Lew Wanger chẳng buồn đóng cửa xe taxi, lập tức chen qua nhóm người hiếu kỳ tụ tập ở đó. “Có chuyện gì thế?” Ông vừa hỏi viên cảnh sát vừa chìa cái gì đó trong túi áo vest ra.
“Hạ cánh.” Viên cảnh sát tuần tra chỉ thẳng lên trời. “Từ trên kia xuống đây.”
Ai đó đã đem đến một chồng báo muộn, trải rộng tập giấy in ra hết cỡ, xếp chồng chúng lên nhau và lên cả thi thể kẻ xấu số đang nằm trên đường. Người ta chỉ còn thấy một chân mang giày Oxford da bóng loáng thò ra khỏi góc.
“Theo tôi biết thì trên kia người ta tổ chức tiệc tùng. Chắc anh chàng quá chén, nhoài người ra quá đà và mất thăng bằng nên mới ra nỗi này.” Anh ta nhón một tờ báo lên cho Wanger xem.
Một tay hiếu kỳ đứng sát hiện trường, tình cờ trông thấy cảnh đó nên quay mặt đi, bụm miệng thoái lui một cách vội vã.
“Tưởng dưới này có hoa hay sao?” Viên cảnh sát bình thản nói với theo.
Wanger ngồi xổm xuống cạnh nạn nhân, tìm cách nạy bàn tay đang nắm chặt vật gì đó. Một lúc sau, ông cũng gỡ ra được một tấm vải đen mỏng manh như sương khói.
“Khăn tay nữ”, viên cảnh sát góp lời.
“Khăn choàng”, Wanger chỉnh lại. “Khăn tay thì không to thế này.”
Ông lại ngước xuống nhìn thi thể đang được che đậy khỏi ánh mắt người đời.
“Tôi không rõ tên tuổi, chỉ biết mặt người này”, ông bảo vệ tòa nhà cung cấp thông tin. “Hình như tối nay người ta tổ chức bữa tiệc đính hôn của anh ta với cô con gái nhà Elliott. Họ ở căn hộ tầng thượng.”
“Để tôi lên đó làm nốt thủ tục cho xong”, Wanger thở dài. “Thường chỉ mất mười, mười lăm phút là tôi xuống thôi.”
Trời đã sáng bảnh mà ông vẫn còn bận bịu giày vò đám khách khứa mệt lả, đầu bù tóc rối đang dàn hàng trước mặt. “Ý quý vị là không một ai ở đây biết tên cô ta, cũng chưa từng gặp cô ta trước đây?” Chỉ có những cái lắc đầu mệt mỏi đáp lại.
“Chẳng nhẽ không ai hỏi sao? Các vị là kiểu người gì vậy?”
“Thực tình là tất cả chúng tôi đều hỏi, lúc này hay lúc khác”, một ông khách chán nản phân trần. “Nhưng cô ta đâu chịu nói. Động đến là cô ta lại gạt đi, kiểu ‘Tên tuổi có quan trọng gì’.”
“Cứ cho cô ta là khách không mời mà đến đi. Tôi vẫn phải làm rõ xem là ‘Tại sao’ hay nói cách khác là ‘động cơ’ của cô ta là gì.” Thấy mẹ của Marjorie trở lại phòng, ông quay sang hỏi. “Bà có thấy đồ đạc quý giá gì bị mất không?”
“Không”, bà ta thổn thức, “không mất mát gì cả. Tôi vừa kiểm tra lại xong.”
“Vậy thì loại trừ được khả năng trộm cắp. Cô ta đã lảng tránh hoặc làm nản lòng các quý ông có ý đồ làm thân với mình, theo lời khai của quý vị, vậy mà cô ta lại tiếp cận Bliss ngay khi thấy anh ta ở một mình.” Ông quay sang Corey. “Nhưng theo lời khai của anh, Bliss không hề nhận ra cô ta khi nghe người gác cổng khu nhà mình sống mô tả lại. Đến lúc gặp trực tiếp ở đây thì anh ta cư xử như thể cô ta hoàn toàn xa lạ. Cứ giả sử đó là cùng một người phụ nữ nhé.”
“Đó là tất cả những gì tôi thu thập được cho đến giờ. Có ai muốn bổ sung gì vào phần mô tả đã nói với tôi không?”
Không ai cung cấp thêm thông tin gì. Rất nhiều người nhìn thấy cô ta, như vậy là đủ rồi. Khi lần lượt từng vị khách buồn rầu đứng vào hàng để khai tên và địa chỉ, phòng khi cảnh sát cần hỏi gì thêm, Corey chen đến cạnh Wanger. Anh ta lúc này nửa say nửa tỉnh, cất giọng khàn khàn hỏi, “Tôi là bạn thân nhất của cậu ấy. Ông thấy thế nào? Rút ra được điều gì rồi?”
