Miriam - chẳng còn ai trong khách sạn Helena nhớ rõ họ bà là gì - có dáng người thấp, nước da nâu bóng như da thuộc và bản tính hay càu nhàu. Bà có ba điều cố chấp: thứ nhất là quốc tịch Anh, vốn tình cờ bà có được nhờ ngẫu nhiên chào đời trên đảo Jamaica; thứ hai là đôi khuyên tai đồng xu bằng vàng và thứ ba là “cung cách” bà dọn phòng. Chưa có ai buồn can thiệp vào hai điều đầu tiên bao giờ, nhưng vài người từng có ý định thay đổi điều thứ ba đều thất bại thảm hại.
“Cung cách” này chẳng liên quan gì tới sự tăng tiến số phòng. Vị trí của các phòng trong dãy hành lang ọp ẹp và mấp mô cũng chẳng phải lí do. Thực tế cho thấy nó là một công thức số học bí ẩn nào đó mà chỉ có đầu óc của bà mới hiểu nổi. Không ai can thiệp được - hình phạt dành cho kẻ cả gan là hàng tràng những lời cằn nhằn vô tận dọc theo hành lang như mê cung, kéo dài hàng giờ liền và còn tiếp tục lâu sau khi nguyên nhân thực sự đã trôi qua trong bực bội.
“Số mười bốn sẽ được dọn sau số mười bảy. Phải đợi tôi làm xong số mười bảy đã. Tôi chẳng bao giờ làm số mười bốn trước cả.”
Sự ưu tiên này cũng chẳng có liên hệ gì với tiền boa - vốn hiếm khi xuất hiện ở khách sạn Helena. Thói quen, có lẽ vậy, là suy đoán gần nhất cho cách suy nghĩ đầy cảm tính của Miriam.
“Cung cách” làm việc chỉ định Miriam sẽ bận rộn ở “số mười chín” vào đúng giờ này trong ngày. Bà một tay cầm xô, một tay cầm cái cán dài gắn một túm sợi vải te tua, đi đến đầu kia của hành lang mốc meo.
Bà dừng lại trước “số mười chín”, cầm ngược chìa khóa phòng rồi gõ nó hai lần lên cánh cửa. Đây đơn thuần chỉ là thủ tục, bà sẽ nổi giận khi thấy “số mười chín” vẫn còn ở trong phòng, như thể “cung cách” vốn có bị xâm phạm. “Số mười chín” chưa bao giờ ở trong phòng vào giờ này. “Số mười chín” không có quyền ở trong phòng vào giờ này.
Hành động gõ chìa khóa lên cửa không phải là thủ tục theo quy định của khách sạn. Đó chỉ là phản xạ. Bà chẳng thể bước qua cái cửa nào mà không gõ lên đó trước, đến nỗi khi về đến chính phòng của mình vào cuối ngày, bà vẫn lặp lại cái động tác gõ cạch cạch lên cánh cửa rồi mới cắm chìa vào ổ khóa.
Bà khó nhọc đẩy cánh cửa ra rồi bước vào trong căn phòng nhỏ, bài trí sơ sài. Họa tiết trang trí trên thảm đã mòn không còn nhận ra hình thù gì nữa, trên sàn lát gỗ chỉ còn lại những mảng nấm mốc xanh xám. Cách ngoài cửa sổ vài bước là một bức tường gạch trắng tinh chắn ngang tầm mắt, ánh sáng gần như phải bẻ gập mình xuống mới chui được qua khe hở giữa tường và cửa sổ. Giá không có ánh sáng đó thì căn phòng vẫn còn có thể duy trì được cái ảo giác về sự sạch sẽ, vì lúc này trong tia nắng chiếu chỉ thấy toàn những hạt bụi bay lơ lửng như một viên sủi được thả vào nước.
Bức tường ngay phía trên giường là nơi treo một dãy ảnh đủ cỡ chụp các cô gái, tất cả đều được đóng khung lồng kính cẩn thận. Miriam chả buồn liếc mắt nhìn mấy bức ảnh. Phần lớn chúng đã ở đó vài năm rồi. Cô gái mà “số mười chín” hiện đang qua lại sẽ chẳng bao giờ có mặt trên đó, cô ta từng nói thế, vì cô ta không có đủ tiền chụp ảnh còn anh ta chẳng có đủ tiền mua đinh, khung và kính để treo nó lên. Với lại cũng chẳng còn khoảng trống nào ở đó để treo thêm. Khó mà bắt đầu lại trên một bức tường mới tinh ở tuổi này. Nếu anh ta chưa phải là lớn tuổi thì cũng bắt đầu mấp mé ngưỡng đó rồi. Chuyện chẳng có gì để bàn nữa.
