Sếp cẩm hỏi Wanger, “Chà, anh có tìm được manh mối gì không? Dạo này anh trở thành chuyên gia về những vụ ‘tưởng như không phải án mạng mà lại đúng là án mạng’ rồi ấy nhỉ.”
“Lần này tôi chắc chắn! Đương nhiên là án mạng! Còn gì phải nghi ngờ nữa hả sếp?”
“Bình tĩnh, cơn bức xúc của anh làm bay hết giấy tờ trên bàn tôi bây giờ. Thực ra thì Kling nói với tôi là người ông ta giao điều tra vụ này không được chắc chắn như anh đâu. Thế nên tôi kêu ông ta cho anh tham gia cùng. Ông ta cũng khá dễ tính về chuyện đó…”
“Gì cơ?” Wanger suýt á khẩu. “Mấy tay đó đang định dựng vụ án này theo hướng nạn nhân chẳng may tự nhốt…”
Sếp cẩm giơ tay ra dấu đấu dịu Wanger. “Chờ nghe tôi nói hết đã, không phải bức xúc. Tôi hiểu ý ông ta là thế này: đúng là bà Moran có nhận, chí ít là cô ấy khai thế, một bức điện tín không rõ người gửi nhưng đề tên của em gái mình trên đó. Không may cho ta là chẳng có dấu vết gì về bức điện đó ở quanh căn nhà - nó biến mất rồi - thế nên cũng không có cách nào dò ngược xem nó được gửi từ đâu. Cũng có thể là nó được gửi đi ngay từ thành phố này, nhưng trong lúc bối rối bà Moran đã không để ý đến địa điểm gửi. Và đúng là thằng bé nhà đó cứ bảo là có một ‘cô’ chơi với nó. Nhưng ta chỉ tìm ra hai điểm duy nhất cho thấy có một người lớn can thiệp vào vụ này, đó là việc cắt dây điện thoại và lời nhắn để lại trên chăn thằng bé…”
Wanger bĩu môi cau có. “Thế chỗ sơn keo mát-tít* thì thế nào?”
Mát-tít: Chất dẻo làm bằng phấn nghiền thành bột rồi trộn với dầu đay, dễ khô ở ngoài không khí, dùng để trám các khe hở, các lỗ hổng, gắn kính vào khung cửa.
“Ý anh là thằng bé không thể với được tới mép trên để trám khe cửa, đúng không? Nhầm rồi, Kling nói là nhóm của ông ta đã tiến hành thực nghiệm. Họ không can thiệp gì cả, chỉ đưa cho nó chỗ sơn keo rồi bảo, ‘Cháu bôi kín cửa lại như tối hôm nọ xem nào’ rồi ngồi xem nó làm thôi. Khi thằng bé thử với cao nhất có thể mà không tới, nó liền kéo cái ghế ba chân lại rồi trèo lên trên, lúc đấy thì cả hai tay nó đều dễ dàng chạm tới mép cửa trên. Đấy, ‘nếu như lần này nó tự làm được mà chẳng cần ai hướng dẫn gì hết, thì sao nó không thể làm thế ngay từ đầu?’, họ lí luận thế.”
“Khụ… khụ!”, Wanger húng hắng với vẻ ngán ngẩm.
“Họ cũng thử thằng bé về một vấn đề khác. Họ bảo nó, ‘Này cháu, nếu bố cháu vào trong đó thì cháu sẽ làm gì? Mở cửa cho bố ra hay cứ để bố ở trong đó?’ Nó đáp, ‘Để bố ở trong đó chơi cùng cháu’.”
“Mấy thằng cha đó điên à? Hay quên mang theo não đi làm? Theo lý đó thì chắc thằng bé đã cắt cả dây điện thoại. Tôi ngờ rằng nó cũng chính là người để lại lời nhắn bằng chữ in hoa…”
“Anh cứ để tôi nói hết đã nào. Họ có bảo là thằng bé tự mình làm hết mấy việc đó đâu. Nhưng họ nghiêng về giả thuyết cho rằng đây là một vụ tai nạn, sau đó đã có một người hoảng sợ mà vụng về tìm cách bố trí để không bị liên can.
Giả thuyết của người bên Kling là thế này - hãy nhớ rằng đây mới chỉ là giả thuyết sơ bộ nhé, họ chỉ tạm thời điều tra theo hướng này cho đến khi nghĩ ra được cái hợp lý hơn hơn: Moran có một cô bồ nào đó. Họ bố trí một bức điện tín giả mạo để dụ cô vợ đi chỗ khác. Trước khi người phụ nữ kia tới, Moran - lúc đó ở nhà một mình với con trai - đã bắt đầu chơi với nó. Không may là anh ta vô tình nhốt mình trong tủ đồ, rồi thằng giặc non lại nghịch ngợm bôi mát-tít bịt kín khe cửa. Người phụ nữ đến nơi thì Moran đã chết ngạt trong đó rồi. Cô ta thất kinh, sợ là sẽ bị kéo sâu vào vụ này, ảnh hưởng tới tiếng tăm của bản thân. Thế là cô ta dẫn thằng bé về phòng ngủ, để lại một lời nhắn cho bà vợ trên chăn của nó, tất nhiên là không kí tên mình. Có thể lúc người phụ nữ này ở đó thì điện thoại chợt đổ chuông, cô ta hoảng quá,không dám trả lời mà lại đi cắt dây. Bên đấy còn nghĩ là cô này sợ đến nỗi mất trí, sau khi mở cửa chỗ chứa đồ và phát hiện ra Moran đã chết, cô ta khiếp quá bèn đóng cửa lại, cố sắp xếp lại mọi thứ như cũ, để nguyên xác anh ta trong đó, còn trám lại chỗ sơn keo để trông như chỉ có thằng bé nhúng tay vào.
Nói cách khác thì đây là một vụ tai nạn, kèm theo nỗ lực giấu giếm vụng về của một người có cảm giác tội lỗi và bị dằn vặt lương tâm.”
“Hừ!”, Wanger đáp cụt lủn, tay day day sống mũi. “Còn đây là giả thuyết của tôi: rặt một lũ đầu bò. Đấy, sếp có để tôi tham gia hay không?”
“Anh sẽ tham gia, tôi sẽ để anh làm vụ này”, sếp của Wanger đáp vội. “Tôi sẽ liên hệ với Kling về chuyện đó. Với lại người ta cũng chỉ sai lầm một lần thôi.”
Xét từ việc mọi người trong căn phòng này đều túm tụm lại một chỗ, lúi húi quanh thứ gì đó ở giữa sàn nhà, ta có thể nghĩ rằng họ đang đánh bạc ăn tiền. Chẳng thể nhìn thấy rõ họ đang vây quanh thứ gì, những tấm lưng to bản đã hoàn toàn chắn mất. Cho dù là gì đi nữa, đối tượng ở trung tâm cái vòng ấy hẳn là rất nhỏ. Thỉnh thoảng lại có một cánh tay giơ lên, thò ra đằng sau gãi gáy một cách đầy bối rối. Chỉ thiếu tiếng lách cách của con xúc xắc lăn trong bát là ta có một sới bạc đúng nghĩa.
Một nữ giám hộ đứng ở ngưỡng cửa, chăm chú quan sát nhưng không tham gia trực tiếp vào sự kiện này. Có gì đó ở người đàn bà này khiến người khác cảm thấy bức bối về mặt thẩm mĩ. Từ đầu đến chân, bà ta mang lại ảo giác về tính đối xứng cho những ai nhìn vào, hứa hẹn hoàn tất sự nhất quán bằng một món đồ chia nhánh đôi như là quần dài. Thế nhưng bà ta lại bận váy, khiến mọi cảm giác về sự hài hòa gần như bị đảo lộn.
Wanger, ở phía cửa đối diện, nơi ông vừa mới vào mà không ai để ý, đứng xem những gì đang diễn ra đến chừng nào ông còn chịu đựng được. Cuối cùng thì ông vẫn phải bước tới, vòng vây người rừng giãn ra, để lộ một bóng hình nhỏ nhó giữa những gã khổng lồ. Cookie trông lại càng bé hơn khi đứng cạnh những nhân viên cảnh sát lực lưỡng.
