Chân Dung Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8
Ẩn Cư

❊ ❊ ❊

Glang anak linhaiy likuk jang o hu

Nhìn trước ngó sau chẳng có ai người

Hành vi, cử chỉ, cuộc đời Dhan Than vừa làm xa lạ đồng thời lôi cuốn và gây cho tôi nỗi hứng thú đau đớn. Không phải ở bí ẩn hay kì lạ đến quái lạ của nó mà là ý hướng vô danh, vô danh đến không còn manh mún nào có mặt.

Không một ai hiểu ông. Có lẽ ông cũng không cần ai hiểu mình, chia xẻ cái mình sở đắc hay tin tưởng. Con người có hành vi như thế hoặc hắn quá hèn nhát hoặc phải bản lĩnh chai lì. Không ít kẻ tu kín xuất thế luôn để lại chứng minh thư. Sự khuếch trương bản ngã kín đáo ấy chỉ có thể dọa được kẻ yếu bóng vía trong khi nó không đáng Dhan Than nhếch mép. Với thế hệ con cháu Glang Anak hôm nay, ông ném cái nhìn trên ngó xuống. Kiến thức chỉ trở thành tài sản khi nó có khả năng khống chế, điều động xã hội. Trong khi cái ông biết là thứ vô bổ nhất trong các thứ vô bổ. Đã không ai hiểu ông.

Khi hành vi, lối xử sự của ông bị thế hệ đàn anh lứa chúng tôi những năm 60 đưa lên sân khấu nhà quê bỡn cợt (sự vụ gây cho mẹ tôi không ít tủi hổ) hay khi Cao Xuân Hoang tự tuyên đồ đệ chân truyền của ông qua khoa xem gò bàn tay hướng nghiệp, họ cũng không tí ti nào hiểu ông. Cả khi vào mùa xuân năm 1979 ông bỏ ra miền Trung lang thang ăn xin cho đến khi thân tàn ma dại trở về tháng 11 năm 1981 để chết vào cuối năm đó, cũng không một ai hiểu ông. Chắc chắn đây là hiện tượng siêu cá biệt trong xã hội Chăm. Mẹ, các dì tôi đã khóc và tức tốc chạy tiền xe giục ba ông anh họ tôi lục tìm ông khắp mọi xó xỉnh mấy tỉnh thành đến khi bắt gặp và cho ông biết ý định thì bị ông cầm roi mây dài đến bảy sải đuổi chạy thấy ông bà.

Ăn mày! Đấy là khái niệm gây kinh hoàng, nghĩ tới thôi cũng đủ khiến chế độ mẫu hệ Chăm tái mặt chứ đừng nói làm. Mà ông lại là Thầy pháp cao đạo của một dòng họ lớn nhất làng. Tại sao? Quần chúng Chakleng đã không tự hỏi mà vội quy kết. Chăm không còn khả năng cảm thông nhau. Xã hội cũ như một cộng đồng đã vỡ tan từng mảnh trong lúc xã hội mới chưa hình thành. Khái niệm xã hội Chăm xơ cứng như khối u giữa trán tạo buồn cười. “Chăm mà có xã hội à?”, Cao Xuân Hoang đã phát ra câu hỏi kia với nụ cười khinh khỉnh. Cũng như cách đây ba mươi năm, khi ông từ chối đến gặp tiến sĩ trẻ Trần Hùng hồn còn tràn nhiệt tâm với văn hóa Chăm gợi ý vào Sàigòn cộng tác viết sách và làm việc. Không ai hiểu ông, chỉ lo cáo buộc ông ngông cuồng vô lối. Chính ngài giáo sư Trần Hùng nhận định Chăm mang tinh thần ẩn cư, gần như khuynh hướng tự hủy. Tự hủy khả năng mình, sự nghiệp và chính con người mình. Đào ngũ không chỉ Văn Khâm, Dhan Than; đào ngũ còn là kẻ chúi nhủi vào “nghiên cứu”. Ngài giáo sư đã nói qua một lần rồi, Việt ẩn cư là để chờ thời hay, sau khi cống hiến sức lực tài trí cho cộng đồng để nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo, còn Chăm thì ẩn cư từ tổ kén, khi mở mắt nhìn mặt trời đến lúc xã hội nuôi cho to cẳng cồ vai lại chực chạy trốn xã hội. Không phải chín tháng mười ngày mà phải mất 60 năm mới làm nên một con người, Malraux nói, để cuối cùng tốt hơn cả là ông hãy chết quách đi. Bao nhiêu mồ hôi phấn đấu, nước mắt khổ ải, bao nhiêu té ngã và gượng dậy để rồi biến khỏi mặt đất, không để lại dấu vết.

Trích NHỮNG SUY TƯỞNG RỜI của Trà Chân

“Không công danh thà nát với cỏ cây”.

