Ở phương Tây, nổi tiếng gây quá ư phiền toái. Marquéz thẳng thừng rằng nổi tiếng làm trở ngại mọi sinh hoạt, ngoại trừ tư thế chính trị của ông. Nổi tiếng hủy hoại siêu sao bóng đá Maradona, đẩy công nương Diana vào cái chết bi thảm và, nổi tiếng khiến cái chết kia càng trở nên nổi tiếng hơn. Camus than phiền nổi tiếng khiến thiên hạ không thèm đọc ông mà chỉ đọc những gì nhà báo không chuyên viết vội vã về ông. Từ đó méo và mó. Có kẻ chuyên sống bằng giai thoại về nhà văn nổi tiếng như loài kí sinh - Nerval trăm năm mươi năm trước nói thế! Nhưng giai thoại không ngừng được sáng tạo xung quanh tên tuổi, ngày càng nhiều hơn, sương khói, lãng đãng hơn đến nỗi người ta yên tâm rằng mình hiểu Rimbaud, có thể nói về Rimbaud thậm chí viết bài về Rimbaud dù cả đời chưa hề đọc bài thơ nào của chàng, chưa hề nhìn thấy mặt mũi tập thơ Une Saison en Enfer nó mỏng dày ra sao.
Đó là bản chất của phần đông nhân loại: muốn dòm qua khe cửa đời tư nhân vật. Và tán. Càng là hiện tượng nổi trội của thời đại chúng ta. Kundera bảo các cuốn sách viết về Hemingway, Goethe thực ra còn hấp dẫn người đọc hơn cả Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí hay Faust, Tình sầu của chàng Werther nữa. Chúng lôi cuốn quần chúng quá cha cuộc đời sôi động (thực) của Hemingway hay Goethe. Rốt cùng, chỉ có nhà chuyên môn mới chịu tìm đọc văn bản (đã không ít “nhà” tự nhận chuyên gia lanh trí bỏ qua thao tác này). Còn thì độc giả văn chương luôn được nuôi dưỡng bằng câu chuyện ngoài lề từ giai thoại hay, mù mờ hơn, huyền thoại.
Âu Mỹ đã thế, phương Đông hay Chăm cũng chả hơn gì, dù biểu hiện hay tác động của nó lên tinh thần cá nhân hoặc cộng đồng có khác, nhưng bản chất vẫn vậy.
Nỗi khuyết danh của tác phẩm cổ Chăm như một phản ứng. Bỏ qua khiêm tốn của tác giả, ám ảnh hãm hại của kẻ thù ngoại bang hay kẻ đố kị cùng máu mủ, thậm chí cả truyền thống văn hóa Chăm chỉ muốn coi chúng như tặng phẩm của thần thánh chứ không phải sáng tác của người phàm trần; hoặc giả sự vụ thiếu tinh thần lưu thủ đan tâm của tu sĩ Bà-la-môn đã dẫn tới tình trạng này, cái đáng nói là: tác gia Chăm muốn thế hệ tới đọc chính văn bản, tác phẩm chứ không phải những gì bao phủ xung quanh nó, cả kẻ mang nặng đẻ đau nó. Lí này của Chế Khan càng vững hơn khi hầu hết sáng tác của thi sĩ Chăm mới đầu thế kỉ XX này như của Mưdwơn Jiaw, Po Thien… nay cũng đã khuyết danh, vô danh rồi. Hôm nay, hắn hành xử hệt vậy: hắn không chịu kí tên mình ở trang bìa cuốn tiểu thuyết (ngài giáo sư Trần Hùng đã sai hết sức sai khi dùng nguyên bút mực đỏ ghi tác giả: Chế Khan).
Tác giả Chăm muốn tác phẩm mình thay vì chính mình sống, cái sống chắc chắn rất mù mờ trong màn sương giai thoại, huyền thoại.
Nhưng đầu óc ngoan cố của quần chúng không chịu thua ý chí một cá nhân dẫu uy tín tới đâu: họ thêu dệt giai thoại bao quanh tác phẩm trong đó tác giả đương nhiên trở thành thứ chất liệu dễ nhào nặn nhất, cấu thành bộ phận gay cấn nhất.
Có lẽ chỉ cần đo mức độ hấp lực của huyền thoại đối với một dân tộc cũng phần nào hiểu được dân tộc tính của dân tộc đó. Công chúng Đức khá thờ ơ với văn hóa dòm khe cửa nên vụ vợ chồng Beckham hay các bức ảnh chộp bắt hoàng gia Anh không đủ lôi cuốn họ, nhanh chóng gây thất nghiệp cho nhà báo lá cải. Dư luận Pháp cũng dễ bỏ qua xì căng đan như Monicagate từng là điểm nóng trên các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ thời gian dài.
Bên cạnh Ariya Glang Anak và Pauh Catwai, Ariya Bini - Cam là tác phẩm được bao bọc bằng nhiều lớp huyền thoại nhất. Chính hấp lực của nó đã bứt Chế Khan khỏi gốc rễ Panduranga để đuổi theo bóng ma ám hắn vào một tối Katê định mệnh kia, không cưỡng lại được.
