Hay Cao Xuân Hoang - kẻ vô thần
Lần đầu tiên trong cuộc đời lưu lãng tôi ngửi được mùi tôn giáo có lẽ là vào mùa hè năm 1975. Đứt quãng nguyên năm cuối trung học, phụ ông anh giải quyết đám ruộng cấp phát chưa tới ba sào, ngoài bóng đá, hầu như tôi không gì làm. Tôi lang thang các làng tìm bản chép tay các bản văn cổ Chăm về cặm cụi chép (thích và thừa giờ chép chơi chứ không lý tưởng tốt đẹp bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc gì gì cả). Cha tôi nông dân lâu nay chưa bao giờ ý kiến về sinh hoạt sách vở của tôi, một hôm người đến sau lưng, cầm lên một bản, và nói con không nên chép tác phẩm này. Tại sao cha? Người chỉ bảo là ông bà nói không tốt, chẳng thêm lời nào. Cha tôi vốn hiền từ, ít nói. Với chữ nghĩa người càng kiệm lời hơn. Tôi biết thế nên không hỏi gì nữa.
Đó là Akayet Um Mưrup [1]. Hoàng tử Chăm Bà-la-môn, sau khi ngộ đạo Hồi, nổi lên chống lại vua cha. Quyết liệt, cả ngôn ngữ, hành vi và, bạo động. Cha mẹ đau khổ, tuyệt vọng. Triều đình hoang mang. Rồi chiến tranh đổ máu huynh đệ và cuối cùng là cái chết không thể tránh của chàng hoàng tử kiêu hãnh.
Ban đầu tôi nghĩ do mâu thuẫn chacon qua biểu hiện lồ lộ sự bất hiếu của Um Mưrup trong tác phẩm khiến cha tỏ thái độ. Nhưng không, chính tính đối kháng quyết liệt, xung đột đẫm máu tôn giáo Bà-la-môn - Islam. Đây là tác phẩm gieo mầm mống chiến tranh ý thức hệ.
Nhưng tại sao trong Ciet sách nhiều gia đình Chăm Bà-la-môn vẫn có mặt nó? Sao họ không đốt đi vì nó vô cùng nguy hại cho tôn giáo mình? Đơn giản (dù không chép truyền) đấy là tác phẩm văn chương, hơn nữa: tinh thần Chăm Bà-la-môn ngàn đời là thế – pha tất! Chả có gì trầm trọng cả.
Mùi tôn giáo có lẽ còn bốc sớm hơn với tôi, bốn năm gì đó, thuở tôi đang Pô-Klong. Tai nạn xảy đến với gia đình bạn học làm nếp nghĩ khi ấy còn phẳng lì áo trắng sân trường tôi dăn dúm. Máu me, xe cứu thương, tiếng than khóc… Xung đột Hồi giáo cũmới trong làng quê hẻo lánh ở một tỉnh lẻ đã mức báo động. Trang sử đau buồn ba trăm năm qua sắp được tái bản.
Champa thành lập năm 192, dấu ấn tôn giáo đầu tiên được biết đến là Phật giáo Tiểu thừa, mãi đến thế kỉ V Bà-la-môn giáo mới du nhập và trở thành quốc giáo. Sang thế kỉ VIII, Phật giáo Đại thừa từ Ấn Độ quá bộ sang và ở lại suốt 300 năm. Đồng Dương lúc bấy giờ được xem là một trong ba trung tâm Phật giáo Đại thừa trội nhất Đông Nam Á. Nhưng chỉ có thế, không gì hơn. Sau thế kỉ X, khi tôn giáo Đức Thế Tôn bị treo bảng hết giờ tiếp khách ở Champa thì lần đầu tiên người ta nhận thấy có dấu vết Hồi giáo trên mảnh đất Vương quốc giàu trầm hương và kì nam này. Có thể đó chỉ là dấu chân của các thương gia ngoại quốc để lại vài làng Chăm duyên hải có cảm tình. Mãi đến thế kỉ XV, tôn giáo Mohamet mới thực sự trở thành lực lượng chính trị đáng kể, có khả năng cạnh tranh với Bà-la-môn đang suy thoái khắp Đông Nam Á cùng với nền văn hóa Ấn Độ đẻ đau mang nặng nó.
Giai đoạn này, chắc chắn có nhiều cuộc xung đột lớn bé xảy ra, như nó đã từng trong Akayet Um Mưrup. Mất Vijaya, Champa chỉ còn Phú Yên đổ vào. Lợi dụng Đại Việt lục đục, Champa muốn củng cố lực lượng. Không còn tin tưởng vào tư tưởng Ấn Độ nữa: ham chơi, ham nghệ thuật, ham suy tưởng viễn vông, quá cầu an, quá yếm thế, lánh đời và cát cứ, họ nhìn qua thế giới Mã Lai cầu cứu. Để tạo một sức mạnh mới hầu ngăn chặn con nước quá mạnh chắc chắn sẽ tràn xuống từ phương Bắc. Không sớm thì chầy.
Nhưng Hồi giáo vào Champa không chỉ với các đạo quân giúp sức mà với cả Kura-ưn. Chiến tranh anh em không giống ai đã xảy ra, bởi đó. Ở đây tính biểu trưng của Akayet Um Mưrup được đẩy đến cao độ. Hoàng tử là người duy nhất kế vị lại là kẻ chống đối kịch liệt vua cha. Hồi giáo là uy lực cuối cùng có thể vực dậy Champa nhưng chính nó lại mang theo mình ý hệ tôn giáo xa lạ đầy tính đối kháng. Bà-la-môn vừa đánh vừa đàm, Um Mưrup vừa bị trừng phạt vừa được cầu xin, năn nỉ.
Patau ginaung min dalam tian ha-uk
Đwơc nau kwơr anưk,
kuw ngap pahwơc blauh khing glơng
Vua cha giận nhưng lòng không an
Chạy đến ôm chầm lấy con, ta làm để dọa mà thôi
Được nước, đứa con lấn tới. Cực hình càng gia tăng mức độ thì lời lẽ, hành động chàng càng gay gắt và quyết liệt. Cuối cùng, không thể giết (ai lại nỡ giết đứa con), vua cha ruồng bỏ chàng bằng cách cho ngựa kéo chàng đi bỏ ngoài rừng. Căm hận, Um Mưrup dẫn hàng vạn quân về tàn phá xứ sở, đền tháp quê hương. Rồi ở trận đánh quyết định, gặp ngày không lành, bất chấp lời ngăn cản của Ali, chàng xuất quân lên đường và tử trận.
Lửa xung đột tôn giáo luôn âm ỉ, chỉ cần cơn gió nhẹ cũng đủ làm bùng cháy. Chính ở thời điểm nghiêng bếp nghiêng nồi này, một nhân vật kiệt xuất cuối cùng trong lịch sử vương quốc xuất hiện: Po Rome.
Sinh trong một gia đình khá giả ở Panduranga bởi người mẹ đồng trinh, mẹ con Po Rome bị ông bà đuổi khỏi nhà lang thang từ làng này sang làng khác. Lớn lên đi chăn trâu thuê, cậu bé cũng bị chế nhạo tại các nơi biết lai lịch của mình. Cuối cùng định mệnh đun đẩy chàng làm mục đồng cho vua Po Mưh Taha. Rome có tài bắn cung, mỗi chiều chàng mang về những thỏ, sơn dương… Trưa nọ, ham mê theo dấu chân nai, chàng đi mãi vào rừng đến mệt lả rồi nằm nghỉ dưới gốc cây cao. Đang thiu thiu ngủ, mở mắt ra chàng nhìn thấy hai cục than lửa đỏ lựng giữa tàn lá: một con rồng khổng lồ đang nhìn đăm đắm mình, chàng hoảng hốt bỏ chạy và lạc đường, mãi tối mò mới tìm đến nhà. Thần sắc Rome hoàn toàn đổi khác khi sáng dậy: phương phi, oai vệ lạ thường. Lúc này, Po Mưh Taha đã già nhưng chưa tìm được người nối ngôi. Một hôm, nghe thấy tiếng Rome đuổi chó sau nhà, vị chiêm tinh bảo đấy chính là giọng vua tương lai của Champa. Khi xem kỹ tướng mạo Rome, vị chiêm tinh tiến cử chàng lên nhà vua và được chấp thuận. Công chúa Than Cih được gả cho Rome. Vài tháng sau Rome lên ngôi vua trị vì đất nước.
– Một tư liệu lịch sử mới phát hiện cho rằng Po Rome là người Cru.
Câu chuyện của chúng ta bị ngắt bởi nhà nghiên cứu trẻ tuổi. Giọng tự tin quá đáng. Đính kèm cái rung đùi.
– Chi tiết đó thì mỗ này chưa được hân hạnh biết.
– Champa cần đến tài năng xuất chúng của tộc thiểu số này nên người ta đã mơ hồ và huyền thoại hóa nguồn gốc của người để hợp thức hóa ngôi vua.
– Mỗ này có cãi ngài đâu. Đây ta đang thò hai cẳng xuống dọ dẫm trong sương mù dòng sông huyền sử.