Chăm thà nát với cỏ cây chứ không cầu công danh. Lối nói khủng long này dễ gây phản bác từ nhiều phía, bởi hôm nay không hiếm kẻ vô tài bất tướng tranh giành địa vị như mảnh xương thừa được vứt ra. Xung quanh và hàng ngày. Nhưng chúng ta đang nói về Chăm xịn, kẻ mang tinh thần Chăm, Chăm tính - hình tượng hơn: Chăm bị dính nước miếng rồng. Đó là điều đáng phiền bởi ở bề trái hiện tượng, đó là thứ tinh thần hưởng thụ, muốn ăn mà không chịu bóc vỏ khoai nói chi vác mai đi đào. Sợ trách nhiệm, hãi đối mặt với xã hội. Hành động của Lã Khải, ngay Chế Bồng Nga bị hỏa công nhà Trần dồn bắn chìm thuyền, vội vã kéo binh về chiếm gọn ngôi báu không khác mấy đám sinh viên hôm nay được nuôi ăn học bằng đồng cắc cóp nhặt từ bàn tay cằn cỗi của mẹ già đã ở lại thành phố để khi công thành danh toại trở về không làm gì cả chỉ lấy le, nghênh cái bản mặt rất đáng được lãnh vài quả đấm với chính bà con anh em khốn khó của mình. Cả Văn Khâm cũng vậy, dù anh bị lương tâm đè nặng hơn, chịu sức ép bật máu hơn.”

*

Đúng ba ngày sau đưa tiễn Đàng John Thak, Văn Khâm nghe lời Hà Vân, xin nghỉ phép thường niên về với vợ con ở Krong. Lúc đó uy tín anh với bà con đang số âm. Nhưng thay vì nỗ lực thu xếp hay làm lại cuộc đời để khôi phục tiếng tăm đã nát bét (tiếng tăm còm anh lỡ mang vác gần 20 năm qua: trí thức đầu đàn của đất Tuy Phong này) thì anh không làm gì cả để đúng 15 ngày sau lên xe quay lại Sàigòn với tâm trạng của kẻ chạy trốn, trốn khỏi nơi chốn đã chôn sống mình, mãi mãi chôn sống mình.

– Nhưng rồi đời anh sẽ ra sao?

Im lặng.

- Xã hội coi anh đồ thừa, còn hơn thế nữa, kẻ bỏ đi.

– Không sao cả, em ạ.

Anh nghe rét. Không còn đất đứng, chết trong kí ức mọi người hay ở lại như tên đào ngũ. Mình nghe rờn rợn, hệt kẻ nửa đêm bị ném vào cù lao nơi đại dương xa lạ. Không chỗ bấu víu. Thà có đối thủ hữu hình để mình chiến đấu chống lại, đằng này một khoảng trống mênh mông, hư vô lành lạnh.

– Mẹ đã khóc.

Im lặng. Mười năm trước bỏ làng đi mình bảo mẹ vào Sàigòn làm nhiều tiền hơn giúp đỡ gia đình làng xóm nhiều hơn rồi thì mình đã biệt tăm.

- Rồi mấy đứa lớn khôn trách cha chúng khi không được học hành bằng chị bằng em.

– Anh sẽ cố làm việc và gởi tiền về em ạ.

Im lặng.

– Em hãy cố gắng. Nàng có thể chịu đựng khổ cực, chịu chăn đơn gối chiếc như phụ nữ Chăm từng từ bao đời như Mưh Harat chịu đựng Xah Pakei áo rách trên thân mình tóc đứt vương cây rừng, nhưng làm sao nàng kham nổi miệng lưỡi lối xóm không ăn ở tình nghĩa bị chồng bỏ.

– Chúng nó cần có anh trông coi, em thì tối ngày ngoài đồng rồi.

– Anh sẽ về mỗi tháng. Nhưng làm sao về khi lương kỹ sư mình triệu hai đám cưới đám tang trăm thứ bà nhằng khác xén mất một nửa, cũng chưa đến nỗi mình phải có mặt xóm này thôn kia nơi mỗi ít để nghe dúm chuyện muôn đời lặp đi lặp lại như thể chỉ có Chăm mới đáng giá còn lại thế giới thứ bỏ đi bỏ đi. Ông Dhya [1] ông Paxeh ăn vặt từ ngọn sáp đến liễng trầu không xấu hổ, anh muốn trả công lại không chịu nhận bởi sĩ diện chức sắc mẹ bảo phải biết tôn trọng đạo giáo Ahier Awal nát xác mắm rồi. Còn đợi chính quyền giải quyết hủ tục ho hen thì Văn Khâm này có tàn đời.

– Hãy coi anh như đã chết đi em.

– Em khổ lắm. Nàng khóc, em khổ, các con khổ anh khô Chăm khổ, bóng tối ập xuống đang đời mình đã đời bà con mình sẽ đời các con mình, nước mắt nàng là nước mắt mình, hơn cả nước mắt mình ướt đẫm khăn tay lòng mình mềm như bún các cơ bắp rã rời bất lực.

– Anh không còn thương em nữa rồi.

– Anh thương em rất nhiều, mẹ nó ạ. Hà Vân có nói gì với nàng không với nàng chưa chắc chưa chắc không nàng tốt mình thèm nàng rất thèm nàng nhưng mình đang bủn rủn không còn hơi sức nào nghĩ đến nàng môi thơm da mát rượi hút mình như nam châm, không riêng mình bất lực mấy năm nay hai kỹ sư Tuy Phong ra trường thêm ba kỹ sư khác nhập khẩu Tuy Phong cũng bất lực còn nghênh mặt ta đây thiên tài như mình ngày xưa thiên tài về sẵn sàng vực xã hội dậy.

