Chân Dung Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba Khuôn Mặt Cũ
Ba Khuôn Mặt Cũ

❊ ❊ ❊

Dhan Than, ông họ nội tôi, quanh đi quẩn lại mấy ngón tuyệt chiêu đem lòe thiên hạ. Ông có thể ngồi kiết già, tay này nắm lấy ngón cái chân kia, vụt cái nhảy phốc qua cán cuốc cao cả tấc trước mặt.

Một tay Đại Lãn cừ khôi. Suốt đời không chịu làm ra đồng tiền hạt gạo. Mỗi sáng thứ Ba hàng tuần, ông chống cây trượng đứng nhìn mặt trời cùng tâm linh ông thức dậy, đọc lời thần chú không ma nào hiểu nổi. Ngay Ciet [1] sách ông cũng gây khiếp hãi cho thành phần có chữ nghĩa trong làng. Không ai dám đụng tới nó nói chi đến chuyện tò mò dòm xem thứ gì ghi trong đó. Thi thoảng bọn trẻ chúng tôi đánh cắp được vài tờ rời lúc ông ngồi lim dim tham thiền nhập định trên tảng đá sau làng quanh đó có mấy bụi trâm bầu cái đám thanh niên ưa đến phóng uế bất kể trưa tối nắng mưa. Mớ dụng ngữ đặc kì Dhan Than vũ trụ dị dạng, âm tiết độc, hạt bụi nở trên lá chết, gió từ đỉnh đầu… hay những triết lý của loài ruồi nhiệt đới, mùi hôi nách thượng đế, Po Nagar bị đẻ ngược… mà ông thường sử dụng xen kẽ lúc cãi nhau với các dì tôi, được chép bằng chữ hoa mỹ trên mặt giấy ximăng, mặt kia viết ngoằn ngoèo thứ ông gọi là thi ca của cõi chết được ngâm nga bằng giọng ngâm buổi tận thế khi ông đang trong thế trồng chuối mỗi chiều cuối tuần lúc trời sâm sẫm tối. Thử trích dẫn một bài:

KẺ ĐÁNH THỨC CÁNH ĐỒNG TRƯA

Ra đời

Thế giới lệch

Lịch sử không có quỹ đạo

Lối độc lên đồi

Hắn có thể bị thiêu trụi dưới trưa

Sống và chết

Đỉnh cao như là hố thẳm

Chân dung phù thuỷ có khuôn mặt buồn

Đám nhà thơ ù lì chết nhát

Bí ẩn về chùm hoa lửa của loài xương rồng

Có lẽ nắng không còn đâm chồi nữa, ngày mai

Bữa tiệc trưa cùng lũ dế

Chúng ta có quyền hát bằng giọng khác

Hãy bắt đầu từ đường cày này

Những con trâu không sợ sống

Buổi cày cuối cùng

Giã từ

Không vợ không con không gia đình không tổ quốc. Ở tuổi 70 gặp dịp, ông sẵn sàng xuống tấn, thách bọn thanh niên song phi vào ngang vai. Trăm lần như một, chẳng hề hấn gì ông cả. Rồi không hiểu can cớ gì, vào ngày xuân đẹp trời năm 1979, ông bỏ làng ra đi, mất tiếng lục lạc ngựa.

Trong minh triết đến tối ám mang đậm màu sắc Chakleng làng Chăm nghèo mà bữa cơm cha mẹ cậu dì anh chị em tôi cùng là các anh chị em họ tôi trả bằng mồ hôi nước mắt, ông Dhan Than như loài ma trơi nằm vắt ngang cái ngàn năm mãi dật dờ, sẵn sàng nằm vắt qua ngàn năm tiếp theo mặc kệ năm tôi sinh mẹ bảo mười lăm tháng trời không mưa lấy một giọt, anh tôi chăn trâu khát túng quá uống đại nước đái trâu hay năm chị cưới trộm chồng đập Nha Trinh vỡ cuốn trôi cả mấy trăm mẫu lúa đang thời làm đòng dù Tết Mậu Thân hoặc Hiệp định Paris hay nhà văn vĩ đại giải Nobel văn chương tương lai Lâm Màng tạ thế, sự minh triết của ông mãi ấp ủ thuyết lý cao đẳng nào đó sẵn sàng vỡ hạt giống lạ biệt trên đất Chakleng thiên thu vạn đại này.

