Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Pháo Đài Dự Kiến
Một Pháo Đài Dự Kiến

❊ ❊ ❊

Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ, còn ngươi hãy đi truyền bá nước Đức Chúa Trời!

Không ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, mà lại xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.

TÂN ƯỚC

Không phải chờ đến lúc linh mục Cao, cựu viện trưởng Viện đại học Huế, thú nhận trong thiên hồi ký của mình, người ta mới hiểu cái mà họ Ngô thổ lộ với ông ta trong cuộc trò chuyện tay đôi, tại tư gia cậu Cẩn ngày mồng ba tết năm 1957, khi Diệm ra Huế ăn giỗ cha – Ngô Đình Khả, cố trưởng giáo Quốc học Huế.

Tiếp đây cũng xin ghi thêm, ngày 7 tháng 7 năm 1954, họ Ngô về nước làm thủ tướng chính phủ Nam Triều. Bề ngoài, sự kiện này có vẻ như là, trong cơn bối rối tuyệt vọng, hoàng đế Bảo Đại từ bãi biển Can-nơ, sai sứ giả đến triệu cựu Thượng thư bộ Lại cũng đang ở Pháp, làm một chuyến quy cố hương khẩn cấp, ngõ hầu lèo lái con thuyền quốc gia đang lâm nguy.

Sau 56 ngày đêm, bộ đội tướng Giáp đã “điện-biên-phủ” cả đế quốc Pháp và thế giới tự do, đúng vào lúc khai mạc hội nghị Giơ-ne-vơ bàn việc đình chiến ở Đông Dương.

Phái đoàn Việt Minh đưa yêu sách, đòi chọn vĩ tuyến 16, cắt ngang đèo Hải Vân, làm giới tuyến tạm thời chia đôi đất nước. Nghĩa là Việt Minh muốn chiếm Huế. Ngoại trưởng Gioóc-giơ Bi-đôn bị triệu hồi về Pa-ri, chính phủ Măng-đét Phơ-răng hứa hẹn với dân Pháp, một tháng sẽ giải quyết xong vấn đề Việt Nam. Tất nhiên, người ta phải mô tả họ Ngô trong hình ảnh một phần tử quốc gia có đủ tầm vóc và can trường, gánh cái gánh nặng: tiếp tục chống cộng. Tiếc thay, bàn tay lông lá của Hồng y giáo chủ Spen-man và linh mục Hut-xa lộ ra sau lưng họ Ngô quá sớm, khiến cho những tô vẽ hoang đường về cái gọi là “sứ mạng phi thường của Ngô chí sĩ” bị tổn thương rất nghiêm trọng. Bởi vậy, một tuần lễ sau khi về ngự tại dinh Nô-rô-đôm Sài Gòn, người ngợm còn mỏi nhừ, bụi đường còn vương vấn trên bộ y phục cổ truyền nhàu nát, ngài đã vội vàng bay ra Huế để Phan Văn Giáo, Thủ hiếu Trung phần lúc ấy, có dịp bày tỏ lòng ngưỡng mộ với chủ mới, bày vẽ một cuộc nghênh đón rình rang tại phi trường Phú Bài và một cuộc tiếp xúc ồn ào giữa ngài với bách tính miền Trung tại Phu Văn Lâu. Và năm ngày sau đó, 20 tháng 7, quá nửa đêm, hiệp định Giơ-ne-vơ đã được kí kết để trở thành ngày quốc hận!

Và cũng ngay sau đó, trong không khí quốc hận của nền Đệ nhất Cộng hòa, cậu Cẩn vẫn không quên nghĩ đến việc ban phát cho đám học sinh quốc học mặc đồng phục, đeo cà-vạt xanh, cái diễm phúc được học trong ngôi trường mang tên cụ thân sinh ra cậu – Ngô Đình Khả. Không hiểu sao, dự định hay ho ấy lại chưa được thực thi, âu cũng là một thiệt thòi to lớn cho đám học trò đeo cà-vạt xanh!

- Này cha, tôi thấy cần thành lập tại Huế một Viện đại học lớn. Huế chỉ cách vĩ tuyến 17 khoảng trăm cây số. Lập ở đây một đại học lớn chẳng khác nào thách đố bọn cộng sản. Nếu bây giờ tôi quyết định thành lập đại học Huế, cha có bằng lòng giúp tôi không?

- Thưa cụ, nếu tôi làm được việc gì để góp công vào việc thành lập đại học Huế thì cụ có thể tin rằng, tôi không ngần ngại chút nào!

