Chiến Tranh Và Hòa Bình

Lượt đọc: 2657 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Khi giải quyết vấn đề ý chí tự do và tính tất yếu, lịch sử có một ưu thế vượt trội so với các ngành tri thức khác cùng bàn về chủ đề này: đối với lịch sử, vấn đề không nằm ở bản chất cốt tủy của ý chí tự do ở con người, mà nằm ở biểu hiện của ý chí ấy trong quá khứ và dưới những điều kiện nhất định.

Xét về phương diện này, mối quan hệ giữa lịch sử với các ngành khoa học khác cũng giống như mối quan hệ giữa khoa học thực nghiệm với khoa học trừu tượng.

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử không phải là bản thân ý chí con người, mà là nhận thức của chúng ta về ý chí ấy.

Bởi vậy, đối với lịch sử, bí ẩn khôn cùng nảy sinh từ sự bất tương dung giữa ý chí tự do và tính tất yếu vốn không hề tồn tại như trong thần học, luân lý học và triết học. Lịch sử quan sát bức tranh đời sống con người, nơi hai mặt mâu thuẫn này vốn dĩ đã hòa làm một.

Trong đời thực, mỗi sự kiện lịch sử, mỗi hành vi của con người đều được hiểu một cách hết sức rõ ràng và rành mạch mà chẳng gây cảm giác mâu thuẫn nào, dẫu cho mỗi sự kiện tự thân nó đều hiển hiện một phần là tự do, một phần là bị cưỡng bách.

Để giải đáp câu hỏi tự do và tất yếu kết hợp với nhau ra sao, cũng như đâu là bản chất cốt lõi của hai khái niệm ấy, triết học lịch sử hoàn toàn có thể và phải đi theo một con đường ngược lại với các ngành khoa học khác. Thay vì trước tiên định nghĩa các khái niệm tự do và tất yếu tự thân, rồi sau đó mới quy gộp các hiện tượng đời sống vào những định nghĩa ấy, lịch sử phải rút ra định nghĩa về chính các khái niệm tự do và tất yếu từ vô vàn hiện tượng mà nó thấu triệt—những hiện tượng vốn luôn phụ thuộc vào hai yếu tố này.

Dù xem xét biểu hiện hoạt động của một đám đông hay của một cá nhân, ta vẫn luôn coi hành động đó là kết quả kết hợp giữa một phần ý chí tự do của con người và một phần quy luật tất yếu.

Dù ta nói về cuộc di cư của các dân tộc và những cuộc xâm lăng của người man tộc, hay về những sắc lệnh của Napoleon III, hoặc giả về việc ai đó cách đây một giờ đã chọn hướng này chứ không chọn hướng khác khi đi dạo, ta đều không hề cảm thấy có điều gì mâu thuẫn. Mức độ tự do và tất yếu chi phối hành vi của những con người này đã được xác định rất rõ ràng trong tâm trí ta.

Nhận thức của ta về mức độ tự do thường thay đổi tùy theo góc nhìn khi xem xét sự kiện, song mọi hành vi của con người bao giờ cũng hiện ra trước mắt ta như một sự kết hợp nhất định giữa tự do và tất yếu. Trong bất kỳ hành vi nào được xem xét, ta đều thấy có một chừng mực tự do và một chừng mực tất yếu. Và bao giờ cũng vậy: ta càng thấy nhiều tự do trong một hành vi thì tính tất yếu nhận thấy lại càng ít đi, ngược lại, tính tất yếu càng lớn thì tự do lại càng thu hẹp.

Tỷ lệ giữa tự do và tất yếu tăng giảm tùy thuộc vào góc nhìn đối với hành vi ấy, song mối tương quan giữa chúng luôn luôn là tỷ lệ nghịch.