Một cuộc cải cách lớn được phát động. Po Rome cho lập thủ đô Kraung Ala ở Bal Caung, xây đập Maren dẫn thủy tưới cho đồng Kraung Biuh hàng vạn mẫu, củng cố triều đình, trao chức tả tướng quân, hữu tướng quân cho Xah Bin, Palak Bin. Rồi thân hành qua Kalentan bảy năm dùi mài kinh Coran lẫn phép thuật gồng mình hầu hóa giải mâu thuẫn tôn giáo đang ngày càng trầm trọng trong vương quốc. Trước khi lên tàu về nước, ông vua hào hoa này không quên để lại hai hạt giống quý hóa ở xứ người.
– Ông anh đang chuyển qua chính sử và sắp bỗ bã rồi. Nhà nghiên cứu trẻ tuổi nghiêm túc.
– Ậy, ậy! Đừng vội cụ non thế. Tới đâu vãi hạt giống đến đấy phải công nhận Chăm ta ghi-nét. Cậu đâu tay vừa, chỉ tội giống cậu là giống ma thôi. Tôi cười lớn, vỗ mạnh vào vai nhà nghiên cứu.
Nhà nghiên cứu trẻ đỏ lừ mặt bởi hiểu tôi biết tỏng lí lịch trích ngang của cậu ta. Truyền thuyết kể hoàng hậu không con nên nhà vua tiếp tục lặn lội sang tận Lào tìm thuốc (hệt Inra Patra vậy). Có sang đến xứ sở hoa Champa không chả hiểu, chỉ thấy tháng sau chàng trở về kèm theo phụ tùng là cô gái Rađe xinh đẹp, nghĩa là cả tiềm năng con cháu.
– Anh lại nghĩ bậy rồi. Một đồng minh trên vùng cao cần được tranh thủ.
– Hượm đã. Đấy là Chăm nghĩ chứ phải mỗ này đâu. Thứ hậu Bia Than Can [2] đã tặng cho Po Rome mấy đứa con kháu khỉnh. Vụ này càng làm cho ông Hoàng Phik Cơk, ông anh rể thất sủng thêm sôi ruột. Chính ông anh rể lão làng này đã mách Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên hay cái hau háu khi nhìn thấy gái đẹp của Rome. Ngay tức khắc Chúa Sãi cho Công chúa Ngọc Khoa giả dân buôn qua cửa ải Champa rồi nhanh chóng cô gái Việt được tiến cung và làm choáng váng ông vua quá ngũ tuần phong độ còn dạt dào này. Lịch sử vương quốc rẽ bước ngoặt quyết định. Nói không ngoa rằng Champa tan rã ngay bước đầu tiên của Ngọc Khoa rón rén nhưng quyết đoán dẫm lên bậc thềm dinh Po Rome.
– Một nhà sử học uy tín viện kế hoãn binh để giải thích chi tiết này. Nhà nghiên cứu gân cổ.
Hoãn binh đâu không biết, chỉ hiểu chân ướt chân ráo vào dinh, Bia Ut [3] với nhan sắc tuổi trẻ thừa thãi trí khôn đẩy hai hoàng hậu Chăm và Rađe vào hậu trường, để rồi hai tháng sau nàng lăn ra bệnh. Tất cả trí tuệ của vương triều đang ngoi ngóp được huy động tìm cách cứu chữa. Nhưng bệnh tình Ngọc Khoa ngày càng trầm trọng, từng đốt xương sống kêu rào rạo mỗi khi cựa mình (người đẹp để bánh tráng dưới lớp chiếu mà ông vua si tình này đâu hay). Khi nhà chiêm tinh được vời đến khám (phải đứng xa một bước mà xem mạch – tục lệ Việt thế, nàng bảo) tâu rằng hoàng hậu không bệnh hoạn gì cả thì nhà chiêm tinh thâm niên này được cho về làm ruộng (còn may) và thay thế bởi một nhà khác cao đạo hơn do Phik Cơk bố trí sẵn. Chính chiêm tinh gia dỏm này bày nhà vua phải triệt đi Krek - cây lim thần biểu tượng sức mạnh của vương quốc thì hoàng hậu mới khỏi. Không chút ngập ngừng, Pô truyền lệnh chặt Krek. Nhưng lạ, từ mỗi phát rìu rút ra, cây lim phun vọt tia máu giết chết đám lâu la, vết thương được liền da ngay sau đó. Ba ngày liên tù tì thế. Nhà vua nghe báo, nổi giận, phăm phăm vác rìu đi. Chỉ qua ba nhát, thân Krek to lớn đổ nhào, tiếng đổ nghe vang cả nửa đất nước, máu Krek tuôn chảy suốt bảy ngày đêm. Po Rome lảo đảo về dinh. Nhìn thấy Ngọc Khoa đã tắm rửa sạch sẽ, châu thân thoảng trầm hương, miệng nở nụ cười tươi quá hoa Champa, đôi mắt óng ánh long lanh tròng trành đứng cửa chờ thì hằng hà sa ưu tư trăn trở của vị vua nắm hơn triệu sinh mệnh con dân bay đâu mất. Hương tình lại đượm, đượm cho đến khi Bia Ut bịn rịn chia tay để về xứ sở thăm mẹ già cũng vừa lâm trọng bệnh.
Thế là quân Chúa Sãi ào ào thác lũ vào Champa. Xah Bin, Palak Bin đẩy lui mũi tiến công từ đồng bằng. Ba lần Rome lệnh ngưng động binh, ba lần hai Bin bất tuân. Mỗi chiến công là mỗi bị khiển trách. Mối giao hảo Việt - Chăm đang quá hảo hiệp ngon lành. Khi Po Rome biết mình mắc mưu thì đã muộn: hai lương tướng bỏ lên núi biệt tăm. Ngài giơ hai tay lên gầm một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Máu anh hùng sôi sục, Po Rome sai xẻ gỗ Krek đóng thuyền và chính ngài thân chinh chỉ huy thủy chiến. Thuyền Krek ào ạt lướt sóng đánh tan tất cả mũi giáp công của thuyền địch. Đến Lamngư Dil, đánh hơi thấy phía trước có nguy hiểm, nó ngưng. Làm đủ mọi cách nó vẫn không chịu nhích lên một bước. Nhà vua nổi giận chặt phăng mũi thuyền, nhảy sang tàu khác, tiếp tục tiến công. Trong cuộc hỗn chiến, Po Rome bị bắt và xử tử. Thủ cấp nhà vua Champa trước khi được xách đi trình Chúa Sãi còn ngoái lại dặn thân: ngươi hãy về trước, ta đến ngay trước lúc trời sáng. Lợi dụng tối trời, thân bước thật nhanh qua đồng ruộng, đụn cát. Cô độc và bất trắc. Tảng sáng thì đến bãi Cwah Patih. Bọn chăn trâu thấy lạ quá réo nhau ơi hời lại xem:
– Tụi bây ơi người không đầu mà đi được nè, bây ơi! Tủi hổ, thân ngã xuống cát lạnh mà chết.
Đã vậy, sau khi thoát khỏi cũi sắt, thủ cấp về tới dinh thì đã khuya. Nó lên tiếng gọi. Lâu la nghe tiếng chủ mừng vui khôn xiết, chạy ra mở cửa: một cái đầu lơ lửng! Họ hốt hoảng la lên, đóng sầm cửa lại. Thủ cấp nhà vua tội nghiệp rớt bịch xuống đất vỡ đôi.
Câu chuyện ông anh họ kể lúc tôi mới lớp Hai hay Ba gì đó. Chúng tôi đang trên rẫy dưa. Anh trỏ về hướng đồi cát nơi thân Po Rome ngã đổ, rồi trỏ sang kinh đô Kraung Ala - Gần thế sao? Tôi hỏi. Chưa tới ba cây số. Anh nói:
– Nếu thân bước nhanh hơn để đến kịp trước khi trời sáng thì đâu đến nỗi.
Tôi tin anh. Anh biết nhiều quá.
Nhà Champa học trẻ tuổi xa rời làng nghèo từ đầu cấp III đã hoàn toàn bốc hết hơi cái gọi là hồn vía quần chúng vô danh Chăm trong máu, kịch liệt phản đối câu chuyện huyền sử này. Hắn hùng hồn chứng minh có đầu đũa hẳn hoi cho tôi biết tài thao lược và ngoại giao của Po Rome qua liên minh với thế giới Mã Lai, cùng các thuyền chiến Bồ Đào Nha đi qua Biển Đông… chuẩn bị cho quật khởi mới. Lí lẽ gân guốc xì ra đồng lúc với hai mép sùi bọt rất không đáng có về đề tài nghiêm trọng này.
– Tôi cãi cậu đâu. Chăm chả đã xây tháp thờ ông là gì!
