Phải đến gần một tuần sau khi xảy ra vụ việc thì Wanger mới được sếp giao nhiệm vụ điều tra. Trước đó, một tay nào đó tên là Cleary phụ trách việc phá án, nhưng rốt cuộc cũng không đi đến đâu.
“Wanger này, có một vụ khá kỳ quặc ở khách sạn Helena. Tôi vừa đọc báo cáo gửi về xong, thấy có vài nét trùng khớp với vụ Bliss… khoảng sáu tháng trước, anh nhớ chứ? Nếu chỉ nhìn qua thì chẳng có gì giống nhau giữa hai vụ này cả. Vụ này thì rõ rành rành là án mạng rồi. Nhưng có một điểm khiến tôi chú ý là cả hai vụ đều có hình bóng một người phụ nữ đã lặn mất tăm ngay sau đó, mặc cho người của ta nỗ lực tìm kiếm khắp nơi. Cả hai vụ cũng không xác định được động cơ cụ thể nào. Trong ngành này, không phải lúc nào ta cũng gặp hai sự việc kiểu đó. Thế nên tôi cho rằng tốt hơn là để Cleary chuyển vụ này sang cho anh, bàn giao lại những gì anh ta phát hiện được, để anh thẩm vấn những người anh ta đã tập hợp trong hồ sơ. Nói cho cùng thì anh cũng đã nắm rõ vụ Bliss, còn anh ta thì không, nên anh sẽ đánh giá tốt hơn. Nếu anh tìm được mối liên hệ giữa hai vụ, cho dù nhỏ nhặt đến đâu, thì báo cho tôi ngay. Tôi giao cho anh toàn tâm vào vụ này.”
Cleary nói, “Đây là những gì tôi thu thập được về vụ này sau bảy ngày. Tất cả đều rất dễ hiểu nhưng lại không có ý nghĩa gì cả. Bề ngoài thì trông như một người đàn bà tâm thần đi gây án, nhưng tôi có bằng chứng rõ ràng cho thấy cô ta không phù hợp với hình mẫu ấy - rồi anh cũng sẽ tự rút ra kết luận tương tự sau khi đọc. Nạn nhân tử vong vì một lượng nhỏ kali xyanua pha lẫn trong rượu arak…”
“Phải, tôi có đọc trong báo cáo khám nghiệm như vậy.”
“Đây là biên bản lời khai nhân chứng. Anh đọc cụ thể sau, giờ để tôi tổng hợp trước. Thứ nhất, tôi tìm được một cuống vé nhà hát màu đỏ - phần khách được giữ lại sau khi xé vé ở cửa ấy - trong túi áo nạn nhân. Tôi đã tìm hiểu, kết quả là thế này: trước hôm anh ta chết hai ngày, vào buổi tối, có một phụ nữ tóc đỏ vô cùng xinh đẹp tới phòng vé nhà hát Elgin để hỏi mua trọn một lô. Nhân viên quầy vé hỏi khách muốn xem vào tối nào thì cô ta đáp là điều đó không quan trọng, tối nào cũng được, miễn là mình có thể lấy toàn bộ ghế trong lô. Điều đó thật kỳ quặc, vì hai lí do: đầu tiên là phần lớn khách chọn thời điểm khá kĩ, họ muốn kiếm được chỗ ngồi tốt nhất vào một ngày cụ thể; thứ hai là số lượng ghế trong lô không phải là vấn đề với người khách này - cô ta không quan tâm lô có ba, bốn hay năm ghế, miễn là riêng một lô. Nhân viên quầy vé chọn ra một lô bốn ghế vào đêm gần nhất nhà hát bố trí được, tức là ngay đêm diễn hôm sau. Đương nhiên sự kiện này khá ấn tượng với ông ta.
Hai vé không được sử dụng. Mitchell đến rạp hát một mình vào đêm diễn đó, cầm theo một vé. Người phụ nữ mua vé cũng đến rạp một mình, nhưng muộn hơn nhiều, khá lâu sau khi đã mở màn.”