Và nếu có ai gan cùng mình khi đi tin vào sự thực thà của mấy ông cố đạo ham quyền lực thế tục để cho rằng linh mục Cao không có chút xạo nào khi dẫn lại trong hồi kí cuộc đối thoại trên, người ấy tất phải hiểu rằng, cả họ Ngô lẫn họ Cao đều tâm đắc với nhau, mà không cần phải nói toạc móng heo dự kiến, xây dựng một pháo đài Thiên Chúa giáo tại cố đô!

Cũng chẳng có gì khiên cưỡng khi ráp nối các tình tiết trên với quá trình cậu Cẩn trường kì mai phục tại Huế từ trước, tập hợp lực lượng, dàn xếp với Cao trong việc chọn lựa cán bộ gửi qua Mỹ, Ca-na-đa, Tây Đức du học… Cùng với Phe-rô Ma-ri-a Phạm Ngọc Chi, một tu sĩ từng tắm máu cộng sản cỡ Lê Hữu Từ, tại địa phận Phát Diệm, sau năm 54 vào làm giám mục địa phận Quy Nhơn, rồi giữ chức Tổng thư kí Hội đồng Linh mục Việt Nam, cố vấn tối cao của đảng Cần lao – Nhân vị miền Trung, người sáng lập tổ chức Công giáo tiến hành (trước sau gì chúng ta cũng buộc phải tìm hiểu nhân vật này, để có thể hiểu tận tổ chấy, những sự kiện đàn áp Phật giáo sau này).

Có lẽ hơn ai hết, Cao thông cảm sâu sắc trước nỗi lo âu và cô đơn của anh em nhà họ Ngô trong không khí Sài Gòn, nơi người ta dùng tiếng Pháp trong các trường đại học. Trí thức, tầng lớp trung gian còn giữ nguyên thị hiếu Pháp trong ăn mặc nói năng, sinh hoạt và lối suy nghĩ, ảnh hưởng Mỹ chưa thấm tháp gì. Cần phải đào tạo gấp rút một tầng lớp trí thức kiểu Mỹ, do Mỹ, cho Mỹ, nghĩa là cần một cái lò đúc kiểu Mỹ. Anh em nhà họ Ngô nhắm vào Huế với những Cao, Chi và đạo quân di cư…

Thế là hơn bốn mươi năm sau khoa thi cuối cùng lựa chọn những ông cống, ông nghè cho triều Nguyễn Gia Long, tại cố đô, một Viện đại học với năm phân khoa ra đời, trong tinh thần rất ư là Phúc âm!

Dù sao mặc lòng, sự kiện này cũng mang lại cho Huế một sự thay đổi, ít nhất là trên bề mặt, ồn ào và khẩn trương hơn. Tuy nhiên, ngay ở chuyện này, ông Trời (hoặc giả có thể viện đến ba ngôi Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần), vẫn giữ nguyên tính hài hước cố hữu của mình, trớ trêu và bông phèng. Lò đúc kiểu Mỹ, Cao nhận thầu đúc sản phẩm mang nhãn hiệu USA bản xứ, nhưng số phận lại cung cấp cho ông ta những nguyên liệu trái khoáy, đa phần sinh viên Huế lại là con em của miền Trung quật cường và thiên cộng từ trong máu thịt. Với những nguyên liệu như vậy, lịch sử đã thực hiện đến cùng cái tất yếu lạnh lùng của mình, biến Huế từ một lò đúc thành một lò phản ứng đáng sợ. Một lần nữa, người ta buộc phải liên tưởng đến câu chuyện ngụ ngôn: mấy anh phù thủy bàn nhau làm cọp. Kẻ góp bộ da, người hiến hàm răng, con cọp ra đời ăn thịt luôn cả bầy phù thủy.

Coi vậy, chúng ta sẽ theo dõi Phi chọn phân khoa khoa học để ghi danh với một cặp mắt khác.

Buổi chiều, Phi đang chăm chú giở từng trang sổ ghi danh sinh viên trong phòng học vụ, một giọng nói vang lên đằng sau:

- Tìm cái chi đó?

Phi giật mình, quay lại. Phạm Nhật! Vẫn vết sẹo lằn ngang góc trán, nụ cười bướng bỉnh, đôi môi mỏng tái nhợt vì chứng thiếu máu kinh niên. Hay mình lầm? Phải dè chừng cây thánh giá anh ta đeo trên cổ, đâu còn Phạm Nhật, kẻ chửi Diệm tại phi trường?

