Sợ hãi nào khiến cô sinh viên lỡ mang bầu tâm sự với anh bạn học cùng lớp dân tộc Tày đã xin phép nhà trường nghỉ nguyên năm vào miền Tây sinh đẻ rồi gởi con cho một gia đình không quen để suốt bảy năm không một lần trở lại thăm dù anh chồng Chăm sau này rủi ro biết cũng không đến nỗi? Sợ hãi nào xui bà mẹ trẻ này cắt đứt tình mẫu tử với đứa con rứt ruột sinh, để hình ảnh bé xíu đó ám ảnh, đi vào giấc mơ giày vò, cấu xé?
Nó có bạn đồng môn với sợ hãi của Văn Khâm khi biết mình bị xóa sổ khỏi cộng đồng xếp xó anh đồ bỏ, hơn cả bỏ đi, con số âm không đáng nhớ?
Hay sợ hãi của ông nhà văn Inrasara khi nghe tin dư luận tố giác phản động, đồ phản bội dân tộc?
Kể rằng: Tối, anh bạn điện từ Phanrang báo tin dúm kẻ quê giận dữ về bài viết của trên tờ Văn nghệ Dân tộc số xuân Đinh Mão. Ông ta đã hoảng hốt đến tím tái lá gan, cúp rụp điện thoại, chạy xộc vào phòng lục lật lại trang báo:
“Biết bao sáng tạo, biết bao kí ức và kinh nghiệm đang bị bỏ rơi và quên lãng. Như chúng tôi một lần đã nói, không phải tất cả những gì người Chăm lưu giữ đều giá trị. Chúng có thể sai lầm, lệch lạc thậm chí phản động nữa. Nhưng nếu chúng ta biết chắt lọc, kho tàng tư liệu cổ Chăm chắc chắn ban tặng cho đất nước Việt Nam đa dân tộc những giá trị tinh thần quý báu không dễ tìm lại được.”
Đọc đi đọc lại nó chục lần: có cộm chi mô! Vậy mà nghe kể ông ta cấp tập đánh dây thép cho vài người quen hỏi ý kiến, họ nói không gì cả. Thế là tuần sau ông ta dzọt về quê chợt thấy vài vị đeo nặng bộ mặt trách nhiệm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc nhìn nhà văn duy nhất của dân tộc mình như đồ vô lại. Sóng tiêu cực lan nhanh dịch miệng chạy nhanh, thư phát chậm. Ông thầy cũ nhặm lẹ phát lời khuyên mau chóng xoay chuyển dư luận hầu đánh bạt ám khí chống đối quanh bài báo mà kẻ ghen ghét bấy lâu dễ biến em từ người công đầu trong bảo tồn và phát huy thành tên tội đồ đáng phỉ báng. Và có thể trắng tay.
Nhưng ông nhà văn này vốn máu điên Chakleng, nghĩa là thư thả ngồi kiết già e hèm suy nghiệm về sự cố dù nguy cấp đến đâu để truy nguyên mũi tên xuất phát. Ngay tức thì chúng ló ra: không đâu cả mà chính từ cái loa của những “chiến sĩ bảo vệ văn hóa Champa” trung thành trung kiên, trong đó không ít vị tự nhận đồ đệ trung tín của ngài giáo sư Trần Hùng. Có chiến sĩ còn dọa viết trao đổi nữa! Mò ơi, ông ta kể hôm đó đã kí giấy tự cho phép mình cười trận nứt bụng.
Dẫu sao thịnh nộ (dẫu dúm nhỏ một chiều nghe theo các chiến sĩ) của công chúng chớ mà dại dột coi thường. Nên khi đưa bài báo vào tuyển Các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm in cuối năm đó, ông nhà văn đã nhát gan nhanh tay sửa lại để đắc nhân tâm:
… Chúng có thể sai lầm hay không còn hợp thời nữa…
Và thằng bạn ngày xưa thân ái xoa đầu khen biết ăn năn hối cải như thế là tốt!
Nỗi sợ hãi nào khiến đồng bào yêu quý của ông ta phát giận thế và nhà ta đã hốt hoảng (dẫu một giờ ngắn ngủn) thế? Phản động! Phát âm nó thôi cũng đủ khiếp rồi đằng này anh viết nó, rành rành bút sa gà chết dịch. Không cần biết đoạn sau đó hay trước đó anh viết gì, không cần biết xung quanh nó có gì, thậm chí sát sườn nó – mà chỉ cần “phản động”. Hay tệ hơn, sự cố được đẩy lên một cấp độ khác: tay Sara nói “Chăm phản động”.
Cảm thức bắt nguồn từ vùng tối thẳm sâu của lịch sử, không thể giũ bỏ nó dễ dàng ngày một ngày hai. Công an nói: bọn phỉ phản động, chúng có thể bị tù. Chăm nói: thằng phản động, thì hắn là kẻ phản bội dân tộc đáng xóa sổ. Đằng này nhà văn đại biểu dân tộc dám tuyên bố các văn bản cổ Chăm phản động (?) thì đích thị phản động rồi, lật áo cho người xem lưng rồi. Làm như Lê Chiêu Thống (nếu ông có viết lách ỉ ôi), Tôn Thọ Tường đã chưa từng có văn bản phản động trong lịch sử Việt, với cộng đồng Việt. Làm như Lã Khải, Ja Phik Cơk chưa từng là thế trong xã hội Chăm xửa xừa xưa? Hay nói như Saman, làm như Chăm hôm nay tiệt nòi phản động sạch bách trơn trọi rồi! Chúng ta cứ chăm chăm nhìn vào cho người xem lưng mà không dịch chuyển tư duy sang nên, cần cho chính mình xem lưng, cái lưng không hề thiếu ghẻ lác. Câu nói của chính cửa miệng Chăm rằng Chăm với Bàni khác nước không là phản động thì còn kêu bằng từ gì, ôi bà con làng nước tôi laaaaaA…..