“Chỉ có một người mới có thể xác nhận là người phụ nữ đến rạp cũng là người mua vé”, Wanger nhắc.
“Nhân viên quầy vé. Lời khai của ông ta đang ở chỗ ngón tay cái anh đó. Ông ta đóng cửa quầy sau giờ bán và tình cờ lại đứng xem kịch từ cầu thang nên thấy cô ta đi qua, lên gác một mình. Ông ta nhận ra người phụ nữ này ngay lập tức.
Giờ đến chỗ quan trọng đây. Tôi đã thẩm vấn nhân viên phụ trách khu vực lô. Qua những gì anh này kể lại, tôi có thể khẳng định rằng hai người bọn họ hoàn toàn không quen biết nhau. Vì nhiều lí do, anh ta đặc biệt chú ý tới việc cô ta vào chỗ ngồi. Khu vực anh ta phụ trách có ít khách hơn khu vực ban công hay khu vực phổ thông. Cô ta đến khá muộn, thế nên thành nổi bật. Anh ta thấy lạ là người phụ nữ đẹp như thế mà lại đi một mình.
Anh ta quan sát kĩ, nếu không nói là cố tình tọc mạch, vì những lí do vừa rồi, khi cô ta ngồi vào ghế. Hai người bọn họ không hề chào hỏi nhau câu nào. Anh ta nấn ná lại đủ gần nên chắc chắn chuyện đó. Dựa vào kinh nghiệm nhiều năm hướng dẫn khách vào rạp, anh ta khẳng định là họ không quen nhau.
Bản thân tôi thấy nhận định của anh ta cũng đúng. Nếu họ quen nhau thật thì Mitchell hẳn đã đứng đợi cô ta ở sảnh, thay vì lên ngồi trước như vậy. Đàn ông ai chẳng thế, kể cả loại thô lỗ nhất.
Phải đến giờ nghỉ giữa màn thì anh nhân viên mới thấy hai người họ bắt chuyện với nhau, nhưng đó là cách nói năng khách sáo của hai người vừa mới làm quen.
Nói cách khác, đây là trường hợp đón lõng.”
“Nếu hai người họ không quen biết nhau, làm sao mà người phụ nữ đó đưa vé cho nạn nhân được? Cô ta mua vé, anh ta đến rạp với một vé trong đó.”
“Vé được gửi nặc danh qua đường bưu điện. Tôi cũng tìm thấy phong bì trong túi áo. Tấm vé màu đỏ tươi. Có vết lem màu hồng nhạt phía bên trong phong bì, bàn tay đẫm mồ hôi của ai đó ở bưu điện hoặc lễ tân khách sạn - hoặc có khi là chính Mitchell - đã cầm vào, làm vé ẩm và phai màu ra một chút. Đây, anh xem đi.
Người ta chỉ nhìn thấy người phụ nữ này thêm một lần nữa. Rồi cô ta mất tăm mất tích luôn. Tôi vẫn chưa tìm hiểu được từ đó đến nay con người này đã làm gì. Vào tối xảy ra án mạng, không ai thấy cô ta vào hay ra khỏi khách sạn cả. Tuy nhiên, điều đó cũng chẳng có gì là phức tạp, vì đằng sau khách sạn có một cầu thang phụ thông ra con hẻm mà không cần phải qua sảnh. Cửa ra vào cầu thang có chốt nên không mở được từ bên ngoài, nhưng nếu có người bố trí sẵn cửa thì cô ta đi vào chẳng khó khăn gì. Sự cẩn trọng này có lẽ là ý của cô ta - kẻ đang nuôi ý định hạ sát Mitchell.”
“Anh vừa nói sau lần ở rạp hát; có người còn nhìn thấy người phụ nữ này thêm một lần nữa. Ai vậy?”
“Là một cô bồi bàn đang qua lại với nạn nhân, tên là Maybelle Hodges. Cô ấy lên phòng khoảng một lúc sau thời điểm bên khám nghiệm xác định là nạn nhân chết. Khi cô ấy gõ cửa thì một người phụ nữ bước ra. Cô ta đã ở sẵn trong phòng.”
