“Rồi cô ta đi ra đằng này như thế này.” Corey tiếp tục tái hiện buổi tối hôm đó, càng lúc càng nhiệt huyết như một diễn viên giỏi đang đứng giữa đám khán giả ái mộ thưởng thức vai diễn của anh ta. Điếu thuốc lá trễ xuống từ khóe miệng, hết nẩy lên lại hạ xuống cùng nhịp với cử động môi khi nói. Corey vén tay áo, áo vest không cài khuy. Một lọn tóc lúc lắc trước trán hòa với những cử động của cơ thể.
“Tiếp tục đi”, Wanger gật đầu.
“Rồi cô ta bắt đầu nghịch nghịch từng cái ngăn kéo thế này, táp - táp - táp. Khỉ thật, tôi đâu có ngờ. Tôi cứ tưởng cô ta đang cố tình câu giờ, tay chân lóng ngóng thì kiếm cái gì đó thôi. Ông biết rồi đấy, mấy cô hay phải giết thời gian, đợi đến khi có hứng đã. Thế nên đến khi cô ta mở đến ngăn kéo có khẩu súng rồi lấy nó ra…”
“Chờ chút, chờ một chút…”, Wanger đứng dậy khỏi ghế, làm một cử chỉ ra chiều không đồng ý. “Đừng chạm vào đó. Chúng tôi vẫn có thể lấy dấu vân tay của cô ta trên súng. Từ lúc cô ta cầm nó lên thì anh có động chạm nhiều không thế?”
Bàn tay của Corey như móng vuốt vồ mồi bất ngờ bị dừng giữa không trung. “Không, tôi chỉ cầm để lại vào đây thôi. Nhưng tôi vẫn chưa kể xong với ông về việc cô ta dùng súng thế nào sau đó…”
“Được rồi, nhưng để tôi tạm dừng ở đây cái đã. Tôi muốn cho súng đi kiểm tra… nếu anh cho phép.”
“Ông cứ tự nhiên.” Anh ta đứng sang một bên trong khi Wanger lấy khăn tay ra, cho vào trong ngăn kéo, dùng khăn tay cầm lấy khẩu súng bỏ vào trong túi.
“Tôi sẽ trả lại cho anh sau”, Wanger hứa.
“Không phải vội. Tôi giúp được cái gì thì giúp thôi.” Vai diễn tiếp tục. “Sau đó cô ta cứ nghịch nghịch khẩu súng. Tôi tiến tới, dùng cách thức cũ áp sát cô ta…”, anh ta nhìn xung quanh, thực sự bực tức cho dù lúc này chỉ là đang diễn lại thôi, “… nhưng không có kết quả.”
Wanger gật đầu kiểu như đàn ông hiểu nhau. “Cô ta không thích.”
“Cô ta không thích tí nào. Cô ta bảo, ‘Tôi không đi tìm tình yêu. Tôi không muốn hôn,’ rồi cứ thế mà cầm súng đi ra cửa luôn. Tôi đi theo, cô ta để súng ở lại ngay khung cửa, tôi ra đến nơi thì cô ta đã gần xuống dưới rồi. Tôi gọi cô ta bảo là kiểu gì tôi cũng sẽ biết cô ta là ai, dù phải ngồi cả đêm mà nghĩ. Cô ta cũng đáp lại là, ‘Anh nên lấy làm may vì mình chưa biết đó’.”
Mặt Corey lúc này trắng bệch vì phẫn nộ thực sự. “Phải thú thực là cách thức tôi áp dụng với cô ta đã đi quá đà! Tôi cũng chẳng ngại nếu có cô nào đó cự lại như thế, miễn là cô nàng sợ hãi thì chả sao. Nhưng tôi rất khó chịu khi cô này cự lại mà lại rất thoải mái.”
Wanger hoàn toàn hiểu ý của Corey. Anh ta đã bị dắt mũi vì một lí do mà chỉ có cô ta mới biết được, bằng một mẹo nhỏ nhưng ma mãnh; anh ta đã bị tước mất cái mà anh ta có quyền được biết. Nếu xét về tình cảm cá nhân của Wanger trong vụ này - tất nhiên là không có rồi - thì có thể nói ông thích anh chàng này.