Thằng Út cười mớ. Vân Khâm liếc nhìn đồng hồ, chưa tới tám giờ tối nó mới hết lớp bốn chiều đi chơi đồng về đầu tóc đầy bùn tét chân chảy máu em bảo sinh nó đúng bảy tháng anh đi, nhà này lấy năm mình đi làm cột mốc ghi sự việc lớn bé, cha làm đám ba năm sau anh đi, dì Tư lấy chồng không có anh xa làng đã năm năm sáu tháng, Nhà nước trả ruộng năm Tí trong lúc anh vào Sàigòn năm Hợi, thằng lớn ở lại lớp bảy khi không có anh xem bài vở, nó xuống quá 20 tuổi còn nằm lỳ lớp 12 học bạ điểm trung bình và yếu mình liếc qua không tin vào mắt đứng chết lặng em lay mình nhúc nhích không nói gì, ngày xưa điểm 6 mình đã làm ỏm tỏi lên như trời muốn sập giờ không còn phương nào nữa, bà ngoại bảo cha mầy tay cày nuôi mầy kỹ sư mầy nuôi con xuống nông dân, còn đỡ mầy bỏ bê nó bỏ bê mẹ con nó khốn khổ.

Văn Khâm bật khóc.

Mình về nó đã cười, mình sợ nó không cười em cũng cười, thằng Út chơi ngoài sân em kêu đến chào ba đi con nó lảng ra ngoài - Người về từ cõi ấy – Vợ khóc một đêm, con lạ một ngày, thơ Hoàng Hưng, rồi đâu trở lại vị trí cũ dẫu sao nó cũng cười dù mắt nó không sáng lên như thấy Thak ghé thăm mẹ kiếp hắn không gì cả gói quà cho mấy cháu cũng không phát mấy câu dạy đời mẹ con nó không quên đính kèm chê bai mình thiếu thực tế ít ra hắn cũng phải nhớ hắn lọt lòng sau mình đến hai năm chứ, rồi đâu trở lại như xưa, như băng nhạc cũ rè đến không chịu đựng nổi nữa rồi.

Văn Khâm gục xuống trên hai mu bàn tay. Anh nghe tiếng vợ nức nở bên cạnh. Mình thương mình thương nàng thương các con vô cùng Hà Vân nói phải bắt đầu từ con số không làm lại từ bàn tay trắng rút kinh nghiệm bản thân nhưng con số không nó ở đâu thì mình hoàn toàn không biết thật sự không biết không biết.

- Hay vào Sài Gòn với anh đi em, xin phép mẹ bán nhà góp vốn buôn bán.

– Mẹ không chịu đâu anh.

– Mẹ phải hiểu đó là nhà anh làm chứ nhà chúng mình vun quén làm ra chứ.

– Nhà ở quê bán không bao nhiêu họ hàng nói vào nói ra mẹ sẽ không ưng đâu.

– Rồi cứ níu chân nhau ở xó kẹt này hoài sao?

– Ở làng vẫn có người ăn nên làm ra mà anh.

Nàng nói khi thôi khóc. Mình thương nàng nhưng sắp cãi nhau rồi, thằng Thân tốt nghiệp thú y chích gà vịt heo bò trâu ngựa bớt chết dịch chém đẹp bà con xách heo nái bê con trừ nợ ba năm xây nhà lầu, tay Thuận có vợ Kinh dẫn về quê buôn lúa non thâu tóm gần nửa diện tích ruộng làng giàu lên rõ mồn một chê mình trước mặt bà xã anh Khâm có tài nhưng thiếu đầu óc cái đầu óc đê tiện mất dạy nó hiểu cái nỗi gì ngoài tài kiếm tiền với biết cách xiết nợ bà con dì cậu nó coi tình nghĩa hàng xóm không bằng cái hạt tấm mình thà chết chứ không thể không thể.

– Anh không thể làm như họ em ạ.

– Em nói vợ chồng con cái đùm bọc nhau, em không nói anh làm giàu.

Nàng lại khóc. Bờ môi khô run run giật giật, bờ môi mình hôn say đắm ngày xưa viễn tượng nàng con gái cưng quận trưởng đi học xe zeep quân lực việt nam cộng hòa đưa đón yêu mình vượt trội thể thao học tập cha đi cải tạo chết thằng Út làm thuê lấy vợ xa cả năm mới về nàng giữ từ đường mẹ nàng khóc nhiều hơn cả lúc mình bỏ đi Sàigòn cho chừa vẫn không chừa không chịu bán dù một góc mình nhớ bờ môi Hà Vân đêm trăng rẫy Saman ám như loài hoa độc mình gọi hoa Hà Vân đôi môi dòng sông mây linh thiêng thương nàng môi khô rúm khóc giật giật.

– Nín đi em. Anh chợt nghe giọng mình khá sẵng. Nín đi em, anh nói lần nữa, cố dịu lại nhưng giọng trở nên cứng hơn. Anh không nói nữa, mình thề không cãi với nàng nữa nàng khổ nhiều rồi mình khổ nhiều rồi không hành hạ nhau nữa tất cả chỉ là hiểu lầm nhau ngộ nhận nhau anh ngộ nhận em chú ngộ nhận cháu mẹ ngộ nhận con làng xóm ngộ nhận làng xóm Chăm ngộ nhận Chăm ngộ nhận Kinh không chịu mở lòng nhìn nhau rồi chỉ xét nét quy kết quy chụp.

– Anh đi đi em không khóc nữa đâu đi đi để mặc mẹ con em đi với người vợ thành phố của anh đi đi đi để em chết đi.