*
Ông chú họ vào một trưa nắng ghé tôi lúc đó đang ở nhà thuê vùng ngoại vi quận Tân Bình. Đột ngột, đến nỗi tôi không chuẩn bị gì kịp. Chú điện báo sẽ ghé. Chưa tới mươi phút, chú xuất hiện với dáng vẻ khẩn trương, bí mật. Chú nhìn hai bàn tay tôi đặt trên bàn gỗ tròn rồi ngó thẳng trán tôi, chằm chằm. Thế thôi rồi chú về, đột ngột như lúc đến, sau vài gật gù bí hiểm. Chú bảo vào thăm người bà con bên ngoại đang nằm Chợ Rẫy.
Tháng sau về quê tôi bất ngờ nghe tin đồn – đồn về tôi, rằng tôi đượcbị rồng liếm, khá đậm, đậm nhất Chakleng, có lẽ. Như thể vào vòng quay vô hình đến lượt tôi thì bộ máy trục trặc và ngưng. Con rồng không để ý, liếm tới. Và tôi bị dính nước miếng rồng nhiều chỗ, thấm đậm. Bà con hàng xóm nhìn tôi là lạ. Mưlan bảo ông chú hỏi nàng trong mấy cháu ai giống cha nhất được nàng trỏ thằng cả, ông gọi cháu đến, biểu đưa tay ông coi, rồi thì vạch tóc xem xoáy nhưng cũng chẳng thấy phán gì. Chuyện ngỡ vô thưởng vô phạt ai ngờ chuyến về quê lần sau tin đồn lan rộng hơn, táo bạo hơn. Họ đồn Pathit được liếm trúng AND văn chương mà ngỡ đụng phải huyệt kinh tế nên mãi đâm đầu làm kinh doanh với châm ngôn viết chữ to đùng dán tường: làm một mà không thành thì cố gắng mười, làm mười không thành thì nỗ lực trăm, ngàn lần. Lâm Vang đi nghe Cei Harim Mưh phán đã dính một bộ phận lớn huyệt nhà binh nhưng khốn nỗi Chakleng khuyết truyền thống lính tráng nên đã ngần ngừ mãi đến già háp. Tội hơn cả là Jaklan đích thị bị liếm hụt mà cứ đinh ninh trúng nên phí sức đến thân tàn ma dại. Bác Thạch Tìm, nghệ nhân đánh trống Ginang nổi tiếng, hưởng sái từ nước miếng rồng ở đôi tay. Có vị khoe chính ông xem bàn tay bác thấy đủ 36 vân tay tròn trịa. Anh Phú Tâm, từ sự cố ngẫu nhiên trở thành bác sĩ chuyển viện đáng tin cậy của một huyện tận Gia Lai khi quá ngũ thập, chả bằng cấp chuyên môn gì chỉ đậu trung học Pháp vậy mà thân nhân người bệnh rất vững bụng khi có anh đi cùng xe cấp cứu hụ còi dù có hay không có bác sĩ khiến bà cô mãi tiếc biết thế này xưa gắng đầu tư cho nó học ngoại giao: anh được liếm trúng ngay môi trên là điều ngàn năm có một.
Tin đồn cứ thế lan ra. Dù không gây hoảng loạn như đại dịch điên hơn ba chục năm trước nhưng cũng tạo xôn xao ngang bằng. Mọi người tò mò, dò xét vừa kiêu hãnh vừa nghi kị: ai được liếm trúngai bị hụt, ai cóai không, ai nhiềuai ít, đậmnhạt, lớnnhỏ, lâumau…
Hôm nay tin đồn lan sang tôi. Mẹ gọi tôi hỏi nhỏ con làm gì đó ở Bai Gaur được giải thưởng có cả đăng báo còn lên tivi nữa làng xóm người ta nói quá đi nói quá không tốt đâu con ông bà ta bảo sống có người có ta, tôi giải thích mãi rằng không sao đâu mẹ, con viết sách cho con nít học thôi mẹ mới ngủ ngon. Ông chú triết gia của tôi thì bảo thẳng tao đồng ý là mày dám đi vào biển cả, đang giữa biển cả dù chỉ mình mầy chèo chống. Chớ trông vào tiếng vỗ tay hoan hô từ tao. Cuộc hành trình muốn vững, nhanh thì cánh buồm phải lớn, cánh buồm lớn thì thuyền phải to. Nhưng tao muốn mày mau cất cái buồm phấp phới ngạo mạn kia đi, hay khôn hơn là phải biết ngụy trang nó để không một ai, khó ai có thể thấy ngọn cờ giong mở của mầy. Hãy lấy ông họ nội mày làm gương: một Yogi ngoại hạng nhưng đã ai biết ông là bậc cao cường ngoài tao.