Chợt Nhật nói nhỏ:

- Từ mai anh đừng đến đây giở sổ xem nữa, người ta bắt đầu chú ý đến anh rồi đó. Họ giao cho tôi điều tra, anh tìm ai trong sổ ghi danh? Tôi nhận ra anh cách đây ba ngày. Nói chuyện nhiều không tiện. Anh chỉ cần tin rằng, tôi đã quên tất cả những gì đã có giữa chúng ta!

Phi dừng lại. Nhật lủi thủi bước lên cầu Kho Rèn về nẻo đường Phú Cam, bên đó có một tấm biển lớn viết hàng chữ sơn đen nổi bật: Thà mất nước chứ không để mất Chúa!

Mình chưa kịp hỏi, Nhật làm gì ở đây? Và Nhật trở thành Ki-tô hữu từ khi nào? Tại sao? Nó sợ người khác nhìn thấy nó đi với mình. Vì sao? Vì sao nó cảnh cáo mình đừng tò mò giở sổ ghi danh xem nữa? Đáng chột dạ thật, phải coi chừng mới được. Còn kịp thời gian đến nhà giáo sư Huyễn, mình có mang sẵn thư thầy Lưu giới thiệu với giáo sư.

Ngoài trời nắng xế còn đủ chói chang cho đôi mắt phải nheo lại, mà phía trong vẫn kín bưng và chạng vạng. Hoàng hôn bao giờ cũng đến trước tại những khu vườn. Phi mỉm cười so sánh Huế với Sài Gòn. Một nơi, người ta thích ẩn nấp đằng sau những hàng rào sắt nhọn hoắt hoặc đúc bằng bê-tông ken dày đặc. Một nơi, người ta trốn vào bóng râm của cây cối um tùm và những hàng rào xanh mướt. Đâu đó ở đây còn bàng bạc ảo ảnh hang động thời hồng hoang, trong khi nơi kia cuồng nhiệt lao mình vào cơn lốc của chủ nghĩa đại đô thị. Tại hai đầu của cái nước Việt Nam Cộng hòa này, người ta đang đặt hai đối cực: âm – dương. Thiên nhiên gần như còn toàn năng ngự trị Huế, còn sắt thép chiếm lĩnh Sài Gòn.

Lại một cô bé lứa Oanh Vũ trong hàng ngũ Phật tử, Phi thú vị nhìn người ra mở cổng cho anh. Huế ơi là Huế, mắt mũi, tóc tai, quần áo, chỉ còn chờ giọng Huế trong vườn Huế:

- Thưa, anh hỏi người mô trong nhà ni?

Nghĩa là ngôi nhà Huế này thường có nhiều khách lui tới.

- Dạ, – Phi trả lời, chính anh cũng ngạc nhiên cho giọng nói của mình tự dưng cũng êm xuống theo tông của cô gái nhỏ. – Tôi đến thăm giáo sư Huyễn!

Cô bé thay đổi hẳn thái độ, niềm nở pha lẫn chút tôn kính:

- Dạ, mời anh vô!

Anh thong thả đi theo cô bé trên con đường rải đá sỏi, hai bên bày la liệt những chậu cảnh. Bóng râm lan đều. Có những loại hoa chưa bao giờ Phi biết tên. Anh cũng không phân biệt nổi hương vị dịu nhẹ từ đâu thoảng lên, có lẽ mùi vườn tược, thứ vườn không nhằm thu hoạch quả mà chỉ là chiếc nôi của hoa và lá. Cô bé len lỏi qua ngã nhỏ này, lách lối mòn kia, dẫn anh tránh trớ ngôi nhà gạch khá lớn. Một mê cung thực vật. Phi thầm nghĩ, có phải vì nơi chốn thiên nhiên còn băng tuyết mà tồn tại một hệ thần kinh thực vật, chi phối cơ chế bản năng nguyên thủy trong cơ thể con người? Bất đồ cô bé đi chậm lại giọng thì thầm:

- Anh chờ một chút!

Cô lưỡng lự như băn khoăn điều gì đó. Có lẽ người đàn ông đang ngồi quay lưng lại anh, trên một chiếc ghế mây, là giáo sư Huyễn? Đôi vai ông hình như hơi lay động và bàn tay vừa đưa tới trước. Có tiếng chạm cách khô lạnh, hình như ông vừa đặt một quân cờ nhỏ nhưng cứng lên mặt gỗ.