Hathaw, đóa hoa rừng giữa plây. Nụ cười man dại của chị làm xiêu đổ quý ông làng khác chả chừa ai có việc ghé sang tình cờ nhìn thấy. Trách gì tay cố vấn Philipine, Indonesia ở tỉnh hồi trước bị nụ cười ấy đánh gục. Thích ư? Thì đây. Nhan sắc trời cho, chị rộng lượng ban phát, sạch sẽ và lịch sự, không cầu một xu, bất kể miệng lưỡi siêng năng của bà con dân làng. Mười đứa con không biết mặt mũi cha đủ nói lên cái bao dong vô bờ bến của chị. Không ít kẻ đạo đức thật và giả đánh tiếng phải chi chị lấy hẳn ngoại kiều để mà lên mệnh phụ, đếm đô gởi về xây phòng học cho con cháu nhờ thì có hay hơn không. Chị nghe thấy mà cười (vẫn thứ nụ cười man dại ấy). Khoản này thì tớ khôn hơn kẻ dạy tớ nhiều lăm lắm. Mà có lẽ chị khôn thật!

Vào Hợp tác xã, phát ruộng khoán, nhà chị lĩnh nguyên mẫu hai. Nhưng cả chị với hai thằng lớn dân nhà quê chính hiệu có cầm tới cày cuốc bao giờ đâu. Thế là xuất hiện anh lực điền kém chị những năm tuổi nghe đâu từ Malâm lạc tới. Chỉ qua tối, hợp đồng miệng đã được phác: anh đảm nhận mọi khoản sinh hoạt kinh tế gia đình, chị lo coi sóc mấy đứa nhỏ và dĩ nhiên, cắt đứt ban phát hương trời cho người thiên hạ.

– Ừ, thì cắt, chứ em có ham hố đâu. Anh thấy dân Chakleng này vợ hai chồng ba bao giờ?

Ông Malâm, ở đây người ta gọi ông thế, được cái khéo tay. Rảnh, ông đóng Ginang, Baranưng [2], vót Xaranai... Tối tối nhà chị ò e tiếng kèn, trống. Rồi đùng cái, hội diễn văn nghệ huyện, chị thay mặt xã nhà dẫn nguyên dàn con cái lên sân khấu múa, hát dân ca và ẵm về gần chục cái bằng khen đóng dấu đỏ. Hoạt động văn nghệ plây cứ là không thể thiếu chị em nhà Hathaw. Chị mất cách đây 5 năm. Nhẹ nhàng thanh thản, như người đẹp đang ngủ – một cụ già nói thế. Đúng một tháng cô Út được một Chăm kiều (lúc này đang lên giá) dạm hỏi. Amen!

Dân nhập cư, ốm yếu đến gió có thể thổi bay được. Chakleng nặn ông thành đại sư môn thả diều. Ông xin nghỉ hưu thư kí xã cũng chỉ được thoải mái thả diều. Nghe kể ông phải dùng giấy ba cái bao ximăng cắt ghép mới làm nổi cái diều. Còn dây diều to bằng ngón tay út cuộn lại bỏ bao thằng Klai con ông vác đến ngoẹo cổ. Diều ông bay vi vu trong mây suốt mùa hè cùng tuổi thơ chúng tôi. Nó chỉ bị đứt khi lũ chúng tôi nghịch ngợm muốn thi với ông, và diều cháu chắt đu bám đến mấy chục khiến nó hết chịu nổi. Chính mắt tôi thấy nó bị đứt một lần. Trông nó như con rồng ngã bệnh thu mình vào mây xa dần xa rồi mất hẳn.