Tôi muốn nói với chú rằng cả cháu cũng biết nữa nhưng tôi kịp dằn lại. Tôi cũng muốn nói rồi ông đã mang theo lên giàn hỏa các bài Yoga gia truyền chưa kịp dạy cho ai, như ông cha mình ngày xưa vùi chôn bí quyết xây tháp sau màn đêm lịch sử. Tiếp tục chương trình: ông Thành Tín với bài thuốc trị rắn độc sẽ còn chăng, ngày mai? Tôi muốn la lớn lên nếu hôm nay cháu không mòn chân đi lượm nhặt những mảnh vụn ca dao dân ca, tục ngữ…; không mày mò sắp xếp, dịch chúng ra rồi chầu chực nhà xuất bản để được in; chương trình liên tục: mang tặng cho bà con, biếu các thư viện lớn bé thì liệu nó còn có mặt không? Chú có muốn nó hiện diện trên trần đời này không, muốn nhân loại biết tới nó như nó là thế không hay muốn nó xuất hiện thô lậu, méo mó như các ông nhà nghiên cứu bấy lâu làm không? Và khi thấy thiên hạ nói trật lất về dân tộc mình, hiểu quá lệch về văn hóa mình, chú muốn cháu cũng câm như gò mối ở đầu ruộng Hamu Kut kia không? Nữa! Chú có biết thằng cháu cưng của chú bị rồng liếm trúng phần nào của cơ thể nó không? Bộ phận nặng nhọc nhất, cơ khổ nhất và phiền hà nhất: ruột thừa đấy! Tôi muốn la to lên như thế, nói rành mạch đại cà sa như thế. Tôi phải chịu ngậm cám, bởi tôi đã nếm cơn thịnh nộ của ông nông dân-triết gia này hơn một lần rồi, thuở ria mép tôi mới lún phún mọc.
Chú tiếp: viết ít, ngắn thôi. Viết những gì cần viết (những gì thật sự cần viết thì rất ít), viết như sẽ chết nếu không viết, như thể sắp chết. Viết như là trối trăng. Như Glang Anak, Pauh Catwai đã trối trăng.
Tôi rùng mình.
Viết để thiên hạ phải tìm chép anh (tôi nhấn mạnh: chép tay) chứ không phải bạ đâu kí tặng đấy. Thời đại này đang làm cuộc diễu hành vĩ đại bôi nhọ thi ca, đầu độc văn chương – chú đang ngon trớn. Tháng trước tôi đi Sài Gòn (xin lỗi không ghé anh) có tạt vào hiệu sách. Tôi bị ngợp, những sách là sách, đủ màu đủ cỡ với những tên tuổi, có tên đẻ đến chục đầu sách, vài chục đầu sách liệt kê ở bìa sau. Cả anh nữa cũng chen chân.
Tôi vẫn không nói gì. Tôi hiểu cái giá phải trả cho nổi tiếng (nổi tiếng còm trong xã hội chật hẹp của chúng ta). Mưlan đùa nếu lúc này anh ra ứng cử đại biểu Quốc hội, chót bảng là cái chắc. Tôi nghĩ cũng có thể ngược lại – nhất bảng. Nhưng tôi hoàn toàn thấy hai vị trí đó như nhau, hệt nhau.
– Anh cãi tôi đi chứ! Tôi hiểu lắm cái kiêu ngạo im im của anh. Anh thừa kiêu ngạo để làm cái việc có ma mới hiểu là đi tìm tư tưởng nền tảng của văn học Chàm hôm qua, thừa kiêu ngạo phát quang cho lối đi vô định cho sáng tác văn chương Chàm hôm nay, nhưng liệu anh có đủ kiêu hãnh từ chối không ghi tên anh dưới tác phẩm? Làm tác giả vô danh như tác giả Ariya Bini - Cam đã làm? Anh vẫn không dứt nổi khỏi ánh sáng nhấp nháy của đủ loại phương tiện thông tin đại chúng hôm nay đang rọi vào anh, vẫn cần tiếng vỗ tay lốp bốp của các mụ đàn bà (chú không ưa Hà Vân và cả Mưlan dù họ xử sự tốt với chú).
– Chú muốn tôi vứt tất cả không, tất cả và ngay bây giờ không? Tôi bỗng hét lớn và bật dậy.
– Hôm nay mày dám với chú mày à! Chú cũng đứng bật dậy: làm loạn à?
Buồn mênh mông đen tối vồ chụp lấy tôi, xuyên thủng lồng ngực, muốn bóp nát trái tim tôi. Cho tới khi tôi như con ma ốm mất dấu đoàn lũ lạc vào nhà người bạn cũ ở Hậu Sanh.
*
Nhà anh bạn nằm mé plây, buổi chiều ngồi trên ván gỗ trông lên tháp Po Rome đứng vững chãi, bí mật và câm lặng. Ngồi với anh bạn có hai người nữa – Thụy, nghe nói đang nghiên cứu cái gì đó, không ưa tôi và có nhiều thành tích xuyên tạc tôi. Vang là bạn học thuở cấp II Trường Pô-Klong hai năm liền ngủ chung giường kí túc xá, sau hai mươi ba năm gặp lại, chúng tôi nhìn nhau qua lớp sương mù của thời gian và sự nghi ngại nghe nói.
– Ồ, mới nói chuyện về ông đã thấy ông xuất hiện, thần thật! Anh bạn vội đứng lên nắm lấy vai tôi.
– Lại rồng liếm chứ gì. Tôi bắt tay Thụy. Khi tôi đưa tay qua Vang thì anh rụt lại, rồi bất ngờ anh liền đưa hai tay ôm cả bàn tay tôi: anh không quen với phong cách dân thành phố, tôi hiểu. Hoàn cảnh và môi trường phân cách chúng tôi xa quá.