Trời ơi, ông ngồi đánh cờ một mình giữa khu vườn hoàng hôn. Cô bé rón rén đến bên ông nhưng chưa dám lên tiếng. Cả cô lẫn Phi đều cố giữ khoảng cách và im lặng. Lưng khòm xuống, như chợt choàng tỉnh, ông hỏi nhỏ:

- Chuyện chi rứa, con?

- Dạ, có người muốn gặp ba!

Cô bé ngần ngại trả lời.

- Gặp làm chi?

Ông khó chịu vì con gái ông vừa đánh thức ông khỏi thế cờ “oa tâm pháo”. Một quân pháo rút về trung cung, thành bại của cuộc cờ tùy thuộc vào quân pháo oan nghiệt đó, hoặc công dồn dập, đối phương tối tăm mặt mũi, hoặc thủ là chết.

Cô bé vội đưa mắt cho Phi như cầu cứu. Anh chậm rãi đến gần giáo sư. Ông không buồn ngẩng lên, hỏi:

- Chuyện chi rứa?

Lạ thật, cả ông lẫn thầy Lưu đều để tóc dài bồng bềnh giống như một số thanh niên bây giờ đang theo mốt.

- Dạ, có người Hội An gởi thư cho giáo sư!

- Cảm ơn.

Ông chìa tay lơ đãng nhận phong thư và đặt xuống bên cạnh mép bàn cờ.

- Cảm ơn!

Ông nhắc lại không hề đổi giọng. Rõ ràng ông không muốn tiếp mình, Phi chào:

- Xin chào giáo sư!

- Cảm ơn!

Ông lại đờ đẫn ngắm nghía thế cờ “oa tâm pháo” đầy ám ảnh.

Ra tới cổng, cô bé áy náy bảo anh:

- Các bác sĩ chẩn đoán, ba tôi mắc chứng trầm cảm, nhưng ông không cho chữa chạy. Anh để sẵn địa chỉ của anh, hồi nào có thể, tôi sẽ mời anh đến lại!

Phi vui vẻ ghi vào mảnh giấy nhỏ: 38 bis Triệu Ẩu, hỏi ông Hoài.

Cái gọi là hội chứng tinh thần các bác sĩ gán cho tình trạng u uất của giáo sư Huyễn, khiến mọi người lạc hướng về ông. Ta khùng, ta mắc bệnh tâm thần, mặc xác người đời, ông thường cười khẩy một mình và tiếp tục ván cờ một người chơi cả hai phía. Nếu có ai hiểu biết ít nhiều về thuật cờ tướng thì khi ngó vào bàn cờ của ông, người ta sẽ ngạc nhiên, chẳng có thế gì bí hiểm độc đáo đến mức trở thành ma quái cho cách chơi kỳ dị của ông cả. Rõ ràng, ông không nuôi mộng kỳ vương, ông sắp xếp lần lượt từng thế cờ trên bàn cờ theo một thứ tự chỉ mình ông hiểu ý nghĩa. Ông nhếch mép cười ruồi, hay kêu to một mình giữa vườn, đôi khi ông đứng dậy hoa tay múa chân. Những lúc đó, con gái ông sợ hãi và thương xót, tưởng cha mình lên cơn.

Không, nó sẽ còn buồn ghê gớm khi biết, cha nó không lên cơn, không điên, cha nó tỉnh, tỉnh táo đến rợn người và nhớ lại tất cả. Con ơi, ông nghẹn ngào, ba cầu mong con đừng rơi vào tình trạng bị phản bội như cha con… Ba không điên, con yên tâm lớn đi, rồi con sẽ hiểu một ngày kia, khi mà điều ba thổ lộ với con không còn là mối nguy hiểm đe dọa ba nữa. Còn hai anh trai của con, ông tức tưởi mỗi lần thoáng nghĩ đến hai đứa con trai của ông, tụi nó hèn yếu và lạc loài. Làm trai thời tao loạn mà như tụi nó là bỏ, đồ bỏ… Phải chi ba có thể kể hết cho con nghe thời ba, thanh niên đã sống như thế nào, làm gì có hạng ăn không ngồi rồi, thơ phú lợm mửa và đàn đúm vô luân như lớp trẻ bây giờ. A, một thế hệ vô luân trong một chế độ vô luân, khéo xảo hợp kỳ duyên!

Có thể nói, giáo sư Huyễn héo hắt cùng dòng hồi tưởng mỗi lúc một nặng trĩu, ngột ngạt.