Nàng vẫn không chịu ngước lên nhìn, anh vuốt mái tóc nàng nghe nó khô và rít. Anh thấy nàng mới gội trưa nay nhưng nó cứ rít dưới bàn tay anh, tội nghiệp mái tóc mình làm thơ ví mái tóc Mị Ê nàng cười hỏi mình thấy tóc Mị Ê bao giờ chưa mình bảo nằm mơ thấy nàng cười xa xôi mà gần gụi Hà Vân vùng thoát khỏi tay mình.

– Đừng nghĩ bậy đau tim em, hãy tha thứ cho anh.

Nàng không nói. Hà Vân nói thế hệ tới hai mươi năm sau sẽ nghĩ gì về các anh ở buổi giao mùa thế kỉ giao thừa văn hóa thế hệ sau đi tới có thể trắng tay khi các anh vô trách nhiệm với văn hóa dân tộc mình đã câm lặng. Không bao giờ gặp Hà Vân nữa đâu. Không bao giờ. Mình sẽ chìm hơn lâu nay đã từng chìm. Xấu hổ và tủi nhục mà chìm.

*

Khuya, Văn Khâm một mình đón xe đò vào thành phố. Từ đó không ai còn nghe, biết anh sống hay chết ở đâu nữa. Thuman bảo đó là tự vẫn tinh thần không khác bao nhiêu với tự tử thể xác của Tuy - Tuấn Tú mà trí thông minh chịu đựng hết thấu tấm áo quá chật lại ướt do chính mình tự mặc. Hay Vang - Thành Tín mà bộ thần kinh nhạy không thích ứng nổi tốc độ vùn vụt của dòng sống mới qua nếp nghĩ mới cách làm mới của thế hệ mới ào ào tới xô tất cả suy nghĩ cũ rích như miếng giẻ rách của lịch sử vào hậu trường.

Dù triết lí tự tử được khai sinh tại Chakleng, tiếc là dân đất này chưa có mống nào chịu cụ thể hóa nó cả, tôi đùa Thuman, bụt chùa nhà không thiêng là vậy. Hắn nói một sáng tạo lớn không bị đánh đổ bởi thái độ nhạo báng mà bởi một sáng tạo lớn hơn, sâu thẳm hơn. Còn dân Chakleng à? Sống kiểu đó có khác gì tự tử, một tự tử tập thể, một đại tự tử. Chỉ kẻ có đầu óc bệnh hoạn mới gọi các đại biểu cộng đồng bệnh hoạn kia là những nghệ sĩ dân gian. Ôi, con quỳ lạy Chúa trên trời!

Nhạo thiên hạ (dĩ nhiên tôi là kẻ đầu bảng hắn nhắm tới), nhưng Thuman có đang tự vẫn không? Hay Trà Chân? Nếu mọi người cứ tìm cho mình cái chòi cô độc để chúi nhủi như loài ốc ma thì còn đâu trí tuệ xã hội được huy động cho công cuộc tái thiết. Những trang Bút kí triết học của Trà Chân để làm gì, dù nó không mất lòng ai và anh đã chịu 20 năm cày thuê nuôi vợ con ổn định đâu vào đấy mà đẻ ra nó? Hay các Ghi chú văn học lẩm cẩm của nhà đại chuyên gia mỗi ngày gánh trách nhiệm rặn ra cho kì được một cái mới Thuman? Những ý tưởng siêu đẳng kia có dám đối mặt với xã hội phức tạp và sôi động này không, hay chỉ để tự tố giác thói ích kỉ ở đẳng cấp khác của chủ nhân chúng?

Đàng John Thak đã đặt hàng loạt câu hỏi đó với tôi ngay lần gặp đầu tiên sau mười năm xa tại quán bia nằm ngay nách Sở Thú khi tôi thông tin chuyện Văn Khâm với vụ vài bạn học thời Pô-Klong đã tự cắt khẩu. Một chiều đáng làm lễ kỉ niệm. Hắn mời gần như tất cả anh em ra dáng ở Sàigòn. Cả mấy nữ sinh viên nữa - như chất phụ gia cần thiết cho buổi họp mặt tăng phần long trọng.

– Chúng ta đã mang cõng tinh thần ẩn cư truyền kiếp từ mấy chục thế kỉ nay rồi, có được con người như Thuman, Trà Chân đã là khá. Tôi nói, giọng nghiêm trọng với giả đạo đức đáo để.

Thế là hắn tấn công tôi bảo tôi bao che (tôi có quyền hành gì mà bao che) cho tư tưởng cầu an yếm thế, biện hộ loại hành vi của những kẻ đáng dẫn đi bắn bỏ. Nếu mấy thứ tư tưởng ru rú sợ phiêu lưu, sợ cái xa lạ bám rễ đầu óc chúng ta thì xã hội này ì ạch mấy chục năm nữa chưa nhấc đít nổi là cái chắc. Hắn hăng hái đến sùi bọt hai mép mà không chú ý lau nó đi.

– Như vậy làm sao thanh niên thôi mang tư tưởng cầu an yếm thế? Một sinh viên hỏi.

– Tuyệt đối cần thiết giáo dục tư tưởng mới cho thế hệ trẻ.

– Tư tưởng mới nào, thưa chú?

– Những tư tưởng tiên tiến.