Một kẻ sắp chết đuối quờ quạng níu lấy người khác khiến người đó chìm theo; một người mẹ đói khát kiệt sức vì nuôi con thơ đi trộm chút thức ăn; hay một người lính được rèn luyện kỷ luật răm rắp, khi thừa hành nhiệm vụ đã nổ súng giết chết một người không tấc vũ khí tự vệ theo khẩu lệnh—những kẻ ấy dường như ít tội lỗi hơn, tức là ít tự do hơn và chịu sự chi phối của quy luật tất yếu nhiều hơn đối với ai hiểu rõ hoàn cảnh lúc đó của họ, nhưng lại có vẻ tự do hơn đối với người không biết rằng chính kẻ kia cũng đang chết đuối, người mẹ đang đói lả, hay người lính đang đứng trong hàng ngũ, vân vân. Tương tự, một kẻ phạm tội giết người hai mươi năm trước rồi từ đó đến nay sống lương thiện, hòa nhã ngoài xã hội sẽ có vẻ ít tội lỗi hơn, và hành vi của hắn dường như do quy luật tất yếu xô đẩy nhiều hơn trong mắt một người phán xét sau khi hai mươi năm đã trôi qua, so với một người luận tội hắn ngay ngày hôm sau khi vụ án xảy ra. Cũng theo cách ấy, mọi hành vi của một kẻ điên loạn, say xỉn hay bị kích động tột độ đều có vẻ ít tự do và tất yếu hơn đối với ai biết rõ trạng thái tinh thần của kẻ thực hiện, nhưng lại có vẻ tự do và ít tất yếu hơn đối với người không hề hay biết điều đó. Trong mọi trường hợp kể trên, nhận thức về tự do sẽ tăng lên hoặc giảm bớt, và tương ứng theo đó, nhận thức về sự cưỡng bách sẽ giảm đi hoặc tăng lên tùy thuộc vào góc độ xem xét hành vi. Thành thử, nhận thức về tính tất yếu càng lớn thì nhận thức về tự do càng nhỏ, và ngược lại.

Tôn giáo, lương thức của nhân loại, luật học và chính lịch sử đều thấu hiểu mối tương quan giữa tất yếu và tự do theo cùng một cách như thế.

Không có ngoại lệ, mọi trường hợp khiến nhận thức của ta về tự do và tất yếu tăng lên hay giảm đi đều dựa trên ba yếu tố sau:

(1) Mối liên hệ với thế giới bên ngoài của người thực hiện hành vi.

(2) Mối liên hệ của người đó với thời gian.

(3) Mối liên hệ của người đó với những nguyên nhân dẫn tới hành vi.

Yếu tố thứ nhất là mức độ sáng tỏ trong nhận thức của ta về mối quan hệ giữa con người với thế giới bên ngoài, cũng như mức độ rõ ràng khi ta hiểu về vị thế xác định của người đó đối với vạn vật cùng tồn tại xung quanh. Chính điều này giải thích vì sao một người đang chết đuối rõ ràng là ít tự do hơn và chịu sự chi phối của tính tất yếu nhiều hơn một người đang đứng vững trên cạn; và cũng vì sao hành động của một người gắn bó mật thiết với đồng loại trong một khu dân cư đông đúc, hay một người bị ràng buộc bởi bổn phận gia đình, trách vụ công quyền hoặc việc kinh doanh, chắc chắn có vẻ ít tự do và chịu sự chi phối của tính tất yếu nhiều hơn hành động của một kẻ sống cô độc, lánh đời.

Nếu ta xét một con người hoàn toàn tách biệt, không màng tới mối liên hệ giữa anh ta với vạn vật xung quanh, từng hành vi của anh ta dường như đều tự do. Song nếu ta nhìn thấy mối liên hệ của anh ta với bất cứ điều gì quanh mình, nếu ta thấy sự gắn kết của anh ta với bất kể thứ gì—với một người đang trò chuyện cùng anh ta, một cuốn sách anh ta đọc, công việc anh ta đang làm, thậm chí với cả bầu không khí anh ta hít thở hay ánh sáng rọi lên vạn vật xung quanh—ta sẽ thấy mỗi hoàn cảnh ấy đều có ảnh hưởng đến anh ta và chi phối ít nhất một phương diện nào đó trong hoạt động của anh ta. Và ta càng nhận ra nhiều ảnh hưởng bao nhiêu, thì nhận thức của ta về quyền tự do của anh ta lại càng thu hẹp bấy nhiêu, đồng thời nhận thức về tính tất yếu đè nặng lên anh ta lại càng tăng lên bấy nhiêu.

