Chân Dung Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7
Cái Chòi

❊ ❊ ❊

Cột đầu tiên của chòi dựng đúng vào ngày Ninh Thuận tràn ngập dân di tản từ miền Trung đổ vào, Tây nguyên kéo xuống Quốc lộ Một chật cứng người xe bóp còi inh ỏi, tiếng la, tiếng gọi nhau hốt hoảng. Nhưng đó chỉ là giải phóng giả. Sau khi chất đồ đạc lên xe, gồng gánh bỏ nhà cửa ra đi sáng mở mắt mọi người mới té ngửa chẳng bóng bộ đội nào vào thị xã cả. Thế là lục tục dắt díu nhau về, theo sau mấy sư đoàn quân Cộng hòa thiện chiến nhất được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu huy động tử thủ Ninh Thuận. Để tuần sau các sư này bị đánh tan tác cùng mấy chục máy bay trực thăng ở phi trường Thành Sơn nhất loạt cất cánh như đàn ruồi bị xua đuổi, thì người ta biết chắc chắn Ninh Thuận thực sự thất thủ rồi. Kho bom An Phước cháy hai ngày đêm chưa hết ì ùng tiếng nổ, khói bay mù mịt. Và khi dân Ninh Thuận túa đi xem cuộc hành quân vĩ đại và khủng khiếp nhất trong đời đoàn lũ sâu xanh lè to bằng ngón tay cái từ rừng núi Bác Ái tràn xuống, băng đường ray xe lửa, qua cả đường cái quan thì họ đoan chắc vị tổng thống cùng nguyên quán sắp ngày tàn, dẫu trước đó Đá Dao ngọn núi quê ông không dưng đổ rụm đã là điềm chẳng lành cho số mệnh vốn rất xuôi mát của ông.

Con số 16.04.1975 bằng sợi dây cước màu hồng uốn khá cầu kì vừa gắn xong trước cửa chòi thì nó được chào đón bằng vài quả canon đơn độc từ khu vực huyện nhắm vào mấy chiếc mô-tô-va đầu tiên tiến vào thị trấn Phú Quý, sau đó là loạt quả cao xạ của bộ đội bắn đuổi hai máy bay trinh sát cuối cùng chưa chịu rời bầu trời Ninh Thuận. Buổi khai trương nó nhằm sinh nhật lần thứ 18 của Thuman lại đúng ngày Ninh Thuận thất thủ đã găm mốc vào lịch sử dù sau đó chòi kia đã chứng kiến bao dâu bể khác nữa: từng đoàn ngụy quyền đi trại cải tạo, phân chia ruộng đất cho nông dân, Chakleng được chọn thí điểm hợp tác hóa nông nghiệp của Chăm năm 1979 sau đó là ba khoán rồi khoán trắng, xóa bao cấp, xóa Hợp tác xã, kinh tế thị trường ập đến kéo theo sau nào Cup, Dream, Citi, mấy kẻ mới phất đi dáng nghênh ngang coi thiên hạ bằng con nhái. Cuộc cách mạng thượng tầng, hạ tầng, rồi trung tầng. Rầy nâu hoành hành gia hạn thêm một năm ăn độn nghĩa là thêm thế hệ suy dinh dưỡng nữa ra đời. Bờ thửa, bờ vùng bị phá đi rồi đắp lại. Sông Lu khai thông bằng mấy chục vạn công lao động chân tay giải quyết nạn lụt liên miên ruộng đất xã Phước Hải, An Hải nhưng phù sa ít ỏi lâu nay nó chắt chiu mang đến bồi đồng ruộng đã không còn. Tất cả đổ xuống biển Đông mất hút.

Giữa bao nhiêu biến cố ấy, chòi của Thuman vẫn đứng vững quá phép lạ. Khác với chòi Saman bạn học cùng lớp Văn Lâm phơi mặt với gió Xalatan, nó biết khôn khéo núp bóng hàng tre tránh bị xẹp lép dưới bánh xe lịch sử từng nghiền nát bao nhiêu thứ trên đời. Nó cứ đầy đủ sức khỏe, đầy đủ cùng chủ nhân ông của nó – chàng nông dân thi sĩ Thuman.

Anh chàng sống phi thời, sống ngược thời đại, kẻ cư trú ngang thời gian như hắn tuyên bố này, sau khi tốt nghiệp khoa Anh trường Đại học tổng hợp không chịu đi dạy học cũng như từ chối làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô trước đó hay sau này không nhận suất học bổng do một giảng viên trường Đại học Sorbonne gợi ý. Cứ bám lấy chòi và chỉ cái chòi. Hắn không muốn làm dài thêm (một trong những) danh sách dài ngoằng của các học vị học hàm xuất lò đại học dù trong hay ngoài nước, tobé, nổi tiếng ítnhiều. Mà chỉ ước muốn được là một Thuman, ước muốn mãnh liệt, thường trực, không lay chuyển.

– Xã hội sẽ ra sao nếu mọi người đều có quan điểm như em? Ông thầy dạy cũ hỏi.

– Em không là gương mẫu của ai cả. Và thầy cũng đừng lo mọi người đều có quan điểm như em. Kẻ chăm chút chạy chọt cho cái bằng có chở bằng xe bò.

Nhưng con người đã ngạo mạn từ chối lên xe bò tập thể này đi về đâu?

