CHƯƠNG MƯỜI BẢY
Nhớ tổ quốc. - Lại thêm một câu đố. - Cuộc tọa đàm. - Sự bất ngờ.
Hai năm tròn đã trôi qua! Hai năm ấy, những người di dân đã sống xa cách những con người. Họ không biết gì về những điều đang xảy ra trong thế giới văn minh. Họ bị rơi lên hòn đảo mất hút giữa đại dương, chẳng khác nào lạc lên một hành tinh nhỏ bé của hệ mặt trời.
Ý nghĩ về tổ quốc thân yêu cứ luôn luôn ám ảnh họ. Vào giờ phút họ ra đi, đất nước đang bị cuộc nội chiến phân hóa - có thể là cuộc phiến loạn của những người phương nam đang làm cho đất nước phải đổ máu thêm! Ý nghĩ ấy khiến họ đầy lo âu: họ thường nói chuyện với nhau về tổ quốc, song, không nghi ngờ gì nữa, sự nghiệp chính nghĩa của những người phương bắc sẽ toàn thắng vì sự vinh quang của Hợp chủng quốc.
Trong 2 năm ấy, không một con tàu nào qua đảo, không một cánh buồn nào xuất hiện nơi chân trời. Rõ ràng là đảo Lincoln ở cách xa các đường biển và chẳng ai biết tới nó cả, cả những tấm bản đồ cũng đã chứng tỏ điều ấy. Nếu không thì những nguồn nước ngọt chắc chắn đã thu hút các con tàu tới đây, mặc dù trên đảo không có một cái vịnh thuận lợi nào…
Tuy nhiên, việc tuần tra nghiên cứu đảo họ vẫn tiếp tục tiến hành, nhất là ở phần bắc và phần tây, giữa cửa suối Thác nước và mũi Xương hàm.
16 tháng tư, tàu “Bonadventur” lại đi làm nhiệm vị. Nhân một chuyến tuần tra đêm, Pencroff đề nghị kỹ sư Smith cho dựng một cây hải đăng ở vịnh để cho việc đi lại được dễ dàng hơn.
- Phải đấy, Cyrus thân mến. - Gédéon Spilett nói với kỹ sư, - chúng tôi thậm chí chưa cảm ơn ngài, bởi vì, nói thật lòng, hôm nọ, chúng tôi không thể nào nhận ra được đảo nếu không có ánh lửa…
- Ánh lửa ư? - Cyrus Smith ngạc nhiên hỏi.
Chuyện thế này, thưa ngày Cyrus, lúc ấy trên tàu “Bonadventur” chúng tôi bí lắm rồi, - Pencroff trả lời thay nhà báo. - Có lẽ chúng tôi đã đi qua đảo, nếu không được ngài quan tâm, đốt những đống lửa trên bãi đất nhỏ gần Lâu đài đá hoa cương trong đêm mười chín rạng ngày hai mươi tháng mười.
- Đúng, đúng, tất nhiên rồi… - kỹ sư nói, - đó là một ý định tốt đẹp!
Thế nhưng mấy phút sau, khi chỉ còn lại nhà báo trên mũi tàu, kỹ sư đã nói nhỏ với anh ta:
- Spilett này, tôi chỉ biết một điều là trong đêm mười chín rạng ngày hai mươi tháng mười tôi đã không đốt lửa trên bãi đất nhỏ gần Lâu đài đá hoa cương, và cũng không đốt lửa ở nơi nào khác đâu!
Và đây, mấy ngày sau, tối 25 tháng tư, khi tất cả những người di dân tụ họp trên cao nguyên Tầm nhìn, Cyrus đã nói với họ những lời như sau:
- Các bạn của tôi! Tôi thấy có trách nhiệm chỉ cho các bạn thấy một số hiện tượng lạ kỳ, và tôi muốn được biết ý kiến của các bạn về những hiện tượng ấy. Tôi cho rằng những hiện tượng ấy là siêu nhiên.