“Dừng lại đi, kiểu đó không ổn”, Wanger phản đối. “Các vị định làm gì thế hả? Tính hành hạ một thằng bé mới tí tuổi đầu à?”
“Anh nói ai hành hạ nó cơ?”
Wanger biết là họ chưa kịp làm thế. Một trong số nhân viên công vụ cất chiếc đồng hồ bỏ túi lấp lánh đi, chắc chắn anh ta đã đu đưa nó ở cuối sợi xích để thôi miên thằng bé mà không đạt được kết quả nào.
Bà giám hộ ngửa đầu ra sau cười hí như ngựa.
Cookie, với sự nhanh nhạy quỷ quái ở trẻ em khi đánh hơi thấy sự đồng cảm để mình bám vào, đứng nhìn Wanger, mặt nó mếu máo như chú khỉ nhỏ rồi tuôn ra một tràng tín hiệu kêu cứu đáng thương.
“Đấy, thấy chưa?” Wanger nói, ánh mắt trách cứ áp đặt lên từng người trong phòng. “Chẳng lẽ các vị không biết là trẻ con tuổi này rất sợ cảnh sát hay sao chứ? Mỗi người ở đây đã là kẻ thù tự nhiên của thằng bé ngay từ đầu rồi, thế mà các vị lại vây quanh nó cùng một lúc …”
“Chúng tôi đang mặc thường phục đây còn gì?” Một người nghiêm túc phản bác. “Nó có thấy phù hiệu đâu, làm sao nó phân biệt được?”
“Chuyên gia về trẻ em cơ đấy”, anh ta khẽ bật cười khi họ lần lượt bước về phía cửa.
Người rời cuối cùng nói với giọng khinh khỉnh, “Hi vọng ông sẽ gặp may hơn bọn này. Tôi thà vần nhau với thằng ác ôn cứng đầu nhất thế giới, còn hơn phải hỏi chuyện một thằng nhóc còn chẳng hiểu người ta đang nói gì với nó.”
“Nó hiểu đấy”, Wanger gầm gừ. “Chỉ cần điều chỉnh cho hợp, thế thôi.”
Bà giám hộ là người duy nhất còn ở lại trong phòng, cho dù vai trò của bà ta cũng là vấn đề. Ngay từ đầu, bà ta đã khiến “nhân chứng trực tiếp” này sợ phát khiếp, còn hơn tất cả những đồng sự nam kia cộng lại. Nếu bà ta mà bước quá ngưỡng cửa thì thằng bé hẳn sẽ gặp ác mộng.
Wanger kéo ghế ngồi, hai chân tạo thành một góc vuông, bế Cookie đặt lên đùi.
“Ông định chơi lại từ đầu hay sao đây”, bà giám hộ cười bi quan. “Tôi cho là có khi thằng bé còn không nhận thức được gì về những việc xảy ra tối hôm đó…”
“Tất nhiên là nó nhận thức được chứ. Ai phụ trách ở đây nhỉ, bà hay tôi?”
Cookie giờ đã làm quen với Wanger qua thời gian “thẩm vấn” trên đùi lúc trước. Nó cười nịnh, gần như là muốn xin xỏ với Wanger. “Bác còn kẹo dẻo nữa không?”
“Không, bác sĩ bảo là bác cho cháu ăn quá nhiều kẹo rồi.” Wanger đã sẵn sàng vào việc. “Ai bắt bố cháu vào trong tủ thế, Cookie?”
“Không ai bắt ạ, bố tự vào. Bố đang chơi mà.”
“Đấy, từ trước tới giờ vẫn bó tay ở chỗ này”, bà giám hộ nói chen vào.
Wanger lắc đầu, thực sự mất kiên nhẫn, điều vốn hiếm thấy ở ông. “Này, cháu giúp bác đi chứ!” Ông hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, chuẩn bị kỹ càng cho những điều đang chờ đón mình ở phía trước. “Lúc đó bố cháu chơi với ai vậy Cookie?”
“Chúng cháu.”
“Đúng rồi, nhưng ‘chúng cháu’ là ai? Cháu với ai nữa?”
“Cháu, bố với cô.”
“Cô nào?”
“Cô ấy đấy.”
“Cô nào cơ?”
“Cô ở đây ấy.”
“Ừ, nhưng cô nào ở đây?”
“Cái cô mà… cái cô mà…” Chẳng phải Cookie không muốn nói, chỉ là nó không biết nói như thế nào với ông ấy thôi. “Cái cô chơi với chúng cháu ấy”, nó kết luận đầy cảm hứng.
Wanger đã tiêu gần hết lượng hơi dự trữ trong người từ nãy tới giờ. Ông xả nốt chỗ còn lại ra với một tiếng thở dài đầy chán nản.
“Ông có thấy thằng bé này lúc nào cũng né được hết không? Lớn lên có khi nó chẳng cần đến mồm.”
Lúc này Wanger không có tâm trạng tốt lắm. “Bà McGovern, tôi không đùa đâu, nếu bà mà xía thêm một câu nào nữa thì tôi…”
“Thì ông làm sao?” Bà giám hộ lầm bầm vặn lại, âm lượng giảm rõ rệt.
Wanger lấy một quyển sổ nhỏ bìa đen ra rồi quay lại với nhân chứng vụ án đang ngồi trên đùi mình, thằng bé đung đưa chân vẻ rất thoải mái. “À, cháu nói cho bác biết tên trò chơi đó đi.”
“Chơi trốn tìm!” Cookie reo lên. Giờ thì nó đã vào lĩnh vực quen thuộc rồi.
“Ai trốn trước?”
“Cháu.”
“Rồi tiếp đến ai?”
“Đến cô.”
“Sau đó thì ai?”
“Sau đó đến lượt bố.”
“Đúng rồi”, Wanger khẽ lẩm bẩm một mình. Ông dùng đùi bên kia làm điểm tựa để ngoáy mấy chữ gần như chẳng ra hình thù gì, tay còn lại vẫn không quên ôm đứa trẻ. “Bị nừa…” Ông lập tức gạch đi, viết lại, “Bị lừa…” rồi lại gạch tiếp, viết lại, “Bị dụ vào trò chơi trốn tìm.”
Rồi ông cay đắng ngẩng lên. “Vớ vẩn rồi! Không thể nào! Làm gì có chuyện một người phụ nữ lạ hoắc vào nhà một người trưởng thành để dụ anh ta chơi trốn tìm với mình được chứ… Cứ như thế…”
Bà giám hộ mỉa mai khe khẽ, đủ nhỏ để không bị quy kết là nói chen vào, “Ông sẽ ngạc nhiên cho xem. Không phải kiểu trò chơi mà ông nghĩ đâu.”
Quyển sổ bay tới đập thẳng vào tường đối diện, rơi xuống sàn.
“Sao thế ạ?” Cookie hỏi, thích thú ngó quyển sổ. “Quyển vở có lỗi gì thế ạ?”
“Này này, ông cứ mặc nhiên cho rằng thằng bé chưa bao giờ gặp cô ta trước đây, đúng không?” Bà giám hộ nhắc ông, bất chấp những rủi ro đã báo trước.
“Bà đã nghe nó nói mấy lần rồi đấy!” Wanger quát thẳng thừng. “Tôi đã ghi đi ghi lại tới sáu lần rồi! Cô ta chưa từng đến ngôi nhà này trước đó bao giờ cả.”
Cookie đã lại khoác lên mặt cái điệu bộ mếu máo của chú khỉ con như lúc trước.
“Cháu à, bác không cáu với cháu đâu”, Wanger vội vã chấn chỉnh, xoa đầu Cookie mấy cái liền.
Thế rồi bất ngờ điều đó xảy ra. Cookie ngước nhìn ông với vẻ thiếu chắc chắn của một người vừa mất đi sự tự tin trong mối quan hệ tạo dựng được. “Thế bác cáu ai ạ? Bác cáu cô Baker à?”
“Cô Baker là ai?”