Quy hồi cố hương năm 1979 lúc Chakleng đang vào Hợp tác xã, mấy sào ruộng với cặp trâu cày đã sung tập thể, ra đồng theo tiếng kiểng, họp Đội sản xuất, nhận giạ thóc đầu tiên của Hợp tác ăn chia theo công điểm, đóng công lao động xã hội chủ nghĩa, văn nghệ quần chúng, bóng đá phong trào, bạn bè vượt biên lọt hay hụt, ngồi tù và ra tù, những tờ khai lí lịch, lập biên bản … Năm 1981 phong trào nho nở rộ Ninh Thuận, nho tím thế chỗ nho xanh rồi nho đỏ đẩy giống nho tím vào quên lãng. Trong khi quanh hắn nho là nho với đủ loại thuốc độc tưới ngày đêm vào môi trường nông thôn khốn khổ với hy vọng gặt hái ngày mai tươi sáng thì một sào đất gia đình còn giữ lại cứ bắp với đậu ván từ cụ tổ gia truyền con cháu không dứt ra được. Quân tử hòa nhi bất đồng thì quân tử ăn chẳng cầu no. Ruộng khoán mặc cho mẹ nó chăm lo thì chẳng thể bì được mấy anh nông dân hiện đại làm ăn có nghiên cứu sách vở (lúc này các ấn phẩm khoa học phổ thông tràn hiệu sách). Đói kinh niên. Trong lúc chòi thơ luôn xôm tụ khách văn ra vào. Nên khi cuộc cách mạng đệ nhị kì nổ ra ở Chakleng, Thuman là kẻ được hưởng lợi đậm nhất (đậm so với cảnh ngộ cá biệt của hắn và chòi thơ hắn).

Hắn lập ngay cái giàn nguyên sào đất quanh năm suốt tháng luân phiên xanh tươi với nào bầu, mướp, khổ qua, dưa leo… Bà vợ nông dân tội nghiệp thả sức căng cổ ra mà đội xuống chợ.

13 năm qua.

*

9 giờ sáng. Khi Hà Vân gân cổ gọi cổng thì trời đổ mưa, mưa rất to. Dù ba ngày nay mưa liên tù tì trút và lũ quét phá nguyên mảng lớn bờ sông Lu mấy năm nay dân tham tranh thủ phả làm đất trồng nho. Rừng nhiệt đới núi Chàbang, núi Đen sau 24 năm hoà bình đã bị chặt trụi, phơi trơ xương trắng. Thiên nhiên bị rút ruột trả vốn lẫn lãi con người bằng trận lũ bứt cuốn đi mấy chục mét đoạn đường từ cầu Chakleng nối Phú Quý khiến dân quen xe Cup một phen khốn đốn. Nước lênh láng mang theo từng mảng bọt ngầu đục tràn vào đất nho, ruộng lúa. Lúa thì bình an, riêng nho đã có dấu hiệu cù rủ, chuẩn bị cắt khẩu ngày không xa. Đã có nhiều bằng hữu từng sát cánh bị chặt chất đống dọc đường nội đồng. Chúng sẽ được mang phơi khô làm củi nay mai.

Ra mở cổng là một anh nửa nông dân nửa trí thức trạc tứ tuần, không đội hay choàng thứ gì cả.

– Thi sĩ à? Hà Vân hỏi.

– Thuman trong chòi chị à.

Họ đạp nước bước nhanh qua khoảng sân rộng.

– Chào anh. Hà Vân nói.

– Ồ, khách quý. Thuman không đứng dậy mà chỉ hơi nhấc đít. Quảng ra sau bếp pha trà đi em. Tân gạc-đơ-co Hà Vân bước theo Quảng. Chị ướt hết rồi, áo vợ tôi, chị vào phòng thay đỡ đi. Hắn đưa cho Hà Vân cái áo, ngồi xoay lưng lại. Hà Vân đi vào. Phòng không cửa, qua chiếc gương treo ở cột ngoài chòi, hắn như bị điện giựt khi nhìn thấy tấm thân người phụ nữ xa lạ, lờ mờ nhưng tràn ánh sáng. Đột nhiên thời gian ngừng, không như những gì thiên hạ nói một cách dễ dãi, đúng hơn: nó chết lặng.

Hà Vân ngồi vào ghế hắn vừa nhường lại. Bất chợt nàng thấy tấm gương treo.

– Anh vừa nhìn lén tôi đấy à?

– Đúng hơn, chiêm ngưỡng một tặng vật bất ngờ của trời đất. Giọng hắn tỉnh bơ.

– Anh thường làm thế?

– Chưa bao giờ, dù một lần, cả với vợ tôi.

Khác anh bạn đồng song Saman bất cần, anh nông dân thi sĩ này dễ gần hơn, có gì ngây thơ nữa.

– Vậy thì rất hân hạnh. Hà Vân đưa tay ra cho hắn.

– Cám ơn. Đó là băng-cờ-rôn đón nữ phó tiến sĩ đấy mà. Hắn nói khi thấy Hà Vân nhìn tấm bảng viết hàng chữ bằng phấn đã nhòe nước.

Đây là chốn tha hồ muôn khách đến.

– Hai-cư hóa Xuân Diệu hay đấy …

– Đón nữ sĩ thì phải vậy.

– Nếu bằng tiếng Chăm hẳn làm vui lòng khách đến hơn.

– Mai chị hãy đến. Tôi chỉ nghĩ mỗi cái mới hoặc lạ trong ngày thôi. Hôm nay thế là đủ tiêu chuẩn.

Hà Vân định nói anh vừa có một gợi hứng trời cho nhưng nàng kịp ngưng. Quảng trở lại. Thuman giới thiệu thư kí thường trực chòi thơ đảm bảo giờ hành chính, phục vụ vợ con ngoài giờ. Cả bốn cùng cười.

– Chỉ có mỗi cái mới thôi à?

