Không phải ông Châu Văn Mỗ người lập nên Hội bảo trợ Văn hóa Chàm được coi như cha đỡ đầu lứa trí thức đầu tiên những năm 60, sau đó làm đến Thứ trưởng Bộ phát triển sắc tộc, về hưu trước hòa bình mấy năm, rồi khi vào vai hội trưởng Hội bảo thọ Mỹ Nghiệp ở tuổi 72 còn cựa quậy làm thay đổi vài hủ tục, nhất là tổ chức thống nhất được lịch Chăm bốn vùng Panrang - Kraung - Parik - Pajai là điều lắm vị đều nói đều bàn mà chưa ai làm được; không phải ông dân biểu Từ Công Xuân người truyền bá Islam vào Ninh Thuận đầu thập niên 60, sau đó tỏa rộng nhanh chóng đến các plây Chăm Bàni một thời gây xôn xao xã hội Chăm tù đọng; cũng không phải ông giáo sư Pháp văn trẻ tuổi hào hoa Lưu Quang Sang cháu ruột cụ Dương Tấn Phát ông Huyện nổi tiếng vùng Chăm thời Pháp thuộc, hiệu trưởng nhiệm kì hai thay ông Thành Phú Bá khi Trường trung học An Phước mất an ninh chuyển từ Phú Nhuận xuống Phanrang để hai năm sau ra tranh và đắc cử dân biểu; không phải ông Thiên Sanh Cảnh học giả duy nhất có sách, bài viết được in, người chủ trương Nội san Panrang được 8 số thì đình bản; cũng không phải ông Lưu Quý Tân sau này, người đăng mấy chục tiểu luận bay bướm về văn hóa Chăm trên tạp chí trung ương, sau đó đành đứt gánh bởi cái chết oan uổng; hay cụ Bố Thuận trước đó, là Chăm đầu tiên đi vào nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc bài bản với công trình là bản thảo đến 200 trang Từ Vựng Chăm quý giá gần thế kỉ vẫn chưa được chào đời; không phải ông Thiết Ngữ dân Chakleng tập kết năm lên mười, Phó Ty giáo dục Thuận Hải (đồn rằng nếu ông khéo ngoại giao thì đã nắm chức vị to cao hơn nhiều lắm) kiêm Trưởng Ban biên soạn liêm chính về hưu ở Hậu Sanh có giàu sang gì không chắc ai cũng biết rồi; không phải ông Quảng Đại Cường chiến sĩ cách mạng kiên trung, khôn ngoan lanh lợi đến Ngô Đình Diệm treo giá 500.000 đồng cho cái xác và gấp đôi cho ai bắt sống ông, tập kết ra Bắc, học giỏi, thơ hay, nhưng giờ này đang thân tàn ma dại ở quê nhà chẳng ai quan tâm an ủi; không phải ông Thành Phú Bá, Nguyễn Văn Tỷ, Đàng Năng Quạ… nhà giáo công đầu đào tạo mấy thế hệ trí thức ra lò từ trường Pô-Klong là niềm tự hào của Chăm ở Ninh - Bình Thuận trước đất nước thống nhất; cũng không phải ông Lâm Gia Tịnh, Bạch Thanh Chạy, Lâm Nài, Nguyễn Ngọc Đảo… cán bộ nghiên cứu nồng cốt cần mẫn của Ban biên soạn, mỗi năm hai tháng đạp xe cà tàng khắp 34 làng Chăm mang hạt giống chữ vãi gieo vào miền đất trắng để 20 năm sau xóa mù chữ cho mấy ngàn trẻ em; không phải Chế Linh ca sĩ năm xưa hay Amư Nhân nhạc sĩ hôm nay; không phải Thành Văn Sưởng điêu khắc hay Đàng Năng Thọ họa sĩ; không phải Po Dharma tiến sĩ giảng viên Đại học Sorbonne bên Pháp hay Thành Phần tiến sĩ đầu tiên mà luận án được trình ở Liên Xô hay Bá Trung Phụ ở Việt Nam; không phải Thuman nông dân-thi sĩ hay Pathit nhà kinh tế tầm vĩ mô hoặc Jaklan nhà ngôn ngữ học cấp xã, càng không phải Cao Xuân Hoang kẻ vô thần sa đọa vỗ ngực hãnh diện mình sa đọa; không phải nhà yogi Dhan Than hay con tương cận khác là Chế Khan; không phải ngài giáo sư Trần Hùng hay nữ phó tiến sĩ Hà Vân; không phải nàng Hathaw xinh đẹp hay Đàng John Thak Chăm kiều tốt bụng cả lo luôn trang bị bộ mặt đầy ưu tư cho tiền đồ mơ hồ nào đó; càng không phải J’Man tôi, kẻ tưởng mình dàn xếp bố trí định mệnh các nhân vật không ngờ bị nhân vật mình hành hạ và sai khiến; MÀ CHÍNH ÔNG MALÂM LÀ NHÂN VẬT CHÍNH CỦA TIỂU THUYẾT NÀY.