Lần đó ông phải đạp xe đạp đời Bảo Đại cả ngày mới tìm có lại.

Ông mất. Đám thiêu, người ta đốt theo ông chiếc diều với lỉnh kỉnh phụ tùng. Diều to tướng ôm lấy thân xác bé nhỏ ông. Nó cháy còn lâu hơn đống củi tagalau xếp dưới thi thể ông nữa. Phải chi nó được giữ lại trong bảo tàng để đời sau còn chiêm ngưỡng. Nhưng người Chakleng mong sống mà không để lại dấu vết! Cho đi hết thịt da xương cốt mình và không để dấu vết bé con nào trên mặt đất trần gian.

Ba khuôn mặt với tính cách kì đặc. Với bộn giai thoại oanh liệt khác nữa đọng mãi trong kí ức tuổi thơ tôi. Chúng nuôi nấng và gây hưng phấn bao ước vọng tuổi trẻ lứa chúng tôi – những chàng trai sinh năm Đinh Dậu, đang là chủ nhân ông của Chakleng hôm nay, như người đời cho là thế.

Thuman, người nông dân-thi sĩ

Hắn cao đúng thước tám. Bắp chân nông dân, bộ ngực lực sĩ thể hình, khuôn mặt triết gia lúc cười lập tức hóa mặt trẻ con non choẹt. Lập một quán thơ có gác hẳn hoi ngay giữa đồng với một tay vô công rồi nghề sang thường trực thơ mỗi ngày. Mùa lễ lạc, bạn thơ và bọn ăn theo thơ các plây đổ đến đọc thơ cho hắn nghe và nghe hắn đọc thơ. Tính xuề xòa của hắn dung chứa tất cả bọn họ và thơ bọn họ. Cả vợ con cũng lây tính hắn, bỏ qua mọi rắc rối đám văn nhân nghiệp dư này mang tới cho gia đình.

Hãy tưởng tượng anh nhà quê Chăm đầu tắt mặt tối lam lũ vác giạ thóc cuối cùng ra quán đổi lấy rượu gầy cuộc nhậu và thuyết về trường thơ hậu hiện đại tận trời Tây! Riêng khoản thuốc hút, trà sáng với giấy làm thơ thì hắn cực kì khó tính. Các tứ thơ đại loại:

Những đường cày trầm mặc cơn mưa

nắng hát vào thớ đất

bác nông dân vô ngôn ngồi rách buổi chiều.

Dứt khoát phải viết trên giấy A4 loại Ford trắng bóc gập đôi. Và dĩ nhiên chúng phải được cuộc hỗ trợ đắc lực của loại trà xanh Thái Nguyên với hương thơm của Mạc-râu chính hiệu!

Ông già hắn hiền Phật đất, bực quá lên tiếng rủa thằng này phải bị tù một lần cho chừa cái tật. Lời rủa hóa thiêng: năm sau hắn bị dẫn về trại bởi liên hệ vụ vượt biên. May hồn cho nước Mỹ! Tầm nghệ sĩ mươi đứa như hắn mà qua lọt sẽ nhũng nhiễu văn đàn Mỹ như bỡn. Nhưng rồi đâu vào đấy, cô gái rượu bác cấp dưỡng nhà giam mê tít hắn để hắn tiếp tục có ấm trà Bắc với gói Mạc-râu phả khói dài dài suốt cả tháng nằm đếm lịch. Còn chuyện thơ phú thì cô nàng mặc sức chép qua cửa sổ.

Có lẽ nhận thấy hắn vô hại cộng thêm cái khéo nói của cô gái, hắn được mãn hạn sớm. Hắn quên phắt cô nàng ngay khi bước chân khỏi cổng trại. Quán thơ tiếp tục rôm rả. Chả có gì trầm trọng cả. Không vì hắn ở tù 30 ngày chẵn mà tận thế.

