Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

20.1.1938. Cái tôi bầy nhầy. Một tin vui, một tin rất vui, đến với tôi là tôi vui sướng dậy đàng. Kề liền sau đó, tin bị cải chính. Hết, không còn gì nữa hết. Còn chứ! Do một hiện tượng kỳ lạ về sự dây dưa, cái nỗi vui sướng xâm chiếm lấy tôi rồi rút đi đã để lại đằng sau nó một lớp hạnh phúc, giống như nước biển khi rút lui để lại những vũng nước trong phản chiếu mặt trời. Có một lúc nào đó trong tôi chưa chịu hiểu rằng tin vui ấy là sai và cứ một mực mừng rỡ.

Lúc Rachel rời bỏ tôi, tôi xem chuyện ấy hờ hững thôi. Đến nay tôi vẫn tiếp tục xem chuyện đổ vỡ này chẳng lấy gì làm trầm trọng, mà về một mặt nào đó còn lợi nữa là đằng khác, vì tôi đinh ninh sự việc ấy sẽ mở đường cho nhiều thay đổi lớn, nhiều chuyện lớn. Nhưng có một cái tôi khác, cái tôi bầy nhầy. Thoạt đầu nó chẳng hiểu gì về việc đổ vỡ kia. Mà chẳng bao giờ nó hiểu ngay được một cái gì hết. Đó là một cái tôi nặng nề, thở dài, thất thường, thường xuyên đẫm đầy nước mắt và tinh trùng, nặng lòng với thói quen, với quá khứ của mình. Phải thêm nhiều tuần nữa mới hiểu rằng Rachel không còn quay gót trở lui. Bây giờ cái tôi ấy ra. Và nó khóc. Tôi mang nó trong lòng như một vết thương, một sinh vật ngây ngô mà đằm thắm, tai hơi nặng, mắt hơi cận, dễ bị phỉnh gạt, chậm phản ứng trước nguy cơ. Chính cái tôi này nó bắt tôi sục sạo từ hành lang này sang hành lang kia đầy lạnh lẽo của trường để tìm dấu vết bóng ma nhỏ u uất, đã chết dí vì ác cảm của cả bọn và nhất là vì tình cảm của riêng một thằng bạn. Nói như thế chẳng khác nào hai chục năm sau tôi gánh được cái khổ của nó trên đôi vai đàn ông của tôi, và làm cho hắn cười, cười vang!

25.1.1938. Ngôi trường Saint – Christophe, tại Beavais, chiếm cứ các cơ sở của tu viện dòng Citeaux cũng mang tên ấy, tu viện lập ra năm 1152 và đóng cửa vào năm 1785. Chỉ còn lại của thời Trung cổ những vòm nhà thờ phục chế, và phần lớn trường học được đặt ở toà tu viện lớn do Jean Aubert xây cất đầu thế kỷ 18. Mấy chi tiết này là quan trọng, vì không khí khắc khổ, khắc nghiệt mà chúng tôi phải chịu đựng hồi ấy xuất xứ phần nào từ lai lịch và lịch sử của mấy bức tường này. Không khí này lộ rõ hơn hết ở phòng tu kín với kiến trúc kém cỏi riêng của thế kỷ 17 và dùng làm nơi chơi cho đám nội trú buổi sáng trước giờ bọn ngoại trú kéo đến, và buổi chiều khi bọn này ra về. Chúng tôi chỉ được phép chơi ở hành lang, và chỉ phóng tầm nhìn xuống khu vườn phía trước trên bờ tường bọc quanh, khu vườn do bố của Nestor chăm chút, có những hàng cây thích trắng toả ra một thứ ánh sáng đục mùa hè, giữa vườn có xay một chiếc vạc bị sứt mẻ ấp ủ một đám dương xỉ cằn cỗi. Nỗi buồn bã tiết ra từ nơi này đã trở nên nặng nề hơn, và như có thể hít thở được, là do những bức tường cao bao bọc.

Những khi vắng bọn ngoại trú vốn tạo nên gạch nối sinh động với thế giới bên ngoài, chúng tôi mỗi ngày hai bận quây quần bên nhau trong ngôi nhà tù xanh này mà chúng tôi gọi với nhau là ao cá. Các trò chơi ồn ào, những trò đuổi bắt nhau đều bị loại trừ tại nơi này, vả chăng không khí cũng chẳng thích hợp chút nào, nhưng không vì thế mà cản trở đi đi lại lại, chuyện trò, rồi lại cái ao cá – còn hơn là nhà nguyện, nhà ăn hoặc các phòng ngủ - lại là nơi tụ tập thường lệ của nội trú, tụ điểm tập trung của một trăm năm mươi đứa trẻ nép mình vào đời sống trường học, lu thu, xa lánh. Nestor chỉ xuất hiện họa hoằn, và như tôi có nói, hắn cũng không nhập bọn với chúng tôi ở nhà ăn buổi tối. Ấy vậy mà hắn chẳng vắng mặt đâu – hoàn toàn không – và hai đứa đồ đệ của hán là Champdavoine và Lutigneaux lãnh việc truyền đạt những lời nhắn nhe mệnh lệnh của hắn. Thường thường việc tranh giành ảnh hưởng phát sinh một phần do hệ thống khá tinh vi gồm những hình phạt cùng những ân xá hiện hành tại Saint – Christophe, một phần khác do uy quyền vô hình do Nestor về khoản thưởng phạt quan trọng này.

Các kiểu hình phạt ở trường, tôi biết quả rõ vì không ngừng kinh qua từ hình phạt này sang hình phạt khác. Có hình phạt “làm lính”, mấy đứa học sinh sắp thành hàng dài im lặng đi vòng quanh trong nhà chơi trong mười lăm phút, hoặc nửa tiếng, một tiếng hay hơn nữa, hình phạt “cấm khẩu” buộc kẻ bị phạt không mở miệng với bất cứ ai, ngoại trừ để trả lời cho thầy hoặc giám thị, hình phạt “trồng cây” buộc phải ăn một mình trong nhà ăn tại một chiếc bàn con, và ăn đứng. Nhưng tôi có thể chịu đựng ngàn lần bất cứ hình phạt nào còn hơn là phải nghe tên tôi bị gọi gộp chung thành câu “Tiffauges lên phòng phạt!” đầy hồi hộp và nhục nhã. Là vì nghe xướng câu ấy thì phải rời lớp, lên hai tầng lầu và đâm vào một hành lang vắng ngắt để cuối cùng ẩy cửa vào phòng ngoài của thầy kỷ luật. Với tới đây, quỳ xuống cái giá đọc kinh, không hiểu sao lại đặt chính chắn giữa phòng, day mặt vào bàn thầy, và cầm lên một cái chuông nhỏ đặt dưới đất kề cạnh để rung lên. Cái giá đọc kinh, đôi chân quỳ xuống, cái chuông rung lên khe khẽ, nay tôi không khỏi nhận ra trong nghi thức phạt tội ấy một dạng dâng bánh lễ của Xa tăng. Bởi lẽ dĩ nhiên việc lên phòng phạt không phải là kính Chúa. Chuông rung xong, chờ đợi có thể từ vài giây cho tới một tiếng đồng hồ, và đây là hình thức tinh vi khó kham nổi của hình phạt. Cuốn cùng không sớm thì muộn cửa phòng bật mở, thầy xồng xộc phóng ra cầm trong tay trái mẩu giấy phóng thích. Thầy phóng đến giá quỳ, tát thẳng tay tên tội phạm, ấn vào tay hắn mẩu giấy đã hoàn thành việc phạt và biến mất bằng nhịp độ như đã xuất hiện.