Chính xác hơn, ông đã chọn tôi để qua chữ nghĩa chấp vá của tôi, có mặt và tung hoành. Không phải bởi các nhân vật kia kém cạnh ông, ngược lại là đằng khác – ở lời nói, tính cách, hành động, sự nghiệp. Chẳng phải các nhân vật này đã từng làm thay đổi bộ mặt xã hội Chăm 50 năm qua? Ít hay nhiều, ngẫu nhiên hay chủ định, nôngsâu, hẹprộng, nhất thờilâu dài, theo chiều hướng tốt hay xấu, vì mục đích cá nhân hay cộng đồng … họ đều đã có góp phần. Thế nhưng, trên Con đường vô tận (tôi đã lấy tít này đặt cho cuốn tiểu thuyết ở bản thảo lần viết đầu tiên) của dân tộc, hành trình đi về vô tận ở thế kỉ XX này (đa phần là hậu bán thế kỉ), ông Malâm là khuôn mặt thơ mộng lồng lộng, phiêu bạt ngang dọc đồng thời thực tế hiệu quả nhất, đã lay động xã hội Chăm từ nền tảng, 40 năm qua và cả sau này.
Các nhà văn có tài trung bình nhưng ma mãnh đã chẳng phải từng chộp lấy nhân vật loại này để ăn theo mà tồn tại? Tôi nghĩ mình cũng thuộc dạng như thế.
*
Tiền Phong, cuối tháng 6. 2001
Nguyễn Hoàng Sông Hậu
NGƯỜI CHĂM AN GIANG VÀ NHỮNG CUỘC RA ĐI
… sống đời Digan
(…) Trong kí ức của dân tộc Chăm là những cuộc ra đi. Xưa từ vương quốc Chiêm Thành, một số lưu lạc sang Cao Miên và nhiều nơi khác, kể cả ở Malaisia hay Thái Lan, một số theo Nguyễn Hữu Cảnh đi bảo hộ Cao Miên rồi về ngụ trên mảnh đất nay là đầu nguồn sông Hậu thuộc An Giang. Sau giải phóng lại một cuộc ra đi nữa mà có người lưu lạc sang tận Mỹ và nhiều nước khác, hình thành nên những cộng đồng Việt Kiều Chăm mini ở xứ người. Nay vẫn thế, mặc dù người Chăm đa số đã định cư, nhưng cái tính chất kiểu như Digan ấy vẫn cứ chảy trong đời sống người Chăm. Có đến khoảng 70% người Chăm An Giang sống bằng nghề buôn bán. Cứ sau tháng lễ ăn chay Ramadan, những gia đình Chăm lại khăn gói lên đường đi tứ xứ mua bán đủ thứ để mưu sinh. Chủ yếu buôn bán vải vóc và thuốc dân tộc, một số ít ngành nghề bói toán. Lớp đi bằng ghe, lớp đi bằng xe honda. Họ mua vải vóc ở thành phố Hồ Chí Minh hay các chợ biên giới (vải nhập lậu) rồi len lỏi vào các chợ quê bày bán chung với thuốc dân tộc và các loại khăn, xà rông truyền thống dệt ở nhà mang theo. Có nhiều người ra tận miền Trung, buôn bán cả năm mới về, còn loanh quanh miền Tây thì mọi chuyến phải kéo dài tới nửa năm. Do người Chăm ra đường đậm nét huyền bí bởi luôn trang phục theo phong tục truyền thống đạo Hồi nên luôn gây chú ý và hiếu kì cũng như sự tin tưởng thật thà vào họ ở người mua, thậm chí còn gây ra một chút mê tín trong lòng người, do đó có hàng hóa người Chăm bán giá khá cao nhưng luôn bán chạy! Cái đặc biệt