– Tụi này đang mổ xẻ các tác phẩm của tay Inrasara dân Chakleng ông đây. Công nhận nhiều chương cực kì nhưng lầm lẫn cũng lắm.
– Ví dụ?
– Phê Twơn Phauw như thế thật oan cho ông.
– Ồ, hắn biện minh đấy chứ. Chính tác giả Ariya Twơn Phauw mới phê phán qua cái nhìn của các nhân vật phụ. Này nhé:
Dom Cru, Raglai, Cam, Kahauw
Nhu chap hatơm Twơn Phauw sunit ginrơh hagait yuw ni
Những người Churu, Raglai, Chăm, Kơho
Chửi rủa Twơn Phauw: rằng tài phép sao lại ra nông nỗi này
Likuw po jwai pamưtai dahlak yuw asuw
Van lạy ngài đừng giết con như chó.
Phê đâu mà phê! Nhà văn không đóng vai kẻ tụng ca, càng không làm công tố viên buộc tội mà là kẻ biện minh, cũng không như luật sư biện minh mà như một nhà văn. Ở buổi đại khủng hoảng của lịch sử đầu thế kỉ XIX, Chăm đang đứng trước bờ hố. Ba con đường hẹp buộc con người trí thức hôm qua chọn lựa: cố thu xếp hòng cứu vãn số phận hoi hóp của dân tộc (Ariya Glang Anak) để vớt vát mảnh vụn văn hóa nó (Pauh Catwai) hay gồng mình đòi lại vương quốc đã mất bằng trận đánh liều mạng để tất cả cùng tiêu tán đường (Ariya Twơn Phauw)? Ông biết chứ, ông cậu y sĩ của hắn ta ngay trước mặt mình hôm qua bảo cháu tuyệt lắm, lập được thành tích như thế vào Kut cũng vừa. Bà con họ hàng chúc nhau thế đấy: mong nhau sớm cắt khẩu, mặc dù dưới Chakleng lầm lỗi tới đâu cứ đổ bừa cho nước miếng rồng là xong tất. Nhưng dẫu sao cũng lạy ông bà cho hắn sống dai để còn sửa sai tiếp tục hầu quý đồng bào và các bạn. Tôi thuyết một thôi như thế, nhận thấy mình sôi nổi hơi giả tạo.
– Thôi, thôi đi J’Man ơi! Chăm gặp nhau là gây cấn, không khéo cả trăm ngàn có lẻ Chăm lây bệnh Chakleng bây giờ.
– Chí phải! Chí phải! Tôi nói to. Rót đi, chủ nhà muốn đánh lạc hướng cho đỡ tốn bia, dại gì.
– Làm như ông có năm cái bụng.
– Đồng chí cán bộ này không khoái bia à? Tôi quay sang Thụy khi thấy anh cầm ly nhỏ.
– Không. 333, Tiger gì gì cũng không qua rượu gạo, rượu gạo xịn, nặng – dù bao tử nát, gan tan.
Con người hay khuynh hướng gắn mình với cái bên ngoài, một hạt kiến thức lép, một thần tượng hay thói tật. Cao Xuân Hoang nói: mình thấy có tay sinh viên Pháp tôn thờ Zidane, xem mình như thể người nhà Zidane để ăn nhờ ở đậu hơi hướm Zidane, nếu không thế hắn không là gì cả. Ngài giáo sư Trần Hùng gắn mình với văn hóa Chăm tổng quát, Nguyễn Dung phó tiến sĩ dân tộc học, Thụy rượu gạo xịn, nặng. Tôi còn thấy có thanh niên kia luôn hãnh diện về bệnh tim của mình nữa. Anh không là gì cả nếu anh không suy tim, phó tiến sĩ dân tộc học, văn hóa Chăm tổng quát… Không có chúng anh là con số không di động. Anh run lên khi đối mặt với nó: không là gì cả – khiếp quá! Cả tôi cũng thường bị gán nhãn mác chuyên gia triết lí văn chương Chăm. Sự quy chụp mang tính sợ hãi căn nguyên này luôn gây nỗi bất tiện. Gặp tôi, hầu như mọi người luôn tỏ vẻ quan tâm đến sức khỏe triết học Chăm, thể hiện cái hiểu biết về tư tưởng văn học Chăm, lái câu chuyện sang đề tài mà tôi luôn phải trốn chui trốn nhủi khi đứng trước đám đông này. Như ở đầu câu chuyện của chúng ta ngay khi tôi vừa ngồi xếp bằng trên tấm ván nhà anh bạn. Làm như tôi-nhà nghiên cứu-tư tưởng-triết học-của-văn học Chăm-và không là gì khác.
– Lúc này ông đang viết gì?
Không phải Vang hay anh bạn chủ nhà mà là Thụy hỏi. Có lẽ do tọc mạch.
– Tiểu thuyết: Chân dung Cát.
– Để đem vài nhân vật ra chế giiễu cho tiện chứ gì.
