Chiếc xe mui trần của Holmes chầm chậm bò với tốc độ của một con sên như mọi ngày, tận hưởng khoảng không rộng rãi trên con đường. Con chó bẹc giê Đức ngồi như tượng ở ghế bên. Đúng lúc đó có một chiếc taxi cùng chiều phóng vụt qua. Gã có thói quen lái xe chầm chậm như vậy - đi chậm để suy nghĩ. Gã thấy rằng gã suy nghĩ được nhiều hơn, giải quyết được nhiều hơn khi gã ở một mình, đánh xe ra ngoài hít thở không khí, di chuyển không có mục đích cụ thể.
Gã không đoan chắc được, tất nhiên rồi, nhưng hình như trên chiếc taxi lúc trước có một cô gái ngồi ở ghế sau. Lí do gã nhận thấy điều đó là vì phần sau đầu của cô gái ở chính giữa khoảng kính nhỏ hình trái xoan phía sau thân xe, mà nếu có hai người khách trở lên trên xe thì thường là họ phải chia ghế ra mà ngồi, không thể có trường hợp thế được.
Nhẽ ra đến lúc gã đến chỗ rẽ vào lối về nhà thì chiếc taxi đã phải đi xa lắm rồi, theo tốc độ lúc trước nó chạy như tên bắn, nhưng gã ngạc nhiên khi thấy nó vẫn ở phía trước khi gã lên đến đỉnh đoạn dốc cuối cùng. Chiếc taxi lúc này lại đang lăn bánh một cách rất thong thả như thể hành khách đang tìm địa chỉ nơi đến mà chưa được.
Đúng lúc chiếc xe đến đối diện lối rẽ có biển báo rõ ràng chăng ngang, “Đường nhà T. Holmes, cấm vào!”, thì có ba tiếng hét chói tai từ chiếc taxi vọng ra. Ngay tiếp đó là cửa xe bật mở, từ bên trong có một cô gái không rõ là nhảy ra hay bị đẩy ra khỏi xe, rơi xuống phần đất mềm bên cạnh lề đường. Cô ta lăn cả người một vòng, rồi vật nghiêng sang một bên. Chiếc taxi bắt tốc độ, lao đi vun vút về phía con đường, đèn hậu xe như hai con mắt đỏ ngầu, giận dữ.
Holmes dừng xe ở đối diện bên kia đường, ngồi một lát rồi ra khỏi xe. Cô gái lúc này đã ngồi nghiêng dậy được rồi, hai tay ôm lấy cổ chân. Con chó bẹc giê Đức chẳng chịu xuống theo mà cứ ngồi lì trên xe, ra điều yêu cái xe hơn ông chủ mình.
“Cô có đau không?” Holmes cúi xuống chỗ cô gái, lấy tay xốc nách, giúp cô ta đứng lên. Lập tức cô ta tựa hoàn toàn vào người gã.
“Tôi chỉ đứng được một chân thôi. Tôi biết làm gì bây giờ?”
“Có lẽ cô nên vào nhà tôi một lúc. Ở ngay đằng kia thôi, gần lắm.”
Gã đỡ cô gái lên xe, đi nốt quãng đường còn lại trên lối đi riêng, lại dìu cô ta ra khỏi xe khi dừng lại phía trước một căn nhà nông thôn nhưng đã được cải tạo lại cho hợp với một cư dân đô thị. Con chó đến lúc này cũng chẳng buồn đi theo hai người, mà phải đến lúc Holmes quay lại gọi, “Mày có vào không thì bảo? Hay mày muốn ở ngoài cả đêm?”, thì nó mới nhảy qua thành xe, tự chạy đến cửa trước với dáng vẻ ta đây không phụ thuộc vào ai cả.
Một người nam giúp việc đáp lại tiếng gõ từ cái núm sắt đính sẵn trên cửa. Ông ta chào Holmes với vẻ thân thiện của hai người đã biết nhau từ lâu. “Ông đã có ý nào hay để kết thúc cái chương đang khiến mình đau đầu đó chưa?”
“Có một ý rồi đây”, Holmes nói, mặt đầy tâm trạng, “nhưng nó cũng lại tuột ra khỏi đầu tôi mất rồi. Cô gái trẻ này gặp chuyện không may. Giúp cô ấy vào ghế ngồi đi, rồi ra đánh xe cất đi cho tôi.”
Cả hai người cùng đỡ cô gái đi vào phòng khách có lát gỗ thông chạy dọc suốt chiều dài ngôi nhà. Trong phòng có một lò sưởi hình nón rất lớn, tạo thành hình nhờ những viên đá tròn ở hai bên, từ sàn lên tới tận trần nhà. Có nghĩa là viền của lò sưởi chạm tới tận trần, nhưng phần lò chính thì chỉ đến khoảng ngang vai đổ xuống.
Cô ta cố gắng dừng lại và hạ người xuống khi được đỡ tới một cái ghế bành khá lớn đặt ngay trước lò sưởi, lưng quay về phía ánh lửa bập bùng. Người giúp việc thấy vậy liền tiếp tục đỡ cô ta di chuyển tiếp về phía trước, cách đó vài bước. “Không ngồi ghế đó được - đó là ghế sáng tác của ông ấy.”
Holmes ngồi xuống, chăm chú quan sát khuôn mặt cô nhờ ánh lửa soi sáng kết hợp với ánh phản chiếu từ trần nhà. Chắc ngôi nhà này dùng máy phát điện cá nhân nên mới thiếu điện như vậy.
Cô gái còn trẻ, cô ta càng cố tỏ ra già dặn thì càng lộ vẻ non nớt. Mười tám, mười chín tuổi - xét về bề ngoài. Tóc cô ta hồi nhỏ có thể màu vàng, nhưng giờ đã ngả màu hạt dẻ, đâu đó còn một vài dấu vết tóc vàng sót lại. Mắt cô ta xanh biếc.
Trên người cô ta lúc này có cỏ và vết bùn đất, kết qụả của việc lăn ở vệ đường lúc trước. Cô ta chỉ lấy tay phủi nhè nhẹ, cứ như không thích chúng bị hỏng trước khi biết chắc là gã đã nhận ra được tình trạng tồi tệ của mình lúc này.
“Chuyện lúc nãy là thế nào?” Gã hỏi ngay khi Sam vừa đi ra để đánh xe cất đi.
“Bình thường ấy mà. Mỗi khi ông thấy có cô gái nào ra khỏi xe mà không chờ cho xe dừng lại thì ông tự rút ra kết luận được rồi.”
“Nhưng đấy là xe taxi từ thành phố đến cơ mà, đúng không?” Gã thấy có điều gì đó không hợp lí về điều này.
“Những việc xảy ra trong đó là những việc ở thành phố.” Cô gái có vẻ như không muốn nói tiếp về điều đó.
“Tôi nghĩ là nên gọi bác sĩ đến xem chân cô có làm sao không.”
Cô ta không hứng thú lắm với lời đề nghị của gã.
“Tôi nghĩ cứ kệ nó thế thì cũng đỡ thôi.”