Công ông là đã gắn kết vết đứt tạm bợ của phân hóa tôn giáo trong giai đoạn khốn quẫn của lịch sử dân tộc. Chứ tài thao lược để làm gì (cứ cho vậy đi) khi đất nước qua tay ông đã bị đánh cho tanh bành xí quách. Chính thế mà Chăm kính ông, phụng ông chứ chả phải chi chi khác đâu nhé. Nên khi vương mão vàng pha đồng đen nặng hai cân bảy bị xơi mất vào mùa xuân năm 1980, gần sáu vạn bà con Chăm đổ nước mắt. Dù một đạo chích đã biệt tăm, một bị thộp cổ nhốt chung thân, Chăm vẫn nghe uất ức mỗi lần nhắc tới. Nhưng thôi, vương mão dẫu là của vị vua tài ba đến đâu hiện hữu qua dạng vật chất thì nó cũng biến thiên dưới dạng vật chất. Chỉ tinh thần tồn tại.
Hồi giáo từ sa mạc Ả Rập nhập địa ruộng lúa Đông Nam Á, đến đất nắng Champa thì đã thay da đổi họ hẳn. Ngay cái lối đánh đàng xa cũng đã khác. Bàni (nguyên nghĩa Ả Rập là những đứa con trai; nghĩa Sanskrit là thương nhân, buôn bán; nghĩa Mã Lai là xa lạ, kẻ lạ, xứ lạ) hiểu rộng rãi là sáng tạo vĩ đại của Po Rome. Bởi có đâu trong vũ trụ bát ngát này mà hàng giáo phẩm tôn giáo này vui vẻ qua làm lễ cho tôn giáo kia không? Có đâu trên trái đất mà tín đồ đạo này dâng lễ cúng cho giáo sĩ đạo kia tín thành như ở Chăm không? Có nơi nào một lễ lớn như Rija Nưgar hai tôn giáo đều hành lễ như nhau, các lễ quan trọng như Pakap Haluw Kraung… hai bên giáo sĩ đồng lòng vui vẻ phối hợp thực hiện? Hay có nơi nào đã sáng tạo một giáo phái giữa là Mưdwơn cùng linh động quang quảng lễ cho cả hai bộ phận tín đồ? Có lẽ không đâu cả.
Chế Khan bắt bẻ không gì là ngán Jaklan rằng Chăm không tôn giáo mà chỉ có tín ngưỡng dân gian là vậy. Còn tay Krishnamurti-tử Phok Wa thì phán dứt điểm đạo Chăm là thứ tôn giáo tái chế. Bà-la-môn Chăm cắt đứt tình máu mủ bà con với Bà-la-môn Ấn Độ từ khuya rồi. Còn Hồi giáo Chăm đích thị chỉ là anh em họ xa của Hồi giáo chính thống mà thôi.
Tôi thấy Krishnamurti-tử trẻ tuổi đầu tiên và duy nhất của Chăm này có cái ngồ ngộ. Giữa xã hội nhiều chuyện hôm nay, anh không có vẻ gì lạc lõng cả. Thời trai trẻ, anh còn tập hợp cả một nhóm học sinh trung học tập tễnh làm thơ thành câu lạc bộ thơ trẻ ở một xã vùng sâu vùng xa nữa. Hỏng chân chả kém cạnh gì tôi. Nhưng trong khi anh tốt nghiệp Đại học và bon bon trên con đường tu hành thì tôi bỏ ngang Sư phạm để trở thành nhà sư vướng lụy tận Nha Trang thơ mộng.
*
Chính sự vụ đó xui Cao Xuân Hoang cười tôi, để hai mươi năm sau anh tuyên bố như ma thấy rằng Phật giáo sẽ không bao giờ có ghế ngồi trong xã hội hỏng chân này. Thế kỉ thứ VIII, Phật giáo Đại thừa chỉ ghé Champa cho vui thôi, như là cái cớ để nghệ sĩ Chăm tìm cảm hứng mới tạc tượng chứ không có ý đồ ghi dấu ấn gì trong tâm thức Chăm. J’Man sợ mất giống nên đã vội vướng lụy còn Krishnamurti-tử Phok Wa không chịu vướng lụy chắc chắn mất giống ngày không xa. Anh còn tiên liệu rằng hai mươi lăm năm nữa thôi người Bàni hoàn toàn bị Islam hóa còn Chăm Bà-la-môn chạy vào nhà thờ xin nhập đạo Chúa ráo. Cả những kẻ cứng đầu nhất cũng phải học biết vâng lời cha cố xin được ban phước lành. Khi đó xã hội Chăm lần nữa bị phân hóa bươm bấy bởi tôn giáo và một giáo phái trung dung mới lại ra đời như giáo phái Mưdwơn ra đời cách đây ba thế kỉ rưỡi để dàn hòa cuộc xung đột Hồi giáo - Bà-la-môn giáo trong Champa. Nhưng ai sẽ cầm cán cờ giáo phái đó thì nhà đại cố vấn họ Cao không kêu đích danh mà chỉ tuyên bố dứt khoát không thể là dân Chakleng rồi.
Sau cách mạng đệ tam kì, cái làng rủi ro được Po Klaung Girai chọn làm nơi ra đời này sẽ không đẻ thêm con người nào ra hồn nữa (nhìn đám thanh niên Chakleng hôm nay cũng đủ biết, anh nói). Cái ý tưởng động trời được anh mang từ Sàigòn vào tháng 3 năm 1997 sau mãn chay Ramưwan đã làm náo động ít nhất cũng trong nội bộ tộc họ anh. Họ không còn cho anh thằng mát để nhắm mắt bỏ qua nữa mà kết án anh bị Chàm mới mua chuộc khiến Imưm Kwik cha anh cầm roi đuổi chạy quanh nhà không xong đành xuống nước gọi anh lại nói chuyện cho ra người lớn. Cha chưa lấy nửa lần xem con là người lớn cả, cha không thấy bà gì ở Pakistan 34 mà đã thủ tướng à, anh nói. Bởi dù sao anh cũng mấy lần nói như có vong nhập rằng một phần tư thế kỉ sau nửa làng Văn Lâm sẽ theo Islam lúc đó còn là những năm đầu sáu mươi, Hồi giáo mới đang chập chững bước vào các làng quê Chăm; rằng trong khi Wan Than nổi lên như một cầu thủ xuất sắc nhất huyện An Phước năm 1965, chính anh chứ không phải ai khác đã dự báo hai mươi năm sau Văn Lâm sẽ đẻ một chân sút đệ nhất tỉnh. Rồi năm 1985, khi Kwang Mưh luôn dẫn đầu vua phá lưới tỉnh Thuận Hải, và nếu chịu nghe anh Hoang nó vào đội Cao su Đồng Nai, chắc chắn sẽ nổi lên như khuôn mặt được chọn đá cặp với Cao Cường trên hàng tiền đạo ở tuyển quốc gia rồi, thì các thầy giáo Văn Lâm sực nhớ anh từng nói trúng phóc như thế trong buổi bế giảng năm cuối tiểu học anh đại diện học sinh lên đọc bài phát biểu quá ư lạc đề.
Cao Xuân Hoang nhắc chuyện cũ, cha anh bảo mầy chỉ được cái đoán mò mầy thử đoán tao xem bao giờ mầy lấy được vợ để đừng phải về ăn bám cha già mầy, bốn mươi ba tuổi đầu rồi con.
– Con cầu cha sống đến năm 2010 sẽ xuất hiện người tên Tập họ Đàng đất Văn Lâm này được bầu là cầu thủ số một Đông Nam Á, lúc đó Chăm có mà mở mặt mở mày.
– Tao van mầy ăn bám cũng chả sao miễn đừng làm méo mặt méo mày cha mẹ mầy. Mầy có thấy mẹ mầy đang khóc không con. Mầy muốn nói gì thì nói, đoán gì thì đoán chuyện đá banh, lấy vợ cưới chồng, cả chuyện Chakleng (họ không chấp mầy vì mầy cùng dây mơ rễ má với họ), tao chỉ xin mầy đừng động đến đạo, đến chính quyền tao chức sắc không mặt mũi nào dòm hàng xóm. Mẹ mầy trách tao làm khai sinh mầy tên Hoang…
Anh tên khai sinh Kiều Xuân Hoang, sau thương cô gái Kinh ở Phan Thiết lấy dao lam cạo thẻ căn cước thành Kiêu. Nhưng Kiêu (ai lại họ Kiêu) thấy phát âm chậm và lạ tai nên bạn bè tiện thể gọi luôn Cao Xuân Hoang cho trót. Hâm mộ Từ Công Phụng nhưng không bao giờ thuộc hết ca khúc nào của nhạc sĩ này. Năm 1978 rầy nâu ập lên đồng lúa Nam Trung bộ bà con anh chịu đói chịu khát thì anh phây phây Sàigòn với một cô gái Kinh rồi cô khác nữa cho đến khi anh dẫn về trình diện cha mẹ nàng Haman cô gái Chakleng danh giá đang học y sĩ dở chừng và thề độc sẽ không lấy ai ngoài nàng. Nhưng ông già nàng thiên hạ đang ào ào chuẩn bị tiến lên xã hội chủ nghĩa hết rồi mà còn ôm đầu óc cổ hủ phân biệt tôn giáo Bàni – Chăm, một hai cô con gái rượu phải cắt đứt quan hệ với anh. Hôm lên đường đi Mỹ Đức cải tạo còn quay lại lần nữa trăng trối với bà vợ dứt khoát tuyệt giao với thằng hoang hủy ấy.