“Là cô chơi trốn tìm với…”
Chút nữa thôi là Wanger đã làm thằng bé ngã đập gáy xuống sàn nhà. “Chúa ơi, tôi khiến nó nói ra tên cô ta rồi này! Bà nghe thấy chưa? Tôi còn tưởng thằng bé…”
Niềm vui ngắn chẳng tày gang. Mặt ông lại xị xuống. “Nhưng có khi đó chỉ là cái tên cô ta tự bịa ra mà thôi. Bước vào cửa thì cô ta là cô Baker, còn khi ra khỏi cửa thì cái vai cô Baker lập tức bị trút bỏ. Nếu tôi biết được, dù chỉ một chút, là cô ta làm thế nào mà thuyết phục được Moran để mình vào nhà thì rất có thể…”
“Hay là hàng xóm?” Bà giám hộ gợi ý.
“Chúng tôi đã rà hết hàng xóm hay những người sống trong vòng sáu khu phố tính từ nhà đi rồi. Cookie, thế cô Baker nói gì với bố khi bố ra mở cửa cho cô vào nhà?”
“Cô ấy chào bố”, thằng bé ngập ngừng đáp, rõ ràng là nó đang cố gắng hết sức để đáp ứng những gì người ta cần ở mình.
“Lại bắt đầu rồi đây”, bà giám hộ thở dài, bỏ cuộc.
Wanger liếc xung quanh, nhìn lên gác. “Không rõ bà chủ nhà có giúp được gì không nhỉ… Bà đi hỏi bác sĩ xem bà chủ nhà có đủ tỉnh táo để xuống đây một phút hay không. Bảo ông bác sĩ là tôi không định thẩm vấn cô ấy, hiểu chưa? Tôi chỉ cần cô ấy giúp làm rõ một điều thằng bé mới nói đến. Chắc không mất tới một phút đâu.”
“Ông đừng cố moi gì ở thằng bé khi tôi ra khỏi phòng đấy”, bà giám hộ cảnh cáo. “Nhiệm vụ của tôi là có mặt tại đây toàn bộ thời gian ông ở với nó.”
Vài phút sau, bà ta quay lại. “Bác sĩ thì không đồng ý, nhưng cô ấy lại muốn. Cô ấy sẽ xuống ngay đây.”
Margaret đi xuống, có cả bác sĩ và y tá theo hộ tống. Cô đi chậm. Án mạng không để lại dấu tích ở dưới gầm cầu thang kia mà ở trên nét mặt cô.
“Ông đừng làm gì quá…”, bác sĩ dặn dò Wanger.
“Tôi hứa với ông”, Wanger đáp lời ngay, trấn an bác sĩ.
Cô là một người mẹ. Giờ cô đang trong tình trạng sống dở chết dở, nhưng cô vẫn là một người mẹ. “Ông không làm nó mệt quá đấy chứ, ông thanh tra?” Cô chầm chậm bước tới chỗ hai người, nhẹ nhàng cúi xuống thơm thằng bé. Ông bác sĩ và người y tá giúp cô đứng thẳng dậy, mỗi người đỡ một bên tay.
Thực tâm Wanger không hề muốn hỏi thêm điều gì, nhưng trước sau gì ông cũng phải làm rõ. “Bà Moran, tôi chắc cô không biết ai tên là ‘cô Baker’ đâu… nhưng tôi đang cố gắng làm rõ xem liệu có một người như vậy hay đó chỉ là… Thằng bé có nhắc đến ‘cô Baker’…”
Ông nhận thấy có sự thay đổi trên khuôn mặt Margaret, trước cả bác sĩ và y tá, vì cô đã quay sang nhìn ông. Mới vừa mới đây thôi, dường như chẳng còn gì có thể bồi đắp thêm vào những cảm xúc tột độ mà cô đang trải qua, nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Sự kinh hãi dâng trào, vượt trên mọi nỗi sợ cô từng biết đến, chầm chậm lan khắp khuôn mặt cô như một màn sương dày lạnh giá. Cô ấn hai ngón tay vào mỗi bên thái dương, như thể muốn giữ cho đầu khỏi vỡ bung ra. “Không thể nào là cô ấy!” Cô thầm thì.
“Đó là lời của thằng bé”, Wanger miễn cưỡng nhắc lại.
“Ôi không, không…”
Ông hiểu đích xác ý nghĩa của lời phủ nhận vội vã: cô không chối bỏ sự tồn tại của một người nào đó mà chối bỏ chính lời cáo buộc - đơn giản là vì khả năng đó không thể nào chấp nhận được.
“Vậy là có…” Ông nhẹ nhàng lấn tới.
“Đó là…” Cô nói, giọng run rẩy ngắt quãng. Nước mắt - không còn kết giọt từ sự đau khổ mà từ nỗi kinh hoàng tột cùng - tuôn ra không kiềm chế. “Đó là… giáo viên lớp mẫu giáo của Cookie.”
Nếu có điều gì khiến thảm kịch mới đây còn tồi tệ hơn nữa thì đó chính là điều này: nhìn thấy căn nguyên của sự việc dần dần thành hình, tích tụ lại thành một con người cụ thể chứ không còn là một nhân vật trong tưởng tượng, từ một cánh cửa không may đóng sập trở thành người phụ nữ trẻ đảm nhận trách nhiệm chăm sóc con mình nhiều giờ mỗi ngày.
Cô sụp xuống không phải vì ngất, chỉ là đôi chân không còn đỡ nổi thân hình cô nữa. Y tá và bác sĩ cùng đỡ cô dậy, chầm chậm dìu cô quay ra phía cửa, rồi họ đi từng bước nhỏ một. Cô không còn sức nói thêm điều gì nữa, nhưng cũng không còn điều gì cô cần phải nói nữa. Wanger giờ đã nắm chắc mọi chuyện trong tay rồi.
Ngay trước khi cánh cửa đóng lại sau lưng ba người, ông bác sĩ quay lại gắt, “Cảnh sát các anh làm tôi phát bệnh.”
“Chẳng còn cách nào khác”, viên thanh tra cứng đầu đáp. “Việc phải làm thì phải làm thôi.”
Cô giáo đang ở giữa một bầy trẻ, tại một khoảnh nhỏ trên sân trường, tách biệt khỏi những hoạt động ồn ào hơn của những học trò lớp lớn. Lũ trẻ đang nô đùa. Hai đứa được chọn đứng chốt, tay nắm vào nhau và giơ lên cao làm vòm cổng. Những đứa còn lại lần lượt chui qua cổng, rồi bị chặn ở đó, rồi nhún lên nhún xuống, rồi thì thầm lựa chọn một trong hai báu vật vô giá nào đó, rồi xếp hàng một phía sau một trong hai đứa đứng chốt, tùy vào báu vật chúng chọn. Hồi Wanger còn nhỏ thì bọn trẻ con ở phố Mười Một đường East chưa chơi trò này, thế nên ông không hiểu gì mấy.
Chưa có việc nào khiến ông ngần ngừ như vậy, cho dù việc này còn lâu mới được gọi là bắt bớ. Có lẽ sự hiện diện của lũ trẻ khiến ông cảm thấy như vậy. Có gì đó tàn bạo và bất minh trong hành động ông sắp làm, kéo cô giáo ra khỏi đây để xác minh xem có phải cô ta vừa tước đoạt mạng sống của một con người không.
Cô gái thấy ông đứng nhìn, nên rời lũ trẻ trong chốc lát để đến chỗ ông. Cô ta có vóc dáng nhỏ nhắn, mảnh dẻ và mái tóc vàng ánh đồng. Tuổi đời còn khá trẻ, chắc chưa quá hai mươi tư hay hai mươi lăm, khuôn mặt xinh xắn sau chiếc kính gọng sừng. Bỏ kính ra, gương mặt mộc mạc càng thêm cuốn hút với chút tàn nhang rải rác trên gò má. Các đường nét tổng thể đều hài hòa.
“Ông đến đón cháu nào ạ?” cô giáo vui vẻ hỏi. “Tiết học này phải một lúc nữa mới xong.”
Trước đó, ông đã xin phép được đến trường một mình để gặp cô gái, không có ai đi kèm - nếu không tính đứa trẻ lớp lớn đã dẫn ông vào đây rồi đi mất - mà không trình bày mục đích với hiệu trưởng, như thế tiện hơn. “Thực ra tôi đến vì có vài điều cần trao đổi với cô giáo.” Ông cố gắng hoàn thành nhiệm vụ mà không làm cô ta sợ hãi. Nói gì đi nữa, cô ta cũng chỉ là một cái tên xuất phát từ miệng một đứa trẻ. “Tôi là Wanger, thanh tra phòng cảnh sát…”
“Ồ”, cô gái tỏ ra ngạc nhiên nhiều hơn là sợ hãi.