Ông sinh năm 1905 tại Triệu Phong. Năm 1927, cậu tú Huyễn yêu người con gái đầu tiên trong đời mình. Mối tình cho mãi mãi. Đến tận giờ, ông Huyễn vẫn tránh gọi tên người con gái đó. Đối với ông, nàng vĩnh viễn là nàng. Nàng! Ông yêu nàng ngay từ lúc thấy nàng quàng khăn nguyệt bạch, cùng một tốp nữ sinh Đồng Khánh đến dinh thị lang Bộ binh Nguyễn Bá Trác, đòi Trác phải để cụ Phan Bội Châu tiếp họ. Trác vốn là học trò cụ Phan và từng tham gia Đông du, sau đầu hàng, làm tới chức thị lang. Sau sự kiện cụ Phan bị Hội đồng đề hình kết tội chết rồi giảm án, đưa về Huế an trí, không hiểu sao, cụ lại thuận tình đến ở với Trác trong tư dinh của hắn? Cụ rốn lại chốn ấy thêm giờ nào, thanh danh của cụ có cơ bị tổn thương nhiều thêm. Trước đó, Trác đã dụ được cụ mặc quốc phục quay phim, tất nhiên là phim câm, bọn bồi bút viết lời bình thế nào cụ đâu có hay. Quay xong, Pháp cho chiếu cuốn phim ấy tại rạp Tông-kinh-noa ngoài Hà Nội kèm theo cái gọi là tinh thần Pháp – Việt đề huề của cụ đã bị bóp méo, xiên xẹo vô cùng nguy hiểm…

Thay mặt nữ sinh Đồng Khánh, nàng đã đọc trước mặt cụ Phan một lá tâm thư, khẩn thiết xin cụ rời ngay dinh thị lang, rằng cụ là niềm hy vọng của quốc dân đồng bào, ai cũng kính trọng và ngưỡng vọng cụ… Chuyện ấy cùng sự kiện các trường học Huế bãi khóa năm đó, hãy nhường cho các sử gia, ông nhớ lại mối tình thơ mộng trong ngọc trắng ngà của ông như dấu ấn duy nhất đáng kể nhất, cho quãng đời hoa niên của mình…

Nàng là Huế.

Huế trút linh hồn nó vào một sự hiện hữu của nàng. Nhưng trước khi ông yêu nàng, ông cũng lại yêu một người đàn ông với tình yêu rực cháy bởi một sự đồng quy chí hướng và bởi sợi dây vô hình nhưng vô cùng bền chắc, kết nối hai kẻ cùng giới tính. Ông tự cho mình kém bạn đủ mọi điều: học vấn, kinh nghiệm, diện mạo, tâm hồn và tài trị quốc an dân. Bạn ông nhập lại với nàng làm một, thành thế giới tình cảm riêng của ông. Lắm lúc ông muốn thốt lên: có ai hạnh phúc hơn tôi không! Tình bạn và tình yêu lý tưởng dành cả cho tôi! Rồi ông làm đủ nghề, học thuốc và châm cứu tại Trường Đông Tây Y Dược học, học võ Tàu, mở quán sách, đá banh, trọng tài bốc-xơ, cuối cùng trở thành xếp ga Đà Nẵng.

Dù ở xa hay ở bên nhau, bạn ông và nàng vẫn là hai người thân thiết nhất, chi phối mọi nếp sống, niềm yêu ghét và hy vọng của ông. Ông và nàng lả lướt trên mây, không ai tính đến chuyện trăm năm, cho đến khi cụ thân sinh ra ông – một vị đại khoa của khoa thi cuối cùng năm Mậu Ngọ, trở bạo bệnh. Ông và nàng đành chấm dứt thời kỳ yêu đương lãng mạn để bước qua khúc quanh hôn nhân.

Nàng đầy vẻ thẫn thờ chia tay ông. Ông phải vào Đà Nẵng thu xếp công việc trước khi quay ra Huế làm đám cưới…

Mười một giờ đêm, ông thấy đói bụng liền rời ga. Ba giờ sáng có một chuyến tàu ra Hà Nội, nghĩa là tám giờ sáng, nàng sẽ có mặt tại Huế đón ông và mọi việc sẽ được an bài tuyệt hảo, nếu như… Vâng… bao giờ vào phút quyết định của đời người, cũng ló ra những cái nếu như…