“Từ nãy đến giờ chưa thấy đỡ chút nào”, gã làm rõ.
Cô gái khẽ co chân lại về phía sau một chút để vết đau không được rõ ràng khi quan sát.
Sam đã quay lại. “Sam, quanh đây có bác sĩ nào gần không?”
“Bác sĩ Johnson. Ông ấy không quen nhà này nhưng tôi đi tìm cũng được, nếu ông muốn.”
“Giờ cũng muộn rồi… e là ông ấy không chịu đến đâu”, cô gái nói.
Sam quay lại thông báo, “Nửa giờ nữa ông ấy sẽ có mặt.”
Cô ta chỉ đáp, “Ồ”, có vẻ thất vọng.
Một lúc sau, khi tất cả đang chờ bác sĩ, cô ta nói, “Tôi vẫn luôn tự hỏi là ông như thế nào.”
“Ồ, vậy ra cô biết tôi là ai ư?”
“Ai mà không biết chứ? Tôi đã đọc tất cả các tác phẩm của ông, không sót cuốn nào.” Cô ta thở dài, trầm tư. “Giờ thì được ngồi đây, cùng phòng với ông.”
Gã quay mặt đi. “Đừng nói tới chuyện đó.”
“Ít ra thì tôi thấy ông đúng như mẫu người tôi nghĩ”, cô ta nói tiếp, bất chấp thái độ đó. “Ý tôi là có nhiều người viết những tác phẩm máu me ghê gớm thực ra lại là những người nhút nhát, gầy gò trốn mình trong chăn. Còn ông thì vẫn là người các cô gái yêu thích.”
“Cô ngộ chữ mất rồi”, gã nhận xét vẻ bực tức.
Ánh mắt cô ta lang thang trên trần nhà nhấp nháy ánh phản chiếu hình sóng biển. “Ông sống trong ngôi nhà to thế này một mình sao?”
“Tôi đến đây để làm việc.” Nếu có một chút ý gì lịch sự trong đó thì nó cũng không dành cho cô ta.
“Cái lò sưởi này hay thật. Tôi thấy ông đứng vào bên trong cũng vừa ấy.”
“Ngày xưa, người ta hun khói thịt lợn với gà tây nguyên con ở trong đó. Trong ống khói vẫn còn mấy cái móc sắt để lại từ thời đó đấy. So với bây giờ thì to quá, mất thời gian châm lửa, làm lò nóng lên. Thế nên tôi cho nó thấp xuống bằng cách ốp thêm dần dần các lớp trần phía trên và hai bên sườn.”
“A, tôi cũng để ý thấy khe hẹp chạy xung quanh mép lò. Lúc đầu tôi còn tưởng là do đá bị lỗi gì đó.”
Sam đang bận rộn khơi lò bằng một cái que sắt khá nặng thì ông bác sĩ tới gọi cửa. Sam đứng lên, đi ra mở cửa đón bác sĩ. Holmes cũng đi theo ra bên ngoài chào khách và hình như gã nghe thấy cô gái khẽ kêu lên một tiếng đau đớn đằng sau lưng, nhưng tiếng ông bác sĩ đi vào đã át đi âm thanh đó.
Khi mọi người đi vào, khuôn mặt cô ta đang khá nhăn nhó, bao nhiêu màu sắc trên mặt giờ đã tan biết hết cả. Thanh sắt cời lò nằm ngang trên sàn như vừa mới tự đổ ra.
“Để tôi xem nào”, bác sĩ nói. Ông ta nhẹ nhàng lấy đầu ngón tay ấn kiểm tra. Cô gái nhăn nhó và buông một tiếng kêu nho nhỏ. Bác sĩ tặc lưỡi. “Chỗ này sưng cũng lớn đấy, nhưng may là không phải bong gân. Tôi cho rằng khả năng là do rạn xương vì bị cái gì đó nặng rơi vào. Lấy vải mềm bó lại. Cô không được đi lại bằng chân đó một, hai ngày đấy. Thế thì mới lành được.”
Ngay cả khi những giọt nước mắt đau đớn tràn ra hai khóe mắt thì cái nhìn của cô ta dành cho Holmes có vẻ đang giấu đi một điều gì đó gần với sự thắng lợi.
Sau khi bác sĩ đã về, gã nói, “Tôi không biết sắp xếp thế nào bây giờ. Ga cách đây bốn mươi phút, mà tôi cũng không biết giờ này còn chuyến tàu nào nữa không. Tôi có thể tự đánh xe đưa cô về thành phố, nhưng đến nơi thì cũng sáng rồi.”
“Tôi ở lại không được sao?” Cô ta buồn rầu nói, “Tôi sẽ không làm phiền ông đâu.”
“Không phải chuyện đó. Tôi độc thân mà lại sống một mình trong nhà này. Sam cũng ngủ ngoài ga ra cơ.”
“Ồ.” Cô ta coi chuyện đó là chuyện nhỏ. “Có con chó là đủ bảo vệ rồi mà.”
“À, ờ, thế gia đình cô không lo lắng nếu cô ngủ đêm ở bên ngoài hay sao?”
Tiếng cười bị kìm hãm, không phát ra thành tiếng trong họng cô ta. “Có chứ, nhưng ba ngày nữa. Giờ cả nhà đang đi New Mexico rồi. Khi họ biết tôi không có nhà thì tôi đã lại ở nhà rồi.”
Gã nhìn Sam, Sam cũng nhìn lại ông chủ. “Chuẩn bị cho tôi căn phòng ở tầng trệt có chiếc giường nhỏ đó cho cô đây, Sam”, rốt cuộc gã cũng quyết định.
“Tên tôi là Freddy Cameron”, cô gái ngồi trên ghế nói thêm. “Tên đầy đủ là Frederica cơ.”
Hai người ngồi đó trong yên lặng, đợi Sam chuẩn bị phòng xong. Holmes dán mắt xuống sàn nhà, cô gái thì đăm đăm nhìn Holmes với vẻ quan tâm không giấu giếm của một đứa bé.
“Sao ông lại để súng ống các loại ở góc phòng thế?”
“Vì khi không làm việc thì tôi cũng hay đi săn.”
“Súng đã nạp đạn rồi ư?”
“Nạp đạn rồi chứ.” Gã để yên một lúc rồi nói thêm. “Khi bắn thì giật mạnh lắm đấy.”
“Chúc ông Holmes và cô ngủ ngon”, Sam nói khi đi ra, đóng cửa lại sau lưng.
Sự yên lặng càng trở nên đậm đặc hơn, như sắp sửa có thể nếm được trong miệng.
“Sao ta không nói chuyện gì nhỉ?” Cô lên tiếng, sau khi đã lặng yên khoảng mười lăm phút.
Gã ngước mắt nhìn cô một thoáng rồi lại tập trung xuống sàn nhà thay câu trả lời.
Cô ta so vai lại vào thế phòng ngự, ngoảnh lại nhìn về sau lưng. “Tôi thấy căn nhà này có gì đó là lạ ấy. Cứ như là… sắp có chuyện gì xảy ra.”