Một hệ thống miễn tội cho phép thoát được những loại hình phạt theo một tháng đánh giá tinh vi theo điệu thần học. Hình thức ân miễn là những mẫu giấy bìa hình chữ nhật màu trắng, xanh, hồng hoặc lục – tùy theo giá trị - thưởng cho những điểm giỏi hay những vị thứ đứng đầu các bài thi. Theo đó chúng tôi biết rằng trong đầu óc mấy vị cha cố đạo hạnh thì sáu giờ làm lính được tính bằng một ngày cấm khẩu, hoặc bằng hai ngày trồng cây hoặc một lần lên phòng phạt, và được chuộc bằng một vị thứ đứng nhất một môn thi, hoặc hai vị thứ đứng nhì, ba vị thứ đứng ba, hoặc bốn điểm trên 16. Nhưng tên nào bị phạt thường chọn phạt và giữ nguyên các ân miễn, vì ân miễn cũng cho phép mua được một “tiểu xuất” (ra trường chiều chủ nhật) hoặc một “đại xuất” (ra trường cả ngày chủ nhật).

Tuy nhiên hệ thống ấy bao giờ cũng có giá trị lý thuyết và như thể bị tê liệt, bởi lẽ mấy cha cố đạo hạnh không đếm kể gì chuyện thánh thần thương xót hay chuyện hoán chuyển khen thưởng, các vị quyết rằng ân miễn phải là của riêng – đứa được thưởng mang một con số ghi vào mẩu giấy bìa – và chỉ dùng cho những ai được chọn. Mà chính bọn ẵm được thứ này nhiều hơn cả - bọn học giỏi, khá môn dịch, bọn được thầy và giám thị thưởng – lại là những đứa ít cần đến thứ này hơn cả, vì như thể có một sự bảo bọc kỳ lạ nào đó giúp chúng nó tránh né những hình phạt làm lính, cấm khẩu, trồng cây và cấm phòng. Cần phải tài ba như Nestor mới bổ khuyết được khoản này.

2.2.1938. Suốt ngày, tôi không ngớt buộc vào, tháo ra một sợi cao su nơi ngón tay. Ngày mai tôi buộc lòng phải đấu tranh cất bỏ sự hiện diện giả tạo và quái gở này, nó trông giống như chiếc nhẫn cưới, tuy rằng nhì nhằng như một bàn tay con con đeo vào tay tôi, nó rít lại và bấu nhẹ mỗi khi định bụng rứt nó ra.

8.2.1938. Có khi phải chạm vào đáy đêm mới thấy ra lóe sáng hy vọng đâm thủng trời đen. Chính cái phòng phạt lần đầu tiên hé lộ cho tôi biết cái ý nghĩa bảo bọc kỳ lạ mà tôi sắp được hưởng và không ngớt phủ lên đời tôi.

Tiếng ồn ào rộ lên ở góc lớp nơi tôi ngồi, và tôi không thể nói mình có thực sự góp phần vào đó hay không. Thế mà lời phán quyết ghê gớm từ bục giảng rơi sầm xuống đầu tôi: “Tifauges lên phòng phạt!” và luồng không khí vui mừng ác ý vốn luôn đi kèm loại hình phạt này nó chạy xuyên giữa các dãy bàn. Tôi đứng lên trong ác mộng, và hướng ra cửa giữa cái im lặng vẩn đục làm bằng bốn chục cái hơi thở ngưng nén. Bấy giờ đang là tháng mười hai, ở ngưỡng cửa mùa đông có bề trở về thực sự, tôi bước ra lớp lòng chưa yên theo các món nợ với thằng Pelsenaire là đứa hầu như không còn gặp tôi kể từ khi tôi rời phòng y tế trường. Bầu trời hoàng hôn sũng nước phủ đầy sâm, nơi đây con mắt bắt gặp, sau hàng cây lật âm u, cái nhà chơi vắng ngắt bên trái và, tít sau, chỗ tiểu tiện lồ lộ ngang nhiên, như nơi thờ tự bốc khói của đám con trai. Tôi đưa chân đá bậy vào một quả bóng vất vưởng bên lề nhà chơi. Mấy chiếc tạp dề đen lủng lẳng ở móc áo què quặt trong bóng mờ tối trông như một họ nhà dơi. Ý nghĩ khước từ cuộc sống dâng dậy trong tôi như một tràng lệnh vỡ âm thầm. Một tiếng thét bí mật, một lời tru tréo tắc nghẽn bật ra từ tim tôi để hòa lẫn vào nhịp đập của bao nhiêu thứ im lìm. Một sự lôi kéo mãnh liệt đẩy tôi cùng bao nhiêu thứ ấy về phía hư vô, xô chúng tôi về phía cái chết, bằng một sức quật hung tợn khiến đôi vai tôi oằn rũ. Tôi ngồi xuống, thọc chân vào rãnh nước. Đôi tay bó gối. Cô đơn, ít nhất bao giờ tôi cũng còn có hai thứ búp bê song sinh này, hai cái đầu vuông, không có tóc, u nần lên _ hai con búp bê này cũng là tôi. Tôi đưa môi liếm lên lớp vảy đen lởm chởm giữa lớp da có đường dọc ngang, ghét bẩn chỗ này, bụi bặm khô cằn chỗ kia. Tôi cảm thấy dễ chịu khi nhận ra mùi đá lửa quen thuộc. Tôi hiểu ra mình vừa chạm khá đau vào đáy đêm, đau đến nỗi tôi hãy còn bửng lửng khi bước lên chiếc cầu thang hành xác. Phòng trước của thầy kỷ luật đang chìm vào tối. Khỏi phải bật đèn làm gì. Từ giá quỳ, chỉ thấy hiện rõ trên mảng tường trắng tấm tranh màu mè dữ dội, đấng Cứu Thế chịu nhục, đầu đôi gai và một tên cục súc tát vào mặt. Tôi hãy còn xa lạ với các đọc hiểu các tín hiệu – là việc hệ trọng trong đời tôi – và tôi không nghĩ đến sự liên tưởng cần thiết. Nay tôi biết rằng một khuôn mặt người, dù tệ hai đến đâu, nhưng đã bị tát vào là lập tức trở thành khuôn mặt Giê-su.