Chúng ta không những sợ sự kiện, sợ quan điểm mà sợ hãi cả một từ, những từ. Là điều đáng cho ngài giáo sư Trần Hùng suy ngẫm mà đặt khái niệm mới hầu tìm cách ứng xử cho phải phép chớ đừng hấp tấp mở Hội thảo Latin hóa chữ Chăm để phải chịu thất bại đến không nuốt nổi miếng thịt gà nguội bữa tiệc chiều tổng kết. Chữ Chăm, dân tộc tính, phong tục tập quán, sách cổ, tháp, chó săn, truyền thống, bản sắc dân tộc… là những từ nhạy cảm. Như nhân loại ở đầu thế kỉ này thờ phượng các từ thiêng liêng: tự do, dân chủ, bình đẳng, văn minh… vậy. Nhạy cảm còn hơn lớp da non ung nhọt chưa lành. Chúng ta rất ngại rờ mó nó chứ đừng nói đến cầm dao mổ rẹt.
Nhưng nếu anh tự nhận ngon lành, sao lại hãi đến vãi hồn vía kia chứ?
Sợ hãi! Ông Than Kon đã thấy nó, phía trước, phía sau, bên trên, bên dưới, xung quanh ông. Ông nhận mặt nó ngay chính diện, bề ngang, chiều sâu, mặt trái. Nó tiến gần hay lùi xa. Lúc ông ăn, ngủ, đi, đứng, nằm, ngồi, ỉa, đái nó có mặt. Ông đối mặt nó, chạm vào nó, quay lưng hay hèn nhát chạy trốn nó. Nó đuổi theo ông, vờn ông, doạ nạt hay mơn trớn vuốt ve ông. Nó cười tình, áp sát, vồ chụp, ôm hôn dồn dập ông. Sợ hãi dồi tung hay nâng đỡ định mệnh con người, hình thành hay hủy phá cấu trúc tư tưởng, triết học, ý thức hệ… Nó khiến Pơ Ngang mới ngoài ba mươi mà đã trầm trọng chứng đau lưng bởi luồn cúi mỗi ngày dăm bảy bận. Nó xúi ngài giáo sư Trần Hùng khệnh khạng ưỡn bộ ngực lép rất siêu thực omega trước đám đông trí thức Chăm. Ông nhìn thấy nó trên khuôn mặt của ông của tôi của Thuman của Dhan Than của tất cả con người đã từng đi vào và đi ra Chakleng, hằng ngày. Nụ cười thoảng qua hay nét lo âu in đậm. Chiếu bệnh hay giường đẻ, cổng nghĩa trang hay giàn lửa. Trong đám đông và trong cô đơn. Trẻ, già, đàn ông, phụ nữ, thậm chí nhập nhằng hai giới. Đập phá, quay lưng, muốn lên núi tu, không làm gì cả hoặc làm tất cả; nhập thế, xốc vác xã hội, đọc sách, viết lách, đấu tranh cho chính nghĩa, hy sinh, bổn phận …. nó cứ có đó. Lù lù khệnh khạng hay mờ mờ sương khói. Như đợt sóng lớp này tiếp lớp kia, ồn ào hay câm lặng, lộ diện hoặc giấu mặt, nhưng không bao giờ biến mất. Giữa ban ngày, trong vui sướng ngất trời cả lúc đớn đau tuyệt vọng đến không thể sợ hãi nổi nữa – nó vẫn có mặt. Như cái bóng ông, cái bóng của cái bóng ông bởi nó có mặt cả trong đêm tối thăm thẳm của trời đất lẫn định mệnh ông…
Như một đêm kia, trong trận đột hứng cuồng nộ Than Kon đã đập vỡ bình trà chạy vào trời mưa gió lồng lộng hét lớn: các người đang mang bệnh sợ hãi, càng lúc càng sợ hãi một cách bệnh hoạn hỡi các người bệnh hoạn kia! Các người đang sụp đổ tàn phế hỡi các người sợ hãi đầy bệnh hoạn kia… Ông tiếp tục chạy và hét, hét to hơn nữa, hét cả bài thơ kinh buổi tận thế Dhan Than từng đọc trước lúc nhập định: Di ong nưmas sibac kayong… Ni swattik sidhik… AUM… Tiếng hét ông xuyên mưa gió dội vào thành đêm, vang to đến nỗi tay đốt than tận núi Cabbang [1] cũng nghe được – đồn thế. Ngay sau đó ông ngã quỵ trong mưa, cấm khẩu nguyên một năm trời mới chết. Sau đám thiêu, dân Chakleng còn nghe hãi khi nhìn thấy cái bóng to kềnh của ông hiện về lồ lộ ba đêm liền cạnh bìa rừng mới chịu đi hẳn.
Ví sợ hãi mà giải quyết được vấn đề thì còn nghe được, đằng này, ung nhọt chỉ mưng mủ thêm, dẫu bề ngoài có dịu bớt. Phân tích tâm lí nhân vật hay tâm thế xã hội, nhà văn không được chùn tay. Nếu không, anh khó bề đạt tới chiều sâu thẳm. Và anh chả nhích lên được. Anh sẽ chết, chết ngay từ trong vỏ. Người đọc vứt bỏ anh như vứt xơ mít xuống kênh Nhiêu Lộc đen.