– Ai sẽ đứng ra gõ đầu họ đây? Một đàn ông tôi không quen, hỏi. Trong khi giáo dục công dân là trách nhiệm của Nhà nước.

– Dzô đi! Vài giọng khác.

– Ừ, trăm phần trăm đi.

Chiều hôm đó, tư tưởng kiểu mới của Chăm kiều Đàng John Thak bị nhấn chìm trong dòng thác bia chính hắn bỏ tiền ra mua. Dòng thác này sáng hôm sau tiếp tục cuốn hắn trôi qua Thái Bình Dương giạt vào chân trời nào xa lắm.

*

Chính nhờ theo học môn võ yoga của Dhan Than mà tôi biết ơn ngài giáo sư Trần Hùng về khái niệm tinh thần ẩn cư Chăm. Mấy lần nhìn tôi luyện quyền thiếu lâm học lóm trong thời gian trôi giạt Nha Trang, ông ngắt nhỏ tôi hỏi chuyện và nói cái ý định muốn truyền môn võ bí truyền cho tôi. Tôi sửng sốt. Như để gây tin tưởng, ông xuống tấn bảo tôi song phi (đây có lẽ ngón ruột ông trình làng về cái tôi của ông mà tôi biết). Không cần thực hiện, nhìn ông đứng tấn, tôi hiểu đây là bậc đại võ sư chính hiệu. Dù là ông họ nội lâu nay tôi gọi ông, nhưng từ hôm nhập môn tôi phải gọi ông bằng Gru (dĩ nhiên chỉ riêng thầy trò biết với nhau - tuyệt mật). Ông đưa cho tôi tờ báo cũ viết về võ sư Hồ Ngạnh thầy dạy võ Thái tử Quang Toản, bảo tổ sư của ông cùng môn phái với ông này. Ngọn roi dài bảy sải (thứ roi mây chỉ đất Bình Định mới có) đánh giải vây hay làm tiêu hao sức lực đối thủ trong không gian rộng, ví roi bị chặt cụt thì nó lại rất thích hợp với lối đánh một chọi một trực diện lợi hại. Các cú đá bắt chước loài bò mà vùng tiếp xúc giới hạn từ hông trở xuống. Đòn tay điểm huyệt. Lối thở quái dị… Suốt năm ròng tôi bị hành hạ như thế lặp đi lặp lại hoài hủy bằng lối dạy quá ư phản khoa học. Cho đến khi ông bắt tôi uống thứ nước tiểu sản phụ trộn với nước rễ cây hôi rình thì tôi hết chịu nổi. Quỳ gối trước tô dung dịch có quỷ mới hiểu nó là quái gì này, để chuẩn bị cho buổi nhập môn bí ẩn và long trọng, liếc thấy ông lơ ý, tôi liền bỏ chạy.

Năm đó tôi đúng 22 tuổi, cũng là năm ông bỏ làng ra đi. Tôi hiểu môn võ yoga kia thất truyền ngay bước chân đầu tiên của ông bước khỏi làng Chakleng quá ư lắm sự này. Cùng ra đi với ông là hòm gỗ chất đầy bản chép tay cổ gồm mấy chục bài phù chú dài riêng ông có, hình vẽ các thế võ, bài chữa bệnh bằng lối đọc mẫu tự từ dưới ngược lên, tên và tính cách (không kê tiểu sử) các võ sư thuộc môn phái, từ vựng thần bí hay kiêng kị, các bài thơ trời ơi, vân vân và vân vân. Chúng ra đi không để lại dấu vết. Và vĩnh viễn. Không ai biết chúng từng có mặt bởi mớ tạp nham ấy đã hay mãi không là nhu yếu phẩm tinh thần của quần chúng Chăm hiện đại. Cả lúc có mặt, chúng còn vô danh hơn cả di sản văn hóa Champa đã mất: cách đóng tàu, phép tính phương hướng cho tàu viễn dương, toán học và vật lý học, hóa học và y học… là thứ luôn gây hứng thú đồng thời làm đau đầu giới nghiên cứu.

Ngài giáo sư Trần Hùng gọi ông là Arhat quái dị. Con người lý tưởng của Bà-la-môn là đạo sĩ lánh đời, trốn đời và thoát khỏi đời khi đạt giác ngộ. Văn hóa Champa bú mớm từ nguồn sữa tinh thần này nên bị đánh cho tan tác bởi văn hóa Đại Việt chủ yếu hun đúc bằng tư tưởng Khổng Mạnh mà con người lý tưởng là kẻ sĩ dấn thân, Đại trượng phu gánh vác việc đời hay ở bậc “thấp hơn” - Bồ tát của Phật giáo Đại thừa nhập thế cứu độ chúng sinh khốn khổ. Các tri thức tinh túy nhất của tài năng Chăm (tài năng thực thì luôn hiếm) không được phổ biến rộng trong quần chúng mà chỉ truyền dạy cho rất ít người hay như Dhan Than, sống để lòng chết mang lên giàn lửa đã đốt cháy thi thể còn săn chắc ông vào một trưa nắng năm xưa cùng ít giọt nước mắt nuối tiếc của tên đồ đệ duy nhất là cái thằng tôi trót phản bội lý tưởng ông bất đắc dĩ.

Nhưng đây chưa phải là hạt giống Arhat cuối cùng. Ông chết, Chế Khan đã là một kẻ kế vị xứng đáng.