“Tôi cần cô đến gặp Cookie Moran, con của ông bà Frank Moran ấy, cùng với tôi ngay khi cô xong việc ở đây, nếu cô không thấy phiền.”
“À, phải rồi, thằng nhỏ tội nghiệp”, cô ta ái ngại.
Lúc này trò chơi đã tạm ngừng, lũ trẻ thì đâu vẫn ở chỗ đó, tất cả ngoái nhìn cô giáo chờ được hướng dẫn thêm. “Bây giờ con kéo được chưa hở cô Baker?”
Cô ta liếc nhìn ông dò hỏi. “Cô cứ dạy xong lớp đi đã”, ông đồng ý. “Tôi sẽ đợi cô.”
Cô gái lập tức quay trở lại với trách nhiệm của mình. Dường như bóng dáng những khó khăn trước mắt chẳng ngăn được cô ta tập trung vào công việc. Cô ta vỗ tay làm hiệu cho lũ trẻ. “Các con chú ý này. sẵn sàng chưa? Kéo!… Đừng kéo mạnh quá… Kìa Marvin, con làm rách tay áo của Barbara bây giờ…”
Một lúc sau, khi lũ trẻ đã lên xe buýt an toàn và được chở về nhà, ông nán lại trong lớp học, quan sát cô ta dọn bàn và sắp xếp gọn gàng mọi thứ vào ngăn kéo. “Mấy bức tô màu của học sinh, như mấy bức cô có ở đây, lũ trẻ không mang về nhà hàng ngày à?”
Đó chỉ là một câu hỏi bâng quơ khi một người để ý thấy điều gì đó không quen thuộc với mình. Ít nhất thì nghe có vẻ là như vậy.
“Không, thứ Sáu hàng tuần thì chúng mới làm thế. Trường để học sinh tập hợp kết quả của cả tuần, rồi đến thứ Sáu chúng tôi lại khua khoắng hết ngăn bàn, để lũ trẻ mang mọi thứ về khoe với mẹ là mình đã tiến bộ thế nào.” Cô ta mỉm cười hiền hậu.
Ông nhặt ngẫu nhiên một bức tranh tô màu lên. Đó là một con chim cổ đỏ béo nung núc đang đậu trên cành cây. Ông cười, giả đò tán thưởng, “Mẫu tô này là của tuần trước hay tuần này?” Lại một câu hỏi bâng quơ khác, như thể ông chỉ muốn bắt chuyện trong lúc cô gái đang chỉnh lại mũ.
“Làm mẫu tuần này”, cô ta đáp, đánh mắt sang để xác nhận lại. “Cái đó là bài tô chiều hôm thứ Hai.”
Tối thứ Hai đúng là tối hôm đó…
Họ đi taxi đến nhà Moran. Trong hai người, hóa ra Wanger lại là người có nhiều tâm tư hơn, cứ đăm đăm nhìn ra bên ngoài cửa sổ. “Ông cần tôi đến để hỗ trợ công việc của cảnh sát hay, ờ, để giúp đỡ gia đình lúc khó khăn?” Cuối cùng cô ta cũng lên tiếng hỏi, giọng thoáng bối rối. Đó không phải sự bối rối vì tội lỗi, nó bắt nguồn từ sự chông chênh trước một bối cảnh mới lạ bản thân chưa từng trải qua.
“Có thể coi là thủ tục cũng được, cô đừng để ý.” Ông lại nhìn ra ngoài cửa sổ xe taxi, bận bịu với suy nghĩ dường như đang để tận đâu đâu. “Mà này, tối hôm xảy ra chuyện, cô có ở đó chăng?” Có cố gắng thì ông cũng không thể nào nghĩ ra một câu hỏi nào kì quặc hơn câu vừa rồi.
Chẳng phải ông đang tỏ ra tử tế quá mức hay thận trọng không đúng lúc, mà tình thế cho đến nay chưa có gì đảm bảo để ông mạnh tay hơn. Làm như thế sẽ sai quy trình điều tra.
“Ở nhà Moran ư?”, cô gái nhướn mày, hoàn toàn kinh ngạc. “Trời ơi, không, tôi ở đó làm gì chứ?”
Ông không lặp lại câu hỏi và cô ta cũng không lặp lại lời chối bỏ. Mỗi người một câu đã là đủ. Cô ta đang bị điều tra chính thức.
Wanger đã nhiều lần bố trí những cuộc đối chất trực tiếp, nhưng từ trước tới giờ chưa có trường hợp nào lại kịch tính như lần này. Cô gái không có gì để tự phòng vệ trước đứa bé, mà bản thân đứa bé cũng không có gì để tự phòng vệ trong thế giới của người lớn cả.
Bà giám hộ đưa thằng bé vào, nó nhảy cẫng lên khi thấy cô giáo. “Con chào cô Baker!” Nó chạy thẳng sang chỗ cô gái, đứng đó ôm chặt lấy chân cô ta và ngước lên nhìn. “Hôm nay con không đến trường vì bố đi vắng. Hôm qua con cũng không đến được.”
“Cô biết, Cookie, cả lớp nhớ con lắm.”
Cô ta quay sang Wanger như muốn hỏi, “Giờ thì tôi phải làm gì đây?”
Wanger ngồi xổm xuống cạnh thằng bé, cố gắng giữ giọng trầm trầm đầy tự tin và khích lệ. “Cookie này, cháu có nhớ tối hôm bố cháu chui vào trong gầm cầu thang không?”
Cookie nghiêm túc gật đầu.
“Có phải đây là cô đã ở cùng với cháu hôm đó không?”
Họ chờ câu trả lời.
Cuối cùng cô giáo phải tự mình hỏi thằng bé, “Có phải cô không, Cookie?”
Có vẻ như thằng bé sẽ chẳng bao giờ mở miệng. Không khí trong phòng trở nên căng thẳng quá sức chịu đựng, đó là xét về góc độ của những người trưởng thành.
Cô gái hít sâu một hơi, cúi xuống, ấp một bàn tay nhỏ nhắn giữa hai lòng bàn tay mình. “Có phải cô Baker ở đây với con vào tối hôm bố con trốn trong gầm cầu thang không?”, cô ta hỏi.
Lần này thì câu trả lời bất thình lình bung ra từ thằng bé. “Đúng ạ. Cô Baker có ở đây. Cô Baker ăn tối với bố và con, nhớ không ạ?” Nhưng nó đang nói trực tiếp với cô giáo chứ không phải với mọi người.
Cô ta từ từ đứng lên, lắc đầu bối rối, “Ôi, không… Tôi không hiểu sao lại thế…” Ánh mắt mọi người xung quanh dường như vây lấy cô gái. Không ai nói câu gì.
“Cookie này, nhìn cô đi…”
“Đừng, cô đừng tác động lên thằng bé”, Wanger can thiệp, lịch sự nhưng quyết đoán.
“Tôi đâu có định…”, cô gái nói trong vô vọng.
“Phiền cô ra phòng ngoài chờ tôi, cô Baker. Tôi sẽ ra gặp cô ngay.”
Khi ông ra phòng ngoài thì thấy cô gái đang bần thần ngồi một mình trên chiếc ghế tựa lưng vào tường. Từ phòng kế bên vọng ra tiếng một người đàn ông đang bận rộn làm điều gì đó hay đang ra lệnh cho ai khác, nhưng cô ta cũng không buồn để ý. Cô ta cứ ngồi đó, hết mở rồi lại kéo khóa chiếc xắc tay mình mang theo, lặp đi lặp lại nhiều lần. Rồi cô ta ngước lên, nhìn thẳng vào ông, “Tôi thật không hiểu nổi…”
Ông chẳng giải thích cho cô ta bất kỳ điều gì, không khẳng định cũng chẳng phủ định. Hiện giờ thằng bé cũng đang nằm trong quy trình điều tra chính thức. Thế thôi.
Ông chìa một bài tô màu sáp theo mẫu cho cô gái xem. Một con chim cổ đỏ béo ú đậu trên cành cây. “Cô nói với tôi đây là bài tập tô cho chiều hôm thứ Hai và bọn trẻ chỉ mang tranh về nhà một lần trong tuần, vào các ngày thứ Sáu.”