Chăm mất nhiều thứ rồi nên rất sợ mất tiếp tục chương trình thứ còn lại, dẫu cái còn lại chỉ là mảnh vụn, những les ruines, như Jaklan mỉa thế. Nỗi sợ hãi truyền kiếp phát nguyên từ miền sâu thăm thẳm quá khứ xa xăm. Dù không ai làm gì cả, không thử đổ mồ hôi lưng áo lấy một lần để bảo vệ cho ra bài bản cái mình rất sợ mất đó. Cao Xuân Hoang, Đàng John Thak… một chữ k đeo tai không có nhưng sẵn sàng xả châu thân bảo vệ ngôn ngữ - chữ viết Chăm! Cảm động đến đáng phải nhỏ vài giọt nước mắt phim bộ.
*
Đó là sợ hãi mang tính xã hội. Nó gắn liền với sợ hãi của tồn tại, phát triển và suy vong của cộng đồng. Kẻ nào dại dột thọc tay vào tổ kiến lửa sẽ bị trả giá. Pơ Ngang đã như thế khi phao tin đồn nhảm gây hoang mang tháp Po Klaung Girai chắc gì đã do Chăm nhọc công tốn của, đắt hơn khi anh manh tâm Latin hóa chữ cha mẹ truyền con cháu nối.
Có sợ hãi thuộc phạm trù siêu hình.
Không phải yêu thiết tha gì tiếng mẹ đẻ mà hắn cho là thiếu logic trầm trọng, cũng chả thương mến đầm ấm gì nền văn hóa hắn gọi đích danh là tập hợp mớ vay mượn vụng về, càng không phải nặng trách nhiệm với xã hội Chăm hôm nay cùng vô thiên lủng tranh chấp vụn vặt, ích kỉ nhỏ bé mà hắn ngấy tận cổ, thế nhưng Jaklan đã tự sung vào đội quân chiến sĩ bảo vệ văn hóa Chăm nhiệt liệt như một người lính trung kiên bất thối chuyển.
Bauh Bini
Tại sao đã 12 giờ trưa, trong lúc gia chủ cùng họ hàng xa gần với bao nhiêu mâm lễ bầy ruồi cố lăn vào bu khiến cả bốn ông thầy cúng phải mỏi tay xua, chốc chốc ngóng ra ngoài cổng xem bóng hắn dẫn đoàn quay phim Nhật đi cùng tiến sĩ tận Hà Nội ló ra mà Jaklan cứ ung dung rung đùi tại một quán nước nhà quê để giải thích với mấy cô sinh viên ý nghĩa siêu hình về biểu tượng Haumkar một cách không cần thiết, có cả đám thanh niên làng xúm quanh nghe, dĩ nhiên chả hiểu hắn nói trời trăng gì cả? Hay hắn muốn nhân đây ưỡn ngực cho làng nước biết mặt rằng hắn đang hướng dẫn đoàn làm phim khoa học nước ngoài, nghĩa là đóng góp cách thiết thực và khoa học vào bảo tồn vốn quý của dân tộc? Hắn biết họ phải chờ, chờ đoàn này đến mới tiến hành lễ. Nhưng hắn có hiểu chính lý do đó mà cô bác đang mỏi cổ chờ, ném cái nhìn chằng chịt tia máu sang hắn, không phải ở trễ giờ (thần thánh còn tuân thủ giờ dây thun của Chăm) mà ở họ đã chờ, nghĩa là họ kém quan trọng đi, trong lúc mình đang thủ vai chính?
Nhưng họ đã chờ.
Vừa thấy đoàn phim đến bảy người bước vào cổng, Saman đưa tay lên.
- Good noon! Chào buổi trưa! Các ngài cứ thong thả. Được vào camera là niềm tự hào to lớn của bà con, chúng tôi sẵn sàng đợi thêm vài tiếng nữa chả hề hấn gì cả.
Jaklan đi nhanh qua cửa vào thẳng nhà trong, bắt tay ông Mok chủ gia.
- Xin lỗi đã trễ. Vị tiến sĩ trung niên có mái tóc rễ tre, nói.
- Xin chào! Xin chào nhé! Người đàn ông Nhật có lẽ là trưởng đoàn, nói.
Mọi người chạy qua lại nhốn nháo dù không phải làm gì. Jaklan hăng hơn cả, nói cười chỉ trỏ, sửa mâm cỗ, dời cái tô canh, nhăn trán suy tư.
- Đuổi cho kì hết mấy con ruồi còn lai vãng ra ngoài. Saman nói.
- Saman! Tiếng ông Mok. Jaklan bước lui mấy bước, đạp mạnh gót giầy lên chân hắn.
- Ôi chào! Sao vị nghiên cứu sinh vào nơi tôn nghiêm như thế này mà còn chưa tháo cái giầy?
Jaklan đỏ tím mặt, đứng đực giây lâu rồi lẳng lặng bước ra ngoài. Hắn trở lại thật nhanh, chỉ bằng một cái nhổ nước miếng như thể có phép ảo thuật làm cho đôi giầy và cả vớ văng ra. Hắn đi vượt qua mặt Saman, mắt nhìn đăm đắm máy camera vừa bắt đầu làm việc.