“Có thể!” Gã đáp cộc lốc, liền đó đứng dậy để cô ta lại một mình mà không nói thêm lời nào. Gã đi lên cầu thang, tới tầng trên một cách vô cùng thận trọng, đầu hơi cúi xuống để căng tai lắng nghe.
Có một tiếng củi tươi nổ bốp trong lò sưởi, vai gã thả lỏng, thư giãn trở lại. Sau đó sự yên tĩnh nặng nề lại bao trùm, làm người ta quên ngay lập tức âm thanh nho nhỏ vừa rồi. Tiếng cửa phòng của gã đóng lại, đâu đó trên gác.
Sam đến, thấy họ đang ngồi ở bàn cùng với nhau.
“Cái gì thế này?” Ông ta thốt lên nửa như bực tức, nửa như lạ lùng.
“Tôi chuẩn bị cho cậu bé này đấy”, cô gái nói, “nhưng có vẻ tôi không gặp may, cu cậu không chịu ăn.”
“Ông ấy đang ấp ủ một âm mưu cho cuốn sách đấy”, Sam bình luận.
Holmes giật mình nhìn người giúp việc, có vẻ như lời bình vừa rồi sáng dạ một cách không ngờ. Gã đổ sữa từ tách của mình ra đĩa, đặt lên sàn nhà. Con chó bẹc giê đến và xì xụp hết chỗ đó.
“Thế âm mưu đó đã hình thành chưa?” Cô ta muốn biết ngay.
“Chưa xong”, Holmes nói. Gã nãy giờ vẫn nhìn con chó. “Nhưng sẽ xong sớm thôi.” Gã cầm tách rồi uống cạn, đưa cho cô ta để xin thêm.
Gã đứng dậy, nói vài từ ngắn ngủi, “Tối nay gặp cô sau”, rồi gã đi vào phòng khách.
“‘Tối nay gặp’ nghĩa là làm sao?” Cô gái hỏi Sam. “Thế tôi phải làm gì cho đến lúc đó? Làm người vô hình à?”
“Đến giờ ông ấy sáng tác rồi.” Sam đi vào bên trong cùng chủ nhà, như thể ông ta cần có mặt ở đó để chuẩn bị. Cô gái lặng lẽ quan sát từ ngưỡng cửa. Sam điều chỉnh “chiếc ghế sáng tác”, khẽ hất đầu vào chiếc ghế đó, chỉnh đi chỉnh lại để đảm bảo chính xác từng li.
“Lần nào cũng phải để ghế ở đúng vị trí chính xác đó à?” Cô gái tò mò hỏi. “Tôi nghĩ là nếu chỉ lệch hai phân thôi là ông ấy không suy nghĩ được gì rồi ấy nhỉ.”
“Suỵt!” Sam ra dấu cho cô ta yên lặng. “Thậm chí chỉ cần chếch một chút so với họa tiết trên thảm là ông ấy bị xao nhãng ngay.”
Holmes đang đứng ở cửa sổ, nhìn ra ngoài, gần như lạc lõng với thế giới. Gã phẩy tay ra hiệu cho mọi người không được ở trong phòng nữa. “Ra ngoài ngay. Tới rồi đây.”
Sam rón rén đi vội ra khỏi phòng, vẫy tay bảo cô gái đi cùng. Cô gái nán lại ở bên ngoài cánh cửa đã đóng, cố tình vểnh tai nghe lỏm bất chấp mọi sự. Giọng của Holmes vọng ra véo von khi gã đọc vào máy ghi âm, “Anh ta lấn tới, xuyên qua đống tuyết, mang trên mình một bộ mặt giận dữ…”
Sam lúc này vẫn không để cô ta yên. “Đừng đứng gần như thế. Cô sẽ làm sàn nhà kêu cọt kẹt đấy.”
Cô gái miễn cưỡng quay lại, khập khiễng bước đi với một chân bị đau. “Hóa ra kiểu của ông ấy là như thế. Không được để một chút sai lệch dù nhỏ nhất, dù đó chỉ là vị trí của chiếc ghế.”
Sam tư thế sẵn sàng ngoài cửa, một tay cầm đồng hồ, một tay nắm lại như chuẩn bị giao tranh. Ông ta đợi cho giây thứ sáu mươi qua đi liền giáng một cú đấm xuống. “Năm giờ rồi!” Ông ta cất tiếng thông báo trầm trầm.
Holmes xuất hiện từ sau cánh cửa, đầu tóc bù xù, áo sơ mi buông cúc hở cả bụng, khuy tay không cài, dây giày bị tuột, đến cả dây lưng cũng không thắt chặt.
Một người phụ nữ trung niên, dáng vẻ nghiêm nghị, nhỏ nhắn, đang ngồi ở cạnh giá mũ gần cửa liền đứng lên. Bà ta mặc một chiếc áo vest không vừa cỡ, đeo một chiếc kính gọng sắt, tóc đã bắt đầu điểm bạc, vấn gọn gàng ra phía sau gáy.
“Ông Holmes, tôi là người đánh máy mới. Ông Trent hi vọng tôi sẽ làm tốt hơn người ông ấy cử tới lần trước.”
Freddy Cameron lúc này đã đi tới cửa phòng, đứng đối diện bọn họ, chắc là bị tiếng mở cửa của gã thu hút.
“Tôi e rằng chuyện gì xảy ra thì cũng đã xảy ra rồi”, gã chỉ liếc người phụ nữ một cái. “Bà ở lại đây làm luôn chứ?”
“Vâng.” Người phụ nữ chỉ một cái túi da hiệu Gladstone cũ kỹ trên sàn bên cạnh. “Ông Trent có nói là sẽ phải làm việc ngay tại đây.”
“Thực ra tôi mừng là bà đến đây giúp tôi. Tôi đã xong sáu chương, đọc cả vào máy rồi. Tôi không biết bà gõ máy nhanh hay chậm, nhưng tôi đoán bà sẽ cần ba đến bốn ngày mới bắt kịp tôi.”
“Tôi gõ không nhanh nhưng tôi gõ không bị lỗi”, người phụ nữ nói. “Tôi tự hào là chưa để sai một dấu phẩy nào khi tôi đánh máy.” Bà ta đan hai tay vào nhau, để thõng phía trước.
“Sam, hãy giúp bà… à, tôi quên chưa hỏi tên.”
“Kitchener.”
“Mang túi giúp bà Kitchener lên phòng đầu tiên ở tầng hai nhé.”
Cô gái trẻ đi đến trước mặt gã, chẳng giấu giếm gì nét mặt cau có không hài lòng, ngay khi gã chỉ còn lại một mình. “Vậy là ta phải ở cùng bà cô này một thời gian.”
“Cô có người bầu bạn rồi.”
“Đúng thế.” Cô gái không có ý đùa cợt về chuyện này, cô ta đang sôi sục. “Phụ nữ lúc nào cũng muốn đông vui. Lí tưởng rồi đây.”
