Một chiếc lông mi
Taylor
Cây độc cần và Hoa linh lan
Ban đêm. Xanh lục, cam, xanh lam. Nhạc cụ hoàng gia màu đỏ. Bộ váy màu vàng. Rồi một pho tượng Phật bằng đồng. Đột nhiên nó nâng mi mắt bằng đồng lên và nhựa cây bắt đầu rỉ ra từ đó, từ pho tượng Phật. Nhựa cây cũng rỉ ra từ bộ váy màu vàng. Ngay cả trong gương — những giọt nhựa cây, và từ chiếc giường lớn, từ chiếc giường của trẻ em, và chẳng mấy chốc là từ chính bản thân tôi.... Thật là kinh hoàng, nỗi kinh hoàng ngọt ngào chết người!... Tôi bừng tỉnh. Ánh sáng xanh dịu nhẹ, bề mặt kính của những bức tường, của những chiếc ghế, của chiếc bàn đang tỏa ánh lung linh. Điều này làm tôi bình tĩnh lại. Nhịp đập trái tim tôi đã thôi dồn dập. Nhựa cây! Tượng Phật! Thật ngớ ngẩn làm sao! Rõ ràng là tôi đang ốm; trước đây tôi chưa bao giờ mơ cả. Người ta bảo rằng việc mơ thấy giấc mơ là một điều bình thường và phổ biến ở những người thời cổ đại. Phải, suy cho cùng, cuộc sống của họ là một còng quay cuồng cuộn: xanh lục, cam, tượng Phật, nhựa cây — nhưng chúng ta, những con người của thời đại ngày nay, chúng ta thừa hiểu rằng việc chiêm bao là một thứ bệnh tâm thần trầm trọng. Tôi.... Lại có chuyện bộ não của tôi, cỗ máy chuẩn xác, sạch sẽ, lấp lánh này, giống như một chiếc đồng hồ bấm giờ không một hạt bụi, lại đang...? Vâng, lúc này thì đúng là như vậy rồi. Tôi thực sự cảm thấy ở trong não mình có một vật lạ nào đó giống như một chiếc lông mi lọt vào mắt. Người ta không cảm nhận được toàn bộ cơ thể mình mà chỉ thấy con mắt có vướng sợi tóc ấy, không tài nào quên nó đi được dù chỉ một giây....
Âm thanh chuông ngân vang trong trẻo và lảnh lót ngay sát gối tôi. Bảy giờ. Đã đến lúc phải thức dậy. Phía bên phải và bên trái, hệt như trong những tấm gương, phía bên phải và bên trái qua những bức tường kính, tôi nhìn thấy những kẻ giống như mình, những căn phòng khác giống y căn phòng của tôi, những bộ trang phục khác giống y bộ trang phục của tôi, những chuyển động giống hệt tôi, được nhân lên hàng ngàn lần. Điều này làm tôi phấn chấn hẳn lên; tôi thấy mình là một phần của một khối thống nhất khổng lồ, tràn đầy sức sống; và thật là một vẻ đẹp chuẩn xác làm sao! Không một cử động thừa thãi, không một cái cúi chào hay một cái quay người nào bị lãng phí. Vâng, Taylor này chắc chắn là thiên tài vĩ đại nhất của người cổ đại. Thừa nhận là ông đã không nghĩ ra việc áp dụng phương pháp của mình cho toàn bộ cuộc sống, cho từng bước đi trong suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày; ông đã không thể hợp nhất hệ thống của mình từ một giờ cho đến hai mươi bốn giờ. Tôi không thể hiểu nổi người cổ đại. Sao họ có thể viết cả những thư viện sách vở về một tên Kant nào đó mà lại chỉ đoái hoài đôi chút đến Taylor, vị tiên tri đã nhìn thấu mười thế kỷ tương lai ấy cơ chứ?
Bữa sáng đã kết thúc. Bản thánh ca của Hợp chủng quốc đã được cất lên một cách hòa hợp; theo đúng nhịp điệu, cứ bốn người một hàng, chúng tôi bước đi tới các thang máy, những động cơ phát ra tiếng kêu vo vo nhè nhẹ và chớp nhoáng, chúng tôi đi xuống — xuống — xuống, trái tim khẽ chùng xuống. Lại cái giấc mơ ngớ ngẩn ấy hoặc một chức năng vô danh nào đó của giấc mơ đó. Ồ, phải rồi! Hôm qua ở trên phi cơ, rồi lại đi xuống — xuống! Chà, dù sao thì mọi chuyện cũng đã qua rồi. Chấm hết. Thật là may mắn làm sao khi tôi đã tỏ ra kiên quyết và cộc cằn với cô ấy đến vậy.