– Một câu hay đoạn thơ ngắn, một ý tưởng thôi nhưng phải mới hoặc lạ.

– Khó lắm. Anh có thể dẫm lên dấu chân nhân loại mà không hay.

– Không đâu, nếu chúng ta đủ bản lĩnh và biết cách. Ví trái mướp trên giàn kia, chúng có thể ra hàng loạt mỗi ngày nhưng luôn mới, thậm chí có cái giống nhau gần như trổ bông hay rụng rốn cùng lúc. Phải biết nhìn chúng theo lối khác, bằng cảm thức khác không thiên kiến rằng chúng ra đời chỉ để được đem cân ngoài chợ hay cho ta nấu canh. Hãy xem chúng như cái-thân-cận của ta cho đến khi chúng được mang đi khỏi giàn. Chính cách nhìn làm nên cái lạ và mới.

– Nhưng hành động sáng tạo thì khác hẳn với phát triển của thực vật.

– Tôi không so sánh. Tôi chỉ nói đâu có cái nhìn mới, đó có sáng tạo. Tắm rửa cho ngôn ngữ, ý tưởng và cho chính cuộc sống. Vợ tôi nàng ngày mỗi thay đổi, biến đổi ở mỗi đơn vị, thao tác nhỏ đến không thể nhận biết nếu không có độ nhạy của cái nhìn. Nàng có thể già hơn, oãi đi nhưng chắc chắn thay đổi. Dù vẫn thao tác đó, đều đều đến nhàm chán nhưng tôi luôn nhìn nàng mới, lạ. Dáng bước bấp bênh băng qua bờ cỏ buổi chiều, động tác gọn nhẹ lẩy trái mướp trên giàn buổi sáng, tư thế thẳng, chắc với cái thúng đầy trên đầu buổi trưa…

– Cả thân xác à? Hà Vân hỏi. Im lặng. Tay này sẽ tiếp cận ra sao với ngực trần mình? Có khám phá mới, lạ nào khác không, hay giống giáo sư Trần Hùng chỉ có chiếm đoạt để phô trương sức mạnh hay Văn Khâm mãi run rẩy ở bậc cửa mà nhỏ dãi thèm.

– Ừ. Nàng nghe lành lạnh.

– Ngay cả với ông bạn thường trực thơ đây. Hắn cười: nụ cười trẻ con, nụ cười làm ta cảm tưởng anh dễ gần. Sự tương phản nổi cộm khi kết hợp với cái nghiêm nghị triết học của khuôn mặt, khiến nó trông ngồ ngộ. Lôi cuốn kì lạ. Anh nói 30 ngày ngồi tù đã đập đời anh vụn nát để sau đó ráp nối lại thành con người khác, mới. Anh không còn đối nghịch với thế giới nữa. Hãy để cho thế giới như là thế.

– Ồ, triết lí đi trước, dzọt trước sự rã đám của xã hội Chăm hậu-mẫu hệ chúng ta đã được nghe Chế Khan thuyết giáo bằng thứ giọng lảnh lót như chim ri đực ở chương thứ hai rồi: hãy để cho nó rã đám, vui vẻ nhìn nó rã đám, sống với và qua sự rã đám như người ta sống chung với lũ ấy. Cái mới, khác của anh cùng giuộc với nó, không hơn. Xin lỗi nhé! Bởi như thế thì tiêu cực quá, khi xung quanh bà con hết lũ quét, anh thấy đó đến khô hạn, hết mất mùa đến rớt giá, hết tham ô đến lãng phí, hết Nguyễn Văn Mười Hai (hay mười bốn, mười tám, đến tận mười n) đến Phan Trần Năm Cam … toàn mẻ từ đẩu đâu văng tràn tới đè đầu đạp cổ nhỏ bé tội nghiệp của họ.

– Ôi thôi thôi, bà chị phó tiến sĩ lạc đề rồi, chớ có mà dại dột học mót tay tác giả tiểu thuyết này. Hắn quá ư thiếu nghiêm túc, thiếu chả kém gì nhân vật Chế Khan bệnh hoạn hắn đẻ ra trên kia. Đứa thì muốn tung hê tất cả, muốn đi trước (ồ cái từ đáng cho chó liếm này), đứa lại muốn níu kéo tất tần tật mảnh vỡ, mảnh vụn, tro bụi… Một tay không làm gì cả, còn một thì làm tất cả. Một rọ cả thôi, bà chị tin tôi đi, chả có cái gì hay hớm nẩy nòi từ đầu óc mốc meo kia cả đâu. Hắn cúi xuống như tìm vật gì đó. Không can thiệp nhưng vẫn tham dự.

– Nếu rầy ập xuống giàn bầu kia hay nếu chị nhà bán ế, lỗ?

– Bà xã không thế đâu. Nếu vậy nàng sẽ tự điều chỉnh không cần tôi xen vô. Hắn bảo hắn chẳng can thiệp vào việc làm của tôi dù nhìn với khinh miệt sự vụ tôi làm ối việc chẳng dính dáng gì với nhau, thậm chí chọi nhau.

– Người ta sẽ không đẻ đái gì mới nếu cứ tham lam ôm đồm. Ví phỏng J’Man tập trung nghiên cứu tư tưởng văn chương Chăm với làm thơ bằng tiếng mẹ thôi thì còn nghe được. Đằng này hắn như đã có vợ, vừa đèo bồng người yêu Chăm nuôi thêm cô tình nhân Việt. Thế là phải vắt giò mà chạy kiếm tiền. Cạn vốn nay mai thôi. Hắn liếc xéo Hà Vân (hắn mãi bám vào thiên hạ nói tôi với nàng bồ bịch).