– Mầy làm mất mặt cả dòng họ mầy, ông Imưm Kwik nói. Anh bảo ông lão phó Núi sớm sửa chết rục xương trong tù khi đó con cưới vợ chứ dại gì nhảy vào giàn lửa như cái anh chàng mơ mộng tiểu tư sản ngu ngốc trong Ariya kia! Rồi sau ba năm ông bình an vô sự trở về thì anh tuyên bố sẽ tiếp tục chương trình đợi (ông già phải ngủm chứ sống nhăn hoài sao). Không hiểu anh thuyết phục thế nào mà cô nàng vẫn đợi anh 22 năm nay, bỏ qua ba, bốn đám ngon lành, đều đặn gởi tiền nuôi anh học “cao học” tại Sàigòn, ghi danh theo học thêm môn ngữ pháp tiếng Chăm chỗ giáo sư Bùi Khánh Thế. Ông Imưm Kwik hỏi anh Chàm mà đi học tiếng Chàm ở giáo sư Việt không xấu hổ à, anh bảo cha không nhớ năm bảy mươi ông người Mỹ David Blood mở lớp dạy tiếng Chàm ngay đất thánh Phanrang mà Chàm vào học rào rào sao thì ông Imưm đành thôi cãi lý anh. Được thể, anh tiếp sau năm 2015 cha sẽ chứng kiến cảnh sinh viên Chàm mò qua tận Đức, Nhật ngồi ghế giảng đường để họ giảng cho biết về Ariya Patauw Adat [4] nữa đấy, cha tin con đi.
– Tin mày tao mới bán nguyên đàn bò mua đất rồi cho cỏ nó cũng không thèm mọc còn làng xóm thì cười tao.
– Thôi mẹ đừng khóc nữa, con có tiền cho mẹ ăn trầu đây. Anh đưa cho bà Imưm một xấp tờ 50.000 đồng. Bà hỏi tiền đâu con nhiều thế anh bảo ở Sàigòn con làm cố vấn tiếp thị cho Mưlan trúng đậm đã thưởng con. (Số tiền này anh mượn lại bà mẹ một tuần sau đó với lời hứa vào đó con gửi bưu điện cho mẹ).
Năm 1985 đất nước mở cửa anh dụ cha bán nguyên đàn bò 50 con cả đực lẫn cái, đầu đàn lẫn nghé con mua bốn mươi héc ta đất hoang nằm dọc chân núi Chàbang rồi bán tiếp chiếc máy cày là cần câu cơm còn lại duy nhất của gia đình bảy miệng ăn mua thêm mươi mẫu nữa của một gia đình có thân nhân ở Mỹ bảo lãnh nhượng lại giá rẻ. Kĩ sư Nhật được mời sang nghiên cứu xây nhà máy thủy điện Đa Nhim năm sáu mươi đã ca ngợi Po Klaung Girai là kĩ sư vĩ đại nhất Đông Nam Á thế kỉ XII khi ngay vào thời đó đã biết cho đấp đập Nha Trinh tưới hai ngàn mẫu ruộng nuôi sống dân Panduranga. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã có lời lẽ rất trân trọng dành cho Po Rome với công trình đập Maren kiệt xuất vào thế kỉ XVII. Còn Hồ Tân Giang mà Chính phủ lên kế hoạch từ năm đầu hòa bình sắp giải quyết cái khô cỗi của mấy ngàn mẫu ruộng huyện Ninh Phước. Những năm tới Nhà nước hoạch định chương trình mang tầm khu vực chắn một nhánh thượng lưu sông Đồng Nai bắt nó chảy xuống phủ cả mấy chục ngàn mẫu đất hai xã Phước Nam và Phước Dinh trong đó con mương chính chảy qua khu đất Imưm Kwik đang sở hữu. Khi đó lão phó Núi có mà sang lạy cha.
– Nhưng đợi khi mấy mươi mẫu đất sỏi kia đẻ ra vàng khối như con vẽ thì cha mẹ mày vào nằm Ghur với ông bà rồi.
– Con đang đợi thư trả lời của ngài Thủ tướng. Con gởi cả hai bức với đầy đủ bản vẽ đến bác Phạm hơn mười lăm năm nay rồi. Bàn giao bác báo có chuyển thư con cho người kế nhiệm. Chờ Quốc hội họp khóa này sao đã. Nhưng chắc chắn không thể không trước năm 2005.
Năm 1985 đánh dấu sự vươn vai lớn dậy vượt bực ngoài sức tưởng tượng của Cao Xuân Hoang qua những bức thư quan trọng anh soạn thảo gởi đi các nơi trong đó có bức dài 12 trang chép thành 12 bản (lúc đó ta chưa nhập máy photocopy) gởi lãnh đạo Ban dân tộc từ địa phương đến Trung ương xin cho phục hồi Trường Pô-Klong, Trung tâm văn hóa Chàm bằng những lời lẽ vừa lâm li vừa hùng hồn. Không biết bức thư được anh chăm bón kĩ càng kia có đến tay các vị lãnh đạo không và được các vị bỏ chút thời giờ quý báu nghiên cứu không, chỉ biết rằng năm năm sau khi anh trang trọng bỏ chúng vào thùng thư ở bưu điện thị xã Phanrang, hai cơ sở trên hoạt động trở lại thì anh có đầy đủ lý do đến ngồi quán cà phê đầu làng mà rung đùi.
– Mầy làm khổ con bé, bốn hai rồi còn đẻ đái gì nữa. Bà Imưm nói.
– Dưới đó năm mươi vẫn còn sinh được mẹ à. Mà con đâu cần nhiều. Một thôi, nhưng làm vinh quang cho cả dòng họ, cả dân tộc này.
– Vinh quang như mầy ấy! Imưm Kwik nói.
Chính niềm vinh quang lớn lao đến buồn cười, nhỏ nhoi đến thảm hại đã dồi anh, vùi dập anh, thổi giạt anh lênh đênh gần như khắp xóm làng, thành phố quen và lạ. Sinh năm Mùi, bài không học cũng thuộc, luôn đứng đầu lớp từ trường làng, quận cho đến tỉnh. Gặp năm thi tú tài toàn phần, anh viết ngang xương vào giấy làm bài môn sử rằng: Đề thi sai, Chiêm Thành không quấy phá, hiếu chiến xâm lấn biên giới Đại Việt, nộp lên giám thị. Tức thì tiếng tăm anh nổi lên mù bụi dù tên Kiều Xuân Hoang không có trong danh sách trúng tuyển được niêm yết nửa tháng sau đó. Anh xoay sở sao ngay năm sau ghi danh học khoa luật Trường Đại học Văn khoa Sàigòn. Rồi khoa luật mất đất đứng suốt mười bảy năm bao cấp, đến khi có giá trở lại vào năm 1994 thì anh đã là sinh viên Chăm đầu tiên tốt nghiệp khóa đầu tiên khoa luật của Trường Đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đó anh không quên ghi danh vào Viện Đào tạo Mở rộng học khoa Đông Nam Á bên thầy Phan Lạc Tuyên. Không ai biết từ lúc nào anh nghiễm nhiên trở thành “chuyên viên cao cấp” không ghế về các vấn đề Đông Nam Á, nghiên cứu các chương trình ở tầm vĩ mô cả trong nước lẫn khu vực.
- Cố vấn cho tất cả những ai cần cố vấn.
Như mấy năm nay anh cố vấn cho Chăm tại Khu phố Chàm đường Hùng Vương. Bà con Chăm các plây thuộc tỉnh Ninh Thuận qua tạm trú dài hạn ở khu vực này từ mười lăm năm qua, như là điểm tập kết để tỏa đi các nơi bán thuốc rễ cây dân tộc. Kèm với các bài thuốc rễ cây, bà con còn kết hợp xem chỉ tay, tướng số, tử vi … Trên bước đường lang bạt, anh giạt qua Khu phố Chàm và đã làm cuộc cách mạng nhỏ nơi đây: cố vấn cho họ lập sơ đồ hướng nghiệp và dự tri tương lai cho khách hàng qua việc xem gò bàn tay theo môn phái của tiến sĩ Mỹ William G. Benham's kết hợp với phương pháp yoga bí truyền của Dhan Than. Tất cả đều tuân theo luật định: hiểu một là hiểu tất cả. Không thể cứ mãi nói, nghĩ, làm và sống theo đoán mò. Họ đã nghe anh. Chiều tối họ trở về phòng trọ mang theo hình gò bàn tay được vẽ cẩn thận với những phụ chú: cấu tạo da, màu sắc, độ vững, ba thế giới… của bàn tay để suốt đêm anh lập hồ sơ. Cứ một bộ như thế anh tính giá hữu nghị 50.000 đồng. Mỗi tuần anh dành hai buổi thứ Năm và thứ Sáu cho trận đánh du kích mang tính cục bộ này. Thời gian còn lại, cố vấn cho các cơ quan ban ngành cấp thành phố, trong đó có Công ty Inrahani – về lãnh vực international marketing.