Tiếng chuông ngân ở xa. Sàn nhà cót két. Một vệt sáng đáng sợ lóe lên dưới cánh cửa phòng ông thầy. Tôi thu mình nín thở trên giá quỳ. Thời khắc trôi qua, tôi vẫn chưa quyết rung chuông phạt. Mà chuông đâu rồi nhỉ? Tôi mò mẫm trên sàn nhà trong bóng tối. Chẳng mấy chốc ngón tay tôi chạm vào cán gỗ gắn lên cái chụp đồng của món đồ vật nằng nặng tráo trở kia. Tôi chầm chậm nhấc nó lên kéo vào mình một cách cẩn thận như thể bắt một con rắn đang say ngủ. Tôi cảm thấy yên tâm hơn khi ngón tay tôi nắm gọn tim chuông. Vật này bằng chì, và mặt ngoài của nó được nện búa, nhẵn như thịt, phần trên và phần dưới đều có ngấn hõm vào trong. Điều này chứng tỏ nó được dùng qua nhiều năm, và tôi hình dung vô số cuộc phạt cấm phòng mà chiếc chuông đã giội xuống bao nhiêu mái đầu trẻ nhỏ, đến đây chuông bỗng lọt vào tay tôi, rơi bồng xuống mép tỳ tay bọc nệm của giá quỳ và lăn ra sàn nhà đánh xoảng một tiếng lớn. Lập tức cửa phòng mở tung và ánh đèn oà vào. Sững người, tôi nhắm mắt chờ đợi ngọn đòn.

Chẳng đòn gì hết. Trái lại là một luồng mơn man, một cái gì đó nhẹ nhàng mềm mại lướt qua má tôi lao xao. Tôi đánh liều mở mắt ra. Thằng Champdavoine đứng đó, cười cợt và vặn vẹo như thường ngày, và hắn chìa cho tôi mẩu giấy vừa dùng để quét lên má tôi. Kế đó hắn lùi lại, sạp đầu cúi chào giễu cợt và lĩnh mất ở cửa phòng của thầy. Liền đó hắn lại ló đầu ra ghẹo một lần cuối và cánh cửa khép lại.

Tôi ngắm nghía mẩu giấy hắn vừa trao: đúng là mẫu giấy phóng thích có chữ ký đàng hoàng của thầy.

Xuống lại lớp, đầu tôi ong ong còn hơn là bị hai lần phạt phòng. Nhưng hẳn nhiên là tôi chẳng hiểu gì cả, và tôi hoàn toàn không dè rằng mình vừa chứng kiến một sự rạn nứt trong toàn bộ nguyên khối của định mệnh đè nặng lên đầu mình. Ngay từ hôm đáng ghi nhớ ấy, lẽ ra tôi có thể chấm dứt cách nhìn hình phạt như là một xâu chuỗi không thể nào tránh thoát và đối nghịch một cách tiên thiên, và có thể nhìn nhận – như tôi đã đành phải nhìn nhận từ độ ấy - rằng nó cũng dự phần đồng loã với cuộc đời riêng tư nhỏ nhoi của tôi, và trong mọi chuyện đời cũng có một chút tôi trong đó.

Nhưng việc phạt cấm phòng chi là một báo trước. Còn phải chờ đợi một thời gian lâu dài mới dẫn đến biến cố làm thay đổi tận gốc rễ chỗ đứng của tôi tại ngôi trường Saint - Christophe và mở ra một kỷ nguyên mới trong đời tôi.

Ngày Lễ Lá Chủ nhật, theo truyền thống, bọn nội trú đi “dã ngoại” và cắm trại để đánh dấu chấm dứt mùa đông. Tôi thậm ghét mọi sự bó buộc đi ra ngoài trường, dù sao ở trong trường tôi có thể rụt cổ thu giấu nỗi hèn mọn của mình vào cái vẻ bề ngoài ấm cúng, còn chuyện du ngoạn là một cái gì gớm ghiếc. Thực vậy, dịp này chúng tôi chia làm hai tố. Đứa nào có xe đạp – như thể kỵ sĩ của đạo quân ngày xưa - họp thành thứ tinh hoa trọng vọng, hướng tới một mốc du ngoạn xa hơn, đặt dưới quyền hướng dẫn của một hướng đạo viên trẻ trung cỡi xe máy. Tôi thuộc bọn chân đất mờ nhạt, nặng trịch ở chân, phải cuốc bộ hàng cây số, thêm một lũ giam thị đáng ghét xỉa xói.

Tiếng còi khởi hành sắp sửa rít lên thì xảy ra một biến cố làm rung rung cả ngôi trường. Thằng Lugigneux xuất hiện, dắt một chiếc xe đạp sáng chói, xe của Nestor. Xe hiệu Alcyon, màu lửa lựu chỉ vàng, chiếc càng xe đua bằng thép mạ kền, kèm theo bên trái một chiếc kính chiếu hậu xinh xắn và phía phải một chiếc chuông to hai bậc thanh, bánh xe loại to vừa, trắng ở hai bên má, và sau xe là tấm chở hành lý có đính miếng rọi mặt trời: sau hết, một món ít có trong thời buổi ấy, xe được trang bị thêm một chiếc cần vận tốc ba bậc.

Mọi người ngóng nhìn Lutigneux nhập bọn với xe đạp: nhưng không. Hắn phi băng qua sân, chiếc xe nhảy bồng bồng như con ngựa phì phò, và chính tôi, chìm trong đám cuốc bộ, lại là người hắn nhắm đến. Hắn trao xe cho tôi và nói gọn lỏn:

- Nestor đưa cho đấy, để đi du ngoạn.

Tôi ngơ ngác không kém gì toàn trường đang lập tức cho rằng tôi khéo giấu giếm khó ai bì kịp, vì hiển nhiên phải thân nhau lắm mới có đãi ngộ hậu hĩ thế này. Sự việc có thể xem ra cũng thường thôi, và có thể lọt khỏi con mắt một chứng nhân xa lạ với đời sống sâu xa ở Saint – Christophe. Đối với tôi, gần nhưng một phần tư thế kỷ trôi qua, nay nhớ lại không khỏi rùng mình vì thích thú hãnh diện.

Sau tuần tiếp theo, Nestor như thể chẳng quen biết tôi. Tựu trung tôi hiểu phần nào lề thói nên biết rằng chẳng phải cảm ơn làm gì. Nhưng thứ bảy tuần sau đó, Lutignaux tìm gặp tôi trong giờ ra chơi vào mười bảy giờ sau khi bọn ngoại trú ra về để cho tôi biết rằng tôi đổi chỗ ngồi và giúp tôi dời đồ đạc.

Lẽ tất nhiên chỗ của học sinh là do thầy kỷ luật từ ngày vào đinh đoạt, ông chủ tâm đi ngược tối đa với ý thích của chúng nó, bằng cách hoặc là chia loan rẽ thuý những đứa bạn thân, hoặc là áp đặt chỗ ngồi vào hàng trên cho bọn lười biếng và mơ mộng là bọn chỉ mong khoẻ thân và giấy mặt ở cuối lớp. Riêng Nestor có thể đảo lộn trật tự một cách vô tội vạ, và lấy ý mình thay cho ý thầy. Bản thân hắn chiếm cứ góc trái cuối phòng cạnh cửa sổ. Để có thể nhìn chừng ra sân bất cứ lúc nào, hắn còn kê cao chiếc bàn của hắn lên bằng cách chêm thêm mấy mẩu gỗ và gắn một tấm kính bình thường thay vào vuông kính đục dùng cho mọi cửa sổ bằng kính. Kể từ nay do một đạo luật chỉ có thể hắn ban hành, tôi cũng ngồi ở góc trái ấy, cạnh hắn, ngay bên tay mặt hắn. Sau vụ chiếc xe đạp rùm beng ấy, việc dời chỗ này không khiến ai lấy làm lạ, mà chờ đợi nữa là khác, cả thầy, giám thị cũng như học sinh.