– Biên bản mấy lần bình thơ tại đây đã có những bằng chứng rất xác đáng về thơ tiếng Việt của các thi sĩ Chăm: vẫn chưa có đóng góp gì nhiều cho thi pháp và ngôn ngữ thơ Việt.

Giọng trịnh trọng của Quảng chen vào đột ngột. Ba cặp mắt đồng loạt đổ sang khiến hắn đỏ lừ mặt. Chỉ bằng vài bước, hắn nhảy lên gác ọp ẹp lấy Tập ghi đưa cho Hà Vân, trịnh trọng. Hà Vân lật lướt qua. Hơn 200 trang giấy đầy dòng chữ chân phương chi chít. Cách tuần hay mươi ngày lại có cuộc bình thơ nổ ra tại đây. Các trích dẫn, lời bình… bên cạnh ghi chú bằng bút đỏ sắc mặt lẫn cử chỉ cử tọa. Có cả tên ngài giáo sư Trần Hùng được nêu. Inrasara, Saman, René Char, Đỗ Phủ… đủ mặt anh tài và không anh tài. Hà Vân bật cười: chưa ở đâu đẻ ra chòi thơ hâm với tay thư kí thường trực thơ không lương hâm như thế này. Có lẽ trên thế giới nó là độc nhất vô nhị. Không vụ lợi, tự tin, nhiệt tình và vui vẻ. Trong cái chòi đạm bạc bên cái làng nghèo của cái tỉnh nghèo có lượng mưa thấp nhất nước nghèo này. Hơn cả thầy trò Don Quichotte, hai nông dân ngồi trước mặt nàng đang đánh giặc với cối xay gió: hi vọng từ bóng râm ngôn ngữ thi ca cổ điển Chăm thế kỉ XVI lao băng vào trào thơ hậu hiện đại, chỉ bằng cú nhảy với phương tiện cực kì thô sơ.

Trong lúc Thuman thao thao bất tuyệt với Hà Vân về Pauh Catwai và Glang Anak thì tay thư kí thường trực ghi ghi chép chép. Hắn xem hai thi phẩm như cặp song sinh giữ thăng bằng cho xã hội Chăm tránh rã đám. Đừng tin vào các nhà Champa học khệnh khạng đi đo hộp sọ, cân xương bánh chè bằng cân tiểu li hay mang sợi tóc tổ tiên chẻ làm tư mà mong hiểu Chăm. Tháp Cánh Tiên, Dương Long hay cả Thánh địa Mỹ Sơn chỉ là trò chơi vô tội vạ của vua chúa thừa quyền nhưng thiếu đầu óc, vắt kiệt sức dân để phô trương cái tôi phi nhân tính. Cũng chớ cả tin cái tay Inrasara khi định nhốt hai tác giả này vào rọ của thái độ chính trị nhất thời. Pauh Catwai và Glang Anak đứng ở tầm cao hơn, bao quát tất cả và của muôn đời. Một đại dương đau khổ và suy nghiệm được chắt lọc trong vài chục trang giấy này.

Hắn bảo Quảng đưa cho Hà Vân bản chép tay thi phẩm cùng các tập Ghi chú (đến mười cuốn vở học sinh loại 96 trang). Hà Vân đọc ngay đoạn mở đầu:

“Tư tưởng thâm trầm nhất của Chăm tập đại thành ở Pauh Catwai và Glang Anak. Kẻ suy tư không có giờ cho sáng tác lê thê kiểu như Dewa Mưno, Inra Patra… thời Chăm chưa nặn ra nổi cốt truyện ra hồn mà phải vay mượn từ Mã Lai. Cả loại văn bia kí không gì hơn ngoài tìm cách hành văn sao cho kêu nhất để lấy lòng vua chúa, là đứa con so của sợ hãi, không hơn. Lối văn săn chắc, suy tư rắn rỏi thích hợp với con người thực tài khác hẳn mớ ý tưởng mơ hồ chuyên bao che cho những tâm hồn nông cạn.”

Và hai trang khác được giở ra theo trò may rủi:

“Ia đwơc di kraung hier hier

Bingun di tapien jhauk blauh ricauw

Bilauk li-u mưng Lauw

Jhauk blauh ricauw gilac bilauk (Pauh Catwai)

Văn hóa Champa như dòng sông cuộn chảy, giàu sang và bất tuyệt. Nhưng chúng ta đã không còn nhận biết chân giá trị của nó, từ chối nó, quay lưng lại với nó để tìm đến thứ nước ao tù của văn hóa ngoại lai bẩn thỉu mong tẩy uế thân xác phàm tục của chúng ta. Vô ích. Cái gáo nước ao tù kia dù có nhập từ đất nước Trung Hoa xa xôi vẫn là thứ nước ao tù cho tâm hồn ao tù và thân xác ao tù. Với tâm hồn ao tù thì dòng sông cuộn chảy kia cũng chỉ và mãi là ao tù không hơn không kém.”

“Anh bạn tôi có truyện ngắn về chuyện tình đôi bạn Chăm - Việt. Anh đặt họ vào bối cảnh và tình huống cá biệt: họ sẽ tỏ tình với nhau bằng tiếng nào một khi cả hai ở chung làng, nói sành hai thứ tiếng? Đó là tâm thế anh đặt ra, chứ đã say nhau, họ có kể gì. Họ tưởng tượng ra tất cả mọi tình huống xảy ra sau phút ban đầu thiêng liêng ấy. Nhưng có lẽ cái họ không nghĩ tới, cái họ bỏ quên: là ngôn ngữ chuyên chở lời tỏ tình. Anh thực tình không biết giải quyết ra sao tình thế tréo ngoe ấy. Rồi mọi sự xảy ra thật tự nhiên như nhiên.