Đôi mắt cô gái dính chặt vào bức tranh lâu hơn mức cần thiết, nếu chỉ để xác nhận. Ông đợi một chút, rồi gập nó lại và cất đi.
“Nhưng bức tranh này lại được tìm thấy ở trong nhà này, cô Baker, vào sáng sớm ngày thứ Ba. Cô nghĩ nó đến đây bằng cách nào?”
Cô ta nhìn theo bức tranh tới khi nó nằm hẳn trong túi của ông thanh tra.
“Tất nhiên, cũng có thể chính thằng bé mang tranh về nhà mà không xin phép vào ngày hôm đó, kể cả khi nó chưa được chấm điểm.” Wanger đưa ra gợi ý, ngầm dò xét thái độ của cô gái.
Cô ta nhìn ngay lên. “Không, tôi không nghĩ là thằng bé mang tranh về. Hôm ấy tôi cho nó về sớm mà, vì mẹ nó đang đợi bên ngoài, muốn đón con đi cùng. Ông cứ hỏi bà Moran thì rõ, nhưng…”
“Tôi hỏi rồi.”
“Ồ, thế thì…” Cô gái đứng dậy, hai má khẽ ửng hồng. “Thế thì chuyện này là sao? Ông tính bẫy tôi ư?”
Ông tỏ thái độ không xác nhận gì cả.
“Việc này đang đặt tôi vào một tình thế khó xử.”
“Không hề”, ông vờ vịt chối. “Sao cô lại nói thế?”
Cô gái nhìn xuống chiếc xắc tay, mở kéo khóa thêm một lần nữa, rồi ngẩng phắt đầu, đứng đối diện ông với thái độ nóng nảy và hừng hực như chính màu tóc của mình vậy. “Mặc dù tôi không hiểu lí do cụ thể, nhưng bài thực nghiệm của ông trong kia không hề công bằng với tôi!”
Ông khéo léo phản đối, lời lẽ trơn tru, “Tại sao lại không công bằng? Thằng bé không biết rõ cô hay sao? Nó chẳng gặp cô năm ngày mỗi tuần còn gì? Bài thực nghiệm vừa rồi không có tính xác thực, cô nói thế cũng được, nhưng rất công bằng.”
“Ông không thấy sao? Suy nghĩ của trẻ con, nhất là ở độ tuổi này, nhạy như chiếc máy ảnh vậy: nó sẽ lưu giữ lại ấn tượng ban đầu. Ông bảo tôi không được tác động lên thằng bé, nhưng người của ông thì chắc chắn gây ảnh hưởng với nó, cho dù vô tình đi nữa, trong mấy ngày vừa qua. Thằng bé đã nghe thấy các ông nói về việc tôi có mặt ở đây nên nó tin là thế thật. Đối với trẻ con, ranh giới giữa sự thực và tưởng tượng rất…”
Ông nói chen vào, kiên nhẫn giải thích, “Cô đã nhầm hoàn toàn về việc chúng tôi tác động lên thằng bé. Thậm chí chưa ai trong chúng tôi từng nghe tới tên cô trước khi thằng bé nhắc đến, thế thì làm sao mà nó có thể nghe thấy chúng tôi nói về cô trước chứ? Thực tế là sau khi nó thốt ra tên cô, chúng tôi đã phải hỏi bà Moran thì mới rõ cô là ai.”
Cô gái không giậm chân, nhưng cái cách cơ thể vận động cho thấy trong thâm tâm cô ta muốn làm như vậy. “Nhưng tôi đến đây làm gì cơ chứ? Ông nói cho tôi biết xem nào? Chẳng nhẽ tôi cứ thế bỏ đi khi chuyện đó xảy ra mà không báo cho ai biết hay sao?”
“Thôi nào.” Ông xòe hai tay ra trước mặt. “Cô đã nói với tôi một lần là mình không có ở đây và tôi chưa hỏi lại cô lần nào cả, đúng không?”
“Tôi nhắc lại luôn là mình không có ở đây. Chắc chắn! Trước ngày hôm nay tôi chưa từng tới ngôi nhà này.”
“Nếu thế thì kệ như vậy đi.” Ông ra dấu đấu dịu, như thể đang nhẹ nhàng ấn một thứ gì đó dưới hai lòng bàn tay. Kiểu gì cũng phải ôn hòa. “Cô không cần phải làm hay nói gì về chuyện đó nữa cả, chỉ cần tóm lược cho tôi hoạt động của mình tối hôm đó là xong. Cô không phản đối chứ?”
Cô gái hạ giọng, “Không, tất nhiên là không rồi.”
“Không có gì nghiêm trọng, chỉ là thủ tục thôi. Chúng tôi cũng hỏi bà Moran câu đó.”
Cô ta lại ngồi xuống, yên lặng suy nghĩ. “Không, tất nhiên…” Sự trầm tư chìm dần thành suy tưởng. “Không…”
Ông hắng giọng. “Cô cứ thong thả.”
“Ồ, xin lỗi. Hình như tôi cứ liên tục mắc lỗi nhỉ?” Cô ta mở rồi kéo lại khóa xắc tay lần cuối cùng. “Học sinh ra về như mọi ngày. Lúc đó là bốn giờ. Đến lúc tôi dọn dẹp xong thì chắc khoảng bốn rưỡi, lúc đó tôi đi về. Tôi có ghé qua phòng trọ ở khu Residence Club, ở đó đến khoảng sáu giờ, nghỉ ngơi rồi giặt giũ một chút. Sau đó tôi ra ngoài ăn tối ở quán dưới phố, chỗ tôi hay đến ấy. Chắc ông cần tên quán nhỉ?”
Ông nhìn cô ta ra chiều xin lỗi.
“Một quán ăn nhỏ tên Karen Marie, chủ quán là một phụ nữ Thụy Điển. Ăn xong tôi đi dạo một chút… à, ờ… khoảng tám giờ thì tôi ghé vào rạp chiếu phim…”
“Chắc cô không nhớ cụ thể được rạp nào?” Ông khẽ khàng gợi ý, như thể đó chỉ là mấy chi tiết vặt vãnh.
“Ồ, có chứ. Là rạp Standard, phim Ông Smith đến Washington. Tôi không hay đi xem phim, nhưng nếu có thì chỉ đến rạp Standard thôi. Như vậy là hết rồi thì phải. Xem xong thì tôi trở về khu nhà trọ, khoảng trước nửa đêm một chút.”
“Tốt lắm, vậy là ổn. Cảm ơn cô nhiều. Như thế là xong việc rồi đấy. Tôi không giữ cô ở đây thêm nữa…”
Cô gái chậm rãi đứng lên, nét mặt không hài lòng chút nào. “Không phải trải qua… những việc thế này… thì tốt hơn. Tôi nghĩ là ta nên làm sáng tỏ mọi chuyện, thế nào cũng được, khi tôi còn đang ở đây.”
Ông nắm lấy một bên cổ tay và xoa xoa nó. “Còn gì để làm rõ đâu. Hình như cô còn nhiệt tình với vụ này hơn cả chúng tôi ấy chứ. Cô không phải lo, cứ sinh hoạt bình thường, quên hết mọi chuyện đi nhé.”
“Vâng…” Cô ta miễn cưỡng rời đi, ngoái lại nhìn một lần cuối cùng trước khi bước hẳn ra ngoài.
Cửa nhà vừa đóng lại sau lưng cô gái thì ông nhảy dựng lên như bị điện giật bắn người. “Myers!” Người đàn ông nãy giờ vẫn đang bận rộn ở phòng bên kia lập tức xuất hiện. “Theo dõi suốt ngày đêm. Đừng để mất dấu cô ta, dù chỉ một phút đấy.” Myers lại biến theo đường cửa sau ra ngoài.
“Brad!” Wanger gọi. Trước khi cầu thang ngừng cọt kẹt với nhịp chạy thình thịch từ trên xuống, ông nói thêm, “Giờ bỏ hết việc ở đây, đến rạp Standard, hỏi tên bộ phim họ chiếu kèm Ông Smith vào tối ngày thứ Hai là gì. Cái lợi của việc chiếu suất đúp là ở chỗ đó, khi cần thì chúng ta có thể xác minh thuận tiện hơn. Sau đó chạy qua quán Karen Marie, hỏi xem cô ta có ăn ở đó không. Tôi sẽ phải xác minh từng mẩu một bằng chứng ngoại phạm của cô ta. Nếu chúng không đủ vững vàng để đở quả tạ tôi thả từ trên cao xuống thì chỉ có Chúa mới giúp được cô ta.”