Ngay từ buổi ấy, tôi sống ở trường được bảo vệ che chở một cách vừa kín đáo vừa hiệu quả. Không có tuần lễ nào tôi không bắt gặp một món quà gì đó trong ngăn đồ nội trú của mình; các hình phạt dường như ngớt trút lên đầu tôi; mấy đứa lớn nào hung hãn với tôi là ngay hôm sau mang vết bầm tím một cách khó hiểu. Nhưng bấy nhiêu thứ chẳng có gì đáng kể so với hào quang của Nestor toả xuống người tôi suốt những giờ trong lớp và những giờ học nội trú. Con người dềnh dàng của hắn làm cho phòng học như thể chao nghiêng về phía góc trái cuối lớp, chỗ của hắn. Đối với tôi, thật quả đó mới là trung tâm của lớp, còn hơn cả bục giảng với con người ra giảng nhạt nhoà, phù du nối gót nhau lên xuống.

12.2.1938. Một cô khách hàng đến gặp tôi, đem theo một bé gái sáu tuổi. Lúc từ biệt, em bị la mắng vì chìa tay trái ra cho tôi. Tôi bỗng sực nhớ đa số trẻ con dưới bảy tuổi – tuổi lớn khôn! – đưa bàn tay trái ra cho người lớn tự nhiên thế thôi. Đơn sơ thánh thiện! Mấy em hồn nhiên biết rằng bàn tay phải bị uế bẩn vì những cuộc tiếp chạm chán chường nhất, cứ hàng ngày nằm lọt vào bàn tay bọn sát nhân, tu sĩ, bọn cớm, hạng người quyền bính, giống như con điếm lọt vào giường bọn giàu có, trong khi bàn tay trái, mờ mịt, vô danh, nằm trong bóng tối, như nàng trinh nữa, dành riêng cho vòng tay của các chị. Đừng quên bài học. Từ nay luôn luôn chìa bàn tay trái cho các em dưới bảy tuổi.

16.2.1938. Nestor viết và vẽ không ngừng. Tôi tiếc không có được, không lấy làm của riêng, không lưu giữ một tập nào hết của hắn ta. Bao nhiêu điêu hắn nói với tôi nghe ra tuyệt diệu, mặc dù tôi chẳng hiểu gì, đến nỗi hai chục năm sau tôi đành phải diễn dịch và diễn tả bằng những lời hẳn nhiên không phải là của hắn tất cả những gì mà trí nhớ cửa tôi tái tạo từ lời lẽ của hắn. Điều rõ ràng là thời kỳ ấy – mà thời kỳ cũng ngắn – sống bên hắn đã ghi sâu trong tôi, bao nhiêu bôn ba của tôi về sau đều có gắn liền vào đó rõ nét đến nỗi e chẳng cần phân biệt phần nào đích thị là của hắn và phần nào gán cho tôi.

Tóm lại, nếu cần đưa ra dẫn chứng vô phương chối cãi biến tôi thành kẻ thừa kế Nestor, thì chỉ cần nhìn bàn tay tôi chạy trên giấy là đủ, cái bàn tay trái vạch từng nét chữ trang viết “tay trái”. Bởi lẽ bàn tay này, Nestor đã cầm giữ lâu trong tay hắn, hắn đã từng đưa bàn tay to lớn, nặng nề và rịn mồ hôi của hắn ấp lấy nắm tay yếu ớt của tôi, như quả trứng nhỏ xương xẩu lờ nhờ lọt thỏm vào cái siết tay ấm nóng mà chẳng hiểu được chuyển những nguồn năng lượng như thế nào. Bao nhiêu sức lực của Nestor, bao nhiêu trí năng lãnh đạo và tiêu trừ đều dồn vào bàn tay ấy, bàn tay phát sinh từng ngày một những trang viết tay trái đang làm thành tác phẩm chung. Và quả trứng nhỏ đã nở con. Nó đã lớn thành cái bàn tay trái này đây có ngón tay lông lá vuông vắn, có gan bàn tay bài ra như chiếc khay, nó sinh ra chắc hẳn là để cầm thỏi mìn hơn là cầm bút.

Nestor dùng tay mặt nắm tay trái của tôi và viết, vẽ bằng tay trái. Có lẽ từ bao giờ hắn thuận tay trái. Tôi muốn đoán mò một cách tự đắc rằng hắn buộc viết bằng tay trái cho riêng tôi và chỉ để cầm lấy tay tôi mà vẫn không ngừng viết. Điều chắc chắn là tôi chưa bao giờ cảm thấy gần gũi với hắn cho bằng cái ngày đáng ghi nhớ ấy – cách vài tháng – ngày tôi rùng mình nhận thấy mình biết viết tay trái, và bàn tay trái của tôi, thả chạy trên giấy, không cần viết thử, không cần học tập, không do dự, chạy tràn trên giấy bằng nét chữ mới mẻ không giống như nét chữ kia, chữ của tay phải, nét chữ thuận.

Như thế là tôi đã được hai nét chữ, chữ thuận, dễ thương, nhập thế, giao thương, phản ánh cái nhân vật bịt mặt mà tôi vờ vĩnh đóng vai trước mắt người đời, nét chữ trái, méo mó theo mọi sự trái khoáy của thiên tài, thứ nét chữ lóe sáng hét hò, tóm lại là ăm ắp cái thần của Nestor.

18.2.1938. Cứ mỗi lần bắt gặp, trong chiếc xe hơi khách hàng gửi cho tôi, hình của thánh Christophe trên tấm bảng buồng lái, tôi lại nhớ đến ngôi trường ở Beauvais, và tôi trầm ngâm theo một trong những hình ảnh vốn suốt đời không suy suyển trong tôi. Còn hình ảnh này có tính chất căn cơ. Trường Saint – Christophe, Nestor, kế đó là cái nghề sửa xe đang đặt tôi dưới sự bảo trợ của gã khổng lồ Cõng – Chúa… Còn nữa. Cái nước da ngăm và mái tóc cắt sát và đen của tôi là do mẹ, vì mẹ tôi trông giống dân gi –tăng. Tôi chưa hề tò mò lục lạo gốc tích của mẹ, đời tôi đã khá ngổn ngang những điềm gở, nhưng giả như trong dòng họ mẹ có bóng dáng ngựa và xe ru –lốt thì tôi chẳng lấy làm lạ.