Gã nghiêng nghiêng, chăm chú nhìn cô ta. “Chắc chắn là thế rồi”, gã nói khô khốc, sau đó liền bỏ đi.
Một lúc sau Sam nói, “Chỗ này bắt đầu đông đúc phụ nữ rồi! Hay là ông về thành phố làm cho tiện, đỡ ồn ào, ông Holmes ạ.”
“Tôi thì lại cho rằng sẽ sớm chẳng còn đông đúc nữa đâu”, Holmes vừa đáp vừa chải tóc trước gương.
Ba người bọn họ vẫn ngồi lại sau khi Sam đã dọn hết bát đĩa đi. Freddy Cameron vẫn còn khoác bộ mặt cau có nãy giờ. Gã thấy buồn cười là suốt bữa ăn cô gái trẻ luôn cố tỏ cho người phụ nữ kia thấy rằng mình là thành viên trong ngôi nhà này.
“Sam”, gã gọi. Khi người giúp việc quay lại, gã hỏi, “Bao lâu anh chưa nghỉ buổi tối rồi nhỉ?”
“Cũng lâu rồi. Nhưng tôi cũng chẳng có việc gì khác ngoài đó. Chẳng biết đi đâu cả.”
“Thế thì tôi bố trí thế này nhé. Tôi sẽ cho anh đi chơi một tối trong thành phố. Tôi sẽ đưa anh ra ga khi tôi lái xe đi dạo. Với lại tôi cũng cần anh ghé qua nhà tôi trên phố lấy mấy thứ nữa.”
“Như vậy thì tốt quá. Nhưng không có tôi ở đây thì ông có xoay xở được không thế, ông Holmes?”
“Có gì mà không được chứ? Gần trưa mai là anh lại đã về đây rồi. Sáng mai cô Cameron đây sẽ chuẩn bị bữa sáng cho tôi, như hôm nay ấy.”
Lần đầu tiên, kể từ lúc bà đánh máy đến, nét mặt cô gái sáng bừng lên. “Tôi làm được.”
“Tôi sẽ tự nhóm lửa, sáng mai khi làm việc ấy. Anh chỉ cần chuẩn bị sẵn đủ củi cho tôi là được.”
Gần mười một giờ thì gã mới từ từ đánh xe về đến nơi, sau khi đã cho người giúp việc trung thành xuống ga. Con chó bẹc giê thì vẫn thờ ơ ngồi ở ghế bên như trước. Không gian vùng quê hẻo lánh yên lặng như tờ. Con đường hoàn toàn trống vắng, không có chiếc taxi nào phóng vụt qua gã tối hôm nay hết.
Gã tự đánh xe cất đi, tự dùng chìa riêng mở cửa vào nhà. Gã cảm thấy là lạ, gã đã quen với việc Sam làm những việc lặt vặt này cho gã rồi. Freddy Cameron đang đứng ở chân cầu thang, lắng nghe. Trên gác vọng xuống tiếng khóc thổn thức đầy sợ hãi và ấm ức.
Cô gái cười, tỏ vẻ vô can, lấy ngón tay cái hất chỉ về phía cầu thang. “Bà thư kí sắp bỏ ông mà đi rồi.”
“Thế nghĩa là sao?”
“Bà ấy đang gói ghém đồ đạc. Bà ấy sợ. Có ai đó ném đá vào cửa sổ phòng bà ấy, dọa bà ấy, ép bà ấy phải đi khỏi nơi này.”
“Thế sao cô không lên đấy an ủi cho bà ấy đỡ sợ?” Gã gằn giọng.
“Chả cần làm thế. Bà ấy vừa khóc, quần áo thì mặc như từ thế kỉ trước, chạy xuống chỗ tôi, chỉ chút nữa thôi là nhảy vào người tôi để xin bảo vệ ấy. Giờ thì ông chỉ còn nghe đoạn khóc cuối thôi. Tôi đã tìm xem có chuyến tàu nào cho bà ấy đi, nếu bà ấy quyết tâm thì phải chịu thôi.”
“Phải nói là nếu cô không làm thế thì tôi ngạc nhiên đấy.”
Cô gái bỏ qua câu đó. “Chắc lại có thằng bé nghịch ngợm nào đây, ông có nghĩ thế không?”
“Chắc chắn là thế rồi.” Ông ta bắt đầu đi lên gác. “Có điều là nếu tìm cả dặm quanh đây cũng không có thằng bé nào đâu.”
Bà Kitchener đang nhét đồ đạc trở lại cái túi da Gladstone, vừa khóc thút thít vừa đưa lọ muối lên mũi ngửi. Trên mặt bàn có một hòn đá to bằng nắm tay, bên cạnh đó là một mảnh giấy có chữ bút chì viết vội, chắc hẳn là từng bọc bên ngoài hòn đá này. Gã cầm mảnh giấy lên đọc, “Hãy ra khỏi ngôi nhà đó trước khi trời sáng, nếu không bà sẽ phải hối hận.”
Một ô kính trên cửa sổ đã vỡ, tạo thành một hình ngôi sao có những cánh sắc nhọn.
“Bà không nên chỉ vì mấy điều lặt vặt thế này mà thần hồn nát thần tính chứ?” Gã nói.
“Ôi, đã thế này rồi thì ông nghĩ tối nay tôi có dám chợp mắt không?” Bà ta sụt sùi. “Tôi vốn đã sợ bóng tối rồi, kể cả ở thành phố cũng sợ.”
“Đây chỉ là trò đùa thôi mà.”
Bà Kitchener ngưng động tác gói ghém. “Ai… Ông nghĩ là ai…?”
“Tôi không nói chắc được”, gã nói như thể ngăn bà ta không nên hỏi thêm về chủ đề đó. “Lúc đó bà có nhìn ra ngoài xem ai ở bên dưới lúc đó không?”
“Trời ơi, không! Đọc xong mảnh giấy thì tôi sợ quá, chạy luôn xuống dưới gác. Tôi… Giờ thấy ông về đây tôi mới thấy yên tâm hơn, ông Holmes. Có một người đàn ông trong nhà thật là…”
“Nói thật”, gã nói, “tôi cũng không muốn ép bà phải ở lại đây nếu bà đã thấy sợ và không thoải mái đến thế. Tôi sẵn lòng đưa bà ra ga ngay bây giờ, tôi nghĩ vẫn còn thừa thời gian để bắt chuyến tàu mười hai giờ kém mười lăm. Tuần sau bà đánh máy ở thành phố cũng được, vì tuần sau tôi sẽ quay lại đó. Tùy bà quyết định.”
Lối thoát rộng rãi gã mở ra rõ ràng là đã hấp dẫn bà thư kí Kitchener. Gã thấy bà ta nhìn chăm chú vào chiếc túi đang mở to trước mặt. Rồi bà ta hít một hơi sâu, nắm chặt cả hai tay vào thành giường để tự thấy vững vàng hơn. “Không”, bà Kitchener nói. “Tôi được cử đến đây để làm việc này cho ông tại đây. Từ trước tới nay tôi chưa bao giờ làm hỏng việc người ta giao phó cho tôi cả. Thế nên tôi sẽ ở lại cho đến khi xong việc thì thôi.” Nhưng bà ta đã làm hỏng vẻ kiên cường cố gắng lắm mới dựng lên được khi lén lút liếc mắt về phía cánh cửa sổ đã vỡ.