Ông gõ gõ ngón tay lên thành ghế. “Theo tôi thì có ba khả năng lí giải việc cô ta đồng ý lên đây với anh trước khi quay trở lại đó giết người theo kế hoạch của cô ta đã bố trí từ đầu. Thứ nhất là cô ta có ý định loại anh khỏi cuộc chơi, trước khi anh có cơ hội báo cho Ferguson hay làm xáo trộn kế hoạch cô ta đang thực hiện suôn sẻ. Sau khi lên đây với anh, thấy anh vẫn không nhớ ra cô ta là ai, cô ta đã thay đổi ý định. Cô ta đã tách anh ra khỏi bữa tiệc đó - đấy chính là điểm quan trọng nhất. Cô ta tính rằng vẫn có đủ thời gian để quay lại đó, hoàn tất công việc, trước khi anh thực sự nhớ ra đã thấy cô ta ở chỗ nào.
Thứ hai, cô ta lên đây chỉ để lấy vũ khí đó để đi giết người. Không, giả thuyết này không ổn. Đầu óc tôi có vấn đề rồi. Cô ta đã để súng lại ở cửa cơ mà.
Cuối cùng là anh quấy rầy cô ta ở bữa tiệc, nên cô ta sợ anh sẽ ở lại đó sau khi mọi người khác đã về, khiến công việc bị cản trở. Thế nên cô ta đã chọn cách dễ nhất để kéo anh ra khỏi đó. Đùa giỡn rồi đá anh như thế.”
Vẻ mặt của Corey cho thấy giả thuyết cuối cùng không phải điều tốt cho cái tôi của mình, nhưng anh ta phải nhịn.
“Tôi nghĩ rằng kết hợp giữa một và ba là giả thuyết hợp lí nhất vào lúc này”, Wanger nói tiếp khi chuẩn bị đi. “Cô ta lên đây bởi vì anh đã khiến cô ta sợ hãi. Cô ta có ý định sử dụng khẩu súng đó nếu anh nhớ ra được cô ta là ai. Anh không nhớ được, nên cô ta tha cho anh. Ngày mai qua chỗ chúng tôi nhé, được chứ. Tôi muốn nghe anh trình bày lại sự việc một lần nữa. Cứ bảo là vào gặp tôi, tên là Wanger nhé.”
Trời đã sáng khi Wanger về đến đồn cảnh sát. Trời sáng thì chẳng phải lúc vui vẻ gì ở đồn cảnh sát, ở bên trong cũng như bên ngoài. Ông mệt mỏi, mà tảng sáng lại là lúc cơ thể con người kém hoạt động nhất. Ông vào phòng của cấp trên, lúc này không có ai, xụp xuống ghế cạnh bàn, vùi đầu vào trong hai bàn tay.
“Tại sao cô ta lại sinh ra trên đời này nhỉ?” Wanger khẽ khàng than vãn một mình.
Một lúc sau, ông ngẩng đầu lên, lấy khẩu súng cô ta đã sử dụng tại chỗ Corey ra, cho vào trong một phong bì mới, dán lại, viết loằng ngoằng mấy chữ lên đó, “Kiểm tra cái này giúp tôi. Wanger.” Kèm theo là số hiệu cảnh sát.
Ông cầm điện thoại lên. “Gọi nhân viên thư tín vào đây giúp nhé.”
“Lúc này thì làm gì có ai ở đây chứ”, sĩ quan trực ban trả lời.
“Cứ gọi cho tôi một người, ai cũng được.”
Khoảng mười phút sau có một nhân viên mới - trông xanh như tàu lá, đủ để hấp dẫn mấy con bò đang gặm cỏ - xuất hiện.
Wanger nhận xét, “Người ta đào ở đâu ra cậu thế?” Nhưng câu này nói nhỏ cho mình ông nghe thôi. Ai mà chẳng có cảm giác chứ.
“Sao bây giờ cậu mới vào?”
“Tôi vào nhầm mấy phòng. Chỗ này bố trí rắc rối quá.”
Wanger chẳng ngại ngần lừ mắt với chàng trai trẻ. “Mang cái này đi gửi cho tôi. Trong đó là súng đấy. Người ta sẽ biết phải làm gì với nó.” Sau đó để đảm bảo cậu ta không nhầm lẫn, “Cậu biết chỗ mang cái này đi đúng không?”