International marketing
Ôi, chứ gì mỗi Chăm phải một lần trong đời nghe cố vấn Cao Xuân Hoang phát âm từ này. Mỗi lần là một sáng tạo. Lạ, và mới. Uyển chuyển hơn, bay bổng hơn, và không bao giờ gọi là suy giảm nỗi hào hứng của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Chẳng những làm lác mắt quý bà thôi mà ngay cái lỗ nhĩ khó tính của lão tướng tiếng Ăng Lê đất Ia Li-u cũng phải dỏng lên nghe ngóng gật gù. Cao Xuân Hoang nói Chăm năng khiếu sinh ngữ từ trong máu. Chăm cần học lại tiếng Chăm thế kỉ XIX, hãy vứt từ điển cha Moussay với thằng Inrasara vào sọt rác lịch sử đi – hắn phán, Dictionnaire E. Aymonier chính là sách gối đầu giường cho thế hệ trẻ hôm nay. Nữa: trau dồi cho tinh Esperanto. Đó mới là ý nghĩa cao cường của dân tộc và thời đại, của bản sắc và quốc tế. Cao Xuân Hoang này cúi xuống trang bị tiếng Tây tiếng U gì gì chỉ là quá độ. Phải có nhãn quan vượt thời đại.
*
Anh điện cho tôi đến gặp tại quán bia Muslim đường Phan Đăng Lưu, nơi anh em Chăm Sàigòn ghé lai rai vào những chiều thứ Bảy hàng tuần. Quán vắng. Tôi khoe anh tôi đang viết tiểu thuyết: Chân dung cát, gặp anh là một gợi ý hay hay. Anh la lên: cậu tuyệt lắm, tuyệt lắm, hãy dành một chương viết về mình đi. Tôi bảo hình mẫu anh khó nắm bắt lắm, trong lúc tôi muốn lấy tiêu đề cho chương này là Sa đọa thì anh cho đó là một ý tưởng kì lạ, rất có tầm. Những khuôn mặt xuất sắc nhất trong Chăm luôn có ý tưởng kì lạ. Như là thứ nước giếng thăm thẳm không thể múc cạn. Hãy viết về mình đi, chương 8: Cao Xuân Hoang - kẻ vô thần sa đọa. Trong xã hội nghiêm trang nghiêm chỉnh nghiêm túc đầy nhát gan này, chỉ kẻ sa đọa mới làm nên chuyện lớn. Và chỉ có nó. Rồi anh hỏi tôi mấy năm nghiên cứu tư tưởng Chăm ông thấy có gì lạ không. Tôi bảo không hiểu anh muốn gì.
– Ý tưởng, những ý tưởng đi trước thời đại. Anh nói. Anh hỏi tôi có biết chương trình chiến tranh giữa các vì sao ông Reagan đào đâu ra không.
– Nó có dính dáng gì triết lí văn chương Chăm?
– Có đấy. Im lặng. Tất cả đã có trong Akayet Dewa Mưno. Anh rút tờ giấy được photo từ cuốn Văn học Chăm:
Trên mặt đất, những ngọn lao của họ chạm nhau nổ bùng đám lửa thiêng cháy trụi núi non. Họ lại kéo nhau ra đại dương, hóa thân thành rồng biển, tiếp tục chiến đấu trong bảy ngày đêm làm đại dương nổi sóng, bão tố mù trời đất. Thấy chẳng ăn thua gì, họ lại lặn sâu vào lòng đất (lúc này họ đã hóa thân thành rồng đất) tiếp tục thí võ. Cuộc chiến diễn ra trên không trung làm sấm sét nổ tung, chấn động một nửa vũ trụ…
– Tay nghiên cứu nghiệp dư này viết văn bằng bản năng nếu không nói là viết mò. Chợt anh im lặng và dáo dác ngó quanh. Nên mình rất ngại người ngoài mỗi khi thấy họ lân la mò đến với sách vở Chăm. Người phương Tây không làm gì ra hồn cả nếu không có phương Đông. Chính Kinh Dịch đã gợi ý cho họ chế ra bom nguyên tử để đe nạt chúng ta.
Một ý tưởng đại khổng lồ khác trong Ariya Glang Anak, nói ông đừng để lọt ra ngoài: ngap bal di krưh thaik bauh lingal - dựng thủ đô trên không trung giữa chùm Sao Cày. Mỹ và Nga chưa nghĩ ra ý tưởng này. Nga thì mới có Trạm Hòa Bình, còn việc lập thủ đô như thế thì họ không tưởng tượng ra nổi.
– Nhưng các khám phá lớn lao này sẽ dẫn chúng ta đến đâu đây?
– Chăm đúng là nòi phung phí. Đừng dại thế, chúng ta từng dại dột suốt hai mươi thế kỉ rồi. Chính thằng bạn ông đã mớm cho mình ý tưởng này. Hắn không nói rõ thế (Chăm có đời nào chịu học suy nghĩ cho rành mạch đâu), mình phát triển thêm. Một kẻ ẩn cư vĩ đại, ẩn cư ngay trong lòng thành phố.
– Chế Khan phải không?
– Hắn đấy. Hắn có tài, tôi có tài, ông có tài. Riêng ông phải công nhận là thiên tài (anh tụng tôi với ý đồ gì đây?). Dấu hiệu của thiên tài là khối kẻ ngu xuẩn xúm nhau chống lại ông ta, chính Các-Mác nói thế. Chúng ta đều là các tài năng sáng giá của dân tộc (ông Phú Tâm hiện đang là chuyên viên chuyển viện ở Gia Lai – mình vừa lập hồ sơ gò bàn tay ông này, bàn tay cao đẳng gặp thời làm đến thứ trưởng ngoại giao như bỡn). Nhưng chúng ta chưa biết hiệp đồng tác chiến. Tinh thần này chúng ta còn phải học tập và siêng năng ôn tập.
– Ông đưa cho xem bàn tay.
– Anh cứ tiếp tục đi. Tôi đưa bàn tay ra, không cho anh mà cầm lấy ly bia. Anh cũng cầm ly lên uống một hơi cạn.
– Những ý tưởng mà chúng ta có được, phải biết bán chúng, bán với giá cực kì cao. Xuất khẩu ý tưởng: đó là cuộc cách mạng đệ tứ kì. Chúng ta không còn cái gì nữa để phát động cách mạng.
– Những ý tưởng được rút ra từ di sản của tổ tiên?
– Đúng.
– Nhưng bán cho ai? Ai mua nó? Nhà nước có cho chúng ta xuất khẩu thứ mặt hàng đặc Chăm này không?
– Đó không là điều đáng bàn. Vào Sàigòn cả thập kỉ rồi mà ông chưa chịu khôn ra. Mình đã lo liệu xong đâu đấy cả rồi. Từ đây đến năm 2005, chúng ta phải chuẩn bị cho nó chào đời. Ông đưa bàn tay mình xem. Tôi đưa ra. Anh xem, nắn, nặn, cố ghi nhớ điều gì đó.
– Cậu em chớ lầm tưởng đây là món mê tín chuyên kiếm bạc lẻ. Một khoa học nghiêm chỉnh đấy. Anh đang ráo riết lập trình tất cả gò bàn tay thiếu niên Chăm. Hãy gõ cửa thì cửa sẽ mở. Thử xem: xã hội Chăm nẩy nòi vài Cathy Freeman! Cậu em có tưởng tượng tới chuyện động trời đó chưa? Anh nhìn sâu vào mắt tôi, gật gật cái đầu, mỉm cười rất bí hiểm.
– Cậu em có biết Viện sĩ Phạm Huy Thông đã nói gì không?
“Văn hóa Champa, dù tiếp nối hay vượt lên văn hóa Sa Huỳnh nẩy nở ở đây trước đó, là một cống hiến xuất sắc vào kho tàng văn hóa Việt Nam xưa và nay (…) và người Chăm là một gạch nối nối liền nước ta với Đông Nam Á hải đảo, mà quan hệ nhiều mặt giữa đôi bên ngày càng trở nên mật thiết”
– Hãy chú ý đến từ gạch nối, gạch nối cho Việt Nam và khối Asean. Chăm chúng ta, chỉ chúng ta thôi. Như là sứ giả mang tầm khu vực. Đó là sử mệnh của chúng ta. Phải hướng nghiệp và đào tạo con người Chăm đủ khả năng gánh vác sứ mệnh nặng nhọc và vinh quang này. Đó là mục tiêu duy nhất từ nay đến cuối đời ông anh Cao Xuân Hoang hướng tới.
Anh lại im lặng.
– Sáng mai mình về quê gặp riêng thằng Pathit. Ý tưởng đẩy nhanh công đoạn sản xuất gốm Chăm không lớn nhưng rất quan trọng: nó biểu thị dũng cảm của hắn. Mà lòng dũng cảm thì cực quan trọng với xã hội hèn nhát là xã hội ta đang lưu trú này.
Anh bỏ tay tôi ra.
– Ông trả nhé. Anh nói.
– Coi như đó là tiền tổ à, hỡi nhà cố vấn tầm vĩ mô. Tôi nói và cười lớn.