Hiện hắn có năm tập bản thảo thơ và một chồng dễ đến ngàn trang chi chít chữ bản hiệu đính Ariya Glang Anak [3] chưa tới trăm câu lục bát Chăm. Dẫu thế nào đi nữa cũng phải sống và sáng tạo.

Jaklan, nhà ngôn ngữ học cấp xã.

Không ai biết hắn là nhà ngôn ngữ. Hắn dạy ở Kunhuk cách Chakleng cả giờ đạp xe. Cái sự vụ hắn tình nguyện lên làng Raglai này gây xôn xao dư luận nông thôn, bởi hắn ra trường Sư phạm hạng ưu. Kẻ xấu miệng bảo hắn ý đồ kín đáo. Suốt 12 năm hắn sáng đi chiều về. Mỗi lần hắn thồ những măng, bắp, gà, củi… tất tần tật gì có thể mang về được trên chiếc xe đạp cà tàng, thì kẻ ghét hắn càng có cớ xầm xì. Nhưng hắn kể gì đến phát ngôn chỉ lấy được cái phát âm của bọn xấu máu này. Cái duy nhất hắn cần biết: mối liên hệ có tính lịch đại giữa âm vị tiếng Chăm và tiếng Churu. Mười năm, trăm năm sau, thế giới có muốn hiểu sợi dây liên hệ kia xanh đỏ thế nào thì dứt khoát phải biết mà tìm đến Jaklan này. Bởi ngoài giờ đứng lớp, đến mỗi mùa rẫy hắn rạc chân truy đuổi theo đám nhóc tản mác khắp rừng núi đem mớ chữ nhét vào cái bụng kẹp lép của chúng. Thứ lớp học du cư này làm khốn đốn hắn không ít. Thương tình, cha mẹ chúng mừng thầy cặp gà, gùi măng. Cũng tạm để bà vợ với sáu đứa con thôi rên rỉ ỉ ôi hắn. Nghĩa là cũng kì công!

Không ai biết hắn là nhà ngôn ngữ học. Cả khi hắn đĩnh đạc đường hoàng đọc tham luận về ngữ âm tiếng Churu trong hội thảo khoa học tại một viện nghiên cứu. Hắn khả năng chẻ sợi tóc làm tám ngay thuở tấp tểnh lấm lét dòm mấy đứa nữ sinh lớp khác trường Pô-Klong chúng tôi hầu như mê, say, tụng Điêu tàn của Chế Lan Viên, chỉ mỗi hắn suy nghĩ bạo phổi khi khăng khăng cáo giác nhà thơ họ Chế đậm máu a-pa-thai qua từ Hời dùng quá liều trong tập thơ bằng trường phái ngôn ngữ học thống kê!

Lối tư duy trật dây cương này ngày càng lậm vào máu. Đi điền dã, hắn cãi lại đối tượng hắn nghiên cứu, hùng hồn và kịch liệt. Cho họ bớt ngu đi, hắn nói. Làm khoa học đồng thời phải gánh vác trách nhiệm phổ biến khoa học xuống tận quần chúng. Nhưng thiện chí này của hắn không được đền đáp xứng đáng. Không ai công nhận hắn là nhà ngôn ngữ. Cả khi hắn tự phong nghiên cứu sinh, cũng không ai buồn cãi hắn lấy một lần.

Trời sập rồi! Tất cả mất gốc rồi! Bọn thanh niên hôm nay lao vào tiếng Anh như giặc. Không mống nào còn nghĩ đến chuyện chăm chút tiếng mẹ đẻ nữa. Hắn nói như mếu, vẫn giữ lối phát âm chuẩn cố hữu p ra p, b ra b không độn tiếng u tiếng tây như cơm độn khoai mì thời 79, từng âm từng từ tan chảy giữa hai môi sớm thâm của hắn. Nghe hắn nói, tưởng đâu thế giới này mỗi tiếng Chăm cùng sợi dây kia là độc nhất, không có nó nhân loại tận diệt mất. Dù gì thì gì cũng đáng nể trọng sự vụ kẻ lớn tiếng tuyên bố ngôn ngữ Chăm hôm nay đủ sức chuyển tải tư tưởng từ Long Thọ, Platon, Kant, Marx đến tận Nietzsche, Heidegger…