người Chăm đi buôn bán nơi nào không đi lẻ tẻ như người Việt, mà đi từng nhóm. Đến nơi họ tìm chỗ đặt hàng hoặc đậu ghe xong, để lại con nít cho người coi sóc, các cặp vợ chồng ôm hàng túa lên chợ bán. Khi hết hàng, nhóm cử người đi lấy. Cứ thế họ đi hết tỉnh này đến tỉnh kia y chang như dân Digan của Liên Xô cũ. Nhưng khác với dân Digan ở chỗ người Chăm không uống rượu và đời sống tình dục rất nghiêm ngặt, cho nên hầu như họ không hề gây nên những tệ nạn xã hội (…) Cho nên trang sử của cộng đồng Chăm ở An Giang trước mắt vẫn được viết tiếp bằng những chuyến đi.
Lướt qua cái tít nhỏ in đậm Sống đời Digan, tôi nghĩ đấy chẳng gì hơn mánh khóe gợi tò mò của kẻ rỗi việc, không định đọc bài báo. Nhưng rồi bởi rỗi việc và tò mò, tôi đã đọc nó. Tôi nghĩ anh nhà báo có khám phá nhỏ về Chăm.
*
Những cuộc ra đi …
Không hiểu sao tiểu thuyết Chế Khan luôn tập trung vào các cuộc ra đi dang dở. Ít ra là ở các chương chúng ta được đọc. CHƯƠNG 1 có tên Những kẻ bị bỏ lại, viết chi chít chữ nhỏ trên tập vở học sinh 50 trang, mô tả đoàn di dân chờ lỡ bộ chiếc thuyền đưa họ vượt biển, đã ở lại. Chính đoàn khoảng 50 di dân này từ vùng núi Cà Ná xuôi nam dọc duyên hải để cuối cùng định cư, lập nên làng Mali.
Nếu đem nguyên chương ra in, độc giả có dịp theo bước chân đoàn di dân do thủ lĩnh Kuthan cầm đầu trong suốt hành trình với những khốn khó, mất mát qua ngòi bút không thể gọi bằng từ nào khác ngoài tài hoa của Chế Khan. Nhưng thật tình tôi không mặn mà lắm với lối viết “cổ điển” của tác giả này. Nó chỉ biết áp đặt cho người đọc gần như là chiều nhìn duy nhất. Không hơn. Trong khi định mệnh dân tộc Chăm biến thiên vô lường, gọi mời những đột phá đặc thù phiêu lãng biệt lệ.
Cả chương 3 với 72 trang cũng thế. Định mệnh Sarah qua ngòi bút Chế Khan dù gây xúc động mạnh nhưng nếu được tiếp cận theo hướng khác, bằng cách thế khác, vừa trực diện vừa đa diện thì nó sẽ lộ bày ở cấp độ sâu thẳm hơn, cao vời hơn. Đằng này, tác giả lê thê cà rề tuyến tính, tưởng tượng logic, hệ thống hóa sự việc đến mòn chán. Phải biết tấn công vào ngay tâm điểm của đề tài. Làm cho đề tài bùng nổ. Để cùng bùng nổ với nó. Chứ không lòng vòng cho tính kể dẫn lối, tránh né và che lấp.
Người đọc hôm nay không có giờ hay đủ kiên nhẫn dõi theo tưởng tượng thêu dệt của nhà văn thế kỉ XIX. Như người thợ săn xưa kiên trì đi theo vết chân nai – dù chắc chắn – nhưng cuối cùng chỉ thu lượm được cái xác, có khi đã thối rữa. Trong lúc tốt hơn nên dồn sức bố ráp đa hướng, đánh vào trung tâm. Có thể nguy cơ bị xổng cao, nhưng nếu được: con nai sống.