Giường đã dọn xong, đẩy đám bụi xoay vòng vòng trong chùm sáng chiếu từ cửa sổ. Miriam mau mắn khép cửa lại, nhưng không đóng hẳn, với thái độ thách thức. Bà cần gì phải tỏ ra lén lén lút lút. Thậm chí bà còn nói tướng lên, “Giấu giếm, giấu giếm luôn thôi. Anh ta nghĩ ai sẽ ăn trộm cái của này chứ? Ai mà thèm chứ?”
Bà lấy tay chùi miệng cho khô, như để chuẩn bị, rồi mở cửa tủ, cúi xuống lục lọi đống quần áo nhàu nhĩ ở trong góc, lôi ra một chai rượu gin như thể người ta tóm được thỏ từ dưới hang vậy.
Bà chẳng hề hài lòng khi thấy cái chai mà chỉ tỏ vẻ phẫn nộ. “Anh ta nghĩ ai sẽ vào đây chứ, ngoài mình ra? Anh ta biết thừa là chẳng có ai vào đây ngoài mình cả! Sao lại dám nghi ngờ người khác như thế chứ?”
Bà khẽ nghiêng cái chai rồi lại hạ xuống, cầm nó bước tới chậu rửa, kề miệng chai vào vòi nước. Khéo léo nhờ đã thực hành nhiều lần, bà chẳng gặp khó khăn gì mấy khi đẩy miệng chai vào dòng nước rồi rút ra, canh sao cho đủ để bù lại đúng lượng rượu đã vơi lúc nãy. Việc này không phức tạp lắm. Ai đó đã nghi ngờ mà đánh dấu mấy vết chì mờ mờ lên bốn cạnh vỏ chai rồi. Giờ thì bà đã khỏa lấp được phần tội lỗi mà lúc nãy miệng mình đã gây ra với chai rượu.
Giờ cảm giác khó chịu lại trào dâng trong lồng ngực bà. “Đồ hà tiện! Đồ keo kiệt!”, chất lửa vùng Caribê nơi bà bùng lên, đôi khuyên vàng kêu lanh canh hưởng ứng. “Anh phải biết là tôi rất bực nếu không được người ta tin tưởng!”
Bà đặt cái chai về chỗ cũ, đóng cửa tủ lại, mở ra cửa như cũ để sẵn sàng cho giai đoạn hai của công cuộc dọn vệ sinh phòng, gồm những động tác khua khoắng cái cán đính túm sợi vải xơ xác ở chỗ này chỗ kia dưới chân tường, như người ta đâm cá hồi ở suối.
Trong lúc bận bịu với những động tác khó hiểu đó thì bà chợt nhận thấy có người đang nhìn mình. Bà xoay người lại thì thấy một quý cô đang đứng ở hành lang, nhìn vào trong phòng. Miriam liếc qua một cái là biết người phụ nữ không sống trong khách sạn này, cô ta nhanh chóng chiếm một vị trí cao trên thước đánh giá của Miriam. Đối với bà thì chỉ có hai loại người: dạng người kém cỏi luôn bị bà coi thường, và ở phía đối lập là dạng người đáng được kính trọng và đối xử mềm mỏng. Thế thôi.
“Gì vậy, thưa cô?” Bà xởi lởi hỏi han. “Cô tìm ông Mitchell à?”
Người phụ nữ trả lời mới thân thiện và êm tai làm sao. “Không”, cô ta cười. “Tôi ghé qua thăm bạn ở đây, nhưng cô ấy không có nhà. Tôi tính quay lại thang máy nhưng hình như tôi đi lạc mất rồi…”
Miriam tựa vào cán cây lau nhà, như người chèo đò sông Venice tựa vào mái chèo nghỉ ngơi, thầm hi vọng quý cô này không vội đi ngay.
Người phụ nữ không bỏ đi. Cô ta thậm chí còn bước lại gần hơn, nhưng vẫn đứng ngoài khuôn khổ căn phòng. Cô ta tạo cho Miriam ấn tượng bị lấn át, kể cả trong đối thoại.