– Mầy cứ đùa ông anh mầy.
Cô gái mang hóa đơn tới: 105.000 đồng. Tôi đưa ba tờ xanh. Khi cô gái mang lại thối, anh nói đưa đây cho anh xem lại, em. Cô gái đưa, anh nói trong lúc đút tiền vào túi.
– Tiền tàu xe sáng mai, nhà đại thi hào nhé.
– Mai về, không biết ông anh có cần lời khuyên của đàn em không?
– Ồ, em cứ thoải mái, ban phát thoải mái những ý tưởng.
– Đừng dây dưa vào Pathit. Chị của hắn đã đợi anh 22 năm nay. Lát sau: nhưng tốt hơn anh cứ đến gặp hắn, cứ đưa hắn vào chương trình vĩ mô của anh, thật thoải mái.
Tôi cười, anh cười. Chúng tôi cùng đứng dậy.
*
Người Chăm nói Giữ Kut giữ Tathat, giữ mồ giữ mã, bảo vệ đất thiêng của họ hàng, làng mạc. Đi xa chúng ta luôn nhớ và quay về. Khik Kut, tuổi trẻ chúng tôi kịch liệt chỉ trích tinh thần cầu an, gà què ăn quẩn này. Không dám dấn thân, không dám tha phương vẫy vùng. Làm như chúng tôi luôn sẵn sàng xắn quần vùng vẫy!
Ông chú họ xa ở Vụ Bổn bảo đấy là do âm mưu thâm độc của Tàu. Họ không muốn Chăm ngóc đầu làm ăn buôn bán, làm tê liệt tinh thần đấu tranh bằng hù dọa lính tráng thương tật sẽ nằm Kut độc bên ngoài Kut chính. Bơ vơ và tủi phận lắm lắm. Khi anh chết hoang, cả khi bị thương sứt đầu, đứt móng, anh bị coi như kẻ ngoài rìa.
Chú xứng danh huân chương nhân dân tiến bộ Chàm, chúng tôi đùa vậy. Được cánh trẻ vỗ tay, ông liên tục đánh võ mồm: Chàm chết chỉ cần qua tối nằm nhà là chôn quách. Tội gì giở lên giở xuống làm đám thiêu. Phá bỏ Kut đi, như người ta xóa đi hủ tục ngàn đời, triệt đi chứng tích của nhục nhã, khốn cùng ấy.
Tuổi trẻ tôi từng nghe lối đại ngôn như thế vang lên. Rải rác, lạc lõng. Cuộc sống plây Chăm năm sáu mươi thầm lặng, kham nhẫn, cực khổ. Hai trăm năm qua Chăm nép mình sau những hàng xương rồng, nghèo, cực. Những căn nhà Yơ, Mưyuw không cửa sổ. Thỉnh thoảng vài mái tôn, ngói nhô lên. Nắng và gió. Vài bụi me lơ thơ trơ lì. Ruộng ăn nước trời cằn khô sau vụ gặt. Đàn trâu gặm đất trên ruộng đồng nhỏ hẹp. Bầy dê về chuồng kêu be be gợi kỉ niệm. Cuộc chiến ít đụng đến các plây Chăm. Thỉnh thoảng vài người đạp phải mìn, chết. Tiếng khóc tiếc thương đau đớn, lặng lẽ.
Ngày tháng ấy, bà mẹ Chăm lầm lũi, cặm cụi trên mảnh ruộng bạc mầu chắt bóp từng đồng gởi cho đứa con ăn học xa. Để chục năm sau chúng trở về đủ lớn khôn cầm roi đánh mẹ. Lỗi tại ai? Ông Hân chú họ xa của tôi là một trong những. Ông nổi bật lên nhờ cái khoản lý sự hơn, tới cùng hơn.
– Phá bỏ Kut, xã hội Chăm rồi đi về đâu?
– Cháu có ăn học mà vẫn bám váy các mụ đàn bà à? Cháu có dám nhìn thẳng vào xã hội Chàm mục rữa của cháu chưa? Cấp Paxeh, Acar không được trang bị kiến thức tối thiểu về khoa học, về chính trị xã hội… Ngay cả tri thức chuyên môn tôn giáo, tập quán hỏi các vị nắm được mấy mủng? Cấp Acar có ai đọc và hiểu Kura-ưn? Có ai trong hàng giáo phẩm Bà-la-môn Chàm biết đến Áo Nghĩa Thư, Chí Tôn Ca? Các bài kinh lễ hay cách thức cúng tế nơi mỗi khác, thầy mỗi khác. Xưa bày nay làm, cứ thế rù rà rù rì đến tận thế vẫn không đổi. Quy trách ai? Chúng ta được nhồi cả mớ kiến thức cũng chả giúp gì được còn đẩy tình thế nghiêm trọng hơn.
- Ôi, bức tranh tôn giáo Chăm sao mà xám xịt.
- Sáng sủa sao được khi vị lãnh đạo tâm linh ta không được tín đồ dành cho một tôn trọng tối thiểu, khi kiến thức chuyên ngành của mình luôn bị dân áo đen lấn sân. Không xám xịt sao được khi cả quyền lợi tối thiểu cũng không đảm bảo khiến các vị phải tính toán manh mún, là chuyện mà nghệ sĩ tính Chàm phải giật mình thột. Nữa…
Lợi dụng lúc chú nuốt nước bọt đánh ực, tôi vội lách vào:
– Chú đọc xong diễn văn rồi chứ! Và sau đây là diễn văn của cháu nhé: Ta từ nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp không quá độ tư bản chủ nghĩa vội nhảy sang xã hội chủ nghĩa. Ngồi chưa nóng đít lại bị ném vào xã hội hậu công nghiệp. Chúng ta lúng túng lùng tùng nên dẫm phải chân nhau thôi.
Nữa! Nghi lễ vòng đời đâu chả có, ở Chăm thì rất ư thanh thoát nhẹ nhàng. Sinh ra phải tạng ốm yếu, chú được làm lễ Mang vòng. Chiếc vòng sẽ được tháo bằng cái lễ Tháo vòng rất đơn sơ khi chú khôn lớn. Nếu bị té trâu hay kinh phong giật, mẹ chú có thể hứa với Yang - Cúng dê như để bồi dưỡng sức khỏe hay Rija harei, Rija dayơp chả khác gì buổi trình diễn văn nghệ, với đầy đủ ca - múa - nhạc cho bà con lối xóm cùng xem. Lớn lên lấy vợ, chú được tổ chức Bbơng mưnhum, ví dù chú túng thiếu không khả năng mâm cỗ thết đãi hai họ thì chú có thể yêu cầu làm Đám trộm chỉ cần vài ba người theo chú qua nhà vợ sắp cưới vào lúc chiều tối. Suốt đời chú, trường hợp chú bị Gà bay chó nhảy qua đầu, người ta sẽ làm lễ Tẩy rửa tắm táp cho chú sạch bách tội lỗi. Chú toi (xin lỗi, ai mà chả), tối thiểu cũng hưởng được Đám qua đêm. May mắn hơn sau một, hai năm Mang gởi tạm thần Đất, chú được cải táng làm Đám thiêu hai hay bốn ông Paxeh phục vụ hầu hạ. Sau ba ngày đêm lửa trại ngoài rừng, chú trở về nhà vĩnh viễn qua chín miếng xương trán đựng trong cái Klaung bé xíu, nhẹ gánh đời. Không sướng thân chú ư?
Bỗng nhiên tôi thấy mình nổi hứng lên gân bảo vệ một cái gì đang tàn rữa và bị bàn tay tiến bộ đẩy xô tàn bạo vào bóng tối lịch sử. Nhưng tôi đã ngon trớn, không dằn được mình nữa rồi:
– Chú biết chứ? Ở phố chợ thiếu đất nên các công ty nhanh nhạy chớp cơ hội nhập lò thiêu. Nghe đâu Chế Lan Viên cũng đã trở về trong cái hộp tro, hệt Chăm vậy.
– Thì lo thiêu, thì cái hộp…
– Rồi cái hộp cất ở đâu?
– Để trong nhà mà thờ. Không thờ thì sao nào.
Po Klaung, Nai Tangya được cả dân tộc thờ. Cha mẹ thì có con cái thờ. Chú hư vô chủ nghĩa đến thế sao? Chăm không có lập bàn thờ riêng tại nhà, không thờ riêng mà chung cho cả dòng họ mẹ, không ấm áp hơn ư? Chăm đã không hậu-tiến bộ, đã không cấp tiến hơn tinh thần hậu hiện đại ư? Chú thấy đó, cả ngàn có khi cả chục ngàn Klaung cốt cất tại nơi kín đáo trong rừng được rước đến Làm tuần một tháng, một năm, ba năm cho đến lúc Nhập Kut. Mười năm hay mười lăm năm, khi Klaung trong họ kha khá, làm ăn được mùa, ngày lành tháng tốt, chú được long trọng rước vào nằm chung với thân quyến máu mủ chú xưa. Hệt nghĩa trang liệt sĩ vậy, nhưng không đơn lẻ mà hòa đồng, ấm cúng. Đó là lần cuối chú giã từ trần gian quán trọ để Về nhà. Chú vĩnh viễn ra đi nhưng mãi mãi còn lại. Mỗi năm chú được khấn vái bởi con cháu đến sau, không phân biệt cùng hay khác Ciet prauk. Chỉ khi dòng họ chú tàn mạt chú mới bị lãng quên. Khi đó Kut mới thành Kut hoang.