Nhà hàng Pơ-ti Ô Ca-ba-rê khép hờ cánh cửa. Ánh đèn hắt ra cho ông thấy bên trong còn tốp khách ngồi quanh một chiếc bàn. Theo luật giới nghiêm, giờ này các nhà hàng không được mở cửa đón khách. Nhưng chủ nhà hàng quen ông, nghe tiếng ông gõ cửa, định mở cửa cho ông vào. Mấy người khách lố nhố đứng dậy cản ông chủ, dường như họ muốn độc chiếm nhà hàng. Hóa ra tụi Pháp. Ông cũng không ngờ đó là tốp phi công đầu tiên của nước Pháp có mặt tại Đà Nẵng, để lái bốn chiếc oanh tạc cơ kiểu Spit-phai mới chuyển từ Pháp sang. Ông không để ý đến thái độ kỳ quặc của tụi pi-lốt Pháp, điềm nhiên bước vào. Một thằng trong bọn lầu bầu chửi:

- Oh, pirates![1]

Máu nóng bốc lên mặt, ông cởi áo vét-tông và tháo cà-vạt khỏi cổ. Chợt nghĩ, gây sự ở đây sẽ phiền lụy cho nhà hàng. Ông cắn răng chờ tụi Pháp ăn xong, ông đưa miếng bít-tết lên miệng mà thấy đắng nghét. Năm tên Pháp bước xuống vỉa hè, kêu xích-lô. Người đạp xích-lô đòi bốn chục. Tụi Pháp không chịu, kỳ kèo một lúc. Một thằng thẳng cánh tát người đạp xích-lô và chửi toáng lên:

- Chúng mày là một nòi giống bẩn thỉu!

Ông nhào đến liền, cả năm thằng quây lại, tưởng có thể ăn tươi nuốt sống tên công chức da vàng mũi tẹt. Nhưng chúng lầm, tụi pi-lốt to xác nặng nề, võ vẽ dăm miếng quyền Anh, chịu trận sao nổi võ sĩ đệ tam đẳng? Ông quần miết tụi nó đến hai giờ sáng. Hai thằng gục tại chỗ, một thằng lọt xuống cống, còn hai tên bỏ chạy. Dân hàng phố thức dậy hết, chong đèn, cổ võ trận đòn trị Tây. Tiếng còi cảnh sát vang lên, bà con báo động:

- Chạy đi, cò tới đó!

Anh đạp xích-lô chạy tới nói nhỏ:

- Mời thầy!

Ông lên xe mới hay, bộ quần áo sang trọng trên người đã rách bươm, lộ ra đồ lót may bằng lụa. Ngay cả mái tóc chải bi-dăng-tin láng mướt của ông cũng rối bù. Chiếc sơ-mi còn lủng liểng hai vạt trước tới cổ áo, ông cởi luôn ném xuống cống. Cò tới, dân hàng phố tắt đèn, khoái trá bàn miết về nội lực hùng hậu của ông xếp ga và cảnh năm tên pi-lốt bị đòn. Dĩ nhiên, chẳng ai thèm hé răng khai ra ông, nhất là ông chủ nhà hàng. Một người lạ mặt nào đó say rượu đụng các phi công mẫu quốc, thế thôi! Nhưng cò lại lượm được cái áo dưới cống, ghi rõ tên ông. Số là, những người thợ giặt ủi vẫn ghi tên khách hàng lên vạt áo cho đỡ nhầm lẫn.

Ông bị kêu lên thẩm vấn, đành hoãn chuyến ra Huế. Rồi ông ra tòa, ông cãi không cần luật sư rằng nếu ông không tự vệ thì chắc ông đã toi mạng. Một chọi năm, cân sức sao đặng. Tòa không biết buộc ông vào tội gì, nhưng đánh các sĩ quan mẫu quốc là phạm thượng, là phản loạn. Tòa tuyên án, trục xuất ông ra khỏi Đà Nẵng và Huế trong vòng hai mươi bốn giờ. Ông trở thành kẻ bị phóng trục. Nàng chưa kịp vào tiễn, ông đã phải lên đường.

Vâng, nếu như không có trục trặc ấy, cuộc đời ông sẽ bằng phẳng hơn nhiều. Cha ông mất, ông cũng không được về Huế chịu tang. Qua thư họ hàng kể lại giây phút lâm chung của người cha thân yêu, người vẫn chưa hiểu (và chẳng bao giờ hiểu nổi, cái chết đã đưa người đến cõi vô định): vì sao đám cưới của đứa con trai duy nhất của mình bỗng dưng ngưng lại và nó cũng biệt luôn từ đó? Không ai dám nói thật với người, người cứ chờ, chờ để chẳng bao giờ kịp trăng trối một lời với nó, với thằng Huyễn yêu quý của người. Đọc thư, ông ứa nước mắt thương cha. Nhưng ông được an ủi: nàng đã thay ông có mặt bên cha ông lúc người qua đời. Và nàng đã tiễn đưa người về nơi an nghỉ cuối cùng với tư cách là nàng dâu, hẳn phải vậy rồi!