Cũng giống như cái tên Abel đối với tôi là cái tên tình cờ thế thôi cho đến khi những dòng chữ Thánh kinh nói về trường hợp kẻ sát nhân đầu tiên trong loài người bày ra dưới mắt tôi. Abel đi chăn cừu, Cain làm ruộng. Chăn cừu, là nay đây mai đó, làm ruộng là giu giú một nơi. Sự xung khắc giữa Abel và Cain kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ khởi thủy đến hôm nay, như là sự xung khắc truyền kiếp giữa bọn nay đây mai đó và bọn ru rú xó nhà, hoặc nói cho đúng hơn, như sự bách hại mà bọn giữ nhà trút lên bọn tha phương. Và mối cừu hận này chưa tắt, hoàn toàn chưa tắt, nó được lập lại trong quy định bỉ ổi, bêu riếu nhắm vào bọn gi-tăng – người ta xem họ như loại tái phạm – và người ta niêm yết ở cổng làng các bảng “Cấm người vãng lai cắm trại”.

Sự thật là Cain bị trù và hình phạt đối với nó, cũng như sự cừu hận của nó đối với Abel vẫn trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giờ đây, lời Chúa phán sẽ bị nguyền rủa trên trái đất đã nứt nẻ ra để hứng từ bàn tay ngươi giọt máy của em trai ngươi. Ngươi làm đất, đất sẽ không cho trái, ngươi sẽ lang thang trốn chạy trên mặt đất. Thế là Cain phải chịu hình phạt mà nó cho là cùng cực hơn cả: trở thành du mục như Abel trước đây. Nó thốt lên những lời phản đối bản án ấy, mặt khác, nó không tuân phục. Nó rút đi xa hẳn Chúa và xây dựng thành thị, đó là thành thị đầu tiên mà nó đặt tên là Hénoc.

Đấy, tôi khẳng định rằng lười nguyền rủa nông dân – vẫn luôn luôn chống lại người anh em du mục – tác động đến ngày nay. Vì đất đai không nuôi họ nữa, bọn dân ngu khu đen buộc lòng khăn gói quả mướp tếch ngàn. Họ lang thang hàng nghìn người từ vùng này sang vùng khác – và thế kỷ vừa qua ta biết rằng khi người ta bó buộc việc định cư là một trong những điều kiện cho quyền hạn bầu cử, người ta đã loại ra khỏi vòng cử tri một khối lượng người trôi nổi khá lớn, những người tư duy bất định trên nguyên tắc, bởi vì mất gốc. Rồi họ định cư ở các thành phố tạo thành lớp dân vô sản của các thành phố lớn công nghiệp.

Còn tôi, núp bóng trong đám tọa thị, định cư giả hiệu, khuôn phép giả hiệu, đành rằng tôi không di chuyển, nhưng tôi lại giữ gìn sửa chữa cái phương tiện giúp di chuyển là chiếc xe hơi. Và tôi nhẩn nha vì biết rằng sẽ có ngày ông trời chán cảnh bọn định cư gây nên tội lỗi mà giội mưa lửa xuống đầu chúng nó. Lúc bấy giờ, chúng sẽ giống như Cain bị ném ngổn ngang trên các lối đi và cúi đầu cố trốn khỏi các thành phố bị nguyền rủa và luôn cả mặt đất đang hất hủi chúng nó. Còn tôi, Abel này, riêng mình mỉm cười mãn nguyện, tung đôi cánh lớn lâu nay giấu kín trong lớp vỏ thằng sửa xe, lấy chân giẫm lên đám sọ dừa u mê ám chướng của chúng nó và bay bổng lên ngàn sao.

25.2.1938. Một hôm Nestor rút từ hộc bàn ra một chiếc hộp nhỏ, vuông, bìa cứng, và đưa áp vào tai tôi. Tôi nghe một tiếng vù vù mềm mại, êm ái, như tiếng rầm rì của máy bay ở độ cao lắm. Hắn nheo mắt hóm hỉnh quan sát tôi qua lớp kính mắt dày như kính lúp. Hắn để chiếc hộp xuống bàn. Lập tức chiếc hộp nghiêng đứng trên một góc và lao chao múa càng thêm dẹp theo nhịp chậm. Tiếng rù rì tăng thêm, càng trở nên vang vang theo chiếc hộp sạp mình xoay chuyển. Cuối cùng chiếc hộp nằm xuống một mặt, và sau khi xoay vài vòng nó nằm yên hẳn. Tôi tò mò nhìn xáp lại để đọc dòng chữ in trên hộp: Sáng chế năm 1852 do nhà vật lý lỗi lạc người Pháp là Léon Faucault để chứng minh quả đất quay… Đến đây Nestor cầm chiếc hộp lên, mở ra và trịnh trọng giải thích: “Đây là con quay trục nghiêng chìa khóa của vũ trụ”. Con quay làm bằng hai vòng thép đồng tâm gắn cứng vào những mặt phẳng thẳng góc. Một đĩa bằng đồng đỏ khá nặng nội tiếp trong một vòng thép được xuyên qua bằng một chiếc trục với hai đầu nhọn đâm vào hai lỗ đối xứng qua đường kính của vòng thép kia sao cho con quay có thể xoay với chiếc đĩa. Nestor xâu vào chiếc lỗ của trục một mẩu dây rồi quấn dây vào trục. Kế đó hắn cầm đầu dây kia kéo mạnh, dây tuột ra hết đánh phạch một tiếng. Chiếc đĩa kêu vo vo. Bấy giờ Nestor trút từ chiếc hộp ra một cái đế nhỏ bằng gang có hình tháp Eiffel, và hắn đặt con quay thăng bằng trên đỉnh tháp. Lập tức vũ khúc duyên dáng khởi động. Chiếc máy con con với các hình thể đơn sơ, khúc chiết, hình học, quay quanh điểm cố định, vẽ ra một vòng nới rộng mãi ra, và cái vẻ chậm rãi ung dung quay quay đối lập với đĩa quay tít cùng thang vòng trong, như loài chim sâu có vẻ như bay càng chậm và thậm chí đứng yên một chỗ càng lâu thì đôi cánh nhỏ chấp chới càng nhanh.

Chiếc tháp Eiffel rùng rùng trên mặt gỗ bàn học lập tức gây chú ý cho chúng bạn và thầy giám thị. Nestor bất kể. Tỳ người lên khuỷu tay, xoay nửa mình về phía tôi, hắn mải mê ngắm con quay trục nghiêng đang khiêu vũ… “ Một món đồ chơi thông thiên học, hắn nhỏ giọng, hình ảnh thu nhỏ nhưng rất trung thực của quả đất quay… Là vì, cậu thấy không, cái chuyển động cậu đang theo dõi nó không có thật đâu! Chính cậu, chính trường học, chính toàn cõi nước Pháp đang khiêu vũ đấy! Con quay trục nghiêng có cái hay là thoát ra ngoài vòng quay của trái đất, và vì thế bề ngoài nó quay quay. Kỳ thực chính chúng ta đang quay quanh nó. Đây, cậu giữ chặt nó trong tay mà xem”. Và hắn nhấc con quay ra khỏi điểm tựa và trao cho tôi. Tôi khép nắm tay ôm lấy món cơ khí sống động. Lập tức, trong bàn tay tôi, trong cườm tay và cả trong cánh tay, tôi cảm nhận ra một sức ẩy mạnh mẽ, một sức vặn khó chế ngự. Tôi thốt lên:

- Giống như con cóc!