- Mầy làm ơn…
- Ừa, vậy mới phải phép chứ, Saman nói khá to. Tay này hám danh, học chung lớp, ngoài vụ cố gắng sao cho xuất sắc nó luôn moi được cái gì đó để mà cày. Trong lúc lứa mình không hiểu mô tê gì về nhạc dân tộc thì nó đã biết chơi Ginang (dĩ nhiên trình độ hết dùi đến dùi) để buổi văn nghệ trường nhảy lên ngồi chễm chệ chàng hiu trên sân khấu. Tổ cha nó, trong lúc Ban biên soạn vắt cạn óc viết sách dạy bọn trẻ cái chữ cái nghĩa thì nó dùng khả năng (phải nói là trội vượt) tiếng mẹ đẻ đi soạn sách đặc hiệu để xóa mù các cha cố. Nó một mực tin theo Cao Xuân Hoang – dù nó với nhà cố vấn họ Cao như dao với thịt – không sớm thì chầy Cam Ahier thế nào cũng theo hầu các vị này. Đón đầu lịch sử chăng? Rồi khi anh em trí thức gom dồn kiến thức củ khoai cộng tác với Bùi Khánh Thế soạn từ điển mới thì nó một mình một cõi tung hoành nghiên cứu cái sợi dây. Nó tuyên bố đã khám phá nhiều bí mật có khả năng bóc trần sự thật lịch sử – Chăm tan rã lên Cru lấy vợ sinh con đẻ cái chứ gì? – Ông mà biết quái nào được. – Hay ông bạn nghiên cứu sinh vừa khám phá kho báu hoặc giả cái tháp nào đổ trên ấy? Nó nhìn mình như không đáng tốn nước miếng. Tưởng nó đi tiêu đời đâu rồi chứ, ai dè hôm nay trở về trang trọng cùng đoàn làm phim ngoại quốc rất quan trọng trong tư cách hướng dẫn viên khoa học.
– Bác tránh ra cho người trung ương làm việc. Saman nói.
– Đứa nào đặt tô canh qua chỗ này? Ông già nhăn nhó.
– Nam hữu, nữ tả. Người của trên làm đúng sao bác dám la. Tô lớn bên phải chứ? Saman nói.
– Không có thì lấy múc đại đi chớ, lớn nhỏ con cặc gì.
– Sao bác không cúng gà con cho nó lợi hơn?
– Chú mầy lí sự.
– Cho tiện lên hình thôi bác. Jaklan ghé tai ông già, nhảy cái phóc đứng sau tay phụ trách máy quay.
– Nào, cúi xuống lạy! Hắn hô to: laaaạaạy….. Chưa được, chưa đều lắm. Quay sang anh phụ trách máy:
– Có cần làm lại không?
– Thôi, cho tự nhiên đi. Vị tiến sĩ với mái tóc trông rất chán, nói.
– Dù sao cũng cố gắng để ăn ảnh bà con mình ơi.
Đang khi quí bà, cô quỳ lặp lại, hắn phùng má bưng mâm hoa quả to kềnh dịch sang một bên. Quanh cái cổ mà thượng đế làm dường bị thiếu hụt đã nhễ nhại mồi hôi. Sự nhiệt tình thái quá của hắn vào giờ quá ngọ này rất đáng để cảm động.
– Tranh thủ tụng đọc lẹ lên các thầy ơi, cái bụng sắp hô khẩu hiệu rồi đây.
– Có khách trên xuống mà cậu cứ cà rỡn. Ông anh họ nhăn Saman.
– Quay ông anh họ tôi nữa, đậm vào. Ánh đèn pha chĩa thẳng vào một ông đang ngồi trên bộ ván gỗ gụ cố gắng nghếch mặt khá ra dáng. Keep smiling! Chăm tôi ai cũng khoái nổi tiếng, cả tôi cũng vậy. Cười lên!
Tôi nghĩ Saman không chính xác – nổi tiếng. Đúng hơn: muốn ngồi vào kí ức kẻ quen biết trong thời hạn ngắn cũng chẳng sao, miễn là có ngồi. Ông chủ họ kia ngắt với thằng cháu ruột bác sĩ khi khách khứa tới đông, tao có la mày đừng cãi nhé (giọng ông gần như van lơn) để thể hiện oai phong của chức chủ họ của ông. Khẳng định cái tôi như thế, ông muốn ngồi vào kí ức những người xung quanh chỉ trong ngày hôm đó, không hơn. Thuman nói con người hay có khuynh hướng gắn mình với cái xa lạ ngoại nhập: một tri kiến, một thần tượng hay thói tật. Họ không là gì cả, lúc đó, trong tập thể đó. Cậu tú sinh nhầm thế kỉ Bá Văn Ngan đã như thế khi hiu hiu tự đắc rằng hắn chỉ thích làm ruộng và khoái triết học Đức, còn lại hoàn toàn không kí lô gờ gam nào với hắn. Jaklan như thế khi hắn học Ginang, dạy cha cố chữ Chăm hay lăng xăng chạy tới lui với đoàn. Nhưng hắn còn hơn thế, biết nhìn xa hơn: muốn ngồi thật lâu dài (cả sau khi nhập Kut) trong kí ức những kẻ không quen biết nữa. Nghiên cứu sợi dây là để phục vụ mục tiêu dài hạn kia.
Thuman gọi đó là sợ hãi siêu hình: sợ không để lại dấu vết nào cả khi bị quét văng khỏi mặt đất.
Nhưng hắn chả có lấy một gờram mỡ trông rộng, Thuman phán tiếp: Như các vua Champa mà tên tuổi khắc trên bia tháp chỉ còn là những les ruines kia đã không trông rộng. Dấu vết nào bất kì luôn gắn với nền tảng rộng lớn hơn, chắc chắn hơn để mà tồn tại thời hạn khả thể trong cái vũ trụ mênh mông bất khả tư nghì kia. Đằng này các Indra, Jaya, Simhavarman, vân vân Varman, từ thứ nhất đến vô cực (ví mà lịch sử cúi xuống chiếu cố) chỉ chăm lo cho vụ khắc tên mình lên bia đá đem gắn chặt vào cái tháp (dẫu khá chắc chắn) được xây từ bòn rút của cải dân mà chả tẻo teo quan tâm đến cần thiết làm sao cho dân được no ấm trước tiên, đất nước được tồn tại sau đó, như là nền tảng của nền tảng là tháp kia tồn tại cho dấu vết là tên tuổi nhỏ bé khốn khổ của mình được ăn theo mà đọng lại.