“Người phụ nữ này nói gì?”
“Cô ta thú nhận là đã giết Mitchell và khuyên cô gái trẻ quay xuống gác, tránh xa hiện trường để khỏi bị liên lụy.”
Wanger gãi gãi cằm, “Lời khai này có đáng tin không đây?”
“Tôi thấy khá đáng tin, lời mô tả của cô gái về người phụ nữ kia, cả hình dáng bên ngoài lẫn quần áo mặc trên người, khớp hoàn toàn với lời khai của nhân viên rạp hát. Chứng tỏ cô ấy không bịa chuyện.
Điều đó dẫn tới nhận định mà tôi nói lúc nãy. Người phụ nữ này không hề điên chút nào. Cô ta đã có một cơ hội rất tốt để ra tay sát hại cô gái trẻ kia ngay lúc đó, chỉ cần dụ cô ấy vào phòng - cái xác thì đã bị ri đô che rồi. Cô ta có nhiều thời gian. Thế nhưng cô ta lại xua cô gái đi chỗ khác, vì lợi ích của chính cô ấy.
Toàn bộ câu chuyện là thế. Có nhiều thông tin hơn chúng ta cần nhưng lại thiếu điểm mấu chốt để giải nghĩa mọi việc: động cơ.”
“Động cơ không xác định, kẻ sát nhân và nạn nhân không quen biết nhau, nữ thủ phạm xuất hiện chớp nhoáng rồi biến mất ngay sau khi gây án như một ánh chớp”, Wanger tổng kết lại. “Chà, sếp cử tôi sang đây để xem tôi có thể tìm ra thêm được gì không. Tôi chỉ chắc chắn một điểm duy nhất: vụ này dính líu tới vụ Bliss, nó là một bản sao hoàn chỉnh.”
Khách sạn Helena, tầng 4, bà dọn phòng khai, “Trước đó tôi chưa bao giờ gặp quý cô ấy, nên tôi biết cô ấy không sống trong khách sạn này. Tôi tưởng cô ấy đến đây thăm ai cơ. Cô ấy đi ngang qua hành lang - khoảng hai tuần trước sự việc kinh khủng đó, có thể lâu hơn. Cô ấy đứng ngoài cửa ngó vào trong lúc tôi dọn phòng cho ông ta. Tôi hỏi, ‘Cô tìm ông Mitchell à?’ Cô ấy đáp, ‘Không, nhưng tôi luôn nghĩ là ta có thể biết về tính cách và thói quen của con người ta, nếu quan sát nơi người đó sống.’ Cô ấy ăn nói lịch sự và hòa nhã lắm, nghe rất cuốn hút. Cô ấy nhìn mấy bức ảnh chủ nhà treo trên tường rồi nói, ‘Ông ta thích phụ nữ phải bí ẩn, nhìn ảnh là tôi biết. Những cô gái này không hề giống với con người ngoài đời thật của mình chút nào. Họ đang cố vờ như mình là một ai khác để cho ông ta chiêm ngưỡng, cắn cành hoa, nhìn qua quạt ren. Nếu ai trong số đó mà tỏ rõ bản chất thực sự thì chắc ông ta chẳng thèm treo ảnh lên đó đâu.’
Thế thôi. Sau đó thì quý cô ấy đi mất. Từ đó tôi không gặp lại cô ấy lần nào nữa cả.”
Nhân viên cửa hàng rượu Globe khai, “Có, tôi nhớ mình có bán chai này. Loại rượu đặc biệt như arak thì cả năm có khi chỉ bán được một chai thôi. Không, không phải là cô ta hỏi. Tôi thấy chai đó trên giá và nghĩ là đây là cơ hội tốt để đẩy nó đi, vì cô ta muốn mua loại rượu vừa lạ vừa nặng đô. Cô ta nói muốn mua làm quà tặng cho một người bạn, rượu càng lạ thì ông ta càng thích. Tôi có giới thiệu vodka và aquavit*, nhưng cô ta quyết định chọn arak. Cô ta cũng thú nhận rằng bản thân chưa bao giờ nếm thử loại đó. Có một điều kỳ lạ là khi ra về, cô ta cười và bảo tôi, ‘Gần đây tôi thấy mình làm rất nhiều điều trước đây chưa bao giờ làm.’