Cuối cùng, như không chịu nổi cái thiếu sáng suốt của thế hệ, hắn bỏ làng đi, đùm đề cả gia đình bảy miệng ăn vào Phan Thiết sống. Nghe tin hắn dạy tiếng Chăm cho một cha xứ nào đó với ngấp nghé dắt tay vợ con vô đạo, kẻ cạn bụng nói ra miệng đích thị lần này hắn tơ hào rồi. Tôi thì hiểu hắn, nghĩ hắn chưa đến dại dột thế. Ngôi nhà Chăm phải được làm từ nóc xuống, hắn bảo vậy vào mùa Ramưwan năm ngoái. Vì dẫu sao đi nữa, rủi ro hắn trúng gió chết, bà con cũng phải tìm bằng được xác hắn về làm đám thiêu đưa vào Kut. Không thì hắn hóa ma về quậy. Phiền hà lắm!

Pathit, nhà kinh tế tầm vĩ mô

Đang học năm ba Đại học Âm nhạc tại Hà Nội, hắn đột ngột bỏ về, khi tin sông Lu được khai thông. Với đồng Chakleng, sông Lu như thần Shiva vừa bồi phù sa đồng thời tàn phá. Lúa sắp tới miệng vẫn mất trắng như chơi. Chiều ngày còn thấy hàng trăm mẫu lúa làm đòng đứng nghiêm chỉnh, chỉ qua đêm, sáng mở mắt dậy lũ trắng xóa.

Hắn về, thật đột ngột! Suốt mươi chiều liền, hắn thả bộ dọc bờ sông Lu và hát vang ca khúc hắn vừa sáng tác: Sông Lu cùng tôi thức đêm nay. Khối kẻ bảo hắn bị chạm. Chạm cái khỉ mốc! Hắn vừa bắt gặp một ý tưởng vĩ đại: hắn phải giàu. Top ten thành phố lớn trên thế giới phải có villa của hắn. Để mỗi Chăm khi xuất ngoại có nơi chốn đàng hoàng tạm trú. Nhưng Chăm lấy đâu tiền mà du với lịch, trong khi lúc này họ ăn bữa nay lo bữa mai? Phải biến Chakleng thành miền đất trù phú thôi. Như là một làng điểm. Cứ thế mà nhân điển hình.

Vứt mẹ văn chương, hát hò đi. Mấy thứ mơ mộng hão huyền này quăng cho bánh xe lịch sử nghiền nát đi là vừa. Phải thực tế, thực tiễn. Hắn gần như lôi tôi lên một mô đất phía nam làng, xưa là khu rừng thưa, đã hóa bãi trắng. Cần có cái nhìn tổng quan, hắn nói. Hắn phóng cặp mắt sáng quắc nhìn khắp xung quanh hỏi tôi khu đất này của ai, ai sở hữu, tên gọi, đã trồng những thứ gì mà thất bại... rồi ghi ghi vẽ vẽ. Tối, hắn thức suốt đêm phác họa sơ đồ nuôi trồng dán đầy tường. Hắn phán: dứt khoát phải thuê khu đất này, sau đó làm bàn đạp phát triển tới. Còn cả vùng phía đông nam sẽ được tiếp tục lên kế hoạch phủ xanh ba năm sau. Nữa: khu trung tâm khoanh vùng cho du lịch sinh thái rừng nhiệt đới, hốt bạc là cái chắc. Ngay trong năm phải lên vạn cây nho, ngàn heo thịt, trăm heo nái và vân vân. Trước mắt phải giải quyết khâu tưới: hơn 800 mét với độ dốc nhìn lút đầu đưa nước từ nhánh sông Lu lên. Tôi há mồm nghe hắn, trong lúc chúng tôi không xu lép dính túi! Dĩ nhiên thao tác đầu tiên là qua gặp chủ đất. Ngay tức khắc chúng tôi như bị tông vào tường gạch. Chưa nghe hắn thao thao hết về kế hoạch vĩ mô của mình, bà chủ đất nhìn hắn như nhìn người đâu từ Camơrun đến, sau đó bà vỡ ra cười ngất rồi vỗ vai hắn rất bà nội. Chán ơi là chán!