Hà Vân sâu sắc là thế mà đã khuyên tôi anh sớm kết thúc tiểu thuyết đi để em nhờ cô bạn chuyển thể sang kịch bản phim. Tôi bảo nàng tiểu thuyết anh không phải để mang ra làm phim, anh muốn viết nó sao cho đạo diễn dù thiện chí tới đâu cũng không làm gì được. Bởi tiểu thuyết là tiểu thuyết, dừng lại ở thể loại đó thôi chớ nên biến nó thành gì khác (ý này Kundera nói rồi). Tôi làm thơ cũng chả ý đồ được tuyển vào sách giáo khoa cho học sinh học thuộc hay nhạc sĩ nào đó nổi hứng hoặc chiếu cố mang ra phổ nhạc. Tôi nói ý này cho đồng chí cán bộ Bá Thụy nghe và thêm: văn chương không cúi xuống làm chuyện đó, không tự cho phép mình làm trò lếu láo ba bốn lăng nhăng đó.
Còn nó sẽ làm gì? Ông thật nghiêm túc muốn hiểu?
Tôi nhìn thẳng vào mắt ngài cán bộ Bá Thụy, đầy cải lương nghiêm trọng. Tôi nói: văn chương không ưa nổi trò nghiêm nghị. Nhưng loài người thì nghiêm trang nghiêm trọng hơi bị nhiều. Nghiêm nghị trúng vụ bắp, nghiêm trọng tuổi tên chàng hảng trên trang báo, nghiêm nghị học vị học hàm hay nghiêm trọng trò đọc diễn văn, nghiêm nghị nghiên cứu hay nghiêm trọng một thành tích bé con mới giật được, nghiêm nghị tri kiến tha lâu lưng tổ hay nghiêm trọng trương mục ngân hàng, nghiêm nghị cá tính lẻ loi hoặc nghiêm trọng bản sắc tập thể cộng đồng, nghiêm nghị tôi với nghiêm trọng bác vân vân. Bác cứ tiếp tục kê biên, nếu cảm thấy khoái. Mấy trò nghiêm nghị đó, văn chương cười vào mũi. Cười nhạo thôi. Không mỉa mai sâu cay cũng chả chua chát căng thẳng bật máu mà làm gì cho nhọc cái tâm linh. Nó khoái hoạt. Nghĩa là chính văn chương cũng phải học không tự biến mình thành trầm trọng. Nó có khả năng tự cười mình. Cười mình to hơn cả.
Cái thằng tôi ấy yêu em yêu cả cuộc đời nhưng luôn biết tự nhạo cái tình yêu buồn cười ấy, dù mất em rồi xa em rồi hoa đã tàn tôi về đứng bờ sông Seine đêm nay định nhảy xuống cầu Mirabeau (ôi, ví có thêm đời sống thứ hai hay ba thì tôi đã nhảy cái cho đã đời rồi) nhưng chính cái cười níu tôi lại bên đời quạnh hiu sung ôi S-Ư-Ớ-N-G… Cái thằng tôi ấy dù từng nai vai (trâu) ra cày thuê sắm cho được tủ sách mỏng dày, mỏi gối chồn chân đi gõ tìm từng mảnh tư liệu rơi rớt dọc con đường điền dã hay còng lưng (cụ non) ra viết dúm công trình nặng bao tải chở đầy nguy cơ đẩy tuổi trẻ tôi chìm không đáy vào hố nghiêm nghị; lại cái cười lần nữa thòng cọng hành xuống cứu vớt tâm hồn dại dột tôi sống sót. Cái thằng tôi ấy từng buổi sáng nhấm nháp trà Bắc với nhâm nhi từng giọt lời khen tặng nhiều cố gắng đầy sáng tạo để được bay lâng lâng trên đôi cánh thiên thần của hội viên Hội hội viên Hội của nhà, sĩ, của trân trọng kính ngài lên phát biểu dạ thưa cám ơn, sẵn sàng dồi tung ngài như con rối; cái cười vội túm lấy chòm tóc em ôi sợi ngắn sợi dài giữ lại, vuốt vuốt nó và xoa đầu thôi đủ rồi em ạ chỉ là trò đùa trong điệp điệp muôn trùng trò đùa không hơn thua phân tấc ôi em!
– Văn chương đẩy ta ra xa bãi bờ buộc ta học nhìn mình từ bên ngoài, châm chọc ta cho ta biết mở trí xem nhẹ mình. Chức tước hay tên tuổi. Ria mép hay mụn nhọt. Mái tranh với lâu đài. Cốc bia ngoại hay chén rượu nội, như cái bác đang cầm ấy mà! Văn chương dạy bác xem thường nó, nhẹ hều một kiếp…
– Cái cười giải phóng con người khỏi mọi mê tín. Thình lình tôi ưỡn ngực nghiêm giọng.
Tối hôm ấy tôi đã nốc hết cả két bia Phú Thọ cao cấp, nghĩa là cũng xem xém năm cái bụng, điều mà anh bạn tôi khá cảnh giác.
*
Tôi đến Hà Vân ngay khi vào Sài Gòn, được nàng báo cho biết đã gặp Chế Khan. Ông già gân mách em chỗ ở của ảnh trong ý đồ tách hẳn em ra khỏi anh.
– Cá tính lắm.
– Hôm nào mình sang gặp hắn đi.