Katê, chàng trai sinh viên Chăm về plây. Chàng qua nhà nàng. Mọi người đón chào chàng vui vẻ và tạo điều kiện cho hai bạn gặp riêng. Trong giây phút không xếp đặt, chàng cầm tay nàng nói: Anh nhớ em, anh yêu em bằng tiếng Việt. Nàng để yên hai tay trong tay chàng, im lặng và ghi nhận. Suốt mùa Katê, đôi bạn qua lại nhà nhau. Rồi chàng chuẩn bị vào thành phố, nàng qua, dĩ nhiên trông nét mặt, thái độ khác ngày thường. Nàng giúp chàng sắp xếp sách vở trong phòng học của chàng và tình cờ nghe lời dặn dò đứa con trai của ông cha con hãy tập trung tất cả cho học và dẹp mọi thứ yêu đương vớ vẩn đi, sau này hẳn tính. Nàng nghe một đổ vỡ trong tim mình. Chàng vào, nàng cầm hai tay chàng, dựa má vào vai chàng, nói dù sao đi nữa em luôn yêu anh, bằng tiếng Chăm. Rất tự nhiên.

Đó là lời tỏ tình. Có tí dính dáng tới lí trí, trí óc ta còn tham dự hay bố trí dù ý thức hay chẳng. Riêng tiếng cuối cùng trong nỗi bất ngờ đột ngột, cái chết đẩy chúng ta ra khỏi trần gian để giáp mặt với bóng tối không biết thì chỉ ngôn ngữ duy nhất, cận kề nhất, có khả năng cứu vớt linh hồn chúng ta nhất: tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Và chỉ có nó.”

Chú thích

“Báo Tuổi trẻ số ra ngày 24.9.1999 đăng tin mỗi tháng nhân loại mất đi hai ngôn ngữ. Trong 400 năm qua, trên 1000 ngôn ngữ của con người trên quả địa cầu này bốc khói. “Con người có thể sưu tầm, lưu trữ những dấu vết của thú vật và cây cỏ, nhưng tiếng nói thì bay đi… nó sẽ biến mất mãi mãi.” (Kortlandt)

Cùng biến mất với nó là bản sắc văn hóa và nếp suy nghĩ. Nhất là suy tư. Con người suy tư qua và bằng ngôn ngữ. Nhân loại ngày mai sẽ phân thành khu vực ngôn ngữ lớn, suy tư rập khuôn ngôn ngữ đó. Chúng ta sẽ suy tư Trung Hoa, Anh - Mỹ, Ấn Độ, Pháp, Tây Ban Nha… để một mai Raglai, Mông, Tày, Chăm, Êđê… theo vết xe ngôn ngữ giống da đỏ Bắc Mỹ mà bốc hơi.”

– Anh cừ lắm. Hà Vân kêu lên, nhìn vào mắt Thuman, mỉm cười. Bỗng nàng giật mình trước ánh lửa đột ngột lóe lên trong mắt hắn, quái lạ. Hắn nhìn chằm chằm nàng: đôi mắt sáng, trong kia thình lình chuyển đục.

– Tôi rất muốn cắn vào tai em. Hắn nói và nghiêng người chồm tới.

Nàng xô ghế toan đứng dậy, nhưng đã kìm lại được. Hắn như loài hổ dữ toan vồ chụp nàng, tự coi thế giới xung quanh như rừng hoang mà chúa tể là hắn. Loài hổ đói kia cụp đuôi lại rồi: mắt sáng sủa trở lại. Nàng thở ra nhẹ nhõm, nhẹ của kẻ mới tỉnh cơn mơ quái đản. Nàng từng như thế, lâu lắm. Sáu, bảy tháng lặp lại một lần. Một gã đàn ông xa lạ với mắt dâm dục đuổi bắt và hãm hiếp nàng. Khi đạt đến đỉnh điểm của thứ cảm giác còn chưa tên gọi, nàng vùng thức giấc: khoái cảm và hãi sợ cùng lúc. Nàng nhắm mắt lại.

– Cô biết không, khi cô nghiêng đầu thả mái tóc rơi xuống để làm cho nó khô, cái hấp dẫn tôi nhất không phải thứ gì khác mà là tai. Muốn làm ngạt thở!

Nàng mở mắt nhìn hắn.

– Thôi, anh đang đồng bóng rồi Thuman. Quảng nắm lấy vai hắn lay mạnh. Quên cái tai đi, nữ phó tiến sĩ đang ngồi trước ba chúng ta đây mà.

– À, xin lỗi. Hắn cười, thứ nụ cười của trẻ con vừa sai phạm một cái gì đó không đến nỗi lắm.

Nụ cười trẻ con ấy, khuôn mặt triết gia với cái nhìn đục ngầu dâm dục ấy đã đuổi theo Hà Vân đến tận Sàigòn vẫn chưa chịu buông nàng. Đến cả chục lần nàng đưa tay sờ, vuốt vuốt tai, cái tai trái tội nghiệp (không hiểu sao nàng cứ đinh ninh chính nó bị nạn, bởi nó yếu đuối hơn chăng) những lúc soi gương như bị cắn thật, như là nó đã bị thương. Ba thứ hỏng chân ấy dồn cục chỉ trong một con người, một bồ tát-nông dân-thi sĩ như tay trực thơ trung thành gọi thế. Vừa trộn lẫn vừa tách bạch. Nó biến cuộc gặp hôm ấy thành một giấc mơ quái đản: thú vị cùng lúc kinh hoàng.