Nhân viên mới ưỡn ngực đáp lại. “Biết chứ ạ. Tôi đã đến đó hai lần kể từ khi chuyển đến đây.”
Cậu ta quay người đi ra, bước tới nhầm bên cửa, bên đó không có tay nắm, chỉ có bản lề, cứ đứng đó nhìn lên nhìn xuống xem có phải cái cửa đang giở trò với mình không. Sau khi phát hiện ra nguyên nhân, cậu ta chuyển sang bên có tay nắm, tóm lấy nó, nhưng vẫn không ra ngoài được.
“Dịch chân của cậu ra chỗ khác”, Wanger chỉnh cậu ta từ xa, kiên nhẫn như một thiên thần. “Chân cậu đang vướng cửa đấy.”
Ông đã quá mệt, chẳng còn sức mà bực bội nữa.
“Anh vẫn khẳng định những gì anh khai báo tối hôm rồi chứ?” Wanger bắt đầu cuộc thẩm vấn thứ hai, cụ thể hơn với Corey tại đồn cảnh sát, bốn mươi tám giờ sau.
“Tất nhiên. Điểm giống nhau với người phụ nữ áo đen xuất hiện ở bữa tiệc đính hôn của Marjorie Elliott cách đây hai năm, vào tối hôm Bliss chết, là đôi mắt, khuôn miệng, thực ra là cái gì cũng giống, trừ mái tóc. Tôi dám thề đó là cùng một người.”
“Cá nhân tôi rất mừng khi thấy anh khai như vậy. Không chỉ những chi tiết đưa ra là quan trọng, mà lời khai đó cũng phù hợp với giả thuyết của bản thân tôi về mấy vụ án này: tất cả chỉ có một hung thủ, cùng một người phụ nữ. Cũng phải nói thêm là ngoài tôi ra không còn ai ủng hộ giả thuyết đó cả.”
Corey nắm tay, đập mạnh lên mặt bàn. “Nếu mà tôi nhớ ra sớm hơn. Giá mà tôi nhìn bức chân dung đó là nhận ra ngay. Nhưng rất tiếc tôi lại không nhớ ra.”
“Đúng là anh đã có thể cứu mạng ông họa sĩ nếu như phát hiện ra trước đó chỉ một tiếng đồng hồ thôi. Nhưng cô ta đã gặp may. Do đó, có khả năng là khi anh cứ khăng khăng mình đã thấy cô ta ở đâu đó, chính anh lại thúc cô ta đẩy sớm mọi việc, gấp rút thực hiện kế hoạch. Cô ta đã nhận ra anh, cảm nhận được nguy hiểm nên rút ngắn kế hoạch. Và có thể là - có thể thôi nhé - cô ta ra tay chỉ vài phút trước khi anh gọi điện báo. Ông ta chết lúc 3:21; đồng hồ đeo tay của ông ta ngừng chạy khi va đập lúc ngã.”
“Tôi gọi báo lúc 3:22 hay 3:23 gì đó. Tôi có nhìn đồng hồ trong phòng!” Corey đau lòng nhăn mặt. “Lúc đó mũi tên cắm vào trái tim ông ta hẳn vẫn còn rung, ông ta chắc còn chưa ngã xuống sàn.”
“Đừng quá xúc động.” Viên thanh tra cố gắng an ủi anh ta. “Chuyện đã diễn ra rồi, quá muộn rồi. Điều tôi quan tâm bây giờ là giá trị của anh. Anh chính là nhân tố tôi cầu mong mà đến bây giờ mới có được. Cuối cùng thì cũng có sợi dây liên kết giữa hai trong bốn nạn nhân này. Anh không quen Mitchell à?”
“Không, tôi không quen.”
“Moran?”
“Cũng không quen.”
“Nhưng ít nhất thì anh cũng biết hai người, dù không được cả bốn. Anh chính là nhân chứng đầu tiên có được cái điều kiện kết nối hai vụ án riêng rẽ này lại với nhau. Anh có biết mình quan trọng với chúng tôi thế nào không?”