*

Hoài bão hình thành một đội ngũ hùng hậu nhằm phục hưng nền văn hóa Champa của ngài giáo sư Trần Hùng đã bị dân Chakleng làm cho tan tành xí quách. Đầu tiên là Than Kon thẳng thừng từ chối ngài đã rất tận tình tam cố thảo lư với mỗi lần là gói lớn trà xanh cùng lạng trầm hương loại vụn nhưng còn thơm chán.

Nhân vật sống đồng thời ba thế giới này mới 30 năm trước thôi nghe nhắc tên, con ma hỗn láo tới đâu cũng lo chạy thoát thân không dám xớ rớ quanh hàng rào nói chi đến quậy phá thân hình ốm nhom của dân bệnh yếu bóng vía. Nhân vật đã tuyên bố chớp nhoáng trong hiếm lần rơi xuống mặt đất rằng một sụp đổ nào bất kì đều là hệ quả dây chuyền không thể kiểm soát của đống hổ lốn nhân tố và sự kiện ắp đầy rối rắm tựa mớ bùi nhùi vô hình xoắn và quấn, đan chéo và dồi tung vô lượng lần trong trò chơi vô tình của thượng đế lẫn ma quỷ, nó tăm tối, sâu xa và tế vi đến không thể nhận ra đầu mối nếu chúng ta không trang bị sợi dây thần kinh siêu dẫn đón nhận nó, đón nhận một cách ngẫu nhiên không chuẩn bị hay cố ý. Ông nói trong khi dụi tắt điếu thuốc vấn vào gan bàn chân. Một năm sau, ông tiếp: cả sự sinh thành cũng thế. Con người không nửa lần ngại mất lòng bất kì ai ngang nhiên phát ngôn trong nỗi khinh khoái của chất giọng hay khinh thường của đuôi mắt cộng thêm chém cạnh bàn tay vào khoảng không rằng lao động làm ra cơm ăn áo mặc là vấn đề muôn thuở của con người, những con người tầm thường trong lúc chính trầm tư mới biện hộ cho hiện hữu của con người trên thế gian đau khổ này (dĩ nhiên cái trầm tư được trả giá đắt bằng bộ ngực lép của cô em họ đã phải sớt khẩu phần tiêu chuẩn cho ông, gay go nhất là mấy năm cuối thập niên 70), cứu vớt nó và làm tràn ý nghĩa nó. Lời lẽ được phát ra ở tư thế đứng khom khom của ông lúc sẫm tối làm thất đảm ma quỷ chứ đừng nói con người. Nên khi tôi xin phép bác dành cho con một chương của tiểu thuyết nhé thì ông thẳng thừng hãy để ông yên. Tôi đành chấp nhận, dù thiếu nhân vật này, Chakleng coi như mất đứt nửa bản sắc đậm đà gọi là đóng góp vào truyền thống văn hóa dân tộc.

Nghĩ đến Ciet sách quý mất đi cùng tài năng hiếm hoi kia vào ngày không xa cũng đủ làm ngài rùng mình. Rồi đến phiên tôi mà ngài đã rất tin tưởng vào khuôn mặt mới đầy triển vọng để mà “phải chi thằng này nó chuyên tâm vào nghiên cứu triết lí văn chương Chăm đi đằng này lại làm thơ nữa” (tôi nhớ ông giám đốc nhà xuất bản nọ phát biểu nguyên văn thế khi đọc duyệt tập thơ đầu tay của tôi). Thằng này mẹ nó đẻ không cho rớt một tế bào khiêm tốn nào trong nội tạng. Ngài thất vọng. Ngay cả khi mong gieo hạt giống giáo sư trong “dân gian” Chăm qua nàng Hathaw xinh đẹp, ngài đã không toại nguyện. Các tài năng Chăm luôn có khuynh hướng tự hủy, không phải hủy phá để sáng tạo mà là tự hủy đúng nghĩa đen thui của từ. Hathaw không chủ động tìm nhân giống tốt như giống của ngài mà bạ đâu ban phát đấy, là một hành vi tự hủy mang tính nhân chủng nguy hiểm nhất. Ngài nghe ê chề. Ê chề với cả tiểu đội “chiến sĩ bảo vệ văn hóa Champa” trung kiên ngu xuẩn trước thầy sau tớ lao xao luôn mồm nghiên cứu mà sai viết một biên bản khoa học cũng không nên hồn. Đội bóng cần nhiều đấu sĩ, nhưng trước tiên phải có vài nghệ sĩ và nhất là một thủ lĩnh. Gặp Chế Khan, ngài nghĩ: Ecce Homo! Nhưng chính hắn chứ không phải ai khác đã làm cho trái tim ngài tan nát một cách toàn diện đến vô phương cứu chữa.

Ngài ngồi đó, một mình trên ghế bố ngoài hành lang căn nhà nâng cấp villa thuộc quận Ba, cô độc như con sói già. Đầu năm cuối cùng của thiên niên kỉ thứ hai, ngài đã quá năm năm để nghe thuận tai. Lỗ nhĩ thì có thuận nhưng trái tim ngài sao cứ nghịch nghịch. Sau giấc trưa dài – mưa Sàigòn đổ lớn và nhanh rồi nắng gắt – ngài rơi vào trạng thái kì lạ, tâm trạng tuổi thơ ngài cảm cúm trở dậy sau giấc trưa muộn. Để xua đuổi buồn và chán, ngài cố lục tìm trong trí nhớ để thử kết nối lại các sự kiện lớn đã trôi qua đời ngài hay do chính ngài tạo ra. Nhưng bất khả! Ngài lấy sổ tay và bút ra làm cuộc điểm danh với những gạch đầu dòng.