*

Có lẽ Hà Vân muốn giấu kín hay giữ riêng nó, để nó gậm nhấm nên mãi cả tháng sau khi sang nhờ tôi giải thích bài Thơ tình thánh linh nàng mới kể về cuộc gặp. Nàng hơn tôi hai tuổi lại là phụ nữ khôn trước, tôi nghĩ nàng kinh nghiệm hơn tôi nhiều. Hỏi tôi chuyện đó không phải nàng muốn hiểu thêm khía cạnh khác của đời sống tính dục Chăm. Cũng không phải để hỏi ý kiến mang tính cá nhân (nàng biết tôi chả lỗi lạc gì ngón này) mà chủ yếu để chia xẻ. Tôi biết, Thuman thánh thiện nhưng rất bản năng, trong suy tư, sáng tác và cả tình dục. Dù các Ghi chú của hắn đầy trí tuệ (các ghi chú đáng in thành sách) nhưng đây là thứ trí tuệ bùng nổ từ trung tâm của năng lực bẩm sinh - không biết tôi dùng từ có đúng không - từ hố thẳm của vô thức sau suy tưởng sâu xa mang tính khải ngộ hơn là từ chắp vá của tri kiến sách vở hay lôgic siêu hình học. Hà Vân gần đúng khi dùng khái niệm trí thông minh bản năng để chỉ con người và tính cách hắn. Tôi cho rằng hắn sở hữu ánh sáng (hay chính ánh sáng chiếm hữu hắn) còn uyên nguyên hơn thứ ánh sáng mà những kẻ như tôi hay Hà Vân ki cóp được qua nỗi mày mò trong bóng tối cực nhọc. Khác chúng tôi, chính kẻ như hắn dám từ bỏ nguồn ánh sáng mơ ước đó để “phạm tội”, nghĩa là - như chúng ta biết đến dụng ngữ của Dos - từ bỏ có một tâm hồn cao thượng.

Để dám làm tất cả mà không phải lấm lét nhìn trước ngoảnh sau xem có bị thiên hạ dòm ngó không. Ở đây không có sự so sánh thấpcao, hơnkém mà là nền tảng: uyên nguyên hơn, bản nguyên hơn. Các hành vi, lời nói của loại người này luôn phát nguyên hay bùng nổ ngay trung tâm của vùng ánh sáng được nuôi dưỡng từ bên trong, thẳm sâu và hầu như không thể tắt. Ở thế kỉ chúng ta, Krishnamurti và Heidegger là con người như thế, khác hẳn “cố ý” của một BRussell hay Sartre (nói thế không phải hạ thấp Sartre, Russell… trước hai con người kia. Chẳng phải những tên tuổi này đã từng góp phần làm thay đổi bộ mặt thời đại chúng ta?). Nhưng chính nguồn ánh sáng bùng nổ từ trung tâm mới có sức lôi cuốn mãnh liệt, lâu dài.

Ở một cấp độ nào đó – Thuman.

Tôi cảm thấy mình thua kém hắn. Có thể nói đây là con người đầu tiên và duy nhất trong xã hội Chakleng chật chội nhiễu sự này, đôi lần tôi bị đè nặng bởi cảm thức đó. Cảm thức của Đỗ Phủ khi đứng trước sáng tác Lý Bạch mà lâu nay thiên hạ cứ hiểu lầm rằng do Đỗ Phủ khiêm tốn. Đỗ Phủ biết điều đó rõ hơn ai hết.

Nên khi Hà Vân kể sáng hôm sau đoàn bốn người mò lên chân núi Chàbang thám hiểm hầm ngầm chứa các hũ cổ Chăm, tôi đã rất khó chịu.

Mùa Đông năm 1982, anh em Ban biên soạn sách chữ Chăm đã lên đấy. Tuổi đời của chúng chưa tới 200 năm. Nhưng tại sao cả dãy lu có dung tích 50 - 200 lít đứng ngay ngắn thẳng hàng dưới hầm ngầm có lối vào nhiêu khê này? Tảng đá lớn chắn ngang hai tảng khác với lối đi ngoặt ba lần đến khi đặt chân lên tới cửa hầm thì tối mò. Chúng tôi phải cầm mỗi người một cây đuốc phụ hai đèn pin mà lần bước vào. Không ai dám tiến xa hơn mười bước, cả anh thanh niên dẫn lối. Có vài xác rắn lột to bằng chày vướng dọc dãy lu với dấu trườn in rõ lên tảng đá bên vách hầm. Không khí không vẻ gì khó thở lắm. Anh thanh niên bảo có vài lỗ thông hơi bên kia đồi. Giả thuyết rằng phú ông đã giấu chúng khi di tản không đủ vững, bởi ngoài lu ra, không có thứ gì đáng giá. Chúng chỉ có thể được dùng chứa nước, không hơn.

Tôi hỏi Hà Vân các vị có lấy gì ra không, nàng bảo hai hũ nhỏ, và thêm: chuyến đi thích lắm. Tôi không nói gì, cúi gầm mặt xuống, cố tìm một ý nào đó để tấn công nàng nhưng không thể.

– Anh ghen với Thuman à? Đột ngột nàng hỏi. Tôi ngẩng lên, nhìn thật lâu vào mắt nàng.

– Anh muốn cắn vào tai em quá.

– Sao anh không làm đi. Nàng hất cằm khiêu khích. Tôi chồm người tới, nàng giật ngửa ra sau suýt mất đà. Tôi chộp lấy tay nàng giữ chặt lại. Chúng tôi cười to.

– Ảnh có kí tặng em bài thơ. Nàng đưa tập giấy cho tôi.