Thật thừa khi chúng ta cứ lần theo đường mòn độc đạo vạch sẵn để mong tìm gặp một định mệnh kì lạ như Sarah (nhân vật chính của chương Truyền thuyết làng Mali). Tại sao không ở mỗi chương, mỗi trang hay mỗi dòng đều bàng bạc thân phận nàng? Cả khi ông đang nói về nhân vật khác, chuyện khác, vấn đề khác? Ở thì quá khứ, hiện tại hay tương lai? Để người đọc có thể bắt gặp nó bất kì đâu, đoạn nào. Đọc ngược hay xuôi, hoặc tùy hứng giở trang nào đó bất chợt. Sau giờ văn phòng, trên xe buýt hay giữa buổi cày? Và ít nhiều soi thấy định mệnh mình trong đó.
Tôi đã thử thực hiện ý định này bằng cách làm hành trình ngược lại: từ khái niệm suy nghiệm được từ giữa lòng dân tộc, lần tìm dấu vết. Rất ít dấu vết. Ở đây, cái cốt tủy là gọi đúng tên sự vật. Chính danh.
– Như vậy, viết tiểu luận về nó không tốt hơn ư? Một anh bạn hỏi tôi thế
– Không. Không phải thể loại tiểu luận khô khan. Mà chỉ có tiểu thuyết mới theo đuổi, dung chứa và mở bày được những gì đề tài muốn nói. Mỗi thể loại văn chương chỉ có thể đảm nhận vấn đề đặc thù.
Cái tài của nhà văn là biết chọn thể loại tối ưu.
Chẳng hạn tinh thần tạm bợ mà phái sinh của nó là tinh thần xê dịch. Tôi tìm thấy nó ở làng Mali và cả trong cuộc đời ông Malâm. Đối trọng nó là thứ tinh thần ẩn cư mà Dhan Than là đại biểu rất đáng dồn phiếu. Thế nhưng thật khó mà gò ép một nhân vật điển hình trong cái rọ mộtmột vài tính cách điển hình. Trong Dhan Than có cả vĩnh cửu và tạm bợ, có ẩn cư lẫn xê dịch, ngang bướng sống chung sợ hãi. Chúng trộn lẫn, đan xen, trơn trợt khôn lường. Muốn đánh bắt nó, phải sử dụng đến nhiều loại lưới khác nhau và đánh từ nhiều hướng khác nhau.
Như dân Chakleng quê tôi, tưởng thủ cựu mà phá cách đáo để, ngỡ bó gối ru rú lại đẻ bộn đứa con phiêu lưu ngang dọc, nhìn bề ngoài như nhát hèn nhưng là đất sản sinh đến ba cuộc cách mạng!
Tôi không phản đối Chế Khan, nhưng nếu cứ kể lể cà kê theo lối cũ, Chân dung cát sẽ thành một trường thiên tiểu thuyết mất. Mà tôi thì ngán thể loại đóng hộp này lắm rồi.
*
Tôi biết ngài giáo sư Trần Hùng đang giữ toàn bộ bản thảo thiên tiểu thuyết nhiều tập của Chế Khan. Với sự kiện, biến cố, mạch văn trải dài như thế, cuốn sách chắc chắn không dưới 1000 trang in. Thế nhưng đến lúc này, sau khi được đọc chương 1 mà, trong cơn phấn khích không kịp hối, ngài đưa cho tôi vào chiều bế mạc Hội nghị văn hóa Chăm tại Ninh Thuận. Một chương nữa do Hà Vân moi được. Rồi từ khi [bị] tuyệt giao với Hà Vân hơn năm qua, ngài trao thêm cho tôi chương 5 tôi tạm tóm lược hầu quý bạn đọc ngay phần sau. Không thêm chương nào nữa. Ngài nói như thế quá đủ rồi. Trong giai đoạn hậu kì mạt vận của lịch sử Champa, xã hội Chăm hỗn độn và bấy nát đến không còn có thể gọi là một xã hội nữa, trong đó xung đột Chăm - Việt có công góp một tay. Đưa ra hết không có lợi cho tình đoàn kết dân tộc – dù Chăm rất hiểu vị thế của mình, lúc này – mà tâm hồn thiện chí hai bên đã đổ bao công sức hàn gắn, vun đắp từ thế kỉ qua. Hơn nữa, số chương còn lại đề cập nhiều đến chiến tranh, mà theo ngài, viết lịch sử mà chỉ đăm đắm vào vụ đánh nhau giết chóc là sai lầm đầy bảo thủ của các sử gia bấy lâu. Buôn bán, thương mãi đã chẳng làm nên lịch sử của nhiều nước? Thế các ngài sử gia khệnh khạng nghĩ sao về lịch sử phát triển đạo Phật hay Ấn Độ giáo ở Đông Nam Á? Không thể vận dụng duy một hệ thống sử để viết lịch sử các nước. Lịch sử Champa nếu được nhìnviết qua các phong cách điêu khắc hoặc kiến trúc thì có hay hơn không?