– Ngài bảo phải tuyệt mật, nhất là với kẻ được cưng chiều như tay J’Man (đây là ngón đòn độc ngài giáo sư dùng đánh sau lưng tôi). Sau Hội thảo hai ngày, chị vợ Chế Khan dắt tay mấy nhóc vào ngồi hầu cả ngày ngài cũng không chỉ cho biết, bảo ảnh đi xa rồi chẳng hiểu đi đâu. Mẹ con lủi thủi dắt nhau về.
Bốn năm chưa phải dài dặc gì nhưng hắn thay đổi đến muốn kêu lên một tiếng: mái tóc muối lấn tiêu, khuôn mặt hốc hác đẩy cặp mắt lồi ra, nước da tái nhợt như chưa ra nắng đến cả năm. Hắn tiếp chuyện chúng tôi nhát gừng. Dù sao trước mặt hắn còn có Hà Vân và hắn không thể không giương ra cái chất cố hữu của giống đực. Qua chuyện kể không đầu đuôi của Chế Khan, tôi tạm đúc kết: Mưhuê có cặp mắt rất giống em họ hắn, mãi sau về Văn Lâm hắn mới nhớ, với cái mỉm cười nhếch môi phải (cả hai ít khi cười). Nó ám hắn không nguôi. Cùng virut mê văn chương bột phát thôi thúc hắn tìm bản trường ca nàng lưu giữ. Nàng đã đi. Hắn lang thang khắp thôn xóm. Tay Inrasara đã trúng khi bảo không tin rằng mình đang có trong tay được tới một nửa sáng tác văn học Chăm, hắn nói, hắn cũng mót được mấy chục tác phẩm khác nữa nhưng vô ích mong có khám phá sáng tác mới nào khả dĩ vượt được Pauh Catwai, Glang Anak hay Bini - Cam. Hắn ta đã rất tinh với nhận định của mình. Hắn nói, gườm gườm tôi như dám chạy níu lại lời khen lỡ mồm dại dột.
Sống một tháng qua một plây. Cứ thế. Một hôm hắn nhìn thấy một cô gái đội củi trên đường xuống Paplom đang nghỉ trưa dưới cây keo, giống Mưhuê như tạc. Hắn bị chớp giật, chạy òa tới muốn ôm chầm lấy cô gái khiến cô nàng hãi quá bỏ chạy kêu làng. Hắn gọi cô gái lại, nói mãi cô gái mới chịu nghe, đưa hắn về nhà gặp ông chú. Sau khi tự khai lần nữa lí lịch bản thân, ông chú tin tưởng rồi hắn mới được phép gặp riêng cô gái. Mưhao bảo nàng tuổi Chuột, cha mất khi cô còn trong bụng mẹ. Tiếp đến là mẹ mất, lúc đó cô mới lớp Một. Nay đã hai sáu, vẫn chưa chồng. Cô gái như bản đổ khuôn Mưhuê xưa. Hôm sau (thứ Tư ngày lành), sau khi làm lễ rước Ciet sách xuống – Ciet sách cha để lại như gia bảo duy nhất – hắn vã mồ hôi khi ngó vào trang đầu tiên: chính nét chữ của bản trường ca bỏ hoang khi xưa. Thế là các bản thảo như bàn tay định mệnh đóng cứng hắn vào chúng. Chúng đấy, hắn trỏ cái tủ kính bên trong là các tập giấy úa vàng nằm so le.
Hắn xin ông chú mang chúng vào Sàigòn. Nữa: sau khi nhận Mưhao làm em gái (hắn đã mấy ngày nằn nỉ cô gái mới chịu cho xem nốt ruồi lộ hồng giữa ngực, hắn nhắm mắt lại thật lâu: đích thị em ruột nàng rồi). Hắn không đi đâu nữa, suốt ngày nhốt mình trên căn gác xép, đọc và suy tư – vô danh trong một gác xép vô danh trong cái thành phố mênh mông này – ngoại trừ tháng một lần về Paplom mang theo ít tiền làm quà cho Mưhao, món tiền hắn chắt chiu từ thu nhập không lấy gì làm khấm khá bằng việc dịch thư từ tiếng Anh cho vài văn phòng dịch vụ ở dưới phố.
– Anh sẽ trở về khi công thành danh toại? Hà Vân hỏi.
– Nỗi đau khổ con người là vô tận. Ít ra hai đứa nhỏ ở quê cũng có mẹ bảo bọc.
– Cách đây một năm nghe nói ông có về?
– Ừa, Hiếu Thiện. Để xem ngực cô em họ.
– Và…
– Không.
– Chí ít ông cũng một lần về thăm họ chứ, rồi thì ông cứ tiếp tục sống kiểu của ông.
– Mầy đạp cứt thằng Tân hồi nào thế? Hắn nhìn tôi, gườm gườm.
– Có gì mới không? Một lát sau tôi hỏi.
– Có đấy. Hắn trờ tới kệ sách rút trong tập hồ sơ, vứt trước mặt tôi bài báo cắt từ tờ Thanh Niên số ra ngày 13.03.1998: Bức màn bí ẩn phủ quanh tháp Campa. Tôi có biết bài viết này nhưng đã quên nó lâu rồi. Tôi đọc lại, chú ý mấy đoạn hắn gạch dưới.