Làm thế nào mà hoang cơ chứ? Trừ phi đại chiến hay nạn hồng thủy không nói.
*
Mùa hè 92, tôi tháp tùng Hà Vân đội nắng đi quanh vùng ngoại vi Chakleng khảo sát Kut hoang. Chakleng là làng cổ nên xung quanh nó có mặt ôi thôi là Kut. Nơi xó kẹt thế giới bị lịch sử bỏ quên này, nắng và gió thãi thừa các nơi đổ tới. Chúng nung và xoáy dân quê tôi trong lòng chảo chật chội của vũ trụ. Cứng cáp, gân guốc, dồn nén đến tân cùng để bật ra mẫu dáng quằn quại phiêu bồng. Như mấy bụi cây cảnh lấy từ núi Chàbang đang được thị trường ưa chuộng. Trong dáng đau đáu kia, biết bao là khắc nghiệt và khước từ của thiên nhiên! Kut hoang lè lè nằm vô danh giữa, sau hay dưới khóm xương rồng xanh gượng. Đã có bao nhiêu bị cát bụi vùi chôn? Chúng tôi thử làm thống kê: Kut Ra-ong, Hamu Bơn, Hamu Kut… 14 Kut tất cả. Cái nằm xa làng nhất cũng chỉ hơn cây số. Chưa kể 6 Kut sống đang được thờ cúng. Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… nhiều dòng họ mất đi người cuối cùng. Nghĩa là đã có hơn mười bốn dòng họ lớn đi qua Chakleng. Kut hoang, nhưng nó luôn được Chăm tôn kính. Không ai dám dẫm đạp lên Đá Kut hay đùa chơi trong khuôn viên Kut chính. Một Kut hoang đầu làng, thuở bé lũ chúng tôi có nghịch ngợm mấy cũng biết kiêng kị lánh xa. Tin đồn về một nhân dân tiến bộ Chàm khác đào đất Kut và bị dòng họ trong làng làm dữ lan truyền rất nhanh. Dù sau đó cái tin thất thiệt được cải chính, song sự thể đủ nói lên vị trí tuyệt đối của nó trong tâm thức Chăm.
Tôi đọc thấy trong SỔ GHI của Hà Vân.
“Sự hỗn dung và tiếp biến tôn giáo - tín ngưỡng giữa tín ngưỡng bản địa tiền tôn giáo, Phật giáo, Bà-la-môn giáo trước kia hay Hồi giáo sau này xen kẽ và chất chồng tạo thành thực thể vừa đa dạng và phức hợp sinh động, hòa quyện nhuần nhị trong đời sống tâm linh Chăm.
Đó là tự do tôn giáo ở cấp độ cao đẳng. Đầu tiên người khai sinh dân tộc là Po Inư Nưgar được đặt lên vị trí hàng đầu. Khi Hồi giáo vào Champa, Chăm sẵn sàng dành cho Allah là đấng tối cao ở ngôi vị đó, mời Po Inư Nưgar xuống hàng thứ hai. Ai nhất thì tôi thứ nhì. Rồi cùng đồng hạng huy chương đồng là các vua có công được thần hóa: Po Klaung Girai, Po Rome, Po Xah Inư… thật bình đẳng! Còn hàng triệu triệu linh hồn tổ tiên luôn được con cháu dành niềm thành kính trong Kut. Chăm có thánh đường Tháp - Bimong, Chùa - Sang mưgik, có Nghĩa trang - Kut, Ghur, có Kinh sách - Tapuk agal với đủ đầy nghi thức … Chúng ta có thể đến và đi, thực hiện hay không cách tự nguyện, tự do, và tự tại. Chăm có tôn giáo cho người bình dân, trí thức, cho trí tuệ và cả cho bậc trí huệ.
*
Đúng một năm rưỡi sau vào chiều tháng 3 năm 1999, Cao Xuân Hoang đi xộc vào nhà tôi, khẩn trương quá cháy từ đường. Mình phải qua ông gấp, không thể chần chừ thêm nữa.
– Có chuyện mới à?
– Trước tiên hãy đọc cái này đã. Anh đưa cho tôi tập hồ sơ và lật ngay trước mặt tôi bài viết được cắt ra từ tờ báo cũ.
Khác với người Chăm từ vùng Cam Ranh trở ra phía Bắc (?) theo đạo Bà-la-môn gọi là Chăm Caphía (?), cũng khác người Chăm ở Phan Thiết trở vào trong theo đạo Islam canh tân (?), người Chăm vùng Ninh Thuận này bao đời nay vẫn giữ nguyên đức tin ở đạo Bàni (?) với nguyên vẹn giáo lý và lễ nghi cổ xưa.
Họ bầu các ông trùm (!) trong hai hạt (?) làm trùm Caxu (?!).
Để giải quyết mâu thuẫn cùng với dòng họ (?) nhằm đi tới lựa chọn.
Một đám đàn bà con gái vây lấy ông, và quá đột ngột, họ quẳng lên đầu, lên cổ ông (…) một đóng quần lót (?!)
– Nhưng bài báo đã viết vào tháng 2 năm 1994 và vụ việc xảy ra hơn năm năm rồi. Tay nhà báo kí tên tắt này bậy ơi là bậy.
– Đấy, đó mới chính là vấn đề ông anh muốn nói. Năm năm, hãy nhớ cái thời gian này. Đừng có ngây thơ mà tin rằng quý cán bộ Chăm hôm nay chịu ba cùng với đồng bào để giải quyết chuyện tôn giáo. Ai giữ khương gạo nấy. Chăm Bà-la-môn rã rời nát bấy rồi. Tín đồ mà “quẳng” thế thì còn gì là giáo với chủ chứ. Ông Hân cảm tình viên Tin Lành có mà vỗ mỏi tay. Ông biết ở Phanrang vừa đẻ ra tục ngữ hiện đại nào không?
– Không.
– Tajuh hahluw kluw gilaung - Bảy thánh đường ba đường lối cải biên từ Tajuh hahluw kluw bimong - Bảy thánh đường ba đền tháp. Như ông Đặng Hùng cải biên múa Chăm ấy. Chẳng còn ai nghe ai nữa. Bà Láp đi nẻo Bà Láp, Thành Tín đi lối Thành Tín. Lễ thứ Sáu xoay vòng năm nay Văn Lâm không thèm tham dự nữa. Đích thị vua một cõi rồi. Chăm Bàni cũng đã tan tành xí quách vô phương cứu chữa rồi.
– Ông bạn tôi ở Ban Dân tộc tỉnh đang ập trung ý kiến các trí thức…
– Tết Conggo! Tết Conggo! Ông nhà triết gia kiêm đại thi hào Chăm ơi! Ngồi đó mà đợi Ban Dân tộc tỉnh ngâm cứu có mà trâu mọc hàm dưới.
– Ông anh có gì cố vấn không?
– Đợi mãi cậu em mới chịu nêu ra câu hỏi đáng đồng tiền bát gạo. Anh nhìn tôi, vừa như dò xét vừa tìm sự đồng tình.
– Ông có chú ý mấy cha cố xơ-vin đi vào làng vài năm qua không? Hiếu Lễ, Hữu Đức, cả Chakleng ông họ cũng không chừa. Và bản thân ông nữa cũng đang trong tầm ngắm của họ.
– Có nhiều giáo phái lắm…
– Ồ, cha cố cả. Cứ theo đạo Chúa thì ông anh mầy gọi đại cha cố cả, dù trẻ hay già, chịu lấy vợ hay không.
Đột ngột anh im lặng
– Nhưng…
– Không nhưng gì cả. Hãy dỏng tai mà nghe ông anh cố vấn: Đừng bỏ lỡ thời cơ trăm năm có một này. Đầu của một nông dân Chăm chỉ được tính bằng mấy hộp bánh thôi, chứ đầu của nhà tư tưởng kiêm tiểu thuyết gia tầm cỡ cậu em trở lên thì 50.000 đô la, đô la Mỹ đấy.
Tôi thừ người, nhìn ra ngoài trời nắng sắp tàn. Các cô thợ may của Mưlan hối hả đi qua khu phòng trọ ăn vội cơm chiều rồi trở lại tiếp tục ca đêm. Đồng lương chỉ được 25.000 đồng/ ngày. Tôi nghĩ các cô gái quê tôi chổng mông suốt ngày cấy lúa ngoài nắng chỉ được 15.000 đồng, mà đã có đâu đồng nhiều để cấy. Ngay sáng nay thôi, ba thanh niên Phanrí vào xin việc đã hết chỗ, lủi thủi về. Về đâu?
Vậy mà ông anh bạn ba mươi năm ân oán của tôi đã mang đầu tôi ra rao bán 50.000 USD chẵn, cái đầu hâm hẩm của một thi sĩ man mát.