Còn Jaklan?
Hắn làm khoa học, ba chân tám cẳng chạy vạy ngược xuôi cho dấu vết mình được các chuyên gia tận thế giới nào xa xôi xoa đầu có nhiều cố gắng cứ như thế như thế thì rất tốt em ơi mà không hiểu rằng nếu phó mặc quần chúng gần gụi mãi bị mù và tái mù thì có khác gì thả cho đầu của sợi dây kia bị sút hay đứt đuôi con thằn lằn, hỏi còn gì cho cái tên tuổi Jaklan-dân Chakleng-sinh Đinh Dậu bám lấy mà kí sinh, dẫu ở bề đồng đại hay lịch đại?
*
Một sáng thức dậy, Đàng Phu quyết định đốt tất cả giấy tờ có chữ viết sót lại trong tủ gỗ đứng góc phòng bà chị họ dành riêng cho hắn từ bảy năm qua sau 30 tháng tư. Nếu đột xuất họ xô cửa vào nửa đêm lục soát thì không có bằng cớ nào kết án hắn CIA được. Họ không quyền làm thế nếu không tang chứng. Các bức thư thâm tình ông bạn Mỹ ở Cam Ranh gởi khi xưa hắn thường đem khoe bạn bè những năm trung học đã bị đem đốt trước lúc bộ đội tràn vào Ninh Thuận rồi. Sách học tiếng Anh bị hắn chôn giấu, sau đó giở lên và đốt đi cùng năm trong đợt truy quét văn hóa phẩm đồi trụy của Đoàn thanh niên xã. Tiếp theo là các thứ giấy tờ khác, cả mấy tập vở cũ: biết đâu vô tình hắn viết cái gì đó liên can chắc chắn không qua con mắt nghiệp vụ. Gây cho hắn không ít khốn đốn là bảy tập lưu bút dày 300 trang mỗi tập viết đầy chữ của hơn trăm bạn học cùng kí túc xá Pô-Klong đều đặn từ năm lớp sáu mà hắn nâng niu như thứ kỉ vật bất li thân.
Không biết mấy mươi lần hắn chôn xuống, đào lên hay đem gởi nhà bà con khác nhau để cuối cùng khi không còn tin tưởng một ai có thể bảo mật nữa, hắn nhất định xin về.
Sáng dậy, hắn quyết định đốt. Dứt điểm phải đốt. Từ các tập này, họ dễ lần ra manh mối tất cả. Hắn nhìn từng tờ giấy âm ẩm từ từ bốc cháy như cháy cùng ngày xanh thuở học trò chịu đựng chịu khổ nhưng lãng mạn của hắn. Hắn gượng cầm nước mắt. Hơi nóng ngọn lửa trong căn phòng đóng kín bưng cùng xúc động dồn nén khiến thân hình teo tóp của hắn vã mồ hôi như nhúng. Đến tập lớp sáu (hắn đốt từ tập cuối trở lên) hắn chợt ngưng. Hay giữ lại tập này, duy nhất chỉ nó thôi – năm của bao nhiêu kỉ niệm thuở ban đầu thơ mộng. Dẫu có phải chết! Nhưng không. Hắn tiếp tục đốt, chậm hơn, không một lần đọc lướt qua bất kì trang nào hay liếc qua tên bạn cũ nào. Đột ngột hắn rụt tay lại. Một xấp giấy nằm ở cuối tập rơi xuống: thư của người yêu cũ, 14 bức cả thảy. Con số 14 định mệnh. Cái đáng nhớ nhất lại bị quên bẵng. Xấp thư kẹp dính với trang áp chót đột nhiên rời ra khi tờ bên kia bị xé. Hắn đặt xấp thư lên bàn, quay qua đốt tiếp tập lưu bút còn lại, nhanh hơn. Thấy lửa bốc khóm hơi lớn, hắn quơ vội miếng giẻ dập tắt nó, rồi châm quẹt đốt lại từng tờ như kế hoạch. Còn vài tờ nữa thì có tiếng gõ cửa, hắn giật thót mình toan nằm đè lên lửa: cháu gái gọi cơm trưa.
– Xíu nữa chú sang, cháu ạ! Hắn nén hơi thở, đứng lên xem lại ổ khóa số rồi chồm đến cửa sổ đưa tay lắc lắc cái chốt. Hắn quay lại tiếp tục công cuộc. Xong, hắn nằm thả ngửa mình trên chiếc ghế bố, thở khò khè. Hắn với tay lấy xấp thư, toan mở ra nhưng dừng lại. Hắn vuốt nhẹ nó. Nó là linh hồn hắn. Họ không có quyền. Mình phải dũng cảm lên mới được.
Nhưng rồi Đàng Phu đã đốt nó đi ba ngày sau đó.