Wanger vừa sửa soạn ra về vừa đáp, “Tôi có thể tiết lộ với anh, không phải vì anh đáng tin cậy hay được ưu tiên gì hơn những người khác đâu. Không có dấu hiệu nào cho thấy đây không phải vụ tai nạn cả, trừ một điều: Cô ta bỏ đi ngay lập tức sau khi chuyện đó xảy ra, thay vì nán lại thưởng thức âm nhạc như tất cả mọi người. Thêm một chi tiết đáng ngờ nữa: khi gặp cô Elliott tại cửa và được hỏi là có thấy Bliss đâu không, cô ta bình tĩnh trả lời là Bliss ở ngoài ban công, thay vì hét ầm lên là anh ta bị ngã, bình thường thì ai cũng làm vậy, đúng không nào? Tất nhiên, có khả năng là cô ta đi vào nhà rồi thì Bliss mới ngã. Nhưng anh ta lại nắm trong tay một cái khăn đen, nghĩa là rất có thể cô ta vẫn ở cùng Bliss khi anh ta ngã. Nhưng cũng có thể là cô ta đã đánh rơi khăn hoặc tặng khăn cho Bliss trước đó.”
Ông nói tiếp, “Tóm lại cho đến giờ thì mọi thứ vẫn là năm mươi - năm mươi. Giả thuyết nghiêng về bên nào thì cũng có lí lẽ phù hợp để phản bác lại. Duy nhất một điều sẽ khiến cán cân lệch hẳn chính là động thái sắp tới của cô ta mà thôi. Nếu một, hai ngày tới mà cô ta đến trình diện và khai báo, sau khi nghe thông báo của cảnh sát, thì rất có thể đây chỉ là vụ tai nạn mà thôi, cô ta bỏ đi để tránh tai tiếng vì biết mình không được mời tới bữa tiệc. Nếu như cô ta tiếp tục lẩn tránh, khiến cảnh sát phải tìm kiếm thì kết luận đây là vụ án mạng cũng chẳng phải là không có cơ sở.”
Ông nhét biên bản ghi lời mô tả và các thông tin khác vào trong túi. “Dù thế nào thì chúng tôi cũng sẽ tìm được cô ta. Đừng lo gì cả.”
Nhưng họ chẳng hề tìm được.
Mười lăm ngày sau, tại cửa hàng bách hóa Bonwit Teller.
“Đúng rồi, đây là cái khăn giá mười hai đô la của chúng tôi. Chỉ có chỗ chúng tôi mới bán loại khăn này thôi, hàng độc đấy.”
“Tốt lắm. Gọi nhân viên bán hàng qua đây, tôi muốn biết có ai nhớ là đã bán khăn cho một người phụ nữ có ngoại hình như sau…”
Khi nhân viên đã tề tụ đông đủ, ông nhắc lại đặc điểm nhận dạng tới hơn ba lần, rồi một nhân viên dáng người nhỏ nhắn, đeo kính bước lên. “Tôi… tôi nhớ có bán một cái khăn màu đen như vậy cho một cô gái đẹp giống như ông mô tả, khoảng hơn hai tuần trước.”
“Tốt lắm! Tìm hóa đơn bán hàng đi. Tôi cần địa chỉ nhận hàng.”
Mười lăm phút sau.
“Khách hàng trả tiền mặt, đích thân đến nhận hàng, không để lại tên hay địa chỉ.”
“Chỗ các vị hay bán hàng kiểu ấy sao?”
“Không, đây là hàng cao cấp, thông thường thì chúng tôi sẽ giao hàng đến tận nơi. Nhưng trường hợp này, tôi nhớ là khách hàng nhất quyết đòi tự đến lấy.”
Wanger lầm bầm, “Để xóa dấu vết đây mà.”
Ba tuần sau, Wanger báo cáo với cấp trên, “… Cho đến giờ vẫn không có tăm hơi gì của cô ta. Ta không biết cô ta là ai, đến từ đâu và đã đi đâu. Không rõ lí do cô ta gây án - nếu đúng là cô ta làm thế. Tôi đã điều tra kĩ lưỡng quá khứ của Bliss, chỉ thiếu có cô gái đầu tiên anh ta hôn, mà vẫn không thấy bóng dáng người phụ nữ này. Lời khai của người gác cổng chỗ anh ta ở và của bạn anh ta là Corey cho thấy anh ta có vẻ như không biết người phụ nữ này là ai. Thế nhưng cô ta đã chủ động từ chối tất cả mọi người ở bữa tiệc đó, chờ đợi cơ hội tiếp cận anh ta một mình ở ban công. Thế nên không có khả năng là cô ta nhận nhầm người.”
“Nói tóm lại, dấu hiệu duy nhất cho thấy đây không phải là một vụ tai nạn là thái độ lạ lùng của người phụ nữ bí ẩn này và việc cô ta biến mất ngay sau đó, không chịu tới trình diện để làm rõ sự tình. Ngược lại, cũng không có bằng chứng rõ ràng cho thấy đây là một vụ án mạng.”
Báo cáo của Wanger về vụ Ken Bliss:
Tử vong vì rơi từ ban công tầng hai mươi bảy, lúc 4:30 sáng, ngày 20 tháng 5. Trước khi chết có nói chuyện mới một người phụ nữ khoảng 26 tuổi, da trắng, tóc vàng, mắt xanh, cao khoảng 1m65. Danh tính chưa xác định. Cần thẩm vấn.
Động cơ: Chưa xác định là án mạng, nhưng nếu đúng thì có khả năng là vì quan hệ luyến ái hoặc ghen tuông. Không có ghi nhận về mối quan hệ với nạn nhân trong quá khứ.
Nhân chứng: Không có.
Vật chứng: Khăn choàng đen, mua tại Bonwit Teller, ngày 19 tháng 5.
Vụ án vẫn để ngỏ.