Nàng đẹp, vâng, nàng đẹp một cách toàn mĩ. Nàng còn là hiện thân của luân thường đạo lý và niềm đại lượng sâu xa. Không nghi ngờ gì nữa, ta hai lần chịu ơn nàng, nàng đã thay mặt ta bên cha ta trước khi người đặt chân lên bờ cõi chết và nàng tha thứ cho sự lỡ dở do ta gây nên. Cứ thử đọc lại những bức thư nàng gởi cho ta đi, nàng yêu ta còn mãnh liệt hơn cả trước khi sự cố xảy ra, ta tuyệt đối yên tâm khi có người tình như nàng.

Có lẽ trong quãng đời bôn tẩu của một kẻ bị phóng trục, những giây phút nghĩ tới nàng, đọc thư nàng, viết cho nàng là những giây phút ông được nương náu trên thiên đường.

Bỗng nhiên nàng, con sơn ca của ông im tiếng, bặt luôn thư từ, tin tức. Ông kinh hãi tột độ, điều ấy chỉ có thể xảy ra khi nàng bệnh, hoặc một tai biến đột ngột đã đến với nàng. Cả trong những bức thư gia đình ông gửi cho ông, cũng không một lần nhắc nhở tới nàng. Tất cả những điều ấy thật là khủng khiếp. Gia đình ông từ lâu đã coi nàng như ruột thịt, không lẽ bỗng dưng bỏ quên nàng? Nhưng tuyệt nhiên ngoài mối lo sợ những sự không may có thể xảy ra với nàng, ông không bao giờ nghĩ, nàng có thể phản bội mình!

Và cuối cùng, trong khoảng không gian nghìn trùng xa cách, bỗng dưng con chim sơn ca của ông lại lên tiếng, nhưng là tiếng giã biệt. Nàng báo tin trong bức thư khá ngắn ngủi, rằng nàng quyết định trao thân nàng vào tay một người đàn ông khác, mà người đàn ông đó lại là người bạn thân nhất của ông!

Mọi việc sáng tỏ một cách trần truồng. Ông cắt nghĩa được ngay, lý do của sự im lặng đột ngột trước đó của nàng và của gia đình ông. Ông không oán trách cả nàng lẫn bạn, ông chỉ biết, mối tình duy nhất và mãi mãi của ông đã chết và ông chỉ còn sống vất vưởng trong cõi hư vô lạc loài.

Ông viết thư cho nàng và bạn ông, một bức thư không phải để chúc mừng hay trách móc, ông chỉ mô tả quá trình chết của tâm tưởng ông, bằng những câu thơ huyễn hoặc đầy ẩn dụ.

Những tưởng chẳng bao giờ ông còn gặp nàng và bạn ông nữa. Sau thời gian bị phóng trục, ông trở lại sở Hoả xa Đà Nẵng, ông thề với mình, sẽ không về Huế, dù chỉ để thăm nhà!

Hơn một lần, cái nếu như lại có mặt ở khúc quanh mới của đời ông, nghĩ cho cùng, đó chính là khúc quanh của cả một dân tộc. Sau đó, ông cũng lấy vợ. Nhưng ông không bao giờ yêu người vợ của mình, cũng chưa có lúc nào ông nhìn mặt vợ cho tường tận. Nàng vẫn thống trị và giày xéo cõi lòng ông.