*
Tháng 4 năm 1975, gần như thanh niên cả làng đi Ikan krwak chỉ vài dúm ở lại, trong đó có hắn. Hắn cũng không hiểu tại sao hắn đã không đi. Hắn chỉ nghe đồn mình được Ong Kang chọn ở lại hậu phương cho kế hoạch dài hạn. Ba ngày sau đám bạn lên rừng bị xua chạy về dồn vào lớp học cải tạo, kẻ ba ngày, người một tuần hay cả tháng mới cho về. Riêng hắn, không ai hỏi han đến. Không phải chú ruột hắn có công với cách mạng đang làm phó chủ tịch xã mà hắn được đặc cách (con trai ông còn đi học nữa là) mà bởi lý do nào bí ẩn hơn, hắn không tài nào lý giải được. Năm 1976, Mỹ Nghiệp lên Tập đoàn sản xuất, ông chú gọi hắn đứng chân kế toán. Hắn được kết nạp cảm tình Đoàn một tháng sau đó. Nhưng ngay tối kết nạp, hắn thấy trong phòng ngủ cái thẻ Fulro dấu đỏ nhòe nhoẹt. Hắn muốn ngất! Hắn cáo bệnh ở nhà. Tuần sau hắn xin nghỉ việc.
– Chú tính đưa cháu vào Đoàn để còn lên Tập đoàn trưởng.
Hắn nhìn chú ruột rất lâu. Ông đang thử mua chuộc hay để dò xét hắn?
– Cháu hay bị nhức đầu lắm chú ạ.
– Cháu đọc ít thôi. Nghỉ mươi ngày rồi đi làm trở lại.
– Ừa.
Mười ngày sau hắn xin thôi hẳn. Ông chú vào tận phòng hắn nói chuyện, nhìn chằm chằm bàn viết hắn. Rồi hai lần thằng con cả đến động viên. Thằng này không thèm giữ ý, lục hộc bàn và lật lật mấy cuốn sách hắn đọc dở. Từ đó hắn luôn chú ý khóa cẩn thận cửa mỗi khi ra ngoài.
Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam. Khi Fulro không còn là vấn đề nữa thì người ta đồn hắn làm CIA qua liên hệ thân mật trên mức tình cảm với gián điệp Mỹ giả danh mục sư ở Cam Ranh. Lại ông chú về giữ chân chủ nhiệm Hợp tác xã, lần nữa mời hắn làm kế toán. Họ bao vây mình rồi. Thêm tối tối vài du kích lấm lét đi qua hàng rào sau nhà lấy cớ ngõ trước chật. Có tay còn kiểng chân dòm qua bờ thành nữa. Thế là hắn bắt đầu rào.
Là năm người yêu hắn ở Tanran cưới chồng. Cha chồng nàng cũng lên Mặt trận huyện. Thôi rồi họ đang lên kế hoạch li gián mình rồi. Hắn không ra khỏi nhà nữa, ngoài mỗi năm nửa tháng đóng công lao động xã hội chủ nghĩa. Tuần đầu ở Sông Pha, hắn làm rất hăng. Sau xuống hạ lưu sông Lu, hắn bất ngờ lơ là như mọi người. Cộng sản thì rất tinh. Kinh nghiệm đầy mình. Đi bát phố kẻ bị quân cảnh tóm là các tay ăn chơi chứ không thể Việt Cộng nằm vùng. Họ luôn đầy đủ giấy tờ. Nghiêm túc dễ bị nghi lắm. Nhưng nếu vô kỉ luật thì bị quy kết bất tuân lệnh trên. Công an dẫn về đồn, liếc qua sắc mặt là biết ngay thôi. Thế là hắn lại tự đưa mình vào nếp cũ.
Năm 1980, thằng bạn cùng trường nhận tiền của ông thầy cũ người Mỹ qua ngắt nhỏ hắn sao không viết thư sang bển xin tiền ông Bill. Hắn sửng sồ: mầy lá mặt lá trái, mầy bị mua chuộc dò xét tao, tao là CIA đây, mầy đi mà tố cáo đi! Thằng bạn lủi nhanh. Bọn này làm sao qua mặt mình được. Nhưng mình đã lạy ông tôi ở bụi này rồi thì làm sao đây? Nó dám đoái công chuộc tội lắm. Hắn mất ngủ đến hai đêm chỉ bởi câu lỡ mồm ngu ngốc đó.
Năm 1981, lại thằng bạn khác dân An Nhơn mà hắn khai mục bạn bè trong bản lí lịch đầu năm tưởng vô thưởng vô phạt xa lắc lơ thế ai ngờ tháng sau nó vượt biên, đã làm rầy rà hắn không ít. Ôi! Lẽ nào trống trơn bạn bè? Thế chả là gợi cho họ thêm nghi ư? Bà chị cả đời không thấy màu đô la vàng đỏ ra sao cũng nằn nỉ hắn viết thư xin tiền. Rồi bất ngờ cuối năm Bill gởi thư cho hắn, mà chính công an xã đưa đến tận tay. Anh cán bộ không hỏi han gì, chỉ việc trao cái thư, hỏi bâng quơ sức khỏe, mùa màng rồi đi. Họ biết tỏng cả rồi. Bà chị khi không lừa lúc hắn ra sau nhà làm cái sự việc cần thiết, đã xộc vào phòng lục tìm cái thư. Có tiền gởi không em? Tiền, tiền, tiền. Ở nhà này động tĩnh gì của tôi bên ngoài cũng biết. Tội nghiệp bà chị! Thế là hắn cấm rịt, không một ai tự tiện bước vào căn phòng đã trở thành thứ lô-cốt cô liêu này. Hắn bắt đầu đốt.
Và hắn bắt đầu làm Nhật kí giả
Ba năm sống đời lô-cốt thể hiện qua nhật kí chỉ trong một tuần ngắn ngủi, quả là kì công. Hắn đạp xe xuống Phanrang mua chục loại bút mực khác nhau cho công cuộc. Rồi thì bôi phấn. Và hơ lửa, hun khói, vấy mực, tẩy xóa. Thôi thì đủ cả để cũ hóa đúng với tuổi thọ của trang viết. Chúng ta thử đọc ba đoạn tiêu biểu:
Ngày 19.08.1979
Đọc Trường ca Nước non ngàn dặm của nhà thơ lớn Tố Hữu. Thực sự nể tài, đức. Một con người kiên trì cho lí tưởng cách mạng. Một giọng thơ trữ tình dân tộc độc đáo nhất mà mình được biết.