Như vậy, lần theo dấu chân thụt lùi của lịch sử, ở bề đáy định mệnh dân tộc, trí thức phân làm ba nhánh vo xã hội Chăm ra ba cục tròn trịa:
Kuthan: Xây dựng các làng biệt lập trong rừng, tiền thân của Mali hôm nay.
Wamưh: Cộng tác với triều đình nhà Nguyễn mong làm giảm bớt mất mát, đau khổ đang tràn lan.
Yanrang: Vô vi, tìm giải thoát trong văn chương, tác giả của thi phẩm bất hủ Ariya Glang Anak.
Đối lập với quan điểm chính trị của cha, Thak con trai duy nhất của Wamưh, khi được Mưsa là vợ của quan phó tổng Sanar (nhưng chưa bao giờ mò mẫm được nàng) giải thoát và sau khi Mưsa bị trận lũ cuốn mất tại vùng rừng núi Tây Ninh trong cuộc di tản sang Cam Bốt, trở lại Khu bưng biền nhập nhóm tàn quân Thak Wa, chiến đấu trong tuyệt vọng và chán nản để sau đó biệt tích.
Khan, con trai nhà thơ Yanrang, vừa cộng tác với triều đình vừa cứu chữa những ai cần cứu chữa, cả nghĩa quân Twơn Phauw lẫn Thak Wa, đến khi lộ thì nửa đêm đến từ biệt cha đi đâu không biết nữa.
Khan có hai đứa em nuôi, một trai tên Yalan, một gái tên Sarah thất thểu đi lạc rừng khi mới khoảng tám tuổi được anh đưa về nhờ cha chăm sóc. Khi ông Yanrang mất, Sarah qua ở nhà ông quan lớn người Kinh đổi tên thành Nguyễn Thị Mai để rồi đúng 17 tuổi mất trinh bởi một đàn ông trong gia đình ông quan này sợ sứt mẻ thanh danh liền gởi nàng sang ông tổng Khanh, có con là Yaman Nguyễn Thị Loan với ai không biết chứ không phải thằng con khờ khệch tội nghiệp. Có thể nói đây là Người Kanh cụ đầu tiên (tác giả dùng làm tiêu đề cho chương tiểu thuyết) còn truyền thừa đến ngày nay mà chúng ta được biết. Sau đó nàng bị ông anh rể là tay chuyên lùng kho vàng Hời dẫn đi cùng với xe ngựa chất đầy hũ vàng trong một đêm xuyên rừng. Rồi không hiểu can cớ gì nàng bị bỏ lại trên đồi đành ẵm con tìm đến làng Chăm ở Phanrí, sống nhờ một gia đình tử tế, suốt hai năm, có thêm đứa con trai không biết ai là cha tên Jalan rồi năm 1852 lại có thêm đứa con gái nữa, với ông quan huyện. Nhưng bà đã phải vội vã bế đứa con này xuống tận Mali, nhờ bác Kuthan chăm sóc, mỗi năm bốn kì gởi tiền, hàng chu cấp cho đứa con rứt ruột đẻ bị bỏ rơi. Mưhuê sinh năm 1962, sau đúng 110 năm chẵn chính là cháu bốn đời của người phụ nữ mà sinh thời nhà thơ Yanrang gọi là đứa con thần thánh này.