Corey tỏ ý nghi ngờ. “Nhưng tôi không biết hai người bọn họ cùng một lúc. Tôi mới quen Ferguson khoảng tám tháng nay thôi, tại một bữa tiệc cocktail. Lúc đó thì Bliss đã chết rồi.”
Mặt Wanger xị xuống. “Thế nghĩa rằng kể cả qua anh thì dù cho có mối liên hệ nào giữa họ thì cũng là gián tiếp cả thôi.”
“Tôi e là vậy. Kể cả Bliss thì tôi cũng chỉ quen trong một hay hai năm cuối. Lúc đó thì Bliss và Ferguson hẳn đã thoát khỏi quỹ đạo của nhau rồi.”
“Hai người đó có vấn đề gì với nhau không?” Wanger hỏi dò.
“Không. Hai thế giới khác biệt. Nghề nghiệp khác nhau, lợi ích khác nhau. Một làm môi giới, một là nghệ sĩ. Không có điểm chung nào sau khi họ chuyên tâm vào lĩnh vực của mình.”
“Hai người đó có lúc nào nhắc đến Mitchell không?”
“Có thì tôi cũng không nhớ.”
“Moran?”
“Không.”
“Mitchell và Moran chắc chắn ở đâu đó trong cuộc đời họ”, Wanger vẫn không chịu bỏ cuộc. “Nhưng tạm thời cứ để như thế đi, hãy tập trung vào hai anh bạn ta có đầu mối đã. Tôi muốn anh giúp tôi một việc: tôi muốn anh lục tung trí nhớ, moi lại mọi khoảnh khắc mà hai người này nhắc về nhau - Bliss nói về Ferguson, Ferguson nói về Bliss - và cố tìm ra điều liên quan trong hoàn cảnh họ nhắc về nhau, ví dụ như đang nói về chuyện gì hay chủ đề gì. Phụ nữ, cá ngựa, tiền bạc, cái gì cũng được. Anh rõ chưa. Giả thuyết của tôi là có những điểm chung giữa bốn người này - và có thể là người khác nữa. Nhưng vì tôi không biết những người khác là ai, nên phải tập trung vào bốn người đã biết này. Khi đã tìm được điểm chung thì tôi có thể lần ra người phụ nữ kia, rồi tìm ra những điểm khác, vì cho tới lúc này tôi vẫn chưa tìm được cô ta, thậm chí cả động cơ gây án cũng không rõ.”
Wanger báo cáo với cấp trên, “Thực tế lúc này là, để cho mọi điều rõ ràng, tôi sẽ triển khai theo hướng mà anh sẽ cho rằng là tôi tự sát, là ngớ ngẩn. Tôi sẽ loại người phụ nữ đó ra khỏi tất cả những tính toán của mình, bỏ hẳn cô ta sang một bên, coi như cô ta không hề tồn tại. Có cô ta ở đó thì mọi việc càng rối rắm hơn mà thôi. Tôi sẽ chỉ tập trung vào bốn người đàn ông, bốn nạn nhân. Khi tôi có thể nắm được sợi dây nối cả bốn người này với nhau thì tự nhiên cô ta sẽ lại xuất hiện trong đó thôi, lúc đó thì động cơ gây án sẽ rõ ràng.”
Sếp cẩm lắc đầu nghi ngờ. “Nói nhẹ nhàng nhất thì cách làm đó là ngược đời. Cô ta giết người, thế nên phải tập trung vào cô ta là chính, còn anh lại chọn cách tìm hiểu nạn nhân.”
“Để tôi giải thích. Cô ta sẽ khiến ta ở tình thế này mãi mãi, giống như đã bắt ta chôn chân hai năm nay rồi. Khi không mở được cánh cửa này thì phải mở cánh cửa khác, kể cả nếu cửa đó không mở vào phòng ta muốn ngay, nhưng ít nhất cũng vào được phòng nào đó.”
“Tốt thôi, cố mà vào, kể cả qua đường ống khói”, sếp cẩm thúc giục. “Chỉ có một điều duy nhất giúp việc này không trở thành đống phân thối là không ai, bên trong hay bên ngoài chỗ này, có vẻ như đồng quan điểm với anh là bốn vụ này có liên quan với nhau. Anh có thể thấy là bị bốn hung thủ trong bốn trường hợp khác nhau chơi xỏ còn dễ chịu hơn là bị chỉ một cô gái dắt mũi trong bốn vụ liên tiếp.”