- Con cóc là cậu đấy, nhóc ạ, Nestor nói. Cậu bám vào một điểm cố định, nhưng trái đất muốn quay, và cậu không ngăn nó quay được. Điều cậu cảm nhận trong bàn tay, là sự im lìm của con quay bị vặn vẹo theo trái đất quay mang luôn con người cậu. Đưa lại cho tôi. Nó là điểm tựa của tôi trong những lúc có những điều không ổn. Vũ trụ bỏ túi của tôi đấy…

28.2.1938. Phải chăng là vì tôi hụp lặn vào thời trẻ nhỏ của mình từ hai tháng nay mà sinh ra như thế này? Giờ đây lại bị ám ảnh vì câu hát đò đưa phi lý của vú Marie ru tôi những buổi trưa làm lòng tôi thu rút lại rầu rĩ trong tận cùng sâu thẳm:

Mỗi khi hồi tưởng

Lòng tôi thườn thượt

Như tờ giấy thấm

Đem đặt vào trong

Cùng tận đấy lòng

Tắm mùi thuốc súng

Đớn đau thật nhiều, nhiều, nhiều

Nên chi mỗi khi hồi tưởng

Lòng tôi thườn thượt…

2.3.1938. Hắn có thói quen nói năng không nhếch môi, có lẽ vì thích lơ lửng hơn là vì bó buộc, vì tình trạng vô ngại mà hắn được hưởng đối với các thầy và giám thị cho phép hắn lắm thứ tự do khác. Đôi khi hắn nheo mắt tinh quái nhìn tôi hồi lâu, và hắn thốt lên những lời lẽ mù mờ khiến tôi đắm chìm vào một tình trạng sung sướng đê mê. Hắn bảo, chẳng hạn:

- Một ngày nào đó, chúng nó đi sạch, nhưng cậu sẽ còn ở lại với tớ, dù tớ có biến mất luôn đi nữa. Cậu chẳng đẹp, chẳng thông minh, nhưng cậu là của tớ như chưa từng có đứa nào ở trường này là của tớ đến như vậy. Rồi cuối cùng cậu sẽ biến tớ thành đứa vô dụng, và như thế là tốt lắm.

Hoặc hắn nắm lấy đôi vai tôi, bảo:

- Tớ đã gieo trồng bao nhiêu hạt của tớ vào trong cơ thể nho nhỏ này. Cậu cần phải tìm khí hậu thuận lợi cho hạt nảy nở. Cậu sẽ thấy đời cậu thành công nhờ những sự nẩy mầm nở hoa làm cho cậu kinh hãi.

Nhưng ngày hôm nay tôi hiểu rõ lời tiên tri của hắn khi hắn bóp cằm tôi buộc tôi há mồm ra:

- Chẳng bao lâu chiếc răng này sẽ to lên. Tên Abel này sẽ có những chiếc nanh khủng khiếp, và hắn sẽ nghiến trèo trẹo khiến cho mọi người nghe phải sợ.

Nhờ các biến cố đang tượng hình soi sáng, có thể sau này tôi sẽ hiểu ý nghĩa những lời sau đây của hắn:

- Đập dồn vào một cánh cửa, bao giờ cuối cùng cửa cũng mở. Nếu không thì cánh cửa kế bên, mà ta không để ý sẽ hé ra, và như thế còn đẹp hơn.

Hoặc như thế này nữa:

- Nên gạch một gạch nối A với X.

Tôi chỉ bắt gặp hắn đọc mỗi một cuốn truyện, nhưng hắn thuộc làu làu hàng trang mà hắn bất thần đọc lên, không máy môi, khi nào giờ học trở nên chán ngắt, đó là cuốn Chiếc bẫy vàng của James Oliver Curwood. Nestor nghiêng người qua tôi, dáng bí mật, và rỉ vào tai tôi, như một mật ngôn phấn khích: Nếu đặt con thuyền độc mộc vào lòng hồ Athabasca và nếu nếu ngược dòng sông Hoà Bình lên phía bắc, ta chèo tới biển hồ Nô Lệ, kế đó ta xuôi dòng Mackensie, nếu ta trở ngược lên cực bắc… Nhân vật chính của truyện là Bram, một gã khổng lồ hoang dã, mang dòng máu Anh, máu Da Đỏ và máu Eskimo trong người, một mình dong ruổi bao nhiêu sa mạc giá rét hung dữ với một đàn sói. Đối với Bram thì tru với sói không phải là một lối nói văn vẻ. Nestor thao thao: Hắn bỗng hất ngược chiếc đầu to lớn ra sau hú lên trời một trang âm thanh từ cổ họng và lồng ngực. Ban đầu là tiếng sấm rền rồi kết thúc bằng tiếng rít ai oán sắc nhọn phóng xa hằng dặm lướt trên bình nguyên phẳng phiu. Đó là tiếng chủ kêu gọi bầy thú, của người – thú gọi kêu đồng loại… Tiếp theo tiếng kêu hoang dã là tiếng đáp của gió hú phương bắc, nhưng cũng có khi là nhạc trời, hoà âm dị thường kỳ lại của buổi rạng đông ở cực bắc đang báo hiệu ló dạng. Âm thanh có khi rít chói tai, có khi thì thầm dịu nhẹ gần giống như tiếng mèo hư hư và cũng có khi như tiếng ong vù vù giọng kim.

Tiếng hú của Bram, tiếng tru của sói và tiếng rít của gió, điệu nhạc kim khí của rạng đông cực bắc, cả một thế giới trinh nguyên, không có nhân tính, trắng trong như hư vô, tràn ập vào cái nếp sống chật hẹp, ẩn kín làm toàn bằng những chung đụng mà chúng tôi đang sống tại ngôi trường Saint – Christophe này. Đối với tôi, lời kêu gọi này hoà lẫn vào tiếng xao náo âm trầm mà tôi nghe ra buổi chiều tháng mười hai hôm ấy, ngồi ở thềm nhà chơi, trong khi tôi đi - hoặc tôi nghĩ rằng tôi đi - cấm túc. Nhưng nó làm giàu thêm, khuếch sung thêm, bồi cho tiếng xao náo bên trong tôi thêm phần hấp dẫn cục mịch do những lời đọc của Nestor gợi dẫn. Bạn tôi xuất thần nói với tôi về ngọn gió bão tuyết tru tréo trong rặng thông đen, về những hố sâu xanh thẫm chạy băng qua trên hồ nước đóng băng, tiếng chíp chíp đều đều của giày lún trong tuyết, bầy sói chạy thục mạng săn mồi trong đêm giá, và luôn cả căn nhà lều bằng súc gỗ, lum khum, vùi nửa mình dưới lớp băng, nơi người thợ săn rình chực hàng đêm và đốt lên một bếp lửa lớn để sưởi lòng.

Năm tháng trôi qua, nhưng kỳ thực tôi vẫn chưa thoát ra khỏi cái không khí tràn hơi hám mốc meo thắt bóp thời thơ ấu của tôi. Đối với tôi, xứ sửa Canada vẫn là một cõi ngoài vòng cương toả làm triệt tiêu mọi điều khốn khổ nhỏ nhen vây hãm tôi. Liệu tôi có dám viết rằng tôi vẫn không từ bỏ? Rồi để xem, Abel ạ!