Miriam cố gắng tạo dáng dưới khối ánh sáng mờ mờ hắt từ cửa sổ, uốn éo quanh cán cây lau nhà đầy háo hức.
“Chị biết không”, cô ta tâm sự thân mật như những người chị em, “tôi lúc nào cũng nghĩ là chỉ cần quan sát căn phòng của một người xem họ sống thế nào, ta có thể đánh giá khá nhiều về người đó.”
“Phải đấy, cô nói đúng đấy”, Miriam nhiệt tình hưởng ứng.
“Lấy ngay phòng này làm ví dụ… Khi chị còn đang bận dọn dẹp thì tôi tình cờ đi qua cửa. Tôi không biết gì về người sống trong phòng này…”
“Ông Mitchell?” Miriam lúc này cứ như bị thôi miên. Cằm bà tì xuống đầu cán cây lau nhà.
Người phụ nữ khẽ phẩy tay. “Mitchell hay tên gì cũng thế… Tôi không biết ông ta, cũng chưa bao giờ gặp. Nhưng để tôi nói xem căn phòng này cho tôi biết điều gì về ông ta nhé… Nếu thấy tôi sai thì chị chỉnh lại cũng được.”
Miriam lúc lắc đôi vai với sự vui thích khó giấu. “Hay lắm”, bà nói không ra hơi. Việc này cũng thú vị chẳng kém gì xem chỉ tay, mà lại miễn phí nữa.
“Ông ta không ngăn nắp. Cà vạt vắt lung tung trên giá treo đèn…”
“Ông ta bừa bãi lắm”, Miriam hùng hổ xác nhận.
“Ông ta cũng không khá giả gì. Nhưng tất nhiên bản thân khách sạn này cũng nói lên điều đó rồi. Không đắt đỏ lắm…”
“Ông ta thiếu tháng rưỡi tiền nhà tám năm liên tiếp rồi!” Miriam hậm hực đáp.
Người phụ nữ tạm ngừng lời - không phải để gây áp lực lên đối phương mà dường như cô ta muốn suy xét cẩn trọng lời nói trước khi thốt ra. “Ông ta không làm việc”, cuối cùng cô ta nói. “Có một tờ báo sớm* ngày hôm nay vứt trong sọt rác kia. Đứng đây tôi cũng thấy. Rõ ràng là ông ta ngủ đến tận trưa, đọc báo một chút rồi đi ra ngoài cả ngày…”
Khác với báo thường, báo sớm được phát hành từ ngày hôm trước. Ví dụ: tuần báo Chủ nhật bán bản báo sớm từ chiều thứ Bảy và bán bản báo thường vào đúng hôm Chủ nhật.
Miriam gật gù tán thưởng, không thể rời mắt khỏi quý cô thông thái và duyên dáng này. Giả như cán cây lau nhà có trượt đi dưới sức nặng cơ thể, hẳn bà vẫn không hay biết mà tiếp tục duy trì cái tư thế hơi nghiêng người về phía trước này. “Đúng là ông ta thất nghiệp. Ông ta sống nhờ khoản tiền trợ cấp lính tráng nào đó, mỗi tháng một lần, tôi chả biết cụ thể là gì.” Bà lắc đầu như không tin nổi. “Trời ơi, cô giỏi thật đấy.”
“Ông ta là người cô độc, không có nhiều bạn bè.” Mắt cô ta lướt trên bức tường. “Tất cả những bức ảnh kia… Chúng là dấu hiệu của một người cô độc, chứ không phải một người quảng giao. Nếu có bạn bè thì ông ta cần ảnh đó làm gì cơ chứ.”
Miriam chưa từng nhìn nhận theo hướng này trước đây. Nếu như mấy bức ảnh này có ý nghĩa gì đó với bà - bao nhiêu năm nay chúng chẳng có ý nghĩa gì cả - thì hẳn đó là sự hư hỏng trong suy nghĩ của chủ nhà, là ham muốn đen tối của ông ta. Lúc đầu chính bà cũng phải nói tướng lên một hai lần gì đó khi nhìn thấy chúng, “Đúng là mấy hình bậy bạ mà.”