Wanger đang bước xuống bậc thềm từ đồn ra thì va phải Corey đang trên đường chạy lên. Corey tóm ngay lấy tay ông. “Chờ chút, tôi có việc muốn gặp ông ngay bây giờ.”
“Có chuyện gì mà anh lại đến đây vào giờ này đấy? Tôi đang đi về rồi đây.”
“Tôi vừa mới đi đánh bài về xong. Ông có nhớ là ông bảo tôi cố nhớ xem Bliss với Ferguson có nhắc tới nhau trong hoàn cảnh nào thì phải báo với ông không? Tôi vừa nhớ ra xong nên tôi bỏ cả chơi đến thẳng đây tìm ông.”
“Tốt quá. Vào trong này, có gì từ từ nói.” Cả hai người cùng đi lên bậc cầu thang. Wanger dẫn Corey vào một phòng còn trống ở trong, bật đèn lên. “Tôi về nhà sớm hay muộn thì kiểu gì cũng bị rầy la thôi”, ông thú nhận, “thế nên thêm nửa giờ nữa cũng chẳng thành vấn đề.”
“Thật ra tôi cũng không biết là có đúng ý ông hay không, nhưng tôi nhớ ra được một chuyện. Tôi phải nói ra với ông ngay kẻo lại quên mất. Chuyện này dẫn tới chuyện kia thôi. Hôm nay chúng tôi chơi bài trong sòng, có một tay đẩy cả đống thẻ qua bàn và nói, ‘Không mang cả về được đâu’. Câu đó làm tôi nhớ đến Ferguson. Có một lần tôi chơi bài với ông ta ở trong xưởng vẽ, cũng đẩy cả đống tiền qua bàn rồi nói câu y như thế. Chính lúc đó tôi lại nhớ về câu Ferguson nói mà có liên quan đến Ken Bliss. Đó là cái ông muốn, đúng không?
Đấy, đời là thế. Chuyện này dẫn tới chuyện kia. Ông ta nói là, ‘Từ hồi hay đánh bài với Hội Thứ Sáu thì chưa có lần nào bài đẹp như thế này.’ Tôi hỏi, ‘Hội Thứ Sáu nào cơ?’ Ông ta bảo, ‘Tôi, Ken Bliss với mấy người nữa thường lập thành một nhóm chơi bài, kiểu câu lạc bộ ấy, để không phải đóng phí hay gì cả. Thế nên chúng tôi thứ Sáu nào cũng chơi. Thứ Sáu thì cũng hay là ngày lĩnh lương mà. Cứ lần lượt đến phòng của từng người trong nhóm chơi. Chơi xong thì leo lên ô tô mà chúng tôi chung tiền mua, phóng lung tung trong thành phố, quậy phá một chút.’
Ông ta chỉ nói thế thôi, trong lúc chờ nhà cái thu bài rồi chia lại ấy mà. Ông thấy có giúp được gì cho mình không?”
Wanger đập bốp một cái vào sau vai Corey, mạnh đến nỗi anh ta phải bám vào bàn thì mới ngồi vững được. “Đó là điểm đột phá đầu tiên của tôi đấy.”
Wanger báo cáo với sếp, “Họ cùng một hội đánh bài, Bliss và Ferguson ấy. Nghe không có gì nhiều, đúng không? Nhưng đó đúng là điều tôi cần cho thấy tôi không đi lạc lối: một điểm chung trong cuộc sống của hai nạn nhân.”
“Thế điều đó có ý nghĩa gì?”
“Một sợi dây thì ban đầu cũng chưa có gì đâu. Có thêm một sợi dây nữa thì sẽ chắc hơn. Nếu thêm vài sợi nữa, đan chéo nhau ở cùng một điểm thì hẳn là đủ sức để kéo cả quả tạ ấy chứ. Đấy chẳng phải cách người ta đan lưới đánh cá hay sao?