Nhưng chúng ta đang truy tìm lai lịch ông Malâm.
Ngài giáo sư Trần Hùng nhầm lẫn chả đáng gam mỡ nào khi cho rằng ông Malâm chính gốc cháu năm đời của ông Glang Anak tức nhà thơ Yanrang.
Yanrang khi gởi gắm đứa con nuôi là Yaman cho thủ lĩnh Kuthan hy vọng được ông bạn đưa lên tàu vượt biển sang Mã Lai không ngờ gặp sự cố định mệnh đành ở lại rồi lên Khu bưng biền cuối cùng lưu lạc sang Cam Bốt vào mùa hè 1849. Có lẽ ông ra đi đợt Nguyễn Hữu Cảnh sang bảo hộ Cao Miên. Yaman lấy vợ cùng chuyến đi, sinh bốn đứa con trong đó con trai duy nhất là Jalan được ông đưa sang Châu Đốc lần đầu vào năm 1858 không thành rồi lần sau 1880. Cứ thiên di như vậy ba bốn lần: Kompong Chàm - Châu Đốc - Tây Ninh, Châu Đốc - Kompong Chàm - Tây Ninh, rồi Jalan cưới vợ theo phong tục Islam vào năm 1894 sinh Mưdin tháng 9.1897 lúc làm cuộc thiên di mới về Sàigòn tạm trú tại xóm Phú Nhuận. Chính trong căn nhà lợp bằng lá dừa nước nơi đây, ông Malâm đã được hạ sinh vào cuối năm 1932.
Không như thanh niên cùng trang lứa luôn, hoặc tin mình có họ hàng xa với Po Ku thuộc dòng dõi ông hoàng đang lưu trú đất Cam Bốt, hoặc nghĩ mình là con cháu Twơn Phauw từ Mecca luyện được bùa phép trở lại phục quốc hoặc hoàn toàn tin vào Allah làm tín đồ thuần thành của Hồi Giáo mới, Lương Văn Ngân (tên trên thẻ căn cước ông Malâm) luôn hướng về Panduranga cố quận nơi nhà thơ Yanrang đã sống và chết dù bao cuộc thiên di, thiên tai, nhân tai, bao khổ đau mất mát. Vẫn một mực tin tưởng tận sâu thẳm chỉ nơi đó thôi là quê hương thực sự của mình, an ủi vỗ về, để mình có thể tồn tại theo đúng nghĩa con người. Và trước hết là lần tìm trở lại hậu duệ (nếu định mệnh bỏ sót) Sarah, đứa con thần thánh của nhà thơ-triết gia mà cha ông và trước đó là cha của cha ông nhắn nhủ như là một trối trăng duy nhất.
Năm 1950, vừa đúng 18 tuổi, trong khi cha mẹ mải mê theo chiếc ghe chở thóc xuôi ngược Cửu Long thì anh cùng hơn chục bạn tìm ra Phước Long làm phu đồn điền cao su. Chính nơi đây anh thanh niên lực lưỡng trui luyện trong lò luyện tội của đời làm phu và được cha xứ người Pháp dạy vỡ lòng tiếng Việt và tiếng Pháp cùng phương pháp tự thu thập kiến thức không qua trường lớp nào.
Năm 1952, tự nguyện sung vào lính Pháp để có cơ hội ra Phanrang nhưng chỉ được điều đến Phanthiết thì đại đội anh đóng trại. Hơn một năm sau, vừa khi thăng trung sĩ và được đề cử dự khóa huấn luyện đặc biệt, chuẩn bị phục vụ trong quân lực Đệ nhất Cộng hòa sắp ra đời, năm 1955, biết ở Tịnh Mỹ còn tồn tại gia đình bà Nguyễn Thị Thềm là công chúa cuối cùng thuộc hoàng tộc Chăm, anh liền bỏ trại mò tới. Kết thân với ông Lâm Nài sau này là phó Ban biên soạn, cùng ông này nghiền ngẫm tủ sách của cụ Bố Thuận. Chính nguồn tư liệu quý giá này gợi hứng ông tìm tới đất Mali, và khi biết chắc Mưgauk chính tông cháu ba đời của cô bé Sarah ngày xưa qua mùi hương trầm – thứ mùi hương chỉ nghe được khi ta lắng lòng không còn vẩn đục bụi trần gian, cha nói thế – thoang thoảng từ gáy nàng trong lần tâm sự, ông quyết định lấy nàng.