Hai mươi phút sau, cú điện thoại đầu tiên gọi tới cho Wanger, ông đang ở nhà Moran.
“Này Lew, tôi Bradford đây. Nghe này, tôi còn chẳng phải xác minh với rạp Standard. Nếu ông vẫn muốn biết thì tên bộ phim thứ hai là Năm cây tiêu nhỏ. Nhưng trước tôi thì đã có người đến đó hỏi đúng câu đó rồi, người ta bảo tôi vậy. Cô bán vé còn đang thắc mắc là sao tự nhiên lại có nhiều người quan tâm tới phim hạng B đến thế.”
“Là ai?” Wanger như nhảy chồm lên với người ở đầu dây bên kia.
“Cô ta, Baker, chứ ai. Tôi có mô tả lại. Chắc là cô ta đến thẳng rạp luôn sau khi rời chỗ ông. Ông hài lòng chứ?”
“Rất hài lòng là đằng khác”, Wanger phấn chấn đáp lại. “Xác minh phần còn lại đi. Thằng bé vừa nhớ ra màu áo cô gái mặc tối hôm đó. Lâu lâu nó mới bật ra được một câu, y như lần nó tiết lộ tên cô ta ấy. Xanh sẩm, nhớ chưa? Chạy qua khu nhà trọ Residence Club hỏi xem cô ta mặc áo màu gì khi ra khỏi phòng tối hôm thứ Hai, chắc có người nhớ đấy. Mà làm kín đáo thôi, đừng giơ phù hiệu ra. Cho đến khi bức tranh đã hoàn thiện, tôi không muốn nghi phạm để ý thấy ta đang nghí ngoáy nét cọ. Cậu cứ đóng vai một gã si tình đang đi hỏi han khắp nơi để tìm cho ra một cô gái mình chưa biết tên nhé!”
Nửa giờ sau, Wanger lại tiếp tục nhận được cuộc gọi thứ hai khi ông vẫn ở nhà Moran.
“Vẫn Brad đây. Chúa ơi, bằng chứng ngoại phạm của cô ta tan tành mây khói hết rồi! Lần này chúng ta giăng lưới tóm được một mẻ to đấy!”
“Chà, vẫn cái bản tính bốc đồng như trẻ con ấy. Cứ ở trong ngành này lâu như tôi rồi cậu sẽ thấy, những lúc cậu tưởng mình có được hết mọi thứ lại chính là khi cậu chỉ có hai bàn tay trắng.”
“Thế ông có muốn nghe không, hay tôi cứ ỉm đi một mình nhé?”
“Đừng có tinh tướng, cậu nhóc. Nói đi nào.”
“Cô ta không ăn ở quán Karen Marie vào tối hôm đó! Lúc đầu bà chủ quán Thụy Điển cũng rắn lắm, ra sức bảo vệ cô ta. ‘Đúng đúng, cô í ưn ở đây.’ Sau vụ ở quầy vé thì tôi có một linh cảm hay sao đó, nên tôi đánh liều và thử vận may. Trúng phóc! Tôi hù dọa và nói cứng với bà ta. ‘Bà định lừa ai chứ? Tưởng tôi không biết cô ta vừa vào đây dặn bà trả lời như thế nếu có người hỏi à? Bà muốn yên thân làm ăn hay là muốn dính vào vòng lao lý đây?’
Thế là bà ta nhũn như con chi chi luôn. ‘Đúng thế, bà ta sợ sệt thú nhận. ‘Cô í vừ ở đây xong. Tôi thấy cô í tử tế nên muốn giúp thôi. Nhưng dù sao ông cũng đã bít rùi, tôi hông muốn có rắc rối nào hết.’
Chưa hết đâu, còn nữa! Tôi đã lảng vảng ở sảnh khu trọ Residence Club, bà trông thang máy với lễ tân đều thấy cô ta đi ra ngoài vào tối hôm ấy, lúc đó mặc đồ màu… xanh sẫm!”
“Thỏ con nhảy vào bẫy nào”, Wanger sốt sắng ngân nga.
Cuộc điện thoại thứ ba cho Wanger tới vào ngày hôm sau.
“Lew đấy à? Myers đây. Tôi đang ở ngoài trường mẫu giáo. Tôi bám đuôi cô ta như hình với bóng suốt từ hôm qua tới tận bốn giờ chiều nay. Nhưng giờ mới là chuyện hay này, tôi nghĩ ông muốn biết ngay lập tức. Có thể thông tin này có ích, cũng có thể không. Tôi theo chân đối tượng ngay khi cô ta bước ra khỏi cửa khu trọ, vừa mới đây thôi. Trên đường ra bến xe buýt, tôi thấy có chủ sạp hoa quả chào cô ta, cô ta cũng cười đáp lại. Thế nên tôi chủ động tụt lại và hỏi nhanh người kia để còn kịp lên xe buýt cùng cô ta. Người bán hoa quả kể là cô ta đã mua sáu quả cam Florida vào sáu giờ tối ngày thứ Hai. Tôi chợt nhớ là sáng hôm sau, trong tủ lạnh nhà Moran có hai cốc nước cam mà bà Moran không biết chúng từ đâu ra, cô ấy bảo rằng mình không chuẩn bị nước cam trước khi đi về nhà mẹ.”
“Tôi cũng nhớ chi tiết đó. Vậy là lúc sáu giờ, cô ta đang ở ngoài đường chứ không ở trong phòng theo như lời kể. Cô ta đã mang cam đi đâu đó. Giờ tôi chạy ngay qua đó để hỏi chuyện người phụ trách dọn phòng cô ta xem thế nào. Một điều hay ho về cam, theo tôi thấy, là chẳng ai lại đi ăn vỏ cam cả.”
Cấp trên hỏi Wanger, “Tình hình thế nào rồi hả Lew?”
“Trôi chảy đến mức tôi không dám tin. Tôi còn không dám thở mạnh, chỉ sợ mọi thứ sẽ đổ sụp hết. Sếp có tin được không, cuối cùng tôi đã có trong tay một nghi phạm thực sự, bằng xương bằng thịt, chứ không phải đi đuổi hình bắt bóng nữa. Tôi đã nói chuyện với cô ta, rồi nghe cô ta trả lời mình. Lâu lâu tôi lại phải tự cấu bản thân xem có phải mình đang mơ hay không.”
“Cấu cô ta ấy, như thế thì hiệu quả hơn nhiều.”
“Cô gái này đang bịa ra một núi lời dối trá để tạo bằng chứng ngoại phạm. Tôi từng biết những lời khai có một hoặc hai điểm kẽ hở, nhưng trường hợp này thì y như để bơ gần lửa! Cô gái bảo mình ăn tối ở quán, nhưng thực tế thì cô ta không làm thế. Cô gái bảo mình đi xem phim, nhưng cô ta đâu có đến đó. Cô ta mặc đồ màu xanh sẫm khi ra ngoài. Thằng bé nhà Moran cũng nhận ra cô gái, còn nói thẳng vào mặt cô ta là cô giáo đã ở nhà với bố con nó hôm xảy ra chuyện. Bức tranh thằng bé tô màu tại trường chiều hôm thứ Hai lại được tìm thấy vào sáng sớm hôm thứ Ba ở nhà, trong khi bà Moran đảm bảo là con mình không mang tranh về khi cô ấy đến đón nó ở trường.
Thêm một tình tiết nữa: cô ta đã mua cam Florida tại một sạp hoa quả ven đường gần khu trọ vào lúc sáu giờ tối thứ Hai, mang theo người, đi đâu thì chỉ cô ta mới biết chính xác. Trong tủ lạnh nhà Moran thì có hai cốc nước cam lớn. Bà Moran khẳng định rằng nước cam đó do người khác pha chứ không phải mình. Đúng là trong tủ có để sẵn cam, theo cô ấy nhớ là thế. Nhưng số cam mà cô Baker mua thì đã đi đâu? Chúng không ở trong phòng cô ta từ đầu chí cuối. Tôi đã thẩm vấn người dọn dẹp ở khu trọ, cả tuần nay bà ta chưa hề vứt đi mảnh vỏ cam nào từ phòng đó, đến một hạt cam khô cũng không. Sếp đánh giá thế nào?”