- Siêu nhiên! - Chàng thủy thủ phả khói thuốc lá, thốt lên. - Vậy là, hòn đảo của chúng ta có thể gọi là hòn đảo siêu nhiên?
- Không phải, Pencroff, nhưng tất nhiên có thể gọi là hòn đảo bí ẩn, - kỹ sư trả lời, - mặc dù, có thể là các bạn sẽ giải thích được điều mà tôi và Spilett bấy lâu nay không sao hiểu nổi?
- Vậy thưa ngài Cyrus, ngài hãy kể đi, ở đây có chuyện gì thế? - Chàng thủy thủ yêu cầu.
- Chuyện thế này! Các bạn có hiểu không, - Cyrus tiếp tục, - tôi đã suýt bị chìm dưới biển cách bờ một phần tư hải lý, mà không biết vì sao lại lên được tới hang. Lại nữa. Các bạn có thể hiểu được không, vì sao con Top lại có thể tìm ra được chỗ các bạn lúc ấy ở cách hang của tôi những năm dặm!
- Bản năng đã giúp nó… - Harbert nói.
- Bản năng gì ở đây, - nhà báo cắt ngang chú, - đêm ấy trời mưa to, gió lớn, mà con Top đến Lán tạm lại khô ráo và sạch sẽ.
- Lại nữa, - Cyrus Smith tiếp tục, - các bạn có thể hiểu được không, viên đạn chì trong mình con heo rừng mới kỳ lạ làm sao. Bằng cách gì mà, thật là phúc đức, biển lại quẳng lên bờ cho chúng ta các hòm với đầy đủ thứ cần thiết, mặc dù chúng ta đã không hề phát hiện thấy dấu vết của một tai nạn đắm tàu. Và làm thế nào cái chai đựng lá thư nọ lại có thể rơi vào tay chúng ta đúng hôm lần đầu tiên chúng ta chạy thử tàu. Vì sao dây neo lại đứt và chiếc thuyền đã trôi xuôi dòng sông Tạ ơn đúng lúc chúng ta cần đến nó. Sau cuộc đột nhập của bầy vượn, làm sao cái thang lại có thể rơi từ cửa Lâu đài đá hoa cương xuống được? Và, cuối cùng, tác giả của bức thư mà Ayrton đã khẳng định không bao giờ viết, là ai?
Cyrus Smith đã kể không sót một hiện tượng lạ kỳ nào xảy ra trên đảo. Harbert, Pencroff và Nab đưa mắt nhìn nhau, không biết trả lời sao, bởi vì lần đầu tiên tất cả những hiện tượng ấy đã hiện ra trước mặt họ như những mắt xích của một sợi dây xích và khiến họ sửng sốt không sao tả xiết.
- Quỉ quái thật, ngài nói đúng, thưa ngài Cyrus, - cuối cùng, Pencroff thốt lên, - thật khó mà giải thích được tất cả những điều đó!
- Thế đấy, các bạn của tôi, - kỹ sư tiếp tục, - tôi nói thêm một hiện tượng nữa không kém phần lạ lùng và khó hiểu… Khi ở đảo Tabor về, các bạn đã nhìn thấy ngọn lửa bùng cháy trên bờ đảo Lincoln phải không?
- Đúng như vậy, Cyrus Smith, - cả Pencroff, Harbert và Spilett đều khẳng định. - Ngọn lửa sáng như ngôi sao nhất đẳng, như một chùm đèn điện vậy…
- Thế đấy, các bạn của tôi, - Cyrus Smith nói, - đêm ấy cả tôi lẫn Nab đều không đốt lửa trên bờ đâu.
- Sao lại không phải ngài… - Pencroff sửng sốt, thậm chí không nói hết câu.