Về nguồn gốc của tháp Campa, cho đến nay chưa có chứng cứ chắc chắn để nói rằng những ngôi tháp Campa cổ là sản phẩm sáng tạo của người Chăm dù họ là chủ lễ các kì cúng bái tại những tháp ở Ninh Thuận, Bình Thuận và vẫn chưa ai đưa ra bằng chứng chứng minh họ là chủ nhân của tháp. Trong cộng đồng Chăm cũng hoàn toàn không có tư liệu riêng về việc xây dựng tháp mà chỉ tồn tại các “huyền thoại”. (…) Điều đặc biệt nhất là những dòng chữ mà chúng tôi đọc được trên văn bia tháp Poklaung Grai (sic) (…) có nội dung lên án, miệt thị những cư dân vùng Panduranga xưa - nơi tập trung chủ yếu là người Chăm. Không có lý nào người Chăm lại tự lên án mình ở những nơi thiêng liêng như thế?
Ghi chú của Chế Khan
Nên nhớ là văn bia được viết vào thế kỉ XI. Champa bao gồm nhiều tiểu vương quốc với chính quyền Trung ương ở Amaravati cai trị. Tháp do triều đình dựng để toàn dân thờ phụng. Giọng văn của hoàng đế quyền uy tối cao với thần dân mình như thế là chuyện rất bình thường. Có lẽ dân Panduranga còn hãnh diện nữa là đàng khác. Vì chỉ có họ mới dám phản kháng lại bất công. Nếu không thế họ phải đập đổ bia đi khi chính quyền Trung ương suy yếu, và nhất là lúc Đồ Bàn sụp đổ và năm 1471, khi chỉ có tiểu vương quốc Panduranga là còn sức mạnh quân sự và văn hóa đáng kể của Champa.
– Thế nào? Hắn hỏi ngay khi mắt tôi rời khỏi trang báo.
– Có vài điều không ổn ở đây. Tôi chuyển tờ báo cho Hà Vân.
– Không ổn cái khỉ mốc. Ngu, ngu, ngu. Hắn đập mạnh nắm tay xuống mặt bàn giả mi ca ọp ẹp làm bắn tung nước trà trong li. Thế mà các ông câm miệng à? Hèn, hèn, hèn! Các nhà nghiên cứu tư tưởng Chàm ông, các phó tiến sĩ mấy đứa trốn chui trốn nhủi đâu rồi? Nhà ông nổi tiếng để làm chó gì? Để đưa ảnh bà vợ quý hóa cùng mảnh tình đọc rớt nước dãi lên báo thôi ư? Muốn trở thành ngôi sao à? Hắn cười gằn, nhìn tôi và đung đưa cái đầu bờm qua lại như muốn nói: hết hy vọng ở các ông rồi.
Hà Vân đưa trả Chế Khan tờ báo. Hắn chộp lấy, vẫn đứng đấy, hai tay chống lên bàn.
– Tội cho ông một mình tả xung hữu đột chỗ này nọ. Khoản đó, bọn này lỗi đã không giúp gì được ông, tôi muốn nhắc đến các bài trao đổi của ông. Nhưng khi thấy ông chường đời tư ra mặt báo thì thằng này muốn đâm đầu vào đường ray xe lửa để không phải thấy mặt trời nữa.
– Khoan nói tới chuyện đó. Chí ít ông cho tôi biết ngu thế nào chứ.
– Ông thử đọc qua cái này đi. Chế Khan đưa cho tôi bản dịch Việt ngữ chép tay trên tập học sinh.
– Ông đọc được Phạn ngữ?
– Cứ đọc nó đi đã.
… vì người Chăm vùng Panduranga ngu ngốc, ngang bướng, luôn chống lại hoàng đế tối cao. Cuối cùng ngài phải thân chinh đến. (Họ) muốn tôn người Panduranga lên ngôi vua. Nhưng bằng trí thông minh khôn khéo của mình, ngài đã chinh phục được tất cả…
– Hai vị “học giả” này đã không đặt tinh thần câu văn vào đúng hoàn cảnh sinh đẻ của nó. Đồi Trầu có mặt vài bia kí niên đại khác nhau. Cái được khắc trên một tảng đá nằm bên ngoài tháp chính mang nội dung như hai “học giả” đã khám phá thì niên đại ghi năm 1050, có mặt trước khi tháp Po Klaung Girai được dựng lần cuối cùng đến hơn hai thế kỉ!!! Ẹ thế chứ…
Im lặng nặng và đục.
– Nó thuộc phạm vi chuyên môn rất hẹp, Hà Vân nói.
– Các vị còn muốn tôi về nữa không?
Không ai trả lời hắn. Tôi nhìn thấy trong mắt hắn cái quyết tâm gần như phi nhân tính. Tôi muốn hỏi hắn về sách gốc của bản trường ca bỏ hoang, về bản chép tay hắn đang giữ nhưng tôi nghĩ cuộc ghé đã quá đủ. Bỗng dưng tôi có cảm tưởng mình vừa mất một người bạn, ít ra người bạn như tôi đã từng biết.
*
– Đôi khi anh thèm được như Chế Khan. Tôi nói khi Hà Vân đang khúc Ngã Tư Bảy Hiền chợt quẹo qua đường Lý Thường Kiệt. Khác mấy lần ra Hà Nội, ở Sài Gòn tôi hiếm khi được hân hạnh ngồi yên sau mà người cầm lái là phụ nữ.