- 1957: tốt nghiệp thủ khoa Đại học Văn khoa Sàigòn.

- 1962: trình luận án phó tiến sĩ triết học tại Đại học Louvain - Bỉ. Tranh luận kịch liệt với nhóm Les Temps Modernes. Về nước tham gia đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, bảo vệ tự do tôn giáo và chính sách đãi ngộ sắc tộc thiểu số.

- 1965: (tuổi trụ vững – đúng như sách của Khổng Tử): quyết định chuyển hướng sang nghiên cứu văn hóa Champa. Quyết định định mệnh.

- 1966: làm đặc phái viên văn hóa cùng Đoàn đại biểu chính phủ Đệ nhị Cộng hòa lên Buôn Mê Thuột điều đình với tổ chức Barajaka. Gặp Than Mrang, qua ông biết Chakleng và dính chặt với vùng đất này từ đó. Làm quen với Than Kon. Con ma của thế kỉ XII rớt lại. Đau.

- 1969: cố vấn cho nhóm sinh viên tiến bộ Sàigòn đấu tranh chống can thiệp quân sự của Mỹ.

- 1975: đại diện cho trí thức Chăm tiếp phái đoàn Trung Ương tại Trung tâm văn hóa Chàm - Phanrang. Trao đổi về giá trị to lớn của nền văn hóa dân tộc này. Rất tâm đắc.

- 1982: dự Hội thảo quốc tế về văn hóa Champa ở Đan Mạch. Thành công vượt dự kiến.

- 1984: gặp J’Man. Hy vọng.

- 1985: nhân vật trung tâm của Hội nghị lần thứ nhất về văn hóa Chăm tại Ninh Thuận.

- 20.1.1995: sinh nhật lần thứ 60. J’Man và Hà Vân. Ngu xuẩn. Ngày đen tối nhất trong đời!

- 1995: gặp Chế Khan. Hy vọng mới.

- 1997: bọn chiến sĩ bảo vệ văn hóa Champa gây phiền hết sức hết sức.

……

Ngài không muốn tiếp tục nữa, liếc nhìn tờ giấy và thấy nó đang nhìn lại mình, vô cảm. Chợt ngài rơi vào khoảng trống không chỗ bấu víu. Trong khi bọn chiến sĩ bu quanh đến không thể rẩy ra được thì Chế Khan khá ăn ý, niềm hy vọng cuối cùng của đời ngài lại bỏ rơi ngài. Cuối năm ngoái, hắn qua ngài nói từ biệt. Để ra miền Trung nghiên cứu các phế tích. Ngài ngớ ra.

– Thầy tính mời em cộng tác viết bộ văn minh Champa.

Hắn im lặng.

– Đứng tên chung. Chứ không giành công như các vị chủ biên ta từng làm.

– Em cần phải xem tận mắt các phế tích, thầy ạ.

– Kiến trúc và điêu khắc đã có nhiều công trình viết rồi.

– Em muốn có khám phá của riêng mình.

– Để làm gì sau đó? Rồi lại bỏ phí như vốn kiến thức của em về ngôn ngữ và trường ca cổ ư?

Im lặng. Ngài rót rượu cho hắn, thấy hắn nhìn chằm chằm vào bàn tay mình trên mặt bàn, run nhẹ.

– Em thấy đó, thầy già rồi. Chợt ngài tự kìm lại.

mình bắt đầu yếu đuối tự bao giờ? Tại sao bất ngờ hôm nay mình bày trò tâm sự với tay đàn ông lập dị này? Mình đã không còn làm chủ được lý trí mình.

– Khả năng của em nếu không ứng dụng để bảo tồn văn hóa Chăm thì có phí đi không? mình đã đặt niềm tin vào những con thiêu thân. Có lẽ đây là con thiêu thân mới, không hơn. Nhưng không còn ai nữa rồi.

– Em chưa viết gì cả.

– Em sẽ để lại tư liệu cho thầy.

– Không, đó là công lao của em hắn còn không biết quý công sức của mình nữa kia. Các nỗ lực được xem như là một trò chơi. Như các vua Champa vắt sức con dân, rút kiệt tài sản quốc gia để xây đền tháp làm trò chơi thỏa mãn óc hãnh tiến, tự phong thần cho mình đang khi sống nhăn. Chế Mân còn dám cắt hai châu Ô, Lý để chơi gái nữa. Hắn tìm biết để mà hiểu biết, không cần ứng dụng nó, khai thác nó, lập thân bằng các thu hoạch từ nó.

Từ hôm đó, hắn đi mất xương cốt. Cùng ra đi với hắn là dự phóng của ngài về bộ văn minh Champa. Ngài thấy sự nghiệp nghiên cứu của mình sao mà mờ mịt nhân ảnh. Ngài yêu Chăm và say mê văn hóa Chăm để không thể chịu cúi mình làm sơ lược hay cẩu thả được. Hoài mộng đang trôi về đâu?