Hắn đùng đùng bỏ đi. Tháng sau hắn lấy vợ làng bên. Đột ngột không kém. Dân Nha Tranh thì chẳng bao giờ có nổi tầm nhìn kinh tế. Bầu Trúc cũng chẳng khá hơn. Làm gốm có mỗi cái bàn xoay mà không nghĩ ra. Cứ đi vòng rồi đi vòng, muôn đời như thế ngàn sau mãi thế. Không hiểu hắn mò đâu ra ý tưởng, dân Chakleng chỉ ly hương mới ăn nên làm ra. Thế là hắn qua Bầu Trúc công ty với anh bạn học cũ bỏ trường từ lớp Sáu, ra tay cải tiến nó. Như thần, chỉ hơn tháng, hắn làm đẹp gấp hai, tăng năng suất gấp bảy. Rồi thì đất Bầu Trúc rộng rinh thế kia bỗng chốc ngập tràn những gốm là gốm, nào lu, nồi, trã, lò nấu,… đủ cỡ đủ kiểu mọc đầy sân nhà hắn, nhà bà con hắn, nhà láng giềng hắn, tràn ra ngõ lan tới tận con lộ xếp hàng đứng ngay ngã ba chờ vẫy xe đò vào Sàigòn, ra Hà Nội. Ngồi ghế tre ọp ẹp, hắn rung đùi đợi bạc tỉ phất phới bay về (phải biết móc túi dân giàu, chỉ nó thôi mới có cơ vực xã hội tù đọng này dậy, hắn tuyên). Nhưng chờ, chờ mãi đến mỏi mòn cái nỗi đợi mà chẳng thấy bạc cắc nào lăn tới.

Dân nhà quê chộp ngay cơ hội phát triển thói tật cười thiên hạ. Hắn nhìn vợ con rồi nhìn đống hàng xuất lò hàng ngày mà ngán ngẩm. Chợt hắn nẩy cái ý làm ăn xa, quyết một phen hành phương Nam. Nghĩ là làm. Hắn vào Trà Vinh khai hoang trăm mẫu đất trồng đào rồi xuống Hà Tiên dựng vựa mắm, hắn viết cho tôi thế vài lần rồi bặt tin. Hồn xác mắm, đào đâu không biết, chỉ thấy năm năm sau hắn quy hồi cố hương với thần xác phờ phạc.

Tôi nghe tin hắn về, đến thăm. Hắn bảo cuộc sống nhiêu khê lắm, bao la lắm. Lối làm ăn cò con nông dân đã làm dự án của mình ùn tắc. Vả lại xa Chakleng hầu như mình mất cuống rốn truyền dưỡng chất, thứ dưỡng chất mà mình chưa biết gọi tên. Hắn nói, liếc liếc bà vợ dọn mâm cơm cà pháo mắm nêm lên. Dẫu sao cái cò con của bà xã cũng đã nuôi sống mình với ba nhóc ngày ba bữa.

– Dạ, con chào bác. Con trai lớn độ mươi tuổi chạy tới.

– Nhìn lại, dân plây mình muôn đời vẫn cứ nòi mơ mộng. Nhưng mình thích thế. Mấy thằng Klu mình mang nửa dòng máu Chakleng, không biết lớn lên chúng còn biết mơ mộng và dám mơ mộng không?