“Nghe như ba cú ăn điểm liên tiếp. Anh cứ để cô gái tự do dò dẫm ngoài kia thêm hai mươi bốn giờ nữa xem cô ta có tự đưa cổ vào tròng tiếp không. Sau đó thì ta chuẩn bị vồ mồi thôi. Nhưng làm gì thì làm, đừng để mất dấu cô gái đấy. Theo dõi cô cả ban ngày lẫn ban đêm…”
“Cả những lúc chập choạng nữa chứ”, Wanger tỉnh bơ sửa lưng sếp.
“Tôi, Wanger đây, thưa sếp.”
“Tôi chờ điện thoại của anh nãy giờ rồi. Tôi thấy đã đến lúc anh dẫn cái cô Baker này về đồn.”
“Tôi cũng định thế, thưa sếp. Tôi đang gọi điện từ sảnh khu trọ Residence Club đây, tôi cần sếp bặt đèn xanh rồi mới lên phòng đón cô ta về được.”
“Được, tôi phê chuẩn. Tôi vừa nhận được báo cáo đầu tiên của người trưởng thành, xác nhận câu chuyện đứa bé đó kể, cho dù chỉ một phần thôi. Một tay tên là Schroeder, sống hơi chếch phía bên kia đường, tình cờ đi tới cửa sổ buồng ngủ để kéo rèm che, đã thấy một người phụ nữ rời nhà Moran ngay trước nửa đêm. Anh ta không nhận diện được cô ta vì khoảng cách xa và trời tối, tất nhiên rồi. Nhưng tôi thấy ta chờ đợi thêm cũng chẳng ích lợi gì.”
“Không, tất nhiên là không có ích lợi gì cả. Nhất là khi tính tới khả năng biến mất của cô ta trong những vụ trước. Khoảng mười lăm đến hai mươi phút nữa là tôi sẽ về.”
Bà trông thang máy định chắn đường Wanger. “Xin lỗi, các quý ông không được phép lên trên phòng.”
“Quý ông cái gì, tôi là thanh tra,” Wanger hơi bực mình, suýt nữa thì nói vậy nhưng kìm lại được. Ông phải thú nhận rằng có những lần đi bắt thủ phạm thú vị hơn lần này nhiều. “Lễ tân đã đồng ý rồi”, ông cáu kỉnh bảo. Bà ta nhìn ra phía sảnh và nhận được dấu hiệu ngầm cho thấy người này được đi lên. Wanger sẽ không bao giờ mạo hiểm đến mức đứng đợi dưới này và chờ người ta gọi cô gái xuống.
Đến tầng bảy thì bà ta mở cửa thang máy cho ông.
“Bà đứng đây đợi tôi. Không cho bất kỳ ai khác đi xuống.”
Bà ta tròn mắt nhìn theo khi ông đi dọc hành lang yên tĩnh và ấm cúng, bà đoán được đây là cảnh sát tới bắt người.
Ông gõ cửa. Cô gái hỏi vọng ra, không có vẻ gì là sợ hãi, “Ai thế?”
“Cô cứ mở cửa ra đi”, ông nhẹ nhàng đáp.
Cô ta ra mở cửa ngay lập tức, vẻ ngạc nhiên còn vương trên gương mặt khi nghe thấy giọng nam giới ở đây. Phía sau lưng cô ta là một chậu đầy tất lụa đang giặt dở.
“Cô cảm phiền đi với tôi được chứ?” Ông nói rõ ràng nhưng không có vẻ hách dịch.
Cô ta buột miệng ra một tiếng kêu yếu ớt.
Ông đứng đợi ở ngưỡng cửa mở trong khi cô gái lục tìm mấy món quần áo trong tủ, không tài nào tìm được cái mình muốn. “Không rõ tại sao tôi lại chẳng hề sợ hãi”, cô ta ấp úng. “Lẽ ra tôi phải cảm thấy thế chứ…” Thật ra cô ta đang rất hoảng sợ, đến nỗi đánh rơi cả mắc áo lẫn áo khoác, phải dùng bàn chải phủi sạch. Sau đó cô ta cứ thế khoác áo lên người mà quên chưa gỡ mắc áo ra.
“Sẽ chẳng có chuyện gì với cô đâu, cô Baker”, ông buồn rầu nói.
“Chắc là tôi không kịp giặt nốt chỗ tất kia rồi, đúng không?”
“Tôi cho rằng cô cứ để vậy thôi.”
Cô gái cau mày, rút cái nút để xả nước trong chậu trước khi đi ra. “Ước gì tôi giặt xong trước khi ông đến đây”, cô ta thở dài. “Liệu tôi có còn quay lại đây nữa không?”, cô ta hỏi trước khi tắt đèn, “Hay… Tôi có nên lấy thêm gì cho tối nay không?” Cô ta đang hoảng sợ vô cùng.
Ông đóng cửa lại cho cô gái.
“Ông thanh tra, tôi chưa bao giờ bị bắt cả”, cô ta nói nhỏ khi đi cùng ông xuống dưới, bước chân líu ríu cố bắt kịp sải chân dài và chậm của Wanger.
“Cô có thôi đi không?”, ông bực dọc làu bàu.
Ông bước vào căn phòng tối mờ mờ, nhìn cô gái, rồi châm một điếu thuốc. Khói thuốc chầm chậm mở rộng phạm vi, mất một chốc để vươn đến luồng sáng đổ xuống từ cái chụp đèn ngay phía trên cô ta. Khi chạm vào ánh sáng, khói thuốc chuyển màu xanh nhạt như một dòng chất lưu trong ống nghiệm. “Khóc lóc chẳng có ích gì đâu”, ông lạnh lùng nói. “Có ai ở đây ngược đãi gì cô đâu. Cô chỉ có thể tự trách bản thân mình thôi.”
“Ông thì làm sao hiểu được…” Cô gái mở lời, hướng về phía giọng của Wanger. “Ông là bên đi bắt người, với ông nó chẳng là gì. Ông biết sao được cái cảm giác đâm xuyên qua cơ thể mình, khi ông đang ngồi yên lành và êm ấm trong phòng thì đột nhiên có người đến bắt ông đi. Dẫn ông rong ruổi khắp tòa nhà mình sống, trước mặt mọi người, dẫn ông đi khắp phố… Cái cảm giác người ta đang tìm hiểu xem có phải ông đã… đã ra tay giết người hay không! Ôi, tôi không chịu nổi đâu! Tối nay tôi thấy kinh sợ cả thế giới này! Tôi thấy mình rơi vào tình cảnh y như trong mấy truyện tôi vẫn kể cho lũ trẻ: bị biến thành mụ phù thủy bởi một tà thuật nào đó.”
Rồi cô ta khóc thút thít, nhưng vẫn cố mỉm cười trong bóng tối với họ, như thể muốn xin lỗi.
Một giọng nói khác vang lên từ đâu đó trong bóng tối ảm đạm trước mặt, “Thế cô nghĩ Moran đã trải qua những gì suốt nửa tiếng cuối cùng trong cái gầm cầu thang đóng kín đó? Cô đâu có nhìn thấy thi thể khi anh ta được đưa ra ngoài. Chúng tôi thì có đấy.”
Cô gái ép lòng bàn tay vào hai bên đầu, chẳng nói chẳng rằng.
“Đừng”, Wanger lên tiếng ở đâu đó bên cạnh. “Cô ta là người nhạy cảm.”
Bà giám hộ tặc lưỡi một cái để thể hiện quan điểm cá nhân về vấn đề đó.
“Tôi không biết đây là án mạng. Tôi không biết ông ấy bị mưu sát có chủ tâm!” Cô gái ngồi trên ghế gỗ nói. “Hôm trước, khi ông đưa tôi đến nhà họ, tôi chỉ nghĩ đơn giản là đã xảy ra tai nạn, ông ấy chẳng may bị nhốt hay thế nào đó, thằng bé thì không nhận thức được mối nguy hiểm đó, thế nên để khỏi bị trách phạt - trẻ con hay làm thế - nó mới bịa ra câu chuyện là tôi có mặt ở nhà.”