- Tôi thấy khổ thân ông và tội cho mấy nhóc nhà ông. Mỗi năm chui rúc mỗi căn hộ cho thuê khác nhau, lũ chuột cống cũng không thèm quá bộ thăm. Thằng anh mầy mà có được mấy nhóc kháu như mầy hẳn, ông cắt trời ra mà bán. Có cái nhà cao ráo đường hoàng rồi thì văn chương cứ tha hồ mà bay bổng. Đừng lý tưởng con ơi! Phải thực tế, thực tiễn.
– Giá cái đầu em út thì vậy, còn giá ông anh, nó bao nhiêu? Sao ông anh không lãnh ấn tiên phuông avăng gạc cho bà con nhờ….
– Mình họ croix dấu đỏ mất rồi. Cả Chế Khan cũng thế. Hai gien đột biến trong Chăm. Một thì khôn quá xá khôn, một lại hết thuốc chữa. Cậu em, Pathit, Jaklan còn ngay thẳng, còn xanh, họ còn xài được.
– Tụi này được cho là ngay dại tapak gila chứ gì?
Im lặng.
– Họ muốn xé lẻ mình, muốn mua mình. Cả Đông lẫn Tây, trong lẫn ngoài. Xé lẻ để dễ mua. Tương kế tựu kế – cứ bán! Vào rồi ra. Vào lại ra. Lại vào và ra, dại gì. Chả chết ma nào cả!
– Ơn Chúa! Rồi sớm chiều tối qua lại tới lui ngó hình Chúa con sẽ thấm nhuần mất. Nhưng bán trọn gói thế thì cái nỗi chương trình xuất khẩu ý tưởng năm ngoái phá sản ráo rồi còn gì, thưa cố vấn.
– Đừng bạt mạng thế. Ông anh thương mầy nên gợi ý đó thôi.
Bất chợt anh đổi giọng.
– Đù mẹ, thật muốn điên cái đầu lên được. Chả có lấy mống nào ra hồn để mà gửi gắm lí tưởng. Trọn ổ bọn chút tài còm đổ xô đi làm chuyện trời ơi. Sao cái ông trời thiên vị không nhỏ vào tâm linh Chăm lấy môt giọt tế bào thực tế do thái hay khôn ngoan tàu khi nặn ra thứ nòi giống này!? Chúng không biết, không thèm biết giá của chúng nữa. Cả mầy cũng thế. Đù mẹ thằng Thuman nói mầy đồ hèn đại nhân. Biết mà không dám. Chỉ cần ý tưởng lớn đó sượt qua đầu thôi cũng đủ khiến mầy vãi ra quần. Vậy mà đòi truy tầm tư tưởng chiều sâu của tổ tiên Chăm. Thằng Saman bạn nối khố mầy làng tao cũng một giuộc. Ý tưởng Cộng đồng mở giá chót phải trăm ngàn chớ có đùa. Hãy tưởng tượng chương trình đó mà kết hợp với Thủ đô trên Sao Cày của Glang Anak! Nhưng hắn có chịu cụ thể hoá nó đâu. Tư tưởng biết đi ấy hiện đang đứng canh chòi dưa tận núi Chàbang! Chăm đúng là nòi phung phí. Phung phí ngu xuẩn không Chúa, Phật nào thèm độ lượng cúi xuống chạy chữa!
Phá sản! Nát bét rồi.
Im lặng.
– Cả tao cũng chả hơn gì, mẹ khỉ. Nhưng dù sao đi nữa cũng phải cố lần chót. Ba năm nữa không rục rịch gì tao cũng chuồn, đi trước, như Chế Khan bày thế. Một lúc lâu:
– Mầy biết tao sẽ đi đâu không? Qua Campuchia mà làm bộ trưởng giáo dục bên đó.
Tôi cười. Anh cười theo, mặt méo như khỉ bóc phải cứt gà. Là sự vụ hiếm hoi lắm mới thấy xuất hiện trên khuôn mặt luôn tràn đầy vẻ phởn chí của nhà đại cố vấn họ Cao.
Tôi bật sáng đèn bàn, đưa cho Cao Xuân Hoang bản thảo dang dở chương Sa đọa. Anh háo hức đọc. Tôi theo dõi phản ứng trên sắc mặt anh. Kẻ mà Dhan Than cho là một sinh thể chào đời từ sai lầm có tính toán của thượng đế khi trang bị cho thứ đầu óc con buôn sa đọa, sa đọa cả khi anh nghĩ đang làm lợi cho dân tộc, cộng đồng, một cộng đồng Chakleng không bao giờ tha thứ anh đã bắt nàng Haman xinh đẹp con nhà nòi phải chờ đợi hơn 20 năm mà sắc mặt đáng bị đấm kia không một lần lộ cái vẻ gì gọi là áy náy, còn công khai phát ngôn rằng dân Chakleng nói riêng và cả nói chung không mảy may có nửa giọt ADN kinh doanh, nên phải học abc từ chú tiểu bán xoon móp dạy cho hiểu thế nào là làm ra tiền, giữ tiền và tiêu tiền cho phải phép, cần thiết lắm Cao Xuân Hoang này sẵn sàng bỏ chút thì giờ quý báu lấy xe con từ Sàigòn xịt về gõ đầu cho vài ba khóa kinh tế học căn bản. Mỗi người phải biết hi sinh một ít cho xã hội, anh nói.
– Nhà văn các ông ma mãnh lắm. Ông khuyên tôi đừng dây dưa vào Pathit là tính bản thiện trong ông nói, kế đến câu sau anh cứ đến gặp hắn là ông đã để lí trí sa đọa của ông can thiệp. Mày định đưa ông vào tròng. Chớ hòng mà cắt đứt tình yêu cao vượt thời gian-không gian-nhân gian của nàng Haman và cố vấn họ Cao này.
– Vượt thời-không-nhân gian để anh cứ thả cửa hết cô này đến bà khác, hết quán bia ôm này sang động đĩ khác à?
– Đó không là chuyện đáng nói. Ông thay đổi lời lẽ của tôi, uốn nắn cái giọng đặc kì Cao Xuân Hoang về cán bộ và các vị cha cố. Ông sợ chính quyền, hãi tôn giáo thế là ông lách. Nhà văn các ông giỏi ở khoản đó nên muôn đời cứ ngồi ù lì ao nhà không vươn nổi tầm thế giới là vậy.
Tôi im lặng.
– Cũng chưa là chuyện đáng cho ông anh tốn nước miếng nữa. Kể ra khoản tôi nhận tiền lẻ do cô tiếp viên mang lại thì ông bảo phản ánh đúng hiện thực, hiện thực Cao Xuân Hoang sa đọa. Còn khối chuyện sa đọa khác xã hội này các ông đâu dám mon men đến chứ chưa nói đụng chạm, bóc trần, trong đó có sa đọa ông, của các ông nhà văn được khối kẻ ngây thơ ngưỡng vọng, kính nhi.
Đột ngột anh im lặng (như để lấy hơi).
– Được thôi. Quần chúng ở xa, ở dưới không biết kỹ càng nên các ông tha hồ múa văn múa bút. Cái đáng nói là: đừng tự huyễn mà nghĩ các ông đứng cao hơn họ – những nhân vật của mình. Chớ đánh lừa thiên hạ rằng các ông đứng trên thân phận họ, bài trí, phân định thân phận họ (ý này một nhà văn Ý nói rồi, ông anh chỉ nhai lại) mà chính họ quy định số mệnh các ông – kẻ vỗ ngực lép tự nhận là tác giả ấy. Từ góc độ đó, Cao Xuân Hoang sa đọa này phải đứng cao hơn các ông đến mấy bậc.
Anh im bặt. Những lời lẽ anh đánh trúng vào phần yếu đuối nhất của tôi. Thế nên dù đã viết xong phân đoạn cuối của chương tiểu thuyết (khi anh ra giá đầu tôi 50.000đô):
Một con chuột, những con chuột nhắt thông minh, tôi chợt nhớ thành ngữ của anh, khi con tàu xã hội đang đắm (ít ra theo anh tưởng tượng) thì làm con chuột là thông minh nhất.
– Còn cái đầu của ông anh? Tôi đứng lên nhìn thẳng vào mắt anh, ông anh đã tự ra giá nó bao nhiêu, bao nhiêu USD?
Tôi móc túi đặt lên bàn trước mặt anh một tờ xanh. – 50.000 đấy! Và đừng bao giờ bước chân vào nhà này nữa.
Tôi nghĩ, với tư cách nhà văn, dù giận anh cách mấy tôi cũng không thể đối xử với nhân vật của mình trịch thượng, thô bạo như vậy. Tôi đã xóa nó đi.
❀ ❀ ❀
[1] 10 Akayet Um Mưrup: một sử thi Chăm
[2] 11 Bia Than Can: vợ vua Po Rome
[3] 12 Bia Ut: công chúa Ngọc Khoa, con chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, vợ vua Po Rome
[4] 13 Ariya Patauw Adat: gia huấn ca Chăm