Chiếc xe của hệ thống đường sắt ngầm đưa tôi phóng đi vùn vụt tới nơi mà thân hình bất động, đẹp đẽ của chiếc Integral, hãy còn chưa được thổi hồn bằng ngọn lửa, đang lấp lánh trong các ụ tàu dưới ánh nắng mặt trời. Nhắm nghiền đôi mắt lại, tôi thả hồn mơ mộng trong những công thức. Tôi lại nhẩm tính trong đầu xem vận tốc ban đầu nào là cần thiết để bứt chiếc Integral rời khỏi mặt đất. Khối lượng của chiếc Integral sẽ thay đổi từng giây nhờ vào việc tiêu hao nhiên liệu thuốc nổ. Phương trình vô cùng phức tạp với những con số siêu việt. Như trong một giấc mơ, ngay tại thế giới được tính toán vững chắc này, tôi cảm thấy có ai đó ngồi xuống bên cạnh mình, chạm nhẹ vào tôi và nói: “Xin lỗi.” Tôi mở bừng mắt. Ban đầu, có lẽ do sự liên tưởng đến chiếc Integral, tôi nhìn thấy một cái gì đó đang lao vút đi vào khoảng không xa xăm: một cái đầu; tôi thấy đôi tai vểnh màu hồng nhô ra hai bên, rồi đường cong của phần sau đầu hơi nhô ra, chữ S uốn lượn hai lần.
Xuyên qua những bức tường kính của thế giới đại số của tôi, tôi lại cảm thấy chiếc lông mi trong mắt mình. Tôi cảm thấy một điều gì đó khó chịu, tôi cảm thấy rằng ngày hôm nay tôi phải....
“Chắc chắn rồi, xin mời,” — tôi mỉm cười với người hàng xóm của mình và cúi đầu chào.
Số hiệu S-4711 mà tôi nhìn thấy đang lấp lánh trên huy hiệu bằng vàng của hắn (đó là lý do tại sao tôi lại liên tưởng hắn với chữ S ngay từ khoảnh khắc đầu tiên: một ấn tượng thị giác mà ý thức chưa kịp ghi nhận lại). Đôi mắt hắn ánh lên, giống như hai mũi khoan nhỏ sắc bén; chúng đang xoay tít vòng, khoan sâu hơn nữa, sâu hơn nữa vào bên trong. Có vẻ như chỉ một thoáng nữa thôi là chúng sẽ khoan thấu đến tận đáy và nhìn thấy một điều gì mà ngay cả bản thân tôi cũng không dám thú nhận....
Cái chiếc lông mi phiền toái ấy bỗng trở nên hoàn toàn rõ mồn một trong tâm trí tôi. S- chính là một trong số bọn họ, một trong những Giám hộ, và việc đơn giản nhất lúc này là ngay lập tức, không chần chừ gì nữa, hãy kể hết mọi chuyện cho hắn!
“Hôm qua tôi đã đến Ngôi nhà Cổ...” giọng tôi nghe thật kỳ lạ, khàn đợ, ngang phè — tôi cố ho khan một tiếng.
“Thế thì tốt. Chắc hẳn nó đã cung cấp cho anh tư liệu để rút ra những suy luận bổ ích.”
“Vâng... nhưng... Anh thấy đấy, tôi không đi một mình; tôi đi cùng I-330, và rồi....”
“I-330 ư? Anh thật may mắn đấy. Cô ấy là một phụ nữ rất thú vị, có tài; cô ấy có vô số kẻ ngưỡng mộ.”
Nhưng chính hắn ta cũng vậy — rồi trong buổi dạo chơi hôm đó.... Biết đâu hắn lại chính là Số-nam được phân công cho cô ấy thì sao! Không, tuyệt đối không thể nói cho hắn biết được, không tài nào nghĩ đến chuyện đó nổi. Điều này thì rõ như ban ngày.
“Vâng, vâng, chắc chắn rồi, rất hay,” tôi mỉm cười, nụ cười ngày càng rộng hơn, ngốc nghếch hơn, và cảm thấy như thể nụ cười ấy khiến mình trông thật ngớ ngẩn, trơ trọi.