“Giờ thì đến lúc tôi phải đào bới cật lực. Tôi phải tìm được ngày, tháng, năm - lúc nhóm đánh bài này còn tụ với nhau ấy. Tôi phải tìm ra trong nhóm đó còn những ai nữa, ngoài Bliss và Ferguson. Tôi phải tìm ra những ngày thứ Sáu nào họ ở cùng nhau, hôm nào thì không. Khi tìm ra rồi thì tôi lại phải xác minh những ngày thứ Sáu đó xem họ làm những gì, theo lời Ferguson, là đi quậy phá lung tung ấy. Cũng có thể có trong hồ sơ cảnh sát vì tội gây rối cũng nên.
“Lúc đó thì có cơ sở rồi. Đó là điểm xuất phát để đi tìm người phụ nữ bí ẩn này. Tôi có một chỗ đứng vững vàng chứ không phải lơ lửng giữa không trung như bây giờ.”
“Ngoài mấy chuyện đó ra”, sếp cẩm nói đùa, nhưng vẫn không thể nói là không nghiêm túc, “anh chẳng có việc gì khác làm cả. Thế lúc rảnh rỗi thì anh làm gì?”
Mười ngày sau, sếp cẩm hỏi, “Đến đích chưa?”
“Rồi, như con rùa. Tôi có ngày tháng rồi, có cả tên của hai người nữa trong Hội Thứ Sáu đó. Nhưng lại xuất hiện một điểm mù trong đó, mà chuyện đó thì tôi không thích chút nào. Nó có thể khiến bao nhiêu công sức điều tra thành đổ sông, đổ biển hết, nếu như tôi không làm rõ được sớm.”
“Điều gì mà ghê gớm thế?”
“Không có Mitchell. Anh ta không phải là người trong nhóm đánh bài đó. Không có tên anh ta. Tôi đã rà lại báo cáo, hồ sơ mấy vụ gây rối, cũng tìm được một việc, như tôi đã nói là có khả năng ấy. Bốn người trong một chiếc xe, phóng đi vào một ngày thứ Sáu, trong tình trạng say rượu, mất kiểm soát, phóng nhanh, vượt ẩu, cầm cả một chai rượu ném vào cửa kính nhà người ta, đâm đổ cả một họng nước cứu hỏa ven đường. Mỗi người trong số đó đều phải lao động công ích sáu mươi ngày, phải đền bù thiệt hại và tất nhiên là bị tước bằng lái xe. Báo cáo đó cho ta ba cái tên có liên quan là Bliss, Moran và Ferguson, ơn Chúa là mấy tay này khai tên thật. Người thứ tư là người mới toanh, Honeyweather. Tôi cũng thu được từ báo cáo địa chỉ của họ vào thời gian đó. Giờ thì dò lại anh chàng thứ tư - Honeyweather - này sẽ dễ dàng hơn. Nhưng nếu Mitchell cũng là người trong hội bài đó thì hẳn anh ta cũng đã bị phạt như mấy người kia rồi chứ. Vậy mà anh ta lại là một trong bốn người bị cô ta hạ sát. Tôi vẫn đang sợ là cái hội bài đó chẳng liên quan gì tới mấy án mạng này, tôi sợ là tôi đang tìm hổ nhầm hang rồi.”
“Cũng có thể là tối hôm thứ Sáu đó Mitchell bị ốm, hoặc là say quá không đi cùng được, hoặc là về nhà sớm trước khi cả hội dính vào rắc rối hôm đó, hoặc có khi anh ta hôm đó đã đi đâu đó chẳng hạn. Tôi nghĩ chưa nên bỏ cuộc, vẫn nên tiếp tục theo hướng đó. Ít ra đây là một hướng còn mang lại kết quả gì đó. Có còn hơn không.”
Một tuần sau.
“Tình hình thế nào rồi, Wanger?”
“Ông không nhìn mặt tôi sao? Đây là bộ mặt của người chuẩn bị nhảy cầu tự tử đấy.”
“Cũng được! Nhưng nhảy thì cũng phải đợi xong cái vụ ‘nữ sát nhân bí hiểm’ này đã. Sau đó thì chính tôi sẽ đưa anh đến cầu, trả phí cầu cho anh luôn.”