Ngày 10.01.1980
Hai hôm nay mình ra đồng cày. Lao động ăn công điểm của HTX quả là một điều thú vị. Mình đóng góp gì đó cho cộng đồng và biết rằng mình vẫn còn có ích.
Anh phó chủ nhiệm rất dễ mến.
Ngày 27.02.1980
Chăm phải học hòa đồng với cộng đồng các dân tộc Việt Nam mới có thể tiến bộ được. Yêu Tổ quốc Việt Nam như là Tổ quốc mới của mình. Một lần và mãi mãi. Mình đã nói vậy nhiều lần với người quen.
Có thể nói công cuộc đóng giả này được thực hiện khéo léo đáng cấp bằng. Khốn nỗi tất cả đều được viết trong ba cuốn Agenda 300 trang có giấy phép của Cục xuất bản vào năm 1981!
Cũng chưa thật an tâm
Tháng 8. 1982, Đàng Phu lấy vợ. Ít ra để thoát khỏi ba cái vụ cứ bị đồn sắp vượt biên.
Không thể suy xét hành động của Đàng Phu ở bề mặt được. Chẳng phải vô cớ, trước ngày cưới một tuần hắn nổi hứng tâm sự với vài láng giềng rằng đây là quyết định sáng suốt nhất trong đời hắn. Chăm thì ít khi nể tài nhau. Jaklan chỉ nể có mỗi một, nhưng là người đã chết. Nên việc Đàng Phu luôn tôn trọng ý kiến của Trà Chân là một biệt lệ. (Sau này không lui tới Trà Chân nữa để tránh liên lụy, hắn ray rứt không ít). Ghi chú của tay này về “Ba giai đoạn cảm thức sợ hãi Chăm” là ý tưởng căn bản được hắn nghiền ngẫm kỹ lưỡng.
Thời điểm
Giai đoạn 1:
Cảm thức trước khi lập gia đình
Giai đoạn 2: đến khi có cháu
Giai đoạn 3: sau đó
(nếu còn sống)
Trước 1970
Từ 1970 đến 2000: Liều lĩnh
Sợ hãi: Sợ sệt
Sợ sệt: Dũng cảm
Cả nể hèn nhát
Bản chất dòng máu Chăm là phiêu lưu mạo hiểm.
(Trà Chân nói bản chất dòng máu chứ không phải bản chất văn hóa). Nên ở tuổi thanh niên các hành vi bản năng luôn lấn lướt, tới khi lập gia đình họ bắt đầu sợ sệt cho gia đình bé nhỏ, ước mơ bé nhỏ, hạnh phúc bé nhỏ, kéo lê thê cho đến không thể kéo dài được nữa, họ bỗng dũng cảm ở khúc chót, khi thời kì an ninh đã qua, nỗi dũng cảm trở lại như thể trâu già hết nể dao phay. Điển hình là ông Klơng Man tất tần tật chuyện lớn nhỏ gì của làng hèn nhát này đều nhờ đến tay ông lên xã huyện tranh đấu, thậm chí lên tận tổng Thiệu nữa. Nhưng đột ngột từ sau 1970 tâm lý cộng đồng thay đổi hẳn, thay đổi như là cú gẫy, như thể gien đột biến từ đâu trội lên trong cơ thể xã hội Chăm. Dẫu sợ sệt ở giai đoạn giữa vẫn đứng yên mức như thứ trục giữ thăng bằng cho bình thông hơi, song hai đầu đã có biến động lớn đến kẻ đi xa đâu khoảng năm năm trở về không tài nào nhận ra. Thanh niên mở mắt nhìn đời đã hối hả chạy xộc vào khoảng giữa như là già trước tuổi, già háp: không còn ước mơ điên cuồng, hoài bão trên sao rua, suy nghĩ ngược đời, không cả bước đi háo hức lao về phía trước nữa mà chỉ tranh nhau tìm an toàn, an ninh, an thân, an tâm giả tạo để cả đời nằm yên đó. Đến nhích ngón út làm cái gì khác cũng không dám, không thể. Thế hệ giữa thấy nhóm đi sau lấn sân quá, vội nhảy sang giai đoạn cuối theo cách thiền sư ngộ đạo (chi phái đốn ngộ) nhưng không phải dũng cảm trở lại mà là thờ ơ, phớt lờ, cả nể đến vô lối. Như cái ông Vàng ở Xóm Đầu kia mới 59 tuổi rưỡi đã không những ba mà là chín phải đến như loài không xương sống, xương sườn hay cả xương cụt. Không để làm gì ngoại trừ kéo dài cảm giác an toàn bé nhỏ cho đến vô tận.
Đó là một phân tích điển hình mà chưa nhà xã hội nào làm được trước đó – Đàng Phu nhận định, và quyết định vận dụng nó vào hoàn cảnh đặc thù bản thân mình.
Hắn lấy vợ, ít ra cũng thoát được nỗi dòm dõi siêng năng của những con mắt. Sau ba ngày đêm qua nhà vợ tại làng Hamu Crauk thực hiện nghĩa vụ anh chồng, hắn vội rút về hang ổ cũ. Nhà cạnh đường với cửa sổ ba phía mở toang hoác không bảo đảm an ninh cho hắn được. Mấy tháng đầu bà vợ tội nghiệp còn lội bộ theo qua nhà chị họ hắn để được phục dịch chồng, sau đó nghỉ hẳn. Sự nghiệp xây dựng gia đình của Đàng Phu kéo dài 3 tháng 16 ngày ngắn ngủn thì chấm dứt.