Trời sâm sẫm tối. Chị phục vụ đã về. Ngài bật đèn bàn và chợt nhớ Hà Vân, với cái ngoáy mông lần sau cùng. Nàng với ngài gặp nhau ở nỗi hành hạ bởi tình yêu văn hóa, con người Chăm nhưng khác nhau cả một vực sâu tính cách. Trong khi ngài chăm chút từng mảnh kiến thức, mảnh uy tín, tình cảm thì nàng khá chểnh mảng. Tháng 9 năm 1989, mình đã đề nghị có đứa con riêng - đứa con thiên tài - với nàng (không hiểu ngài moi đâu ra cái khám phá khoa học qua yếu tố tuổi tác với công thức: tuổi cha chia 2 cộng 7 bằng tuổi mẹ thì xác suất đẻ đứa con thiên tài trội hẳn). Chẳng những nàng từ chối mà từ đó nàng không bao giờ cho mình mó tới nữa. Phải chi… Cha mẹ ơi, ngài sẵn sàng đổi lấy mấy tháng thọ hầu rút lại lời đề nghị hớ ơi là hớ ấy.

Cái buốt nhói vẫn còn đó. Để dập tắt nó, ngài thử điểm qua khuôn mặt phụ nữ đi qua đời ngài. Nhưng mông lung quá. Ngài gần như quên sạch nét mặt của họ. Lật qua tờ khác của tập sổ tay, ngài trừng trừng nhìn vào màu trắng tờ giấy. Đến nhiều tên mình cũng không nhớ. Ngài bỏ trống chỗ họ tên, cố gắng nhớ chi tiết: nghề nghiệp, nơi ở, màu tóc, kích cỡ mông, chiều cao, nhất là đôi gò bồng đảo. Ngài nuốt nước bọt. Có cô sinh viên sẵn lòng cho ngài vuốt ngực trần hay hôn lên tóc, má… Đã chưa một ai từ chối cho ngài nhìn và sờ vào gò đào bằng con mắt mỹ học của vị giáo sư từng ca tụng bầu vú Vũ nữ Chàm - Trà Kiệu là tuyệt diệu nhất trong các kiệt tác điêu khắc của nhân loại (ngài nhấn mạnh nhân loại). Ngài, trong lúc hai bàn tay vuốt, nắn, miệng thì thao thao về các bộ phận tương ứng với bức tượng người nữ nổi tiếng: Vénus, Uma, La Baiser… kèm theo những lý giải, sâu xa và bí ẩn. Các nàng ma mãnh không kém, ngài biết, vừa để khoe thể hình mình với vị giáo sư nổi tiếng vừa tận hưởng cái khoái cảm của vuốt ve bởi bàn tay điệu nghệ nhưng cũng tránh được mặc cảm xấu hổ khi sự việc lộ thiên này được che giấu dưới bức màn khảo sát đối sánh với các kiệt tác phẩm nghệ thuật.

Sau đó ngài giáo sư đã làm gì hơn và có được họ hỗ trợ khám phá thêm cái mới lạ nào nữa không thì chỉ ngài với đối tượng được khảo sát là quí nàng ôi quí cô nàng nõn nà phơi phới mới biết được.

Chỉ biết họ không còn ở đó với ngài, hôm nay.

Họ như cánh chim bay trở lại rừng. Những người tình gió thoảng này đã đi đâu về đâu? Ngài hoàn toàn mù tịt. Thi thoảng ngài nghe lỏm người quen nhắc tên một cô có tới ba đời chồng tiếp sau cuộc tình với ngài. Ngài cố gắng hình dung sắc mặt lúc ngài đè lên cô ta, thử đoán nàng nghĩ gì về thành tích của ngài khi so sánh với bạn tình mới, nhưng đành chịu. Ngài chỉ nhớ mỗi cái tên Loan. Hồng Loan hay Thanh Loan, ngài không chắc lắm. Ngài viết tên: Loan, lần đầu tiên: 2.1968 (ngài nhớ rõ bởi đó là những ngày ngài nằm nhà ngóng tin chiến sự Tết Mậu Thân, cô nàng đến giải tỏa nỗi cô đơn của ngài); chi tiết khác: _____. Nhưng với Hà Vân thì ngài không cách nào thoát ra được. Chúng cứ bám riết ngài đến từng chi tiết không đáng nhớ mà chỉ cần mỗi lần chúng sượt qua đầu thôi cũng đủ làm ngài độn khổ. Mỗi kỉ niệm là nhát dao cứa vào trái tim ốm yếu của ngài. Ngài bỏ bút xuống, ngồi bật ngửa ra thành ghế. “Khi người ta không hành động nữa người ta mới nghiên cứu”. Ngài nhớ câu nói của Chế Khan. Ngài nghĩ: khi mình không thể hành động nữa, mình mới nhớ lại. Nghĩa là ngài đang nguy cơ quay nhìn ra đằng sau rồi. Ngài nghe nhói đau góc ngực, trái tim chợt nóng chợt lạnh như muốn chảy tan ra. Ngài với tay tắt đèn, phác cử chỉ bâng quơ rồi đứng bật dậy, bước như chạy trốn vào nhà.

❀ ❀ ❀

[1] 14 Dhya hay Cả sư Bà-la-môn: chức sắc cao nhất trong hàng giáo phẩm Cam Ahier.

Inrasara —★— CHÂN DUNG CÁT ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.