Aquavit: Loại rượu mạnh làm từ khoai tây hoặc các loại ngũ cốc, pha thêm hương vị thảo mộc, gia vị và tinh dầu trái cây, được sản xuất chủ yếu tại khu vực Bắc Âu.
Cô ta không hề tỏ ra lo lắng hay bồn chồn gì cả. Thật ra, có lúc cô ta còn tình nguyện đứng sang một bên và bảo tôi cứ ra phục vụ một ông khách khác đang cần gấp một chai rye*, còn cô ta thì cân nhắc tiếp. Cô ta bảo là mình cần có thời gian để lựa chọn cho đúng.”
Rye: Loại whiskey lúa mạch đen đặc trưng của Mỹ và Canada.
Một tuần sau, sếp của Wanger hỏi, “Anh có cho rằng hai vụ đó liên quan tới nhau không?”
“Có, thưa sếp.”
“Liên quan thế nào?”
“Chỉ có một điểm liên quan: người phụ nữ vô danh xuất hiện trong hai vụ này là một.”
“Ồ, không. Chỗ này thì anh nhầm rồi, không thể nào có chuyện đó”, sếp cẩm gạt đi, hai tay xua xua. “Đúng là khi trao đổi với anh tuần trước, tôi cũng lờ mờ cảm thấy vậy. Nhưng điều đó không có cơ sở vững chắc, chẳng phù hợp với chứng cứ gì cả. Sau đó tôi đã dành thời gian đọc tài liệu tổng hợp mô tả đối tượng do Cleary gửi tới. Kết quả là giả thuyết sụp đổ hoàn toàn. Lấy hồ sơ vụ Bliss ra và mang qua đây… Giờ để hai hồ sơ cạnh nhau để tiện so sánh nhé.”
Hồ sơ vụ Bliss
tóc vàng
cao 1m65
nước da sáng
mắt xanh
khoảng 26 tuổi
ăn nói có học thức, lịch sự
Hồ sơ vụ Mitchell
tóc đỏ
cao 1m70
nước da hơi tái
mắt xanh sẫm
khoảng 32 tuổi
có ngữ điệu ngoại quốc
“Không có điểm tương đồng nào trong phương thức gây án, một chút cũng không. Một người đẩy anh nhân viên môi giới khỏi ban công. Người kia bỏ xyanua vào rượu của một gã vô công rồi nghề sống trong khách sạn tồi tàn. Kết quả điều tra cho thấy cả hai nạn nhân đều không quen biết với người phụ nữ đã hãm hại mình, mà họ cũng chẳng biết nhau nữa. Không đâu Wanger, tôi cho rằng đây là hai vụ hoàn toàn độc lập…”
“Hai vụ đều do một nữ sát thủ duy nhất ra tay”, Wanger kiên quyết bảo vệ quan điểm. “Với hai cột mô tả đối lập nhau hoàn toàn đập vào mắt thế này, tôi thừa nhận mình thật nực cười khi cứ khăng khăng đây là cùng một người. Tuy nhiên, những điểm khác biệt về ngoại hình đó chẳng có ý nghĩa gì mấy. Hãy chia nhỏ từng nội dung nhé, để xem ta có rút ra được mẫu số chung nào giữa chúng không.
Tóc vàng với tóc đỏ: bé gái nào cũng có thể nói với sếp là điểm khác biệt đó không đáng kể.
Cao 1m65 với cao 1m70: cô ta chỉ cần thay một đôi giày đế bằng sang một đôi giày cao gót là được.
Nước da sáng với nước da tái: giải quyết được với một chút phấn trang điểm.
Khác về màu mắt thì có thể là ảo thị do việc đánh phấn mắt mang lại thôi.
Khác biệt về tuổi tác cũng phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài như trang phục hay thái độ, hành vi.