Cách mạng Mùa Thu bùng nổ, ông bàng hoàng thức tỉnh. Hóa ra, ngoài thế giới tình cảm khép kín của ông, còn một thứ sâu xa hơn, lớn hơn ngấm trong máu mỗi người Việt, tình tự dân tộc. Ông hăm hở gia nhập công đoàn hỏa xa cứu quốc. Ông được chứng kiến cái chết của một người công nhân bình thường thành Thái Phiên, khi làm thí nghiệm với vũ khí tự tạo. Lựu đạn nổ ngoài ý muốn, người thợ ấy hy sinh. Chính ông được giao nhiệm vụ tổ chức chuyến tàu tang lễ, chở thi hài người thợ anh hùng tới nơi an nghỉ cuối cùng. Hàng nghìn người dân thành Thái Phiên đi theo chuyến tàu ấy, tiễn một người về đất mà kỳ thực làm dấy lên cả một niềm tin yêu và hy vọng cho ngày mai, cho một sự nghiệp, một lý tưởng. Rồi cũng chính ông, trước ngày Pháp nổ súng gây hấn chiếm Đà Nẵng, chỉ huy đoàn tàu sơ tán toàn bộ thiết bị vật tư và con em công nhân hoả xa ra khỏi đề-pô Đà Nẵng. Tới Nam Ô, cầu Liên Chiểu bị đánh sập, ông ra lệnh cho hành khách và công nhân rời khỏi tàu cùng với những thiết bị vật tư chở theo. Chỉ còn lại hai người, ông và người thợ đốt lò đau xót nhìn con tàu chậm chạp nhích đến gần mép cầu đổ. Phải tiêu thổ kháng chiến, không để một hạt gạo, một tấc sắt lọt vào tay bọn thực dân xâm lược. Để mặc con tàu lăn bánh đến vực thẳm, ông và người thợ nhảy xuống. Ông cúi đầu mặc niệm một con tàu đã chết, nhưng con đường tranh đấu còn nhiều gian nan đã mở ra. Ông leo lên dãy núi Trường Định, vượt Hải Vân ra Huế. Ông trở thành chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Và đại đội trưởng đại đội ấy chính là người bạn thân của ông. Ông mới hay, nàng cũng theo chồng ra vùng tự do. Vợ chồng họ ngượng ngùng khi gặp lại ông. Họ ân hận đã phản bội ông. Nhưng không khí hừng hực của vận hội mới lấn át tất cả, ông tỉnh táo nhìn nhận sự thật, tuy sự thật ấy vô cùng tàn nhẫn. Nàng lấy bạn ông là phải. Người ấy can trường, giàu nghị lực hơn ông gấp bội, không những đáng mặt chỉ huy mà còn khiến ông phải kính phục. Dù vẫn còn yêu nàng, ông chịu đựng tình cảm trớ trêu hiện tại một cách bình tĩnh hơn.

Đại đội ông có một đám chiến sĩ khác thường. Trần Chánh Thành, nguyên gốc Nha Trang, đang làm tri huyện Hương Điền, cũng treo ấn từ quan về làm một tên lính trơn. Những thi sĩ TH, những văn sĩ TT lừng danh lãng mạn, những Võ Lương, Hoàng Thi Thơ, Lưu, Vi… toàn dân tú tài. Chiến cuộc mỗi lúc càng bớt thơ mộng, mặt trận Huế vỡ. Trần Chánh Thành, Võ Lương, Nguyễn Văn Hai dinh tê về thành. Phải thôi, khi cơn bão đã tới hồi ác liệt, những đám bọt bèo ắt phải tan ra.

Ông và Thơ được lệnh vào Tam Kỳ dạy trường kháng chiến Phan Châu Trinh. Ông chia tay với vợ chồng nàng trong niềm xao xuyến, hẹn gặp nhau ngày khải hoàn. Rồi từ đấy, ngoài cái chất lãng mạn sẵn trong con người ông, ông có thêm niềm tin yêu khi biết chắc, vợ chồng nàng và ông cùng chọn một con đường. Có nàng cùng đi trên con đường ấy, ông cảm thấy thật phấn chấn và thanh thản. Ông đồng nhất vợ chồng nàng với niềm xác tín của một trí thức đi theo cách mạng từ buổi đầu. Ông đưa gia đình từ Đà Nẵng vào Tam Kỳ và dạy hai đứa con trai đầu học.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, kéo theo dồn dập bao nhiêu sự kiện kinh thiên động địa. Quốc dân đảng Tiên Phước – Tam Kỳ nổi lên trả thù kháng chiến. Vụ thảm sát Cây Cốp, máu những người chết oan chưa kịp khô, Phạm Xuân Hỉ, một giáo viên dạy cùng trường với ông, đã bị Quốc dân đảng chôn sống ở Tiên Hồ. Không khí khủng bố loang rộng theo vết chân tiếp quản chính quyền của tân chế độ.

Ông vội đưa gia đình ra Đà Nẵng. Nghe mấy tin choáng váng một lúc. Diệm đưa Nguyễn Văn Hai thay Phạm Đình Ái làm giám đốc Nha học chánh Trung phần. A, cựu chiến sĩ Vệ quốc đoàn Nguyễn Văn Hai! Ông khinh bỉ hắn, nhưng hơi chột dạ