“Tôi nghĩ bà sẽ không sao đâu”, gã nói nhỏ, trên khóe miệng dường như đã tạo hình một nụ cười. “Con chó của tôi đủ đảm bảo là sẽ không ai dám bén mảng tới ngôi nhà từ bên ngoài cả. Phòng của tôi thì ở ngay đầu kia hành lang thôi.” Gã quay người đi ra, sau đó lại quay lại nói khi đã ở ngưỡng cửa. “Tôi có một khẩu súng ngắn để đâu đó trong ngăn kéo. Nếu bà cần thì tôi sẽ đi tìm, mang lên đây cho bà tối nay để bà yên tâm nhé?”
Bà Kitchener vội vàng xua tay, không chấp nhận phương án đó. “Không, không. Tôi sợ súng còn hơn sợ cái thứ kia! Tôi không dám nhìn súng ống đâu, tôi sợ lắm.”
“Tốt rồi, bà Kitchener”, gã an ủi. “Tôi thấy bà đang rất dũng cảm rồi đây… Mặc dù tôi chắc chắn là sẽ chẳng có gì đáng lo đâu… Tôi cũng sẽ không quên khen ngợi bà với ông Trent, bà yên tâm.”
Một lúc sau, khi gã bất ngờ xuất hiện tại ngưỡng cửa phòng khách thì gã thấy Freddy Cameron đang đứng ở góc phòng đối diện, tay đang lật lật xem một khẩu súng trường. Gã bước đi trên cầu thang xuống đây hẳn nhẹ nhàng hơn gã nghĩ.
Gã đưa tay ra phía sau lưng, đẩy phần đuôi áo khoác lệch đi một chút. “Tôi nghĩ không nên nghịch ngợm với mấy thứ đó thì hơn, cô gái. Hình như tôi có nói với cô tối qua là súng nạp đạn sẵn rồi.”
Cô gái quay sang nhìn gã, ngập ngừng một chút rồi hạ khẩu súng xuống, quay mặt hẳn sang phía gã, súng vẫn nằm chắc chắn trong tay, nhưng ở tư thế ngang người, không chĩa vào gã.
Gã không di chuyển. Mắt gã long lanh như cười thân thiện mặc dù toàn bộ các bắp cơ đã chuẩn bị sẵn trong trường hợp yêu cầu hành động khẩn cấp. Nhưng gã khéo léo không thể hiện điều đó.
Cô dựng khẩu súng vào tường, hai tay chà vào nhau, phủi qua phủi lại. “Tôi xin lỗi. Hình như tôi chẳng làm điều gì ra hồn ở đây cả.”
Bàn tay của gã thư giãn trở lại. Phần đuôi áo rơi trở về vị trí cũ. “Ồ không, sao lại nói thế. Tôi thấy những việc cô làm rất phù hợp.”
Gã ngồi xuống “chiếc ghế sáng tác”. Cô ta cứ lẩn quẩn xung quanh. “Tôi có làm phiền ông không?”
“Ý cô là lúc này hay nói chung chung?”
“Ý tôi là lúc này. Nói chung chung thì tôi có làm phiền ông, chẳng cần nói cũng biết.”
“Không, cô không làm phiền tôi lúc này. Cô ở trong này không sao cả.”
“Ở đây thì ông còn để mắt đến tôi được”, cô ta giúp gã nói nốt câu mới cười châm biếm. Mắt cô ta ngước lên nhìn phía trần. “Bà ta quyết định ở lại à?”
“Chắc cô cảm thấy tiếc lắm.”
Cô gái thở dài. “Hình như chúng ta rất hiểu nhau, hoặc là chẳng hiểu nhau chút nào cả.”
Sau đó hai người bọn họ không còn trao đổi thêm lời nào nữa. Ngọn lửa đã bắt đầu tàn, ánh lửa chập chờn như sắp tắt. Toàn bộ căn phòng dần chìm vào trong bóng tối. Chỉ còn có hai khuôn mặt được soi sáng, nổi lên trên nền không gian đang ngày càng sẫm hơn. Tiếng dế đâu đó vọng lên từ bên ngoài, phá vỡ sự yên tĩnh đang cố gắng thống trị nơi đây, cố gắng bao phủ toàn bộ căn nhà.
Gã quyết định đứng lên. Vẫn chỉ có đường nét khuôn mặt của gã là còn nhìn thấy được, từ từ bay lên, phần còn lại trên người gã đã lẫn vào bóng tối. Gã đi ra, hướng về phía cửa, rồi sau đó chỉ còn tiếng bước chân chậm rãi, cẩn thận di chuyển lên tầng. Cô gái vẫn ngồi đó, với ánh lửa chập chờn, với những khẩu súng.
Gã đóng cửa phòng lại, nhưng gã không bật đèn bên trong. Thật khó mà xác định được gã đang ở chỗ nào trong bóng tối đen kịt.
Màu trắng đột nhiên mờ mờ chiếu xuyên qua khe cửa, tạo thành hai vệt dài dài và cả một hình tam giác từ cái chốt. Gã lập tức cởi áo khoác mà chân vẫn không rời khỏi khung cửa. Một cái ghế dịch chuyển, màu trắng hạ thấp xuống, nhưng vẫn ở đó trên cái cửa. Một chiếc giày rơi xuống từ khoảng cách vài phân, nghe như tiếng rơi của một chiếc giày, rồi đến chiếc thứ hai.
Tiếng dế vẫn vang lên bên ngoài nhà, sự yên tĩnh vẫn ngự trị bên trong nhà. Bóng tối thì ở cả bên ngoài và bên trong nhà. Có một lần, khoảng một giờ trước khi mặt trời mọc, dường như có sự khuấy động không khí do ai đó đi gây ra trong phòng, nhưng không phải ra hướng cửa sổ mà từ hướng cửa hành lang - như thể gã đã cố tình để cửa mở he hé, không cài hẳn lại để chốt cửa không gây ra tiếng động.
Tiếng sàn nhà cọt kẹt đâu đó từ xa vang lại, đâu đó ở bên dưới. Có thể đó là do sàn gỗ co ngót sau một đêm dài lạnh lẽo. Hoặc có thể là do có một lực nào đó ép lên nó.
Sau đó thì không còn thêm âm thanh nào nữa. Một lúc sau thì lại có luồng không khí di chuyển. Phía bên ngoài tiếng cú đã rúc trên cây báo hiệu các ngôi sao đã nhạt màu.
Freddy Cameron tỏ ra hoạt bát khác thường vào bữa sáng, hẳn là do cô ta được tự tay nấu nướng. Khi Holmes xuống thì cô ta còn đang thư thái huýt sáo, trong khi mắt gã thâm quầng, dáng vẻ có chút mệt mỏi. Bà Kitchener đã xuống trước gã, khuôn mặt sáng bừng khỏe khoắn, những sự phiền muộn tối hôm qua đã không còn dấu vết, ít nhất là từ giờ tới tối.