Còn lại gì nào? Ngữ điệu à? Tôi có thể nói ngay giọng vùng nào đó nếu muốn.
Một điểm cần lưu ý là không có nhân chứng nào ở vụ án này có dịp thấy nữ nghi phạm ở vụ kia. Chúng ta có hai nhóm nhân chứng hoàn toàn riêng rẽ. Không có ai liên quan đồng thời tới cả hai vụ, do đó không có cơ sở để tiến hành so sánh, sếp bảo là không có điểm tương đồng về phương thức gây án, nhưng thực tế là có nhiều. Cách ra tay cụ thể thì đúng là khác, cái này khiến sếp bị lạc hướng rồi. Hãy tập trung vào ‘hai’ nữ nghi phạm này. Cả hai đều thông minh, phải nói là cáo già mới đúng, đủ để lẩn đi ngay sau khi gây án. Tài năng hiếm có đấy. Cả hai đều rình rập nạn nhân từ trước, nhằm tìm kiếm thông tin về tính cách và thói quen của nạn nhân. Một người đến căn hộ của Bliss khi anh ta đi vắng, người kia thì cũng ghé qua phòng của Mitchell - cũng lúc anh ta không có nhà. Nếu đó không phải là tương đồng về phương thức thì sếp gọi là gì? Tôi chắc chắn hai nghi phạm đó thực ra là một người.”
“Thế động cơ của cô ta là gì?” Sếp cẩm tranh luận. “Không phải là trộm cắp rồi. Mitchell vẫn đang nợ một tháng rưỡi tiền nhà, còn cô ta thì bao trọn một lô bốn có vé giá hơn 3 đô la rồi vứt đi hai vé, chỉ để chắc chắn gặp được anh ta trong hoàn cảnh phù hợp. Trả thù thì nghe cũng hợp lí, nhưng… anh ta lại không hề biết hung thủ, mà cô ta cũng không quen nạn nhân nữa. Ta không khớp được một động cơ khả dĩ nào, cũng không đưa được ra lời giải thích nào giống như các trường hợp thiếu động cơ khác. Cô ta chẳng phải kẻ sát nhân tâm thần nào hết. Cô ta có cơ hội rất rõ để giết cô bồi bàn Hodges - trong khi cô Hodges thì ngây thơ, yếu đuối, chậm chạp, đúng loại mồi ngon khó cưỡng lại của những kẻ sát nhân bẩm sinh. Thay vào đó, cô ta bỏ qua, lại còn bảo cô gái kia đi chỗ khác để khỏi bị liên lụy nữa.”
“Động cơ ở trong quá khứ, đâu đó trong quá khứ”, Wanger vẫn cứng đầu với giả thuyết của mình.
“Chính anh đã lục tung quá khứ của Bliss rồi còn gì - xem xét từng ngày một - mà có tìm được gì đâu.”
“Chắc hẳn tôi đã bỏ qua điều gì đó. Tôi không tìm ra không có nghĩa là nó không tồn tại. Động cơ ở đó, có điều tôi chưa thấy thôi.”
“Chúng ta đang gặp trở ngại lớn đấy. Anh có thấy là kể cả khi hai nạn nhân còn sống, họ cũng chẳng giúp ta biết được thêm điều gì về nhân thân hay động cơ của hung thủ… đơn giản là vì bản thân họ cũng không quen cô ta, cũng chưa từng thấy cô ta bao giờ?”
“Sếp thật biết cách khích lệ người khác”, Wanger càu nhàu. “Tôi không hứa trước được là sẽ phá được vụ này đâu, dù sếp đã cố đùn sang cho tôi. Tôi chỉ hứa là sẽ không bỏ cuộc trước khi cố hết sức.”
Báo cáo của Wanger về vụ Mitchell (5 tháng sau):
Vật chứng:
1 phong bì, địa chỉ được đánh máy từ máy chữ trưng bày tại cửa hàng, người bán không cung cấp được thông tin gì.
1 chai rượu arak, mua tại cửa hàng Globe Liquor.
1 cuống vé, lô A-1, nhà hát Elgin.
Vụ án vẫn để ngỏ.