“Kể cả như”, quý cô nói tiếp, “ông ta thực sự quen tất cả mấy cô gái ấy đi nữa… mà chắc là không phải… thì ông ta chỉ có thể quen lần lượt từng người, chứ không nhiều cô một lúc được. Có kiểu bịt tai phụ nữ hay đeo hồi chiến tranh mới kết thúc, có mốt tóc ngắn uốn cụp như búp bê Nhật Bản từ thập niên hai mươi, có cả kiểu tóc suôn thẳng chạm vai rộ lên vài năm trước…”
Miriam phải ngoái đầu lại nhìn lên nhìn xuống bức tường phía sau, đầu cán cây lau nhà lúc này tì lên trên một bên tai. Bà còn di di nhẹ nhàng cái cán để gãi đầu.
“Ông ta chưa thực sự tìm được người con gái trong mộng. Nếu không đã chẳng có nhiều ảnh thế kia trên tường. Đáng ra đã chẳng có bức nào. Nhưng mà…” Cô ta gõ gõ nhẹ vào một chiếc răng ở hàm dưới ra chiều suy nghĩ. “Hòa trộn tất cả vào thành một bức ảnh tổng thể thì ta biết là ông ta đang tìm kiểu phụ nữ nào.”
“Quỷ thần ơi!” Miriam thốt lên. Hiển nhiên bà còn chẳng biết là ông ta đang tìm kiếm gì đó. Hay ít nhất là không phải điều người ta bàn luận đến một cách lịch thiệp.
“Ông ta đang tìm kiếm điều gì đó bí ẩn. Một ảo ảnh. Một cô gái chẳng bao giờ có trên đời này mà chỉ tồn tại trong chính trí tưởng tượng của ông ta. Một sinh vật lang bạt khắp chốn, không vấn vương cuộc sống trần tục này, cũng không bị bất cứ điều gì ràng buộc. Một tiên nữ. Một nàng Mata Hari*.”
Mata Hari: Nghệ danh của Margaretha Geertruida, một vũ nữ người Hà Lan, người làm điệp viên nhị trùng cho Pháp và Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ Nhất.
“Ai cơ?” Miriam cảnh giác hỏi, quay đầu dò xét.
“Cứ nhìn những cô gái trên kia mà xem. Không bức ảnh nào nào thể hiện bản chất thực sự của người mẫu cả: được lấy nét mềm trước nền voan lụa, tỏa ánh hào quang giữa một màn sương mờ ảo, đôi mắt ló ra sau chiếc quạt, liếc mắt đưa tình với máy ảnh qua tấm gương, cắn một cành hồng…” Cô ta khẽ cười, nụ cười không hẳn là cay nghiệt. “Người đàn ông và những giấc mơ.”
“Tôi nghĩ là ông ta sẽ chẳng bao giờ tìm được người phụ nữ giống như mình mong ước”, Miriam ướm lời.
“Cái đó cũng khó nói lắm”, người phụ nữ đứng ở khung cửa mỉm cười. “Khó nói lắm.”
Rồi đột nhiên, cô ta nghiêng đầu về phía Miriam hỏi. “Nói thật cho tôi biết, từ nãy tới giờ tôi đoán đúng nhiều hơn sai phỏng?”
“Cô đã đúng về tất cả các điều”, Miriam sung sướng đáp.
“Đấy, đấy. Đó chính là điều tôi muốn nói. Tôi còn có thể cho chị thấy một căn phòng trống nói lên điều gì nữa cơ.”
“Vâng, vâng, tôi rất sẵn lòng nghe!”
“À mà tôi không làm phiền chị nữa.” Quý cô khẽ vẫy vẫy tay đầy thân mật, kèm theo một nụ cười nồng ấm báo hiệu sự chia tay rồi xoay người bước đi.
Miriam thở dài nuối tiếc nhìn khuôn cửa trống. Bà dựa cán cây lau nhà vào tường, bước ra cửa nhìn người phụ nữ đi hết hành lang rồi rẽ. Đến cả hành lang cũng trở nên trống trải.
Bà lại thở dài, não nuột hơn bao giờ hết. Cuộc đối thoại mới thú vị và bổ ích làm sao! Tiếc là nó kết thúc chóng quá, nhẽ ra phải kéo dài thêm một chút nữa, đến khi bà dọn xong một phòng nữa chẳng hạn.
Tiếng cửa thang máy khẽ vọng lại từ đằng xa, chỗ góc khuất hành lang. Giờ quý cô ấy đã đi hẳn rồi. Miriam miễn cưỡng quay trở vào phòng làm nốt công việc dở dang.
“Quý cô này hay thật”, bà lầm bầm tiếc rẻ. “Nhưng chắc là cô ấy sẽ chẳng quay lại đây nữa đâu.”