Wanger nói, “Như thế cũng không thay đổi được gì trong vụ án này. Bây giờ chúng tôi không bàn với cô về chuyện đó. Cô không ăn tối ở quán của bà chủ Thụy Điển. Cô cũng không đi xem phim ở rạp Standard. Sự thực là cô đã mò đến cả hai chỗ để nhờ họ nói với chúng tôi rằng cô đã ở đó. Giờ thì cô lại băn khoăn tại sao mình phải ngồi đây lúc này.”
Một bàn tay cô giáo trẻ tóm lấy cổ tay kia, cứ thế vặn vặn. Cuối cùng cô ta nói, “Tôi biết… Lúc đó tôi không nhận ra là mình bị theo dõi sớm thế… Chiều hôm đó ông tỏ ra rất thân thiện mà.”
“Chúng tôi không cảnh báo trước đâu.”
“Cũng vì tôi không nghĩ đó là án mạng mà tưởng chỉ là việc đứa bé bịa chuyện thôi nên tôi phải đối phó.” Cô ta hít một hơi thật sâu. “Tôi… ở cùng chồng mình. Anh ấy tên là Larry Stark, đang sống… ở số 420 đường Marcy. Tôi chuẩn bị đồ ăn cho anh ấy rồi ở lại căn hộ cả buổi tối.”
Lời cô gái nói ra không gây được cho ai ấn tượng gì. “Thế sao cô không nói với chúng tôi như vậy ngay từ đầu?”
“Sao mà nói được? Ông không hiểu à? Tôi là giáo viên, tôi không được phép lập gia đình. Người ta mà biết thì tôi sẽ mất việc.”
“Câu chuyện đầu tiên đã tan thành mây khói rồi, nên cô phải kiếm gì đó để thay thế, chứ không thể cứ thế mà nhận tội được. Có lí do gì khiến chúng tôi tin câu chuyện lần này hơn câu chuyện lần trước không?”
“Cứ hỏi Larry… Anh ấy sẽ kể hết! Chồng tôi sẽ nói là tôi ở đó với anh ấy cả buổi.”
“Tất nhiên là chúng tôi sẽ xác minh với anh ta. Cũng có khả năng là Larry sẽ nói với chúng tôi rằng cô đã ở đó với anh ta. Nhưng thằng bé nhà Moran cũng nói với chúng tôi rằng cô đã ở đó với nó. Tờ bài tập tô màu cũng tố cáo với chúng tôi rằng cô đã ở đó với thằng bé. Hai cốc nước cam trong tủ lạnh cũng cho chúng tôi biết rằng cô đã ở đó với thằng bé. Chiếc áo xanh sẫm cô mặc cũng lộ ra cho chúng tôi biết rằng cô ở đó với thằng bé. Ngoài ra thì chính những hành vi của cô mấy ngày trở lại đây cũng cho chúng tôi thấy rằng cô ở đó với thằng bé. Mọi việc đều khớp với nhau, cô gái ạ.”
Cô giáo trẻ không đáp trả được lời nào, liền hít một hơi thật sâu, cứ để đầu ngả ra tựa vào lưng ghế.
Chợt có ánh đèn hành lang vàng vọt hắt vào trong màn tối vây quanh cô gái và một giọng nói vọng vào, “Cấp trên cho gọi cô ta đấy.”
Wanger kéo ghế ra. “Đã quá muộn để bịa ra câu chuyện mới rồi. Cô có kể chuyện này ngay từ đầu thì sự việc cũng không khác gì đâu. Nhưng giờ mọi việc đã vào guồng rồi, cô Baker, như con tàu đã lăn bánh, giữa chừng có đổi sang chuyến tàu khác cũng chẳng ích gì. Cô sẽ chỉ mắc kẹt giữa chúng mà thôi.”
Bàn tay ông vươn ra từ trong bóng tối, thâm nhập vào luồng sáng đổ từ trên trần và hướng về phía cô gái.
Cô giáo trẻ lại bật khóc không thành tiếng, khi bà giám hộ cùng Wanger đưa cô ta đến trước bàn sếp cẩm.
“Đây là cô gái trẻ đó sao?” Vào một hoàn cảnh khác, người ta có thể nhầm rằng đây là một câu làm quen thân thiện, nhưng trong trường hợp này thì không phải.
Điện thoại trên bàn đổ chuông.
Reng reng reng.
Ông ta nói, “Chờ một chút”, rồi nhấc máy, “Ai cơ? Phải, Wanger đang ở đây, nhưng tôi không thể nối máy được. Nếu cần gì…”
Ông ta hạ giọng, nhìn Wanger ở phía bên kia bàn. “Có người cần nói chuyện với anh về cô gái anh vừa bắt về đồn. Nghe máy đi, xem có gì mới không.”
Ông ra hiệu cho bà giám hộ cùng cô Baker bước ra ngoài.
“Chắc là người chồng”, Wanger lẩm nhẩm, bước vòng qua bên kia bàn, nhấc máy lên.
Đầu dây bên kia là một người phụ nữ, “Xin chào. Cho hỏi có phải ông Wanger đó không?”
“Đúng, tôi đây. Cô là ai mà…” Ông thận trọng dò hỏi.
Người kia cắt lời ông dễ dàng như dao sắc cắt qua bơ, “Cứ để mình tôi nói là được. Ông vừa bắt về đồn một cô gái sống ở khu trọ Residence Club dành riêng cho nữ giới. Cô gái này tên là Baker, giáo viên mầm non. Có đúng không? Tôi nói luôn để ông biết là cô ấy chẳng liên quan gì tới việc xảy ra với Moran trong cái gầm cầu thang đó. Tôi chẳng để tâm xem ông điều tra theo hướng nào, ông tưởng mình biết được gì hay những bằng chứng ông tự cho là đã tìm được.”
Wanger bắt đầu thấy ngứa ngáy như có kiến bò trên người. Ông bịt kín ống nói, đồng thời ra hiệu Dò cuộc gọi này ngay! với sếp.
Người kia như đọc được suy nghĩ đó. “Phải đấy, ông cứ dò ngược cuộc gọi đi. Tôi sắp cúp máy rồi nên đừng phí thời gian làm gì. Nếu ông còn có chút băn khoăn nào và cho rằng tôi chỉ gọi đến nói bừa, thì tôi đọc cho ông nội dung lời nhắn trên chăn của thằng bé: ‘Bà Moran, con trai bà thật đáng yêu. Tôi để thằng bé ở nơi nó được an toàn cho đến khi bà về, vì tôi không muốn bất kỳ điều gì không hay xảy ra với nó.’ Cô Baker không thể nào biết được lời nhắn đó vì ông chưa để lộ ra ngoài. Họ có cái đài hiệu Philco, ông ta đọc tờ báo Sun, tôi đã làm món trứng chưng cho bữa ăn cuối cùng của ông ta. Trong tủ có hai chiếc áo mưa mốc. Xì gà của ông ta cháy hết nhưng chưa ra thành tro, đặt ở cạnh ghế, nơi ông ta ngồi lần cuối. Thả cô ấy ra đi. Vĩnh biệt ông. Chúc may mắn!”
Cạch.
Chiếc điện thoại còn lại trên bàn đổ chuông ngay sau đó.
“Là bốt điện thoại công cộng ở hiệu thuốc Neumann, góc đường Dale giao với đường Hai Mươi Ba.”
Wanger chút nữa là xô đổ cả cửa, chẳng buồn đóng lại khi ông chạy ra.
Sáu phút mười tám giây sau, thở hổn hển không ra hơi, ông túm lấy người đang đứng sau quầy thu ngân và hỏi “Ai vừa gọi điện từ cái bốt ở giữa kia? Bóng đèn trong đó vẫn còn ấm.”
Ông chủ cửa hàng nhún vai ra chiều không giúp được gì. “Một người phụ nữ. Tôi có biết người đó không nhỉ?”
Báo cáo của Wanger về vụ Frank Moran:
Vật chứng:
1 lời nhắn viết bằng chữ in hoa, đính vào chăn trên giường thằng bé.
1 bức tranh tô màu. Có thể là người lớn bắt chước trẻ con tô màu.
Vụ án vẫn để ngỏ.