“Xin lỗi hai người, tôi xuống muộn”, gã nói, tay còn xoa xoa khuôn mặt lởm chởm khi ngồi xuống.
“Đây là nhà ông cơ mà”, Freddy Cameron nói.
Bà Kitchener chỉ đáp lại bằng một nụ cười mỉm, thể hiện rằng mình chẳng thể chấp nhận được việc luộm thuộm cá nhân trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Con chó lúc này rúc vào gần gã, chắc nó nhớ hôm qua gã có cho nó ăn. Nhưng gã lờ nó đi. Freddy Cameron hít thở chầm chậm, đến nỗi gã cũng không nhận ra, “Thế hôm nay không phải thử độc nữa à?”
Gã xô ghế lại đằng sau. “Đến trưa thì Sam sẽ về đến nơi, tiếp tục đảm nhận công việc ở đây. Giờ thì tôi sẽ vào trong phòng và tôi không muốn bị làm phiền.”
“Tôi sẽ lên gác đánh máy”, bà Kitchener nói. “Từ trong phòng kia chắc ông không nghe thấy gì trong phòng tôi đâu.”
“Còn tôi thì đi vẽ trứng Phục sinh đây”, Freddy Cameron bực bội ra mặt.
Gã đóng cửa phòng khách lại, cho một vài thanh củi vào trong lò, lấy một tờ báo châm lửa ở bên dưới củi. Gã bỏ lớp vải dầu đang phủ trên chiếc máy ghi âm đặt trên bàn, rồi bắt đầu điều chỉnh chiếc máy với dáng điệu có vẻ như không được chắc chắn cho lắm vì hình như Sam mới là người thường xuyên thực hiện những việc nhỏ nhặt này cho gã. “Chiếc ghế sáng tác”, gã để ý, hơi lệch một chút so với họa tiết trên thảm. Gã khẽ mỉm cười, cười với chính mình, như thể đó là thói quen cố hữu. Rồi gã cầm ống nói đang nối sẵn với máy lên, ngồi ngả ra đằng sau. Mọi thứ đã sẵn sàng cho một ngày dài làm việc rồi. Mọi thứ, trừ một điều…
Chiếc máy ghi âm tạo ra một âm thanh nho nhỏ, đứng đó chờ đợi. Luồng suy nghĩ không đến với gã. Bao nhiêu cảm hứng dường như đã bị tắc lại đâu đó. Gã đánh mắt vô vọng về phía mấy hàng sách đặt trên giá, tự hỏi xem trước kia làm thế nào mà có chữ viết lên những sách đó.
Tiếng sàn cọt kẹt bất chợt xuất hiện rất gần. Gã xoay hẳn người lại, cau mày bực dọc với việc bị quấy rầy trong lúc này.
Nhưng trong phòng không có ai khác ngoài gã cả. Cánh cửa vẫn đóng im ỉm như lúc trước. Ngọn lửa như bốc cao hơn phía sau gã, liếm cả vào trần lò, thổi ra ngoài sức nóng và ánh sáng đỏ hồng.
Khoảng năm phút sau, Freddy Cameron giật mình ngoái đầu lại, thấy gã đang nhìn xoáy vào mình từ ngưỡng cửa. “Có… có chuyện gì thế?” Cô ta tỏ vẻ không thoải mái. “Sáng nay ông không cần cách ly nữa hay sao?”
“Tôi đang khó kiếm ý tưởng quá. Vào trong này một chút được không? Có khi cô lại giúp được tôi tìm ý nào đó hay.”
“Có thật là ông muốn tôi vào trong thánh địa của ông không đấy?” Cô ta hỏi mà cứ như hoảng sợ.
“Thật chứ sao không”, gã mềm mỏng.
Cô gái đi vào trong trước cả gã, ngoái lại đằng sau xem gã thế nào. Gã đóng cửa lại, chỉ còn hai người bên trong. “Ngồi xuống đi.”
“Ghế đó ư? Tôi tưởng không ai được…”
“Là Sam cứ hay nói thế thôi.” Gã chằm chằm nhìn thẳng vào mắt cô gái. “Ghế này hay ghế khác thì có gì khác nhau?” Câu hỏi dường như có một ý nghĩa đặc biệt nào đó.
Cô gái ngồi sụp xuống ghế, chẳng phản đối thêm gì nữa. Gã ngồi xổm xuống, cho thêm một, hai khúc củi vào trong lò sưởi lúc này đã bắt đầu tàn, như thể gã mới nhóm lại lần thứ hai. Rồi gã cũng ngồi xuống đối diện cô gái, hơi chếch một chút, đúng cái ghế mà cô ta hay ngồi. Gã quan sát cô gái còn chăm chú hơn, như chưa bao giờ gặp cô ta vậy.
“Ông muốn tôi nói chuyện gì?” Cô gái trẻ thắc mắc.
Gã không trả lời, cứ nhìn cô ta đăm đăm. Gã cứ nhìn như vậy một, hai phút liền, âm thanh duy nhất trong phòng vọng đến chỗ họ là tiếng lửa bập bùng ngày càng to trong lò.
“Trầm tư quá”, cô ta nói móc.
Bất ngờ gã nói, “Cho tôi cầm tay cô nào.” Cô gái dè dặt đưa tay ra, lòng bàn tay hoàn toàn khô ráo, mạch cổ tay vững vàng và ổn định.
Gã thô bạo lẳng tay cô gái trở lại khá mạnh, khiến cô ta bị bất ngờ, tay văng ngang ngực. Gã đứng dậy. “Đủ rồi, cô đứng lên ngay cho tôi”, gã nói khô khan. “Cô đã lừa được tôi rồi đấy. Tóm lại là cô muốn gì hả cô bé?”
Nhưng khi cô gái chưa có cơ hội trả lời thì gã đã ra tới cửa, giật mạnh ra, mở toang, hất ngón tay cái mấy lần như có cái gì vướng víu, ra hiệu cho cô ta đi ra ngoài thật nhanh.
“Ông bị làm sao thế hả?” Cô gái vùng vằng, trách móc khi đi ra ngoài cánh cửa đối diện.
“Cô tránh xa chỗ này một lúc. Đừng có vào trong này, dù cho cô có nghe thấy gì. Cô nghe rõ chưa? Hiểu chưa?” Giọng gã gần như lạc đi khi gã thình lình lấy lại được sự lịch thiệp, gọi vọng lên trên gác. “Bà Kitchener, bà xuống dưới này một lúc được không?”
Tiếng máy chữ đều đều, chăm chỉ như những hạt mưa rả rích trên mái nhà bị ngắt quãng rồi bà Kitchener xuất hiện ở cầu thang, đi xuống không ngần ngại, cũng vẫn chính xác, chuẩn mực như thường lệ.
Gã vẫy tay ra hiệu bà thư kí vào. “Bà làm đến đâu rồi?” Gã hỏi khi đóng cửa.