“Không đùa đâu, sếp, tôi chán lắm rồi. Tôi đã dựng xong vụ án này từ lần tôi báo cáo với sếp ấy. Tôi thấy đã hoàn chỉnh hết rồi, không còn chi tiết nào thừa cả. Thậm chí tôi còn điền được vào ‘điểm mù’ về Mitchell nữa. Xong đến thế rồi, nhưng… tôi thấy nó không đúng, chẳng giúp gì được cho chúng ta hết. Rốt cuộc mọi thứ trong mấy vụ án này lại kéo về một điểm là ‘không có động cơ gây án’, từ đầu tới cuối. Những gì họ gây ra không tồi tệ đến mức làm tổn thương người khác, không đến mức có ai đó phải kiếm họ để đòi nợ máu.”
“Có thể là có đấy, nhưng anh chưa chỉ ra được thôi. Anh cứ báo cáo xem cụ thể thế nào.”
“Tôi tìm hiểu về anh chàng Honeyweather, anh chàng thứ tư trong nhóm đánh bài, theo địa chỉ để lại từ hồ sơ vụ gây rối tối hôm đó. Tôi không tìm được anh ta. Anh ta đã biến mất khỏi Trái Đất. Hành tung của anh ta chỉ để lại dấu khoảng một năm sau sự kiện đó. Mà, Chúa tôi ơi, anh ta di chuyển rất nhiều! Thế rồi đột nhiên anh ta biến mất, lặn không sủi tăm y như người phụ nữ thần bí kia, chỉ khác là sau đó thì không xuất hiện lại thôi.”
“Anh ta thuộc giới nào?”
“Anh ta thuộc hạng thất nghiệp kinh niên. Anh ta ngồi cả ngày trong phòng, mổ cò trên máy đánh chữ - đó là theo lời của bà chủ nhà gần đây nhất của anh ta. Sau đó anh ta chuyển đi, không thấy lộ mặt ra ở nơi nào khác cả.”
“Đừng vội vàng quá, có thể tôi giúp anh được ở chỗ này”, sếp cẩm nói. “Không có việc làm, mổ cò trên máy chữ, có thể anh ta đang tập làm nhà văn. Mấy người này thì cũng hay thay tên đổi họ lắm, đúng không? Anh có mô tả nhân dạng nào cụ thể không?”
“Có, cũng khá chính xác.”
“Thế thì mang tới mấy nhà xuất bản hỏi xem họ có biết ai giống thế không. Thế còn Mitchell thì sao? Anh có nói là giải quyết được bài toán đó rồi.”
“Đúng thế. Anh ta đứng phục vụ quầy ở chỗ họ hay lui tới vào thời gian đó. Họ kéo anh ta lên xe đi chơi cùng không chỉ một lần. Sếp này, tôi đoán là vì anh ta cuỗm rượu của chủ quán mang đi cùng đấy. Thế nên dù anh ta không phải là người trong hội bài đó nhưng mỗi lần đi lướt sóng trời khi nhậu xong thì lúc nào cũng có mặt anh ta. Điều đó giúp cho kết quả điều tra của tôi đứng vững được đấy. Tôi cứ chắc mẩm là sụp đổ hết đến nơi rồi. Hoạt động tối thứ Sáu trong xe ô tô chính là điểm chung của tất cả bọn họ. Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn còn đó, họ không gây ra điều gì tội lỗi đủ để bị bắt giữ hình sự cả. Đó là bức tường trước mắt chúng ta hiện nay.”
“Anh chắc chứ?”
“Theo hồ sơ cảnh sát mà nói thì trong phạm vi thành phố này, vào khoảng thời gian đó thì là chắc chắn. Tôi còn rà lại cả hồ sơ của mấy vùng lân cận cơ.”
“Nhưng anh không thấy là đó có thể là một chuyện gì đó không được cảnh sát quan tâm đến vào lúc đó, nếu không thì làm sao họ có thể tự do tới ngày hôm nay? Có thể là một tội lỗi nào đó chưa từng được đưa vào hồ sơ chính thức thì sao?”
“Còn hơn thế”, Wanger trầm ngâm. “Tôi thấy có… thấy có một vụ mà họ có khi còn không nhận ra là họ là thủ phạm. Nhưng tôi cũng đã có cách xác minh vấn đề này rồi. Tôi sẽ lục lại hồ sơ lưu trữ báo chí của tất cả các tờ báo có đăng bài vào những ngày họ tụ với nhau. Chắc chắn trong đó có gì đó, ẩn giấu, nhìn qua có thể là không liên quan gì tới bọn họ cả. May là có thư viện lưu trữ những cái đó. Bàn đạp của tôi hiện giờ là ở đấy. Càng khó khăn thì tôi càng thấy hứng thú.”