Yếu tố thứ hai là mối liên hệ thời gian ít hay nhiều rõ rệt giữa con người với thế giới, và sự sáng tỏ trong nhận thức của ta về vị trí mà hành vi của con người chiếm giữ trong dòng thời gian. Chính cơ sở này khiến cho sự sa ngã của con người đầu tiên—dẫn đến sự sinh sôi của toàn thể giống loài—rõ ràng có vẻ ít tự do hơn nhiều so với việc một người bước vào hôn nhân ngày hôm nay. Đó cũng là lý do vì sao đời sống và hoạt động của những con người sống cách đây nhiều thế kỷ, vốn liên kết với tôi qua thời gian, lại không thể đem đến cho tôi cảm giác tự do như đời sống của một người đương thời mà tôi chưa hề biết trước hậu quả những việc anh ta làm.

Mức độ trong nhận thức của ta về tự do hay tính tất yếu ở khía cạnh này phụ thuộc vào khoảng thời gian dài hay ngắn trôi qua giữa thời điểm hành vi diễn ra và thời điểm ta phán xét nó.

Nếu tôi xem xét một hành động mình vừa làm cách đây một khoảnh khắc trong những hoàn cảnh gần như y hệt lúc này, hành vi của tôi dường như hoàn toàn tự do. Nhưng nếu tôi nhìn lại một hành động đã làm từ một tháng trước, khi đang ở trong những hoàn cảnh khác biệt, tôi không thể không nhận ra rằng nếu hành động ấy không diễn ra, thì biết bao kết quả nảy sinh từ đó—dù tốt đẹp, dễ chịu hay thậm chí là thiết yếu—sẽ chẳng thể nào xuất hiện. Còn nếu tôi ngẫm về một hành động xa xôi hơn nữa, từ mười năm trước hay lâu hơn, hậu quả của hành động ấy lại càng hiển hiện rành rành trước mắt tôi, đến mức tôi khó lòng tưởng tượng nổi chuyện gì sẽ xảy ra nếu khi xưa mình không làm như vậy. Tôi càng quay ngược dòng ký ức về quá khứ xa xôi, hay cũng chính là càng phóng tầm phán đoán của mình đi xa hơn về sau, thì niềm tin của tôi vào sự tự do trong hành động của chính mình lại càng trở nên lung lay nghi hoặc.

Trong lịch sử, ta cũng thấy một tiến trình tương tự trong niềm xác tín về vai trò của ý chí tự do đối với công việc chung của nhân loại. Một sự kiện đương thời luôn hiển hiện trước mắt ta như một kết quả chắc chắn do mọi nhân vật hữu danh tham gia tạo thành; thế nhưng đối với một sự kiện xa xưa hơn, ta lại sớm nhận thấy những kết quả tất yếu của nó—những kết quả khiến ta không thể hình dung ra một khả năng nào khác có thể xảy ra. Và ta càng nhìn ngược dòng thời gian về các sự kiện quá khứ, chúng lại càng bớt vẻ độc đoán tùy tiện.

Cuộc chiến tranh Áo - Phổ đối với chúng ta dường như chắc chắn là kết quả từ mưu mô xảo quyệt của Bismarck, vân vân. Những cuộc chiến tranh thời Napoleon vẫn được ta coi là xuất phát từ ý chí của các bậc anh hùng thời đó, dù nhận định này đã bắt đầu nhuốm màu ngờ vực. Nhưng đến các cuộc Thập tự chinh, ta đã thấy đó là một sự kiện chiếm giữ vị trí nhất định trong lịch sử mà nếu thiếu nó, ta không thể nào hình dung nổi lịch sử hiện đại của châu Âu, cho dù đối với các sử gia chép biên niên sử thời Thập tự chinh, sự kiện ấy dường như đơn thuần bắt nguồn từ ý chí của một vài nhân vật. Còn đối với cuộc di cư của các dân tộc, ngày nay chẳng còn ai mảy may nghĩ rằng công cuộc tái thiết thế giới châu Âu lại tùy thuộc vào một ý thích bất chợt của Attila. Đối tượng quan sát của chúng ta càng lùi sâu vào quá khứ lịch sử bao nhiêu, thì ý chí tự do của những người liên quan trong sự kiện lại càng trở nên đáng ngờ bấy nhiêu, và quy luật tất yếu lại càng hiển hiện rõ ràng bấy nhiêu.

Yếu tố thứ ba là mức độ ta nắm bắt được chuỗi nhân quả vô tận mà lý trí tất yếu đòi hỏi, trong đó mỗi hiện tượng được nhận thức, và do đó là mỗi hành vi của con người, đều phải có một vị trí xác định như là kết quả của những gì đi trước và là nguyên nhân của những gì tiếp nối theo sau.