6.3.1938. Đến quận Cảnh sát đổi thẻ xám. Từng hàng người chờ đợi ủ ê, nhẫn nhục, trước các ô cửa, nơi đây đang léo nhéo mấy mụ đàn bà mặt mày khó coi, hục hặc. Mong sao có một kẻ độc tài giải giang phê bỏ mọi loại hộ tịch, căn cước, thông hành, các thứ sổ bạ, lý lịch cá nhân, tóm lại, tất cả cơn ác mộng giấy má mà lợi ích - giả dụ có lợi ích đi nữa – là không đáng kể so với công phu phiền hà phải đổ ra.

Đành rằng một cơ chế ít khi tồn tại được mà lại không cần đến sự thuận tình và luôn cả sự mong muốn tích cực của số đông. Trong chiều hướng ấy, án tử hình đâu phải là hình ảnh sống sót máu me của thời man rợ, bao nhiêu cuộc điều tra dư luận cho ta thấy rằng đại đa số người ta vẫn còn vương vấn mù quáng. Còn các giấy tờ hành chính, thì đó là điều đáp ứng đòi hỏi của số đông, hay nói đúng hơn là đáp ứng cho một tâm lý sợ hãi hạ đẳng: sợ phải làm thú vật. Là vì sống không có giấy tờ là sống như thú vật. Những kẻ vô tổ quốc, trẻ con ngoại hôn hoặc vô thừa nhận đều đau khổ vì tình trạng chỉ trên giấy mới là có thật, Những suy nghĩ nay xúi tôi tưởng tượng một câu chuyện ngụ ngôn nhỏ.

Ngày xưa có một người mắc mớ với cảnh sát: Vụ việc xong xuôi, còn lưu lại hồ sơ lăm le trồi ra lại bất cứ lúc nào. Anh chàng mới quyết định tiêu hủy hồ sơ và do đó lẻn vào Bộ Nội Vụ. Tất nhiên gã không có đủ thời gian và phương tiện tìm ra hồ sơ của mình. Thế là gã huỷ toàn bộ, tức là bằng cách phóng hoả các phòng bằng một bình xăng.

Cái thành tích đầu tiên được thành công cộng thêm niềm tin rằng giấy tờ quả là một tai hoạ tuyệt đối cần cứu giải cho nhân loại đã khuyến khích gã đeo đuổi hướng ấy. Sau khi biến đổi tài sản của mình ra một mớ bình xăng, gã tuần du một cách khoa học khắp các quận, các toà thị chính, sở cảnh sát, vv., thiêu rụi các hồ sơ, danh bạ, văn khố, và vì gã xử lý đơn thân độc mã, không ai tóm được gã.

Thế mà giờ đây gã nhận ra một hiện tượng phi thường trong các khu phố mà gã hoạt động, thiên hạ lầm lũi bước đi, mồm lí nhí âm thanh gì không rõ, nói tóm lại họ đang hoá thân thành thú vật. Cuối cùng gã hiểu rằng muốn giải phóng nhân loại nhưng đã hạ thấp nhân loại xuống hàng thú vật, vì tâm hồn con người vốn làm bằng giấy.

8.3.1938. Chiều tối, tại nhà ăn, chúng tôi nói năng tự do. Dù chúng tôi chỉ một trăm rưỡi mạng, tiếng ồn cứ tự động lên cao đều đặn, theo một định luật không hề biến đổi vì đứa nào cũng buộc lòng nói to lên mãi để được nghe lọt. Khi cảnh huyên náo đã vỡ tràn thành như thể một toa vang dội ăm áp toàn bộ gian phòng lớn, một viên giám thị dẹp tan bằng mỗi một tràng tu huýt ngân rung. Bầu im lặng tiếp theo chứa đựng một cái gì đó ngờm ngợp. Kế đó luồng thầm thì chảy chuyền từ bàn này sang bàn khác, một chiếc nĩa lanh canh trên đĩa, một tiếng cười ré lên, tấm mạng âm thanh và tiếng động lại dệt từ từ, và chu kỳ tái diễn.

Buổi trưa, bọn bán trú nhập với bọn nội trú, thế là gần hai trăm rưỡi mạng, và chúng tôi buộc phải im lặng. Những giờ làm lính rơi như mưa xuống đầu bọn nói chuyện, và tăng thêm trong trường hợp tái phạm bằng hình phạt đứng nghiêm. Đứng trước một cái giá đặt trên bục, tên học sinh lấy giọng đọc to tiếng loại truyện giáo dục, thông thường trích từ truyện các thánh. Để được nghe ra trong phòng rộng giữa bao nhiêu tiếng khua chén bát và chuyện trò râm ran, nó phải đọc thẳng giọng, tức là đọc một giọng, không lên không xuống, một giọng ngân nga kỳ dị gọt bỏ mọi thứ diễn cảm không thương tiếc – nghi vấn, mỉa mai, hăm doạ hay ngộ nghĩnh – và truyền vào mỗi câu cái âm sắc tuyền một nỗi thống thiết, than van, ồn ào khó chịu.

Cái nhiệm vụ đọc truyện được đánh giá cao trong đám học sinh, và nó là phần thưởng cho đứa được giải ưu hạng nếu chúng nó tỏ ra có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Vì không phải dễ đối với đứa nhỏ đọc to trong bốn mươi lăm phút, không sửa giọng, không vấp váp, một truyện vốn không phải viết ra để xử lý dã man như thế. Vì thế kẻ đọc truyện được chọn là kẻ mang trên người một cái gì đó oai phong, lôi kéo theo quyền lợi được ăn riêng trước một mình và bữa ăn, theo tục lệ, ngon hơn và sang hơn thường ngày.

Tất nhiên là chẳng có cái gì nơi tôi chỉ định cho tôi trở thành kẻ đọc truyện, và tôi lấy làm bàng hoàng, không khỏi run rẩy khi được tin, một buổi sáng kia, mình sẽ thay thế, ngay bữa ăn trưa, cho kẻ được chỉ định trong hiện tại nhưng không còn xứng đáng với vinh dự ấy vì vừa bị phạt cấm túc khiến ai nấy ngẩn ra. Đồng thời, tôi được chuyển giao bài phải đọc: cuộc đời của thánh Christophe trích từ Truyền thuyết vàng của Jacques de Voragine.

Điều tôi chẳng nghi ngờ là Nestor là nguồn gốc của vinh dự lớn này đang đè nặng lên người tôi. Nay ý thức được mình biết, và đọc lại mấy trang mà dạo đó tôi rống toang toang vào mặt cả bọn, tôi nhận ra giữa các dòng chữ bất ngờ ấy lấp ló dấu tích của hắn. Nhưng trọn đời tôi, liệu tôi có đủ các thứ để làm sáng tỏ quan hệ sâu xa giữa truyền thuyết thánh Christophe với số phận Nestor chăng, số phận mà tôi vừa nhận chịu vừa thể hiện?