Mùa đông năm ấy, hắn quyết định đi xuống xã. Hắn không ngờ mình bạo dạn thế, không chút rụt rè, do dự nói chi sợ hãi.
– Tôi cần gặp trưởng công an. Hắn nói với thư kí thường trực đang ngồi phòng ngoài.
– Anh cần kí gì? Viên thư kí hỏi, nhìn vào mắt hắn vẻ ngơ ngác. Tay này mới, chắc không biết mình.
– Tôi cần gặp riêng chính đồng chí trưởng công an xã. Giọng hắn trở nên nghiêm trọng.
– Đợi đấy đã, anh Năm Cang đang mắc việc.
– Ồ, ông Phu, lâu quá. Ông vào đây, vào đây. Một người quen thuở còn Tập đoàn phụ trách ban thuế gì đó, lúc này mặc áo công an, chắc lên chức phó. Tay này quá hiểu mình, nhưng nó cứ vờ vịt.
– Tôi cần gặp…
– Vào đây, uống li trà đã.
Hắn sẽ bắt mình, nhưng chưa vội đâu. Hắn giữ mình để khai thác hay thả ra để theo dõi?
– Tôi làm việc cho CIA mấy năm nay. Hắn nói khi ngồi xuống vào đầu bên kia chiếc ghế dài. Hắn thấy anh phụ trách an ninh xã nhíu hai hàng lông mày lên rất hãi, mở to mắt nhìn hắn rồi một lúc sau, bật cười to. Còn đập đập vai mình nữa chứ! Họ đưa mình vào rọ rồi thả ra làm như không có gì cả để tiếp tục dòm dõi. Khiến mình phải xổ ra hết. Nghề của họ là vậy.
– Bọn này biết gì đâu. Phó công an xã nói.
Dĩ nhiên họ luôn khởi sự kiểu ấy.
– Tôi đã biết ăn năn hối cải. Hắn nhìn thẳng vào mắt người nắm quyền lực của cơ quan an ninh địa phương.
- Có giấy tờ gì không? Anh bạn đồng môn xưa hỏi. Họ bắt đầu khai thác đây. Bỗng hắn thấy lúng túng, đưa mắt ngó quanh.
Chỉ thế thôi. Họ mời hắn ra phòng ngoài đợi, nơi thư kí vừa [giả vờ] viết vừa canh chừng hắn. Trưa, họ cho hắn về. Hắn lầm lũi bước, chốc chốc quay lại nhìn: không ai cả. Nhưng chớ hòng thoát khỏi con mắt của họ.
Tối đó, hắn nghe loáng thoáng bóng người đi qua đi lại bên kia hàng rào. Mình đầu thú nhưng họ chưa chịu bắt vì không chứng cớ. Hay mình đã không còn làm việc cho CIA? Hay cơ quan phản gián này đã khai trừ mình rồi mà mình không hay? Không, thật phi lí! Hay họ thực sự chưa biết? Hay thằng San chưa báo cáo? Hoặc Chăm đã biết giấu cho nhau? Nhưng tại sao mình cứ bị bao vây? Tại sao tối hôm sau và hôm sau nữa, bên cửa sổ lúc nào cũng có vài bóng người rình rập? Không, mình bị ám sát mất. Ý nghĩ chợt đến khiến hắn vã mồ hôi. Bị giết! Phải tìm ra tang chứng để họ bảo vệ mình, dù trong trại cải tạo đi nữa. Nên khi thứ Năm tuần sau, nhận được bức thư Bill do thanh niên trong làng mang tới, hắn run lên vì sung sướng. Ngay tức thì, hắn cầm nguyên thư chưa bóc đi như chạy xuống xã. Nhưng số phận lại cương quyết chơi khăm hắn. Sau khi mở thư ra xem, cán bộ xã cho hay vài ngày nữa anh nhận được tiền gởi từ Mỹ, rồi bảo anh về. Họ vẫn chưa chịu bắt mình. Còn chúc mừng nữa mới phiền chứ! Hay đây là bức thư giả mạo được đẻ ra để khủng bố tinh thần hòng đưa mình vào tròng? Hoặc giả đó chỉ đơn thuần là bức thư. Một bức thư thì chưa thể trở thành vật chứng cụ thể để có thể kết tội. Phải đợi đến 8 ngày sau hắn mới tin chắc kì này hắn được toại nguyện khi mang xuống xã giấy báo lãnh tiền của Bill Klark-công dân Mỹ gởi Đàng Phu-dân tộc Chăm quốc tịch Việt Nam 1000 USD do Bưu điện thị xã Phanrang chuyển.
Lần này hắn đã gặp đúng người hắn cần gặp.
– Ông mà còn quấy rầy chúng tôi bằng thứ bệnh hoang tưởng của ông nữa thì ông sẽ bị bắt thật đấy.
Hắn đã nghe từng tiếng rành rọt từ môi miệng của trưởng công an xã, như thế. Hắn bủn rủn người, và muôn vàn buồn chán như vừa đánh mất cái gì to lớn lắm, hơn cả đánh mất chính cuộc đời của hắn.
Bốn mươi hai ngày sau, Đàng Phu chết. Bà chị họ khốn khổ thét lên đau đớn khi mở cửa thấy hắn nằm gục mặt lên bàn, cứng đơ. Trong phòng không giấy tờ gì cả ngoại trừ phiếu báo lãnh tiền của Bưu điện lần chót.
❀ ❀ ❀
[1] 15 Chàbang - Cabbang: tên núi ở xã Phước Nam, Ninh Thuận