất phát từ đâu đồn ra đến không chữa chạy kịp. Có lẽ nó được xé ra thêm từ một đối thoại ngắn khá văn hóa giữa Hà Vân và anh giáo rành rành có cô Sa làm chứng để trêu chọc bác nhà văn cấp hợp tác xã ưa nói sách này chăng. Bởi sau này về Sàigòn, Hà Vân bảo không hề xảy ra chuyện gay cấn ấy. Nàng chỉ lên lớp tay nghiên cứu sinh Chăm là không thể hiểu sâu văn hóa Champa nếu anh không thông thạo ngôn ngữ cổ của dân tộc tài hoa này, rằng chớ dại mà đạp dấu chân các nhà đi trước gì cũng lớt phớt, cũng tán được và bày cho sinh viên tán được.
Sau đó nàng không gặp lại ba ông người Chăm kia. Văn Khâm lỡ bộ với nàng đành hộ tống xe anh bạn Chăm kiều thăm bà con đang ngóng. Nàng đón xe đò vào Krong, Mân với cô con gái lớn lớp chín đi tiễn. Hình ảnh cuối cùng nàng nhìn thấy qua cửa kính chiếc xe là mấy ngọn đồi trọc trắng trong đó đồi có tảng đá trầm tư nàng vừa bỏ lại. Nó nhỏ, càng bé nhỏ hơn đến nàng cứ lo rằng gió nồm sắp thổi nó bay mất.
*
Trích SỔ GHI của Hà Vân
“Văn Lâm - Ram là plây Chăm Bàni nằm cạnh Quốc lộ 1, cách thị xã Phanrang 10 km về hướng nam. Đây là làng toàn Chăm sống xen cư làng người Việt từ gần hai trăm năm nay. Thời Tây Sơn, Văn Lâm tọa lạc miền duyên hải xa hơn plây hiện tại khoảng 15 km đường chim bay. Nơi đây còn lưu lại một nghĩa trang cổ đến bây giờ người Chăm theo tín ngưỡng này vẫn còn thờ phụng.
Lẽ ra Ramưwan (Ramadan: tháng 9 Hồi lịch thường được xem là Tết Bàni) năm nay trùng Tết Nguyên đán, bởi Âm lịch nhuận nên phải tới ngày mãn chay nghĩa là một tháng sau mới đúng 30 Tết. Đây là sự kiện 36 năm mới lập lại một lần.
Chuẩn bị cho Ramưwan, người Chăm Bàni làm lễ tảo mộ trước ngày chính thức từ hai đến năm ngày, tuỳ nghĩa trang xa hay gần. Ghur Ram thuộc 4 họ lớn, nằm gỏn lọn trong khoảng rừng thưa, bên là núi Chàbang, bên kia là biển với bãi cát vàng trải dài. Xưa, khu nghĩa trang nằm xích phía biển hơn, cách Sơn Hải làng Việt 800 mét. Khi người Việt qua định cư, dân Văn Lâm dời ghur lên, để giữ sự thiêng liêng cần thiết một chốn như thế này.
(…) Năm hạn nên không có bụi cỏ nào mọc để phải giẫy. Người ta chỉ dọn mấy lớp lá rừng khô và phả lại mặt cát cho bằng. Lễ bái được thực hiện khá nhanh - chưa đầy 15 phút. Cấp Acar9a* đọc kinh, con cháu quỳ lạy, cầu khấn. Thành kính và lặng lẽ. Nhóm này đứng lên, nhóm khác tiếp. Cứ thế, hơn 50 chi họ 7 làng Chăm Bàni - Ninh Thuận qua lễ. Có làng ở xa đến 30 cây số. Họ đi bằng các phương tiên hiện đại. Không năm nào, không một dòng họ nào bỏ quên ngày trọng đại này.
9aAcar hay Thầy Chan: một chức sắc Cam Awal
Hãy tưởng tượng 50 năm trở về trước, khoảng cách này, người Chăm đã phải băng rừng với chiếc xe trâu hoặc lội bộ, để tìm về nguồn cội. Nghĩ đến lòng thành kính họ dành cho tổ tiên mình, tôi thầm cảm phục sự kiên trì thầm lặng ràng buộc họ với quá khứ bằng sợi dây vô hình nhưng bền chặt.
(…) Buổi chiều, chúng tôi đi xuống Thành Tín. Đây là một làng nghèo. Bên là đồng ruộng, còn lại chỉ rừng thưa với đụn cát trắng không cỏ (nên gọi là Cwah Patih). Cát, nắng và gió. Ngột ngạt và khó thở. Vài cây dừa khẳng khiu, thưa thớt. Mấy đứa trẻ bụng ỏng phơi trần dưới nắng. Ba bà già đầu đội thúng đi dọc triền mương. Từ đồi xa, một nhóm cô gái đội bó củi khô hối hả về làng. Ngày mai, bó củi kia được đưa xuống thị xã Phanrang cách plây hai nồi cơm chín. Đàn dê, đàn bò gầy còm kiên trì gặm cỏ khô…
Vẫn cảnh ấy từ ngàn năm qua. Thời gian đứng lại và ánh sáng văn minh như không chịu len lỏi tới xó xỉnh này, ít ra là với đại bộ phận dân làng. Không ít người hiểu biết trách họ và cả trách mình sao không chịu dời đến vùng đất mới, mầu mỡ hơn, dễ thở hơn? Khi ở đây họ phải chịu đựng bụi và cát. Xa rừng, xa biển để có thể cậy nhờ bà mẹ thiên nhiên. Khẩu phần tăng mà ruộng đất thì teo. Trong khi họ không được nuôi heo, nguồn phụ thu quan trọng như các plây Chăm Bà-la-môn.
(…) Tối, chúng tôi vào Sang mưgik. Ông giáo đã hưu nghe tiếng tôi giảng viên Đại học đến tìm gặp tôi ngoài hành lang. Chúng tôi nói tiếng Chăm với nhau. Ông bảo có cô gái út đang học ở Đại học mở và ca tôi hết lời về vụ rành tiếng và chữ Chăm. Thời ngụy tôi chỉ gặp được có một vị là Nguyễn Bạt Tụy, hôm nay cô là thứ hai, ông nói, một mực cho tôi Kanh Cựu. Tôi bảo tôi người Nha Trang. Ông nói vài Chăm lên cao có khuynh hướng giấu tông tích. Nửa chừng câu chuyện một anh trung niên (nghe nói đang công tác ở Phanrang) đến chất vấn tôi những câu rất lửa. Khi tôi thoát ra được cái bẫy anh giăng ra, anh nói Chăm rất thất vọng về các nhà nghiên cứu dân tộc học. Có nhạc sĩ nhờ hai nghệ nhân Chăm hát ơi hỡi dân ca nhưng khi in sách, đã ghi đến hơn chục tên người chỉ với mục đích khỏi trả tiền công hay sách biếu. Một giáo sư nọ nhờ Chăm sưu tầm và dịch hơn mươi bài tụng ca, khi viết thì quên béng tên kẻ cung cấp tư liệu cho mình. Nhiều lắm, kể không xuể đâu. Tôi hỏi anh có chứng cứ không thì anh nói cô dân nghiên cứu thì phải biết chứ. Rồi bỏ đi.
❀ ❀ ❀
[1] 9 Cru: người Churu. Đi Cru: đi buôn Thượng.