Theo Jacques de Voragine, Christophe là người xứ Canaan thời đồ đồng. Ông vóc dáng khổng lồ, dáng mạo bạo tợn. Ông sẵn lòng phục vụ, nhưng chỉ phục vụ đế vương uy dũng nhất thiên hạ. Thế là ông đến trình diện với một vị vua quyền uy cao trọng nổi tiếng vô song. Gặp mặt ông, vua vui lòng đón tiếp, và cho ông lưu lại trong triền. Vậy mà, một ngày kia, Christophe bắt gặp vua làm dấu thánh giá trên mặt sau khi có ai đó nhắc chuyện ma quỷ trước mặt vua. Christophe hỏi xem vì sao làm động tác ấy thì vua nói: “Cứ nghe ma quỷ là trẫm sẵn sàng làm dấu, sợ ma quỷ lấn quyền và hại trẫm”. Thế là Christophe hiểu rằng nhà vua mình đang phục chẳng phải là cao trọng nhất hay quyền uy nhát, vì còn sợ quỷ. Và ông xin cáo từ, lên đường đi tìm quỷ. Đang đi giữa sa mạc, ông nom thấy vô số lính tráng, trong đó có một gã mặt mày dữ tợn hung hăng đi thẳng tới ông hỏi ông đi đâu. Ông đáp: “Tôi tìm ngài quỷ để tôn làm thầy”. Gã kia bảo: “Ta là người ngươi đang tìm kiếm đây”. Christophe vô cùng mừng rỡ xin nguyện làm tôi tớ suốt đời, và nhận gã kia làm chúa tể. Cả hai cùng nhau bước đi, bắt gặp một cây thánh giá cắm ven đường. Lập tức quỷ hoảng sợ, bỏ chạy vào ra khỏi đường, lôi Christophe băng qua một quãng đất gập ghềnh. Sau đó quỷ dắt Christophe vào lại lòng đường. Christophe trông thấy thế lấy làm khoái trá, hỏi vì sao lại hoảng sợ đến độ. Quỷ đáp: “Một người tên là Cứu Thế bị đóng đinh vào thánh giá; cứ thấy hình ảnh chiếc thánh giá, là tôi rất sợ và hốt hoảng chạy trốn”. Christophe bảo: “Tôi phục vụ vô ích rồi còn gì, tôi chưa tìm ra được vị chúa tể vĩ đại nhất trên đời. Xin từ biệt vậy, tôi ra đi để tìm kiếm Cứu Thế vốn vĩ đại và quyền uy hơn ngài”.

Ông bỏ ra một thời gian lâu lắc để tìm cho ra kẻ nào cho biết tin tức về vị Cứu Thế. Cuối cùng ông gặp một ẩn sĩ giảng giải về đấng Giê-su và truyền thụ đức tin cho ông. Ẩn sĩ bảo Christophe: “Vị chúa tể mà ngươi ao ước phục vụ đòi hỏi ngươi tuân thủ điều này: phải nhịn đói nhiều khi đấy”. Christophe bảo: “Tôi là tên khổng lồ và cơn đói của tôi nó đòi ăn hung tợn. Đòi hỏi tôi cái gì khác kia chúa tôi tuyệt đối không chịu đói nổi”. Ẩn sĩ bảo: “Ngươi có biết con sông nào mà lắm kẻ sang sông đang gặp nguy cơ chết đuối chăng?” Christophe đáp: “Tôi có biết”. Ẩn sĩ nói tiếp: “Ngươi vốn cao lớn, thân hình vạm vỡ, phải chi ngươi ở gần sông, có ai đến ngươi đưa họ qua sông thì đó là điều làm đẹp lòng Đấng Cứu Thế mà ngươi mong mỏi phục vụ”. Christophe nói: “Vâng, tôi có thể hoàn thành việc ấy, và tôi hứa là làm được cho người”.

Thế là ông đi đến con sông ấy và xây một cái chòi bên bờ. Ông cầm trong tay không phải là chiếc gậy mà là một cây sào và ông vững chân dưới nước, không ngớt đưa mọi hành khách qua sông. Nhiều ngày trôi qua, đến một hôm ông đang nghỉ ngơi trong xó nhà bỗng nghe một giọng trẻ con gọi: “Christophe ơi, ra đưa cho tôi qua sông với”. Christophe bật dậy nhưng không trông thấy ai. Trở vào, ông lại nghe giọng ấy gọi ông. Chạy trở ra, cũng không trông thấy ai. Lần thứ ba, cũng bị gọi như vậy, ông ra và thấy trên bờ có một thằng bé xin cho qua sông. Thế là Christophe xốc nó lên vai, cầm chiếc sào và xuống nước để qua sông. Ngờ đâu nước dâng lên từ từ, đứa bé trĩu nặng trên vai như một tảng chì; ông tiếng lên và nước dâng lên mãi, đứa bé đè xuống vai khó chịu nổi, đến độ Christophe vô cùng lo lắng và chỉ sợ bỏ mình thôi…

Khó nhọc lắm ông mới thoát chết. Qua được sông ông đặt đứa bé xuống đất và bảo: “Cậu bắt tôi rơi vào một tình thế nguy hiểm vô vàn. Cậu nặng như cả một địa cầu trên vai, chẳng hiểu phải đèo nặng hơn nữa không đây”. Đứa bé nói: “Đừng lấy làm lạ, Christophe ạ, không những đèo cả địa cầu, mà chính anh đèo trên vai người tạo lập ra địa cầu: vì ta là Cứu Thế Chúa tể của anh mà anh đã phục vụ bằng việc vừa rồi; và để chứng tỏ ta nói thật, chừng nào anh trở về bên kia sông, hãy cắm cây sào xuống đất trước mặt nhà anh, và sáng ra anh sẽ thấy nó có hoa có trái”. Lập tức, đứa trẻ biến mất. Về đến nơi, Christophe cắm sào xuống đất, và sáng thức dậy, ông thấy con sào mọc lá và có trái như trái như cây chà là vậy…

Tôi không phải là ít hãnh diện khi ê a toàn bộ câu chuyện chẳng vấp váp lần nào, và tôi chờ đợi Nestor khen khi ngồi xuống bên cạnh hắn ở phòng học nội trú giấc hai giờ. Hắn mê mải theo một tấm hình vẽ dày đặc màu sắc nét dọc nét ngang mà có khi hắn trau tria hàng giờ, mặt như muốn dán lên trang giấy. Khi hắn ngẩng lên, tôi nom thấy hắn vẽ thánh Christophe. Nhưng trên đôi vai con người khổng lồ này chuyên chở toàn bộ mấy toà nhà của ngôi trường với bao nhiêu cửa sổ thò ra từng đám học trò. Nestor làm động tác quen thuộc là lấy khăn chấm mồ hôi trên trán, nhỏ giọng: “Christophe, trên đường ông đi tìm ông thầy tuyệt đối, lại bắt gặp ông thầy nơi đứa trẻ. Những điều cần biết là tương quan đúng đắn giữa trọng lượng của đứa bé trên vai ông và đoá hoa trên cây sào”.

Lúc bấy giờ tôi khom mình trông thấy rằng hắn vẽ chính nét mặt hắn vào khuôn mặt vị khổng lồ Cõng – Chúa.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.