Những mũi khoan đã chạm tới đáy; vừa xoay liên hồi, chúng vừa tự vặn ngược trở lại vào đôi mắt hắn. S- mỉm cười với đường cong uốn lượn hình chữ S, gật đầu rồi lướt đi về phía lối ra.
Tôi lấy tờ báo che kín mặt mình (tôi có cảm giác như thể tất cả mọi người đang nhìn chăm chăm vào mình), và chẳng mấy chốc tôi quên bẵng đi chiếc lông mi, quên cả những mũi khoan nhỏ, quên sạch mọi thứ, bởi tôi quá đỗi bấn loạn trước những gì mình đọc được trên báo: “Theo nguồn tin xác thực, người ta lại vừa phát hiện ra những dấu vết của một tổ chức vẫn đang ngoài tầm với. Tổ chức này nhầm mục tiêu giải phóng con người khỏi ách cai trị đầy hồng ân của Nhà nước.”
Giải phóng! Thật đáng kinh ngạc làm sao khi bản năng phạm tội của con người lại cứ dai dẳng đến thế! Tôi cố ý dùng từ “phạm tội”, bởi vì tự do và tội ác gắn bó mật thiết với nhau hệt như — à, hệt như chuyển động của một chiếc phi cơ và tốc độ của nó vậy: nếu tốc độ của phi cơ bằng không, chiếc phi cơ sẽ đứng yên; nếu tự do của con người bằng không, con người sẽ không phạm bất kỳ tội ác nào. Điều đó rõ mười mươi. Cách duy nhất để tước bỏ tội ác ở con người chính là tước đi sự tự do của họ. Ngay khi chúng ta vừa tước bỏ được tự do của mình (trong chiều kích vũ trụ, vài thế kỷ cũng chỉ là một khoảnh khắc “ngay khi” mà thôi), thì bỗng nhiên lại xuất hiện một lũ suy đồi đáng thương giấu mặt nào đó.... Không, tôi không tài nào hiểu nổi tại sao ngày hôm qua tôi lại không đến thẳng Cục Giám hộ ngay lập tức. Hôm nay, sau mười sáu giờ, nhất định tôi sẽ đến đó.
Lúc mười sáu giờ mười phút, tôi đã có mặt trên đường phố; tôi lập tức nhìn thấy O-90 ở góc phố; cô ấy mừng rỡ đến đỏ bừng cả mặt khi tình cờ gặp tôi. Cô ấy có một tâm hồn đơn giản và tròn trịa. Một cuộc gặp gỡ đúng lúc; cô ấy sẽ hiểu và ủng hộ tôi. Hoặc... không, tôi chẳng cần sự ủng hộ nào cả; quyết định của tôi đã vô cùng kiên định.
Những ống thông của Tháp Âm nhạc vang lên những âm thanh hòa hợp của khúc Hành khúc — bản Hành khúc quen thuộc mỗi ngày. Kỳ diệu làm sao sức hút của sự lặp đi lặp lại hàng ngày này, của sự đều đặn không đổi và vẻ mượt mà như gương ấy!
“Đi dạo đấy à?” Đôi mắt tròn xoe màu xanh lam của cô ấy mở rộng nhìn tôi, giống như hai ô cửa sổ màu xanh dẫn lối vào bên trong; tôi thâm nhập vào đó một cách không vướng bận; chẳng có gì ở trọt trong đó cả, ý tôi là chẳng có gì xa lạ, chẳng có gì thừa thãi.
“Không, không phải đi dạo. Tôi phải đi có việc.” Tôi bảo cô ấy điểm đến. Và để làm tôi kinh ngạc, tôi thấy cái miệng tròn trịa đỏ hồng của cô ấy bỗng mím lại thành một hình lưỡi liềm với hai đầu chúc xuống, hệt như khi người ta vừa nếm phải thứ gì đó chua lét. Điều này làm tôi nổi giận.
“Các cô Số dường như bị ăn sâu bởi những định kiến đến mức vô phương cứu chữa. Các cô hoàn toàn không có khả năng tư duy trừu tượng. Xin lỗi vì phải dùng từ này nhưng tôi gọi đó là sự cùn mòn của trí tuệ.”
“Anh ư?... đến gặp bọn mật thám á? Thật ghê tởm làm sao! Thế mà em lại vừa đến Vườn Bách thảo và mang về cho anh một nhành hoa linh lan đấy....”
“Sao lại ‘thế mà em’? Sao lại có cái từ ‘thế mà’ ấy hả? Đúng là tính nết đàn bà!”