Wanger gọi điện sang đơn vị phụ trách xác minh vân tay.
“Này, khẩu súng tôi gửi bị làm sao rồi hả? Các vị làm mất rồi à? Tôi vẫn đang đợi báo cáo đây.”
“Súng nào? Tôi có thấy anh gửi súng nào qua đây đâu. Đừng đùa kiểu như thế.”
Một tiếng rít đinh tai vang lên lên như một ca sĩ nam đột nhiên muốn thử một nốt cao hơn khả năng của mình. Rồi, “Tôi sao cơ? Tôi đã gửi cho bên anh một khẩu súng để kiểm tra, phải đến mấy tuần rồi, mà cho đến giờ bên anh vẫn chưa thở ra một kết quả nào cả! Tôi vẫn đang đợi đây. Đừng coi đó là quà Giáng sinh nhé. Mà bên đó các anh có biết làm việc không thế? Các anh có nhiệm vụ là phải trả lại súng cho tôi, hay các anh không biết quy định đó? Toàn là một lũ lười nhác!”
“Nghe cho rõ đây, ông mồm to, chúng tôi chẳng cần ông dạy khôn cho chúng tôi! Ông tưởng mình là ai? Cảnh sát trưởng thành phố à? Nếu chúng tôi nhận được súng yêu cầu kiểm tra từ ông thì chúng tôi đã gửi lại rồi. Chúng tôi lấy gì để trả lại cho ông khi không nhận được gì hả?”
“Đừng có chơi cứng với tôi, anh bạn bên đó. Tôi có một khẩu súng và tôi cần khẩu súng đó.”
“Ha. Thế xem lại trong tủ đi, có khi vẫn ở đó đấy.“
Cạch.
Ba tuần sau, tại quê của một nhà văn nổi tiếng và thành công.
“Ông Holmes, có một ông đang đợi ở phòng ngoài, muốn gặp ông bằng được. Nhất định phải gặp.”
“Cô thừa biết lúc này là lúc nào! Cô làm cho tôi bao lâu rồi?”
“Tôi có nói với ông ta là ông đang thu âm vào máy, nhưng ông ta nói là việc gấp, không đợi được. Ông ta còn bảo là nếu tôi không vào báo cho ông thì ông ta sẽ tự vào.”
“Sam đâu? Bảo Sam đuổi ông ta ra ngoài! Nếu còn gây rắc rối gì nữa thì gọi cảnh sát tới.”
“Nhưng, ông Holmes, ông ta là cảnh sát mà. Thế nên tôi mới nghĩ là cần vào báo cho ông…”
“Cảnh sát khỉ gì chứ! Chắc là tại tôi lại dừng xe lâu quá cạnh họng cứu hỏa hay gì đó rồi. Bực thật, đúng lúc đang vào cảnh lớn nhất cả cuốn sách này nữa chứ. Cô có biết là mấy câu qua lại nãy giờ đều ghi vào máy hết rồi không! Thế nghĩa là tôi sẽ lại phải làm lại từ đầu? Tôi rất tiếc phải thế này, nhưng cô Truslow ạ, cô đã phá vỡ một trong những quy định quan trọng nhất của tôi mà tôi đã nói đi nói lại bao nhiêu lần từ khi tôi nhận cô vào làm việc. Khi tôi đang sáng tác thì không được vào, kể cả đang có cháy nhà đi nữa cũng mặc. Tôi rất tiếc là sau buổi hôm nay thì tôi không cần cô ở đây nữa. Cô đánh máy nốt phần ghi âm cô đang làm dở đi, Sam sẽ đưa cho cô chi phiếu trước khi cô về nhà…
“Người này đây à? Ông tưởng mình là ai mà tự ý vào trong này, cản trở công việc sáng tác của tôi hả? Ông có gì quan trọng định nói với tôi đây?”
Wanger nói nhỏ, “Mạng sống của anh.”