THƠ TÌNH THÁNH LINH

Gió sẽ tràn qua cánh đồng ngủ yên

lay cả ngọn cỏ an phận nhất

em hãy nhảy múa như chưa từng có hôm qua

gió lặng thì chính cánh quạt từ bàn tay trần em nổi gió.

Nắng sẽ nâng giấc mơ những kẻ còn yêu

giấc mơ không trừng mắt nào làm sụp đổ

anh cứ hát dù âm tiết đã rất đắng

có thể không còn ai hiểu ở bề sau.

Mưa sẽ đổ xuống ngọn đồi bỏ quên

sau hồi trống pagalaung ginang lễ tẩy trần vừa dứt

sẽ giặt sạch buồng phổi anh và đáy tim em.

Anh yêu em

anh nói anh yêu em như triệu triệu tình nhân từng nói

khi buổi sơ đầu mặt đất em cưu mang nâng đỡ bầu trời anh

để ngọn lửa tâm hồn anh cháy, mãi cháy

hướng đỉnh cao.

Khi không còn đỉnh cao nào cho anh chinh phục

ngọn lửa anh quay về đất, làm rễ cây đâm sâu hố thẳm

công kênh em làm vũ nữ nhảy múa

vũ điệu của loài chim sa mạc.

Ta không ru rú nữa

ta không phải dằn vặt hay than van nữa

Lòng người thẳm sâu / thẳm sâu hơn hố thẳm em

sợ của loài người thì cao / cao hơn đỉnh cao anh

từng làm em bật khóc

anh bao lần bị đánh gục.

Dẫu anh gánh mệnh 6 / em mang phận 3

chia biệt hai lần bóng tối của 4, 5 / 7, 8 - anh vẫn nhớ em tìm em

anh sẽ không buông vũ khí

vũ khí tinh thần anh

ra hàng

đến với nhau ta làm số 9

phần số sát sườn cùng đích nhân gian.

[Chú thích: không có gì là cùng đích hay hoàn hảo

dẫu mặt trời trưa, dẫu rằm trăng

dẫu con số 10 tròn trịa.

(6) + (3) = (9)

Khi tia nắng đầu tiên làm vỡ tung bóng đêm

sau vang âm cuối cùng bài tụng ca viên pháp sư vừa tắt

… LINGA LINGAM LANGALA LIWA E HELAIH

đường cày đầu tiên anh vạch lên đám ruộng phì nhiêu em

vãi hạt giống sung mãn anh xuống cánh đồng em chín muồi nỗi đợi.

Em yêu anh

anh mặt trời khát khao / em mảnh trăng huyền ảo

giao phối trong tử cung vũ trụ

sinh nở những đứa con vì sao.

Mãi khi

cái chết đột ngột đến

bẻ gẫy ngọn lửa đỉnh cao anh

cắt đứt chồi rễ em

ta sẽ trở về nằm im trong nhau - nhận phận và yêu mệnh

trong tiếng AUM thánh linh vang vọng.

Đứa con ta lại lên đường chiếm lĩnh đỉnh cao.

– Anh đọc qua rồi.

Tôi đưa trả lại Hà Vân. Một bài thơ lạ, minh họa lạ lẫm biểu tượng Đại giác - Aumkar bằng dự phóng tình yêu cao cả kết hợp với ý nghĩa nguyên ủy của tính dục. Trong đền thờ thiêng của Bà-la-môn giáo, Chí Tôn Ca linh thánh được đặt bên cạnh Dục Lạc Kinh nhầy nhụa xác thịt. Aumkar Cham diễn đạt cốt tủy tinh thần đó. Tôi hiểu đây là mảnh bí truyền khác trong dây chuyền hệ tư tưởng Dhan Than. Ông giấu tôi nhưng không từ chối Thuman. Thuman, kẻ mà tư tưởng sáng rỡ đầy hiểm họa đối với con người ưa an toàn đã lập ngôn rằng tự tử luôn là cần thiết ở đất Chakleng nhạt nhẽo phiền muộn này. Chỉ có bọn ngốc hay thiên tài mới đủ trình độ tự tìm cái chết. Bọn ngốc luôn có lí do nào đó để tự tử, thất vọng hay ý đồ dại dột làm cho ai đó biết tay, muốn làm mất lòng thượng đế hay chỉ để chứng tỏ mình ngon lành, chính đáng hoặc không – nhưng chung quy bao giờ cũng xứng danh ngu ngốc không thêm bớt một phân. Thiên tài thì khác. Hãy nhìn sang nước Nga mênh mông hay thủ đô Paris thừa thãi ánh sáng, hắn nhìn tôi bằng cái nhìn tinh quái, những Exenin, Nerval, Maia. Cả Pushkin, Van Gogh hay Rimbaud cũng là cách tự tử khác. Bọn họ là thiên tài. Có thể tự tử ngay khi nhận biết mình là thiên tài, khi đã thể hiện tài năng đỉnh điểm hoặc cả lúc biết mình cạn kiệt năng lực trời cho. Chỉ có từ đầu óc hoang đãng trời ơi của Dhan Than, thứ đầu óc sinh hạ từ đứa con rơi quái thai của Shiva rằng hủy phá là tiên đề của sáng tạo, hủy phá để sáng tạo, hủy phá chính là sáng tạo mới nẩy nòi ra ý tưởng quái quỷ này. Hôm nay nó rơi xuống đám ruộng tâm thức tối ám của Thuman, khúc xạ và nẩy mầm.

– Em biết không, đấy chính là bài thơ của một ông thánh Bà-la-môn mang tinh thần Mật tông Tây tạng. Tôi nói, nhìn xéo nàng.