“Tôi đã đánh máy được nửa chương mở đầu rồi”, bà Kitchener tuyên bố với vẻ tự mãn bùng lên trong mắt.
“Bà ngồi xuống đi. Lí do tôi gọi bà xuống là tôi đang định đổi tên nhân vật chính từ… Không, không, cứ ngồi vào ghế đó đi.”
“Đó là ghế của ông cơ mà?”
“Ghế nào mà chẳng được. Bà ngồi đó đi, ta thảo luận thêm.” Gã ép bà Kitchener ngồi ghế đó bằng cách chủ động ngồi xuống chiếc ghế còn lại.
Bà Kitchener có vẻ ngượng ngập, ngồi xuống ghế, nhưng chỉ ngồi ở sát mép ghế, không ngồi hẳn vào trong.
“Bây giờ đổi tên nhân vật chính thì có khiến bà phải vất vả thêm không? Tên anh ta đã được nhắc tới ở phần bà đánh máy chưa?”
Lập tức bà Kitchener đứng dậy. “Chờ tôi một chút, tôi lên xem lại đã…”
Gã lại ra dấu bảo bà ta ngồi xuống. “Thôi, không cần đâu.” Nhưng sau đó gã lại hỏi ngay, “Bà mới đánh máy xong phần đó mà, lẽ nào lại không nhớ được? Mà thôi, tôi thấy là trong mấy truyện miền Bắc, độc giả thường coi những nhân vật người Canada nói tiếng Pháp là hạng chẳng ra gì, thế nên có lẽ là… Bà Kitchener, bà có nghe tôi nói không đấy? Bà làm sao thế? Bà mệt chăng?”
“Ghế này nóng quá, chắc là do lửa to. Tôi không chịu được.”
Không hề cảnh báo trước, gã chồm người về phía bà Kitchener, tóm lấy một bàn tay người phụ nữ trước khi bà ta kịp rụt lại. “Bà nhầm thế nào ấy chứ. Ghế này sao mà nóng được nhỉ? Tay bà đang lạnh cóng đây này… bà đang run vì lạnh đây này!” Gã cau mày. “Ít ra bà cũng phải nghe tôi giải thích nốt đã nhé.”
Kichener thở gấp gáp, tiếng nói gần như không thành lời, như người bị hen lên cơn. “Không, không được.”
Cả hai đồng thời đứng lên. Gã đặt tay lên vai bà thư kí, ấn xuống rất mạnh, khiến bà ta không còn cách nào khác là ngồi hẳn vào trong ghế. Bà Kitchener cố gắng nhích người sang một bên để thoát ra, nhưng gã lại tóm lấy người phụ nữ, ấn mạnh. Kính của bà ta rơi xuống.
“Sao mặt bà lại trắng bệch thế kia? Có điều gì mà bà sợ hãi đến như thế?”
Người phụ nữ lúc này đã lên cơn hoảng loạn, bất chấp chấp tất cả. Một con dao từ đâu đó xuất hiện - có thể là từ trong tay áo của bà ta - đưa lên trên cao, cố đâm vào người gã từ phía sau. Tay người phụ nữ nhanh, nhưng gã còn nhanh hơn. Gã tóm lấy cổ tay, ấn xuống lưng ghế, liền đó vặn chéo, khiến con dao rơi xuống, va xuống nền rồi văng vào trong lò nơi ngọn lửa cháy cao.
“Làm nghề đánh máy mà thủ thứ đó trong mình cả ngày thì cũng lạ. Bà sử dụng nó trong công việc à?”
Kichener điên cuồng chống cự. Hình như có gì đó ngoài gã ra đang là nguồn cơn của sự điên loạn này. Gã tăng cường sức mạnh, kiềm chế tù nhân ở trong chiếc ghế bằng một tay ấn vào cổ họng bà ta. Lúc này gã đứng ở một bên, chứ không đối diện chiếc ghế. Chỉ có bà Kitchener là thẳng hướng với lò sưởi.
“Để tôi đứng lên, để tôi đi.”
“Bà nói đi đã”, gã nạt.
Người phụ nữ đột ngột buông xuôi, là kết quả của sự sụp đổ tinh thần, giờ chỉ ngồi yên, mềm nhũn trong ghế. “Ở đó có một khẩu súng, phía trên khe nóc lò - chĩa thẳng vào ghế này. Không biết lúc nào thì sức nóng từ lửa sẽ… Khẩu súng cưa nòng đã nạp…”
“Ai để súng ở đó?” Gã vẫn kiên trì điều tra.
“Tôi. Là tôi. Nhanh lên, để tôi ra khỏi đây.”
“Tại sao? Nói đi, tại sao?”
“Vì tôi là vợ góa của Nick Killeen… Tôi đến đây là để giết ông. Holmes.”
“Đủ rồi”, gã nói ngắn gọn, rồi lùi lại.
Gã buông tay ra quá muộn. Khi tay mới nới lỏng thì có một tiếng nổ và một tia chớp cháy sáng, bùng lên trước mặt. Tiếng nổ đi kèm một làn khói đen đặc bao quanh người phụ nữ, như thể chính lò sưởi nhờ thế lực nào đó thổi tro tàn ngược ra ngoài.
Người phụ nữ vùng lên một lần nữa, giống như phản xạ thoát ra lần cuối, sau đó ngồi bẹp xuống, nhìn trừng trừng gã qua làn khói che phủ trước mặt.
“Bà nghĩ đúng đó”, gã nhẹ nhàng trấn an. “Tôi đã tháo đạn ra rồi, trước khi tôi nhóm lại lò, chỉ để lại trong đấy thuốc súng thôi. Chiếc máy ghi âm đã cứu mạng tôi đấy. Chắc là bà vô tình chạm phải cần gạt nên bật nó lên mà không biết, lúc bà vào đây tối hôm qua ấy. Cái máy đã ghi lại mọi âm thanh, từ tiếng cọt kẹt cảnh báo trên sàn nhà tới lúc bà thay tấm kẽm ở trần lò sưởi. Có điều lúc nãy tôi không thể chắc là ai trong hai người là thủ phạm, thế nên tôi phải bày ra cái mẹo thử thách trong chiếc ghế.”
Cánh cửa bật mở, hiện ra ở đó là khuôn mặt trắng bệch vì sợ hãi của Freddy Cameron, đang nhìn hai người bọn họ. “Có chuyện gì thế?”
Gã, kể cũng lạ, lại tỏ ra cộc cằn và thô lỗ với cô gái trẻ này hơn nhiều so với người phụ nữ đang ngồi trên ghế; gã đối xử với cô như với một chú cún con hay một đứa bé không biết hối lỗi. “Ra ngoài ngay”, gã gắt gỏng. “Cô chỉ là một con nhóc phiền nhiễu, chăm chăm đi xin chữ kí người nổi tiếng, lúc nào cũng chỉ biết mộng tưởng hoàng tử này hoàng tử kia. Cô mà vào đây thì tôi sẽ cầm roi quật vào mông, rồi mắt cá chân cô sẽ không phải chỗ duy nhất cần bông quấn đâu!”