Chúng ta càng hiểu rõ các quy luật sinh lý học, tâm lý học và lịch sử được đúc rút qua quan sát chi phối con người, nhận thức càng đúng đắn về các nguyên nhân sinh lý học, tâm lý học và lịch sử dẫn đến hành động, và hành động ta quan sát càng đơn giản, tâm tính cũng như trí tuệ của con người đó càng ít phức tạp, thì hành động của chúng ta cũng như của người khác lại càng có vẻ phụ thuộc vào tính tất yếu và càng ít tự do hơn.

Khi ta hoàn toàn không hiểu nguyên nhân của một hành vi, bất kể đó là tội ác, việc thiện hay chỉ là một việc không mang tính luân lý, ta đều gán cho nó mức độ tự do lớn hơn. Trước một tội ác, ta đòi hỏi hình phạt nghiêm khắc nhất; trước một nghĩa cử cao đẹp, ta đánh giá công trạng của nó cao nhất. Trong một trường hợp trung tính, ta nhận thấy ở đó nhiều cá tính, sự độc đáo và độc lập hơn. Nhưng chỉ cần biết được dẫu chỉ một trong vô vàn nguyên nhân dẫn tới hành vi, ta liền nhận ra một yếu tố tất yếu nhất định và sẽ bớt khăng khăng đòi trừng phạt tội ác, bớt ngợi ca công lao của việc thiện, hay bớt tin vào tính tự do của một hành vi thoạt nhìn có vẻ độc đáo. Việc một kẻ phạm tội từng lớn lên giữa những phường bất lương sẽ làm giảm nhẹ lỗi lầm của hắn trong mắt chúng ta. Sự hy sinh của một người cha hay người mẹ, hoặc sự hy sinh khi có cơ hội được đền đáp, đều dễ hiểu hơn sự hy sinh vô vụ lợi, và bởi thế dường như ít gợi niềm trắc ẩn hơn cũng như ít là kết quả của ý chí tự do hơn. Kẻ sáng lập một giáo phái, một đảng phái, hay một nhà phát minh sẽ ít gây ấn tượng cho ta hơn một khi ta biết con đường hoạt động của người đó đã được chuẩn bị như thế nào hoặc nhờ vào đâu. Nếu có trong tay vô số ví dụ, nếu việc quan sát của ta không ngừng hướng vào việc tìm kiếm mối tương quan nhân quả trong hành vi của con người, thì ta càng gắn kết đúng đắn giữa kết quả với nguyên nhân bao nhiêu, hành vi của họ lại càng có vẻ bị cưỡng bách và càng ít tự do bấy nhiêu. Nếu ta xem xét những hành vi đơn giản và có một lượng khổng lồ các hành vi như thế để quan sát, nhận thức của ta về tính tất yếu của chúng sẽ còn lớn hơn nữa. Hành vi bất lương của con trai một kẻ bất lương, sự lầm lỡ của một phụ nữ sa vào chốn bù nhơ, thói tái nghiện của một kẻ nát rượu, vân vân, đều là những hành vi mà ta càng hiểu rõ nguyên nhân thì lại càng thấy chúng ít tự do hơn. Nếu con người mà ta đang xem xét hành vi lại ở một trình độ phát triển tinh thần rất thấp, chẳng hạn như một đứa trẻ, một kẻ điên hay một kẻ khờ khạo—khi ấy, vì biết rõ nguyên nhân thúc đẩy hành vi cũng như sự đơn giản trong tâm tính và trí tuệ của họ, ta sẽ thấy yếu tố tất yếu lớn đến nỗi, và ý chí tự do ít ỏi đến mức, chỉ cần vừa biết nguyên nhân kích động là ta đã có thể đoán trước được kết quả.

Chỉ duy nhất dựa trên ba yếu tố xem xét này mà khái niệm về việc miễn trừ trách nhiệm hình sự cùng các tình tiết giảm nhẹ mới được mọi bộ luật thừa nhận. Trách nhiệm ấy được nhìn nhận là nặng hay nhẹ tùy thuộc vào việc ta hiểu nhiều hay ít về hoàn cảnh của người bị xét xử, khoảng thời gian dài hay ngắn giữa thời điểm phạm tội với thời điểm điều tra, và việc ta thấu triệt sâu hay nông về những nguyên nhân đã dẫn tới hành vi đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Graf Leo Tolstoy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.