Trong cơn tức giận (tôi phải thú nhận điều đó), tôi giật phăng lấy đám hoa. “Đây, hoa linh lan của cô đây. Nào, ngửi thử xem! Thơm không? Có chứ? Sao không chịu dùng chút logic cơ chứ? Hoa linh lan ngửi rất thơm; được rồi! Nhưng cô không thể nói về một mùi hương, về khái niệm của một mùi hương, rằng nó tốt hay xấu được, đúng không? Cô không thể làm thế được, phải không nào? Có mùi hương của hoa linh lan và cũng có mùi khó ngửi của cây độc cần. Cả hai đều là mùi hương cả. Các quốc gia cổ đại có lực lượng mật thám của họ; chúng ta cũng có lực lượng của mình... vâng, mật thám đấy! Tôi không sợ phải thốt lên từ ấy. Nhưng chẳng lẽ cô không thấy rõ rằng ở đó, bọn mật thám chính là cây độc cần; còn ở đây, bọn họ chính là hoa linh lan hay sao? Vâng, là hoa linh lan đấy, đúng vậy đấy!”
Cái vành trăng lưỡi liềm đỏ hồng khẽ run lên. Giờ thì tôi hiểu rằng đó chỉ là ấn tượng của riêng tôi thôi, nhưng vào khoảnh khắc đó, tôi chắc chắn đến đinh đóng cột rằng cô ấy sắp sửa bật cười. Tôi càng quát to hơn nữa:
“Vâng, là hoa linh lan đấy! Và chẳng có gì đáng cười ở đây cả, không có gì đáng cười hết!”
Những khối đầu tròn mượt mà đang đi ngang qua đều quay đầu nhìn về phía chúng tôi. O-90 dịu dàng cầm lấy tay tôi.
“Hôm nay anh rất lạ... anh bị ốm à?”
Giấc mơ của tôi.... Màu vàng.... Tượng Phật.... Ý nghĩ chợt lóe lên rõ mồn một trong đầu tôi rằng mình phải đến Cục Y tế ngay lập tức.
“Vâng, em nói đúng, anh đang ốm,” tôi vui mừng nói (điều này đối với tôi là một sự mâu thuẫn không tài nào giải thích nổi; chẳng có gì đáng để mà vui mừng cả).
“Anh phải đến gặp bác sĩ ngay. Anh hiểu điều đó chứ; anh có nghĩa vụ phải khỏe mạnh; thật kỳ lạ khi cứ phải chứng minh điều đó với anh.”
“O- dấu yêu của anh, dĩ nhiên là em đúng rồi. Hoàn toàn chính xác.”
Tôi đã không đến Cục Giám hộ; tôi không thể làm thế; tôi buộc phải đến Cục Y tế; họ giữ tôi ở đó cho tận mười bảy giờ.
Vào buổi tối (nhân tiện, Cục Giám hộ đóng cửa vào buổi tối) — vào buổi tối, O- đến thăm tôi. Các tấm rèm che vẫn chưa được kéo xuống. Chúng tôi cặm cụi giải những bài toán số học trong một cuốn sách giáo khoa cổ đại. Công việc này luôn làm dịu đi và thanh lọc những suy nghĩ của chúng tôi. O- ngồi bên cuốn vở của mình, đầu hơi nghiêng sang bên trái; cô ấy chăm chú đến mức chìa cả chiếc má trái ra ngoài bằng chiếc lưỡi đẩy ở bên trong. Trông cô ấy mới trẻ con làm sao, mới đáng yêu làm sao.... Tôi cảm thấy mọi thứ trong con người mình thật dễ chịu, chuẩn xác và giản đơn.
Cô ấy ra về. Tôi ở lại một mình. Tôi hít thở sâu hai lần (đó là bài tập rất tốt trước khi đi ngủ vào ban đêm). Bỗng nhiên — một mùi hương bất ngờ gợi nhớ đến thứ gì đó vô cùng khó chịu! Chẳng mấy chốc tôi đã phát hiện ra vấn đề: một nhành hoa linh lan đã được giấu trong giường của tôi. Lập tức mọi thứ lại trỗi dậy, từ dưới đáy trồi lên. Quả thực, thật là thiếu tế nhị làm sao khi cô ấy lén lút nhét những bông hoa linh lan đó vào đây. Thà rằng đúng là tôi đã không đi; tôi đã không đi thật đấy, nhưng nào phải lỗi tại tôi khi tôi cảm thấy trong người không khỏe cơ chứ?