– Em thì cứ muốn mời ông thầy lang nào mát tay nhể lấy thứ máu ấy bỏ đi. Vợ hắn lấy tay che miệng cười. Thôi mời bác và cha nó dùng cơm mắm muối lấy thảo với em.

– Mẹ thằng Klu miễn lo, dưới Chakleng các anh, không thiếu vị uống nước lã với trăng trừ bữa được mà. Tôi nói và cười. Mọi người cùng cười theo. Hắn thì to hơn cả.

Ba khuôn mặt Chakleng cùng Đinh Dậu với tôi mãi ám tôi, thôi thúc tôi viết về. Tôi đã thể hiện đầy đủ chưa? Chưa gì cả. Vài nhà văn viết truyện rất ưa phụ đề: ghi từ câu chuyện có thật. Tôi nghĩ chỉ một góc đời thật của Jaklan, Thuman hay Pathit thôi cũng thừa tư liệu cho tôi khai thác rồi. Nói chi đến Javơng, từ anh y tá quèn làng quê chưa đầy mười năm sau đã nắm nguyên công ty lớn của một quận ở Sài Gòn. Văn Na, giảng viên đang tiếng như cồn ở Đại học Đà Lạt mà lí lịch trích ngang từ ông cụ tổ muôn đời khai làm nông, không chút phiền hà con mắt siêng năng của mấy chú công an xã nhiệt tình. Một Jakliu – trùm vé số tỉnh Đồng Nai thành phần xuất thân là giáo viên tiểu học dạy hợp đồng, ăn đứt các vị giám đốc, sẵn sàng bo cho các em nửa triệu chả chút run tay.

Tôi có cần kể thêm không? Giáo sư Trần Hùng dân Sài Gòn chính hiệu ma đưa lối quỷ dắt đường sao dính với đất Chakleng không tài nào rẩy ra được. Bác San sống đời lang thang như con gió cứ đến Katê bay về mang theo câu chuyện dưới biển trên trời như trận mưa lũ tháng Mười của quê hương không ai kiểm chứng hay kiểm soát nổi. Mưlan, cô gái nhà quê học vừa đủ đọc thư người yêu với hát bài ca ướt nhão của những năm 60 đã lang bạt tận trời Tây, Đông quy hồi cố hương làm cuộc cách mạng thổ cẩm đưa các vị phu quân Chakleng mãi sống trên mây trở lại với đời thực. Trong đó có tôi, tay nhà nông-thi sĩ-trí thức hỏng chân lênh đênh đầu thôn cuối phố sống trên mây quá kẻ sống trên mây. Vân vân và vân vân.

Là công dân Chakleng. Và luôn luôn bắt đầu bằng con số không, từ con số âm – có lẽ.

Như luôn luôn được con rồng liếm trúng.

Ồ, như vậy thì nhân vật của tôi lộ diện hết rồi còn gì. Còn đâu nút thắt với mở cho tiểu thuyết. Vô hình chung ngay vừa khởi sự tôi đã tự đánh mất mánh khoé lôi kéo người đọc ở lại trên trang văn để dõi theo câu chuyện của mình. Nhưng các nhân vật của tôi (tôi là một trong những) có cần phải dựa hơi ăn theo cái thủ thuật kia [nếu có] của tôi không? Hay để cho bất kì tay nhà văn lười nhác nào cầm tay dẫn dắt cuộc đời mình không? Chắc chắn là không rồi. Bởi đằng sau định mệnh của họ luôn có định mệnh khác, những định mệnh khác lồng vào, chồng lên, bí ẩn, ngẫu hứng và bấp bênh khôn lường.

❀ ❀ ❀

[1] 2Ciet: như loại giỏ được đan bằng chiếu cót, dùng đựng sách hay bánh trái.

[2] 3Baranưng: trống đơn một mặt của Chăm

[3] 3aAriya Glang Anak: một trường ca Chăm

Inrasara —★— CHÂN DUNG CÁT ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.