– Hãy rũ bỏ cái đầu óc bệnh hoạn của ngài đi. Tay thường trực thơ đập bàn với em rằng Thuman là một thi sĩ chân tính, khi em nói anh ta không gì hơn kẻ bảo thủ ngôn ngữ mẹ đẻ ngoan cố.

– Đó là em còn chưa hân hạnh diện kiến Jaklan? Tay này đã bỏ hơn nửa đời hư nghiền ngẫm mỗi âm vị học tiếng Chăm và mối liên hệ mang tính lịch đại của nó với ngôn ngữ tộc Churu.

– Chỉ nghe Quảng nhắc tên và kể vài chuyện động trời về anh ta. Thuman cho rằng ảnh sa đọa ngôn ngữ. Tôi nói với nàng rằng đó cũng là sa đọa của chúng ta. Đằng sau nỗi chăm sóc hời hợt và tầm thường đến khinh thường của loài người đối với ngôn ngữ, ngôn ngữ co mình lại như ẩn giấu một bí nhiệm nào đó vượt qua ý tưởng non kém của loài người và bạo động ném loài người xuống hố của sợ hãi, từ đó biến loài người càng ngày càng hời hợt và tầm thường hơn; mặc dù nỗi quan tâm ấy, ngôn ngữ vẫn dũng mãnh sống cuộc sống riêng, bí ẩn, dữ dội và bất khả hủy diệt, thoát khỏi tầm nắm bắt của loài người… Đấy là nguyên văn lời mào đầu của Jaklan trong tham luận đọc tại Hội thảo ngôn ngữ cấp quốc gia tan chảy qua giọng điệu rành rọt nghiêm trọng được luyện tập lâu ngày thành thứ đặc sản Jaklan không trộn lẫn. Nhưng khác với phần còn lại của cộng đồng Chakleng, hắn quằn quại hơn, trăn trở mang tính chiến lược hơn, nên sau khi làm một hớp trà chanh lấy trớn, và mặc cho cả hội trường trố mắt cứ như là bị ma hành, hắn tiếp tục đả kích nỗi nông cạn của nhân loại đối với ngôn ngữ dân tộc như Chăm, dân tộc đã dựng bia kí đầu tiên bằng chữ Phạn trên toàn khu vực Đông Nam châu Á ngay thế kỉ thứ II sau Chúa chào đời, cũng như khắc chữ bản địa cũng là đầu tiên hai thế kỉ sau đó. Jaklan lên tiếng cảnh báo nhân loại rằng có thể Chăm, Malaysia, Raglai, Việt không còn nhưng tiếng vang của mưta, mata, mơta, mắt luôn tồn tại trên mặt đất này, nỗi có mặt đầy vô hình trong vũ trụ, không ngừng tác động ngấm ngầm dài lâu vào khoảng tối tâm linh thế giới, để bất ngờ vào ngày đẹp trời nào đó tạo sinh một dân tộc mới, trí tuệ hơn, mạnh khỏe và nhân bản hơn. Chuyển sang giọng trầm đục trong lúc mái tóc ương ngạnh dựng đứng lên, Jaklan tiếp: đến hôm nay loài người vẫn cứ lầm tưởng ngu muội rằng mình đã đẻ ra ngôn ngữ trong khi chính họ mới là đứa con so của ngôn ngữ, không hơn. Hãy nhìn Esperanto mà tay cố vấn họ Cao nhọc công khuân vác với tiếp thị chục năm qua vẫn cứ èo uột thế thôi, con ơi. Dù ngài Phó chủ tịch đoàn giơ tay trái lên, ngón trỏ tay phải gõ gõ vào mặt đồng hồ hay dù dưới hội trường rộng rinh kia đã xuất hiện mấy hàng ghế trống, những khuôn mặt đang vật vã ngáp lên ngáp xuống, Jaklan vẫn gượng đứng lên tỳ tay cạnh bục tuyên bố rằng ngay giây phút ồn ã này của thời đại, nếu chịu lắng nghe, nhân loại vẫn có thể nhận ra tiếng đập tim nhè nhẹ của hàng ngàn ngôn ngữ chết yểu trong lồng ngực của thời gian, sẵn sàng sống dậy trở lại, vạm vỡ hơn, quyết liệt hơn, vượt qua mọi tưởng tượng táo bạo nhất của bất kì thi sĩ nào.

Không cần ai nghe ai hiểu, Jaklan cứ nói tới. Chính sự kiên định lí tưởng âm vị học đến một tấc không đi một li không dời này đã làm phá sản một mảng lớn chương trình vĩ mô của Cao Xuân Hoang, có thể bán tất cả thứ gì cần bán dù có giá hay chưa có giá ngoại trừ sự kiên định sa đọa kia. Dưới nhãn quan tầm khu vực của Cao, cái gì không thể bán được thì chỉ đáng là đồ vứt đi. Và rồi chính anh chứ không ai khác khi nhận thấy không cách gì cải tạo thứ đầu óc bất khả chuyển động này, đã gợi nghi ngờ về vụ Jaklan bị rồng liếm hụt. Dân Chakleng yếu bóng vía cứ thế mà tin khiến Jaklan biếng ăn biếng nói bỏ hoang luôn sợi dây đến mấy tháng ròng. Và cuối cùng… như tiểu thuyết chúng ta đã giới thiệu ở chương đầu.

- Có bao giờ em nghe nói đến tinh thần thiện tri thức của Chăm chưa? Tôi đưa cho Hà Vân xem trang bản thảo một truyện cổ.

Inrasara —★— CHÂN DUNG CÁT ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.