Cánh cửa lập tức đóng lại, nhanh gấp hai lần khi nó mở ra, kèm theo một tiếng kêu uất nghẹn của người bị sốc.
Gã quay lại với người phụ nữ bại trận giờ đang co ro trên chiếc ghế. Gã thấy bà ta như đang lơ lửng trong không trung, bà ta đã mất đi một tính cách mà chưa kịp tìm lấy một tính cách khác thay vào đó. Giọng của gã trở lại nhịp điệu trò chuyện quen thuộc, với người lớn, “Thế bà định làm gì với cô bé đó… giả như kế hoạch thành công?”
Người phụ nữ vẫn rất kiệt quệ, nhưng cố gắng mỉm cười yếu ớt. “Tất nhiên là chẳng làm gì cả. Cô bé đó còn không có trong danh sách tôi vạch ra. Nó chẳng làm gì phương hại tới tôi. Cùng lắm là tôi trói nó lại để thoát thân thôi. Chỉ thế thôi.”
“Ít nhất thì bà cũng rất sòng phẳng khi liên quan tới chuyện chết chóc”, gã thú nhận một cách bực bội. Gã tiếp tục quan sát người bà ta một lúc rồi đi rót cho bà ta một cốc nước, không hề quay lưng về phía bà ta dù một giây. “Đây, uống đi. Bà trông thê thảm quá. Tự vực mình lên đi.”
Người phụ nữ vặn vẹo cơ thể để chỉnh đốn lại, một tay vịn vào lưng ghế. Từng chút một, từng chút một sự thay đổi đã đến. Bà ta dường như được đổ màu ngay trước mắt gã, sắc mặt trở lại tươi tắn, cơ thể vững vàng, giống như bức vẽ mô tả mà người ta đã từng đưa cho đứa bé tên là Cookie Moran để nhận diện. Sức sống - sức sống mãnh liệt - đã trở lại với người phụ nữ này. Đó không còn phải là bà Kitchener lạnh lẽo, mệt mỏi nữa, mà là một người phụ nữ ấm áp hơn, sáng sủa hơn. Mặc dù mái tóc vẫn là tóc bạc, được vấn gọn gàng ra đằng sau, nhưng những vết tích cuối cùng của bà Kitchener đã bong ra, rơi xuống xung quanh như một lớp vỏ vô hình. Người phụ nữ đó đã trở nên sống động hơn, trẻ trung hơn rất nhiều. Một người phụ nữ không biết đến sợ hãi, một người phụ nữ biết chấp nhận thất bại một cách duyên dáng. Nhưng trên nét mặt, kể cả lúc này, sự thù hận vẫn còn đọng lại đó.
“Tôi đã xong việc với tất cả bọn họ, trừ ông, Holmes. Nick sẽ bỏ qua chuyện đó. Dù sao thì tôi cũng chỉ là đàn bà thôi. Tôi sẵn sàng rồi, ông cứ gọi báo cảnh sát đi.”
“Tôi chính là cảnh sát. Holmes đã được đưa đến nơi an toàn mấy tuần trước rồi. Giờ anh ta đang náu mình đâu đó ở Bermuda. Từ đó tới nay tôi sống cuộc đời của anh ta. Lột bìa những quyển sách cũ và thu âm lại nội dung của chúng, trong lúc đợi cô xuất hiện. Tôi đã sợ là con chó sẽ làm tôi bị lộ rồi chứ, rõ ràng nó không hành xử như tôi là chủ của nó.”
“Nhẽ ra tôi nên nhận ra điều đó”, cô ta thú nhận. “Tự tin thái quá đã khiến tôi chủ quan. Những trường hợp trước đều diễn ra trôi chảy - Bliss rồi đến Mitchell, rồi Moran, rồi Ferguson.”
“Cẩn thận đấy”, gã cảnh cáo, “Tôi đang ghi lại tất cả đấy.” Ông chĩa ngón tay cái về chiếc máy thu âm đang nhè nhẹ kêu “rì rì”.
“Ông coi tôi là dạng tội phạm rẻ tiền phải tìm cách chối tội, che đậy, nói dối để tìm cách thoát ra hay sao?” Sự khinh bỉ khó mô tả bằng lời xuất hiện trên gương mặt người phụ nữ. “Ông còn phải tìm hiểu về tôi nhiều đấy! Tôi tự hào là đằng khác. Tôi còn muốn đứng lên nóc nhà hét vang cho cả thế giới này nghe thấy.” Người phụ nữ bước nhanh tới bên chiếc máy ghi âm, giọng đầy hứng khởi của người chiến thắng, hướng vào ống nói. “Tôi đã đẩy Bliss đến chỗ chết! Tôi đã đầu độc Mitchell bằng xyanua! Tôi đã khiến Moran chết ngạt trong tủ! Tôi đã ghim thẳng một mũi tên vào tim Ferguson! Tôi là Julie Killeen. Nick, anh có nghe thấy em nói không? Có nghe thấy không? Nợ đã trả gần hết rồi - chỉ còn một món thôi. Đó, thưa ông cảnh sát, vụ án của ông đây. Giờ tới lượt ông trả miếng. Cứ đưa trát hầu tòa cho tôi!”
“Cô cứ ngồi xuống đã”, gã nói. “Có gì mà phải vội. Tôi đã theo dấu cô hai năm rưỡi nay rồi mới bắt được, thêm một vài phút có làm sao đâu. Tôi muốn trò chuyện với cô.”
Khi cô ta đã ngồi xuống, gã nói, “Cô đã thú nhận hết vào máy ghi âm giúp tôi, rất tốt. Nhưng chỉ còn một điều. Cô quên chưa nói lí do tại sao mình làm thế, món nợ cô đang nói tới là gì. Giờ thì tôi đã biết… suốt mấy năm qua tôi không hiểu nổi. Đó là chỗ tôi bế tắc. Tôi mới chỉ phát hiện ra gần đây - may cho Holmes. Nếu không thì anh ta - Holmes thật ấy - cũng đã chung số phận với những người khác rồi.”
“Ông nghĩ mình biết sao?” Tia lửa lại lóe lên trong mắt người phụ nữ. “Không thể nào, không đâu. Không ai biết cả. Ông có phải sống cùng nó không? Ông có phải tận mắt chứng kiến không? Đó chỉ là một vài dòng chữ bị phủ bụi trong hồ sơ cảnh sát. Nhưng hiện giờ nó vẫn làm tôi đau đớn.
Kể cũng đã lâu rồi, thời gian trôi nhanh thật, nhưng tôi chỉ cần nhắm mắt là anh ấy lại ở bên tôi. Nick, chồng tôi ấy. Lúc ấy thì nỗi đau lại dồn dập ùa về. Thù ghét. Giận dữ. Mệt mỏi. Lạnh lẽo. Mất mát. Tôi chỉ cần nhắm mắt lại là chuyện như mới xảy ra ngày hôm qua thôi, cái ngày hôm qua đã lùi vào dĩ vãng mà tôi không sao quên được.”