- Chúng tôi đã không ra khỏi Lâu đài đá hoa cương, - Cyrus Smith trả lời, - và nếu như đêm hôm ấy trên bờ biển có đốt lửa thì chúng tôi không có liên quan gì cả…
Đúng! Đành phải đồng ý rằng: tất cả những hiện tượng ấy đều được bao phủ bởi một tấm màn bí mật. Một sức mạnh không thể hiểu nổi nào đấy, khoan đãi đối với những người di dân, rõ ràng là đã làm chủ hòn đảo Lincoln và kịp thời đến cứu giúp họ. Sự tò mò khiến ai nấy sốt ruột, sốt gan. Phải chăng, có một người bí ẩn đang ẩn náu ở một nơi kín đáo nào đấy? Đó chính là điều cần phải khám phá, và bằng bất kỳ giá nào!
Cyrus Smith cũng đã nhắc lại cho mọi người biết việc con Top và Jup có những lúc rất lạ, cứ chạy quanh cái giếng ăn thông từ nhà xuống biển mà sủa, và thừa nhận rằng ông đã khảo sát cái giếng, nhưng không phát hiện ra điều gì khả nghi cả.
Những người di dân đã kết thúc cuộc tọa đàm, sau khi quyết định ngay trong những ngày xuân đầu tiên phải lùng sục khắp đảo.
Đã sang tháng năm, giống như tháng mười một ở Bắc bán cầu, những ngày trời u ám kéo dài lê thê. Mùa đông khắc nghiệt đến sớm, nên những người trên đảo đã phải chuẩn bị ngay mọi việc để sống qua bốn tháng lạnh lẽo từ tháng sáu đến hết tháng chín…
Nhưng suốt mùa đông trên đảo đã không xảy ra sự việc bí ẩn nào nữa. Sợi dây xích những hiện tượng siêu tự nhiên dường như đã bị đứt quãng, mặc dù những người ở trong Lâu đài đá hoa cương tối tối vẫn thường nói đến chúng và không thay đổi quyết định lùng sục khắp đảo, đến tận những xó xỉnh hẻo lánh nhất. Nhưng, một sự kiện quan trọng đầy những hậu quả nguy hại đã bất ngờ phá vỡ mọi kế hoạch của Cyrus Smith và các bạn ông.
Chuyện ấy xảy ra vào tháng mười. Mùa xuân đã đến gần…
Bạn đọc còn nhớ Gédéon Spilett và Harbert đã chụp ảnh nhiều lần hòn đảo Lincoln.
Một hôm, ấy là ngày 17 tháng mười, khoảng ba giờ chiều, Harbert định tranh thủ lúc trời sáng chụp toàn cảnh vịnh Hợp chủng trải dài trước mặt Lâu đài đá hoa cương từ mũi Xương hàm tới mũi Cái móng…
Chú đặt máy ảnh trên bậu cửa sổ trong phòng lớn của Lâu đài đá hoa cương, từ nơi đây có thể nhìn rộng ra bờ biển và vịnh Hợp chủng. Sau khi chụp xong một kiểu theo đúng các qui tắc, chú vào nhà kho tối như bưng để tráng rửa hình.
Lúc trở ra, ngoài ánh sáng rõ chú xem kỹ âm bản thì thấy trên đường chân trời có một vệt đen nhỏ không rõ lắm.
“Tấm kính ảnh bị hỏng” - Harbert nghĩ.
Nhưng chú vẫn quyết định soi vệt đen nhỏ xíu ấy vào kính phóng đại tháo ở ống viễn vọng ra.
Chú nhìn vào hình chụp và kêu rú lên, suýt nữa đánh rơi tấm hình.
Chú chạy vào phòng Cyrus Smith đang làm việc, đưa cho ông tấm kính âm bản cùng cái kính lúp và chỉ vào cái vệt nhỏ.
Cyrus Smith nhìn vào cái chấm đen trên tấm hình, và, chộp lấy ống kính viễn vọng, lao tới cửa sổ.
Ông hướng ống kính vào vệt đen khả nghi. Sau khi nhìn kỹ cái vệt ấy, ông buông tay, nói độc một tiếng:
- Tàu!
Và thật vậy, nơi chân trời đã hiện rõ một chiếc tàu thủy.