Trớ trêu, ông phó lý theo đuổi nàng Mưgauk bấy lâu, dù có vợ đẻ sòn sòn năm đứa vẫn không tha nàng, đánh vào hồ nghi tay này có thể Việt cộng nằm vùng lắm với mật vụ Ngô Đình Diệm bấy giờ đang ráo riết kế hoạch bố ráp tát nước bắt cá, hơn nữa lí lịch ông mơ hồ chỉ biết ông là Chàm mới, nên bất chấp tình đồng tộc, đã sai tay chân đóng cổng ấp chiến lược khi ông làm ruộng tận Bami về sau sáu giờ tối. Lí do này, anh thanh niên kể huyền thoại nàng Mưhuê khi trước không nhắc tới hay không biết để nói. Thế là ông đi, hẹn vợ đương kì mang thai, khi chế độ gia đình trị họ Ngô sụp đổ, mình sẽ trở lại với em và con. Khi ông trở lại thì nàng đã mất. Ông không thể làm gì hơn, gửi đứa con cho bà Mưsa mẹ vợ nuôi nấng dạy bảo. Ông xách vali đầy sách ra đi, để lại Mali giai thoại về người Cam biruw [1] rậm râu đã dám không góp 100 cây chông tre cho làng nước, và thêm: dám trồng không phải một mà là 13 cây me, chùm ruột, các thứ ngay trong khuôn viên nhà, mãi mười năm sau, chỉ cần nhớ lại sự cố này thôi các cụ có tuổi trong làng vẫn còn nghe hãi.
Bảy năm kể từ mùa Đông 1963, ông Malâm đóng trại ở Bính Nghĩa, là thời gian dài nhất ông trụ một chỗ, đến lúc này. Mặc dù các bà góa một, hai lửa luôn mong ông ghé uống nước nhưng ông đang dồn sức làm cuộc cách mạng xanh. Hiện tượng này Cao Xuân Hoang mù tịt, bằng không anh sẽ coi đó là ý tưởng đi trước thời đại, và xem việc làm của các chiến sĩ hòa bình xanh đang ảnh hưởng mạnh đến thế giới hôm nay chỉ lấy cắp lại ý tưởng của Chăm mà thôi. Bởi từ những năm năm mươi trở về trước, trồng được cái cây trong làng là điều thiên nan vạn nan hơn cả trồng nó trên mặt trăng. Chính tại nơi đây, ông khám phá ra liên hệ máu thịt giữa Bal Riya và Mali như một làng tách ra vậy.
Sau đó ông Malâm mất dấu. Người ta chỉ biết ông có ghé Tuy Tịnh một, hai tháng gì đó rồi lần đầu tiên tái xuất hiện ở Chakleng vào cuối năm 1972 khi đại dịch điên đang đến kì cao điểm như chúng ta biết. Sau tháng 4.1975, ông Malâm lại biệt tăm đến bốn năm, mãi đầu 1979 ông tạt qua Chakleng lần ba để bị nàng Hathaw xinh đẹp níu chân định cư vĩnh viễn ở đất lắm sự này từ 1982 cho đến khi mất vào cuối năm cuối cùng của thiên niên kỉ thứ hai sau Công nguyên.
Trong bảng vàng thành tích của ông Malâm, kẻ thích công trạng còn muốn kể thêm rằng theo gương ông, đã không ít đàn ông con trai xa tít Malâm, Phanrí, Tuy Phong… tìm ra tận Phanrang lấy vợ sinh con đẻ cái và ngược lại. Ranh giới phân vùng đã mờ nhạt, mờ nhạt như ranh giới Bini - Cam sau hơn mươi cặp gái trai khác đạo xây dựng được hạnh phúc gia đình mấy chục năm nay.
❀ ❀ ❀
[1] 16 Cam biruw: Chàm mới, người Chăm theo đạo Hồi giáo chính thống.