– Anh thường về mấy giờ, J’Man?
– Trước mười giờ.
– Không phá cách được à?
– Cổ điển luôn tốt hơn.
– Mình cách điệu một lần nhé. Hà Vân nói và ngoặt xe vào con hẽm, thắng kít trước quán cà phê khá sang trọng.
– Anh vừa bảo muốn được …?
– Được vô danh. Có thể làm bất kì gì mình thích, lang thang đến miền không đâu, đi vào nơi chốn không tên ngốc nào cũng có thể khuyên mình nên thế này, không nên thế nọ, như vậy thì đủ rồi hoặc hãy còn thiếu, vân vân. Vô danh không phải là không nổi tiếng, kém nổi tiếng hay ít nổi tiếng hơn mà là vô danh. Bởi nhà bác học có thể vô danh trong khi tay hốt xà bần mình vừa đụng chiều nay vẫn không vô danh trong thế giới của ông ta. “Tôi sợ phải có một tâm hồn cao thượng”. Dos nói thế, anh không nhớ nhân vật nào trong hoàn cảnh nào, nhưng đó chính là ước muốn vô danh. Mình muốn để râu cằm dài hơn xíu thì Mưlan bảo không được, đứng trước cử tọa trông nó kì kì thế nào ấy. Muốn đóng cửa phòng lại suy tư (cũng chả có gì ghê gớm đâu) thì mấy ông bảo thằng cha mới lú đã vênh mặt. Phải nở nụ cười với kẻ mình không ưa, mở cổng đón tên mình không muốn tiếp, lại vân vân. Vì đã lỡ mang tiếng – tiếng người có văn hóa. Anh không dám ôm hôn em say đắm mặc dù anh rất muốn vì trót mang danh – danh trí thức đàng hoàng. Tôi liếc xéo Hà Vân, cười. Nàng cười theo.
– Nhưng ngài cũng đã làm như vậy mà ai dám bảo ngài không trí thức.
– Bởi ngài giáo sư muốn không vô danh ở nhiều lãnh vực, cả trong phạm trù ấy ngài cũng mong được vang tiếng là một giống đực hùng mạnh.
Nàng thôi cười.
– Vô danh như các tác giả Chăm vô danh. Ở ngoài cuộc nhìn người ta bàn về tác phẩm mình, có cái gì đó thú vị. Nếu muốn, mình cùng tham gia. Không ai yêu cầu mình viết hay hơn, khác hơn tác phẩm trước; phải nhất quán không được thay đổi quan điểm. Vô danh như Chế Khan để không phải nơm nớp lo sợ bị dòm ngó.
Im lặng.
– Hắn dám bỏ công việc, bỏ gia đình đã đâu vào đấy, không ai tố cáo hắn. Hắn theo đuổi Mưhuê khi nghĩ đó là định mệnh mình, không ai lên án. Rồi mấy trận truy tìm bản trường ca bỏ hoang, làm quen với ngài giáo sư khi nghĩ ngài là học giả số một về Chăm nhưng sẵn sàng dứt áo rời bỏ ngài khi thực tế lại khác (ngài chưa biết chuyện này hay biết nhưng muốn giấu Hà Vân) mà chẳng chứng mất ngủ nào cắn rách cái lương tâm. Sẵn sàng nuôi một cô em họ tưởng tượng. Lao vào tiếng Phạn và chữ Chăm cổ khi muốn khám phá bí mật đời tháp. Viết tiểu thuyết. Và ngày mai sẽ làm những gì gì nữa, có ma mới biết.
– Nhưng với tính khí như thế em nghĩ tiểu thuyết anh ta sẽ không bao giờ được viết đến trang cuối.
– Em đúng. Luôn luôn dừng lại ở chương đầu. Có lẽ tiểu thuyết chỉ nên dừng lại ở chương đầu như thế. Các chương tiếp theo chỉ là phụ gia cho đủ đầu mình và tứ chi, cho dầy dặn lên không gì hơn là để nhà văn tự huyễn về cái vĩ đại của mình. “Làm con ngựa kéo xe”, ông cụ Henry Miller đấy, kẻ sáng tạo thực sự không bao giờ hành động như vậy. CHƯƠNG Truyền thuyết làng Mali đã là một tiểu thuyết hoàn chỉnh, mở ở hai đầu. CHƯƠNG Bản trường ca bỏ hoang mở ở phần cuối. CHƯƠNG Ngài giáo sư Trần Hùng đóng lại vĩnh viễn cuốn tiểu thuyết. CHƯƠNG Hai chị em có nốt ruồi nổi hồng giữa ngực có thể không cần viết thêm gì nữa ngoài cái tiêu đề. Luôn luôn khởi đầu, tiểu thuyết ngày mai sẽ đi theo con đường của thi ca là vậy.
– Thế thì dự báo của ngài giáo sư về một nhà tiểu thuyết lớn của Chăm cứ mãi là dự báo?
– Có lẽ.
– Và ý đồ ngăn cách đôi ta vẫn mãi dừng lại ở tiền ý đồ?
Hà Vân cười, đẩy ghế đứng dậy, đột ngột vòng tay qua cổ tôi, kéo tới hôn lên môi tôi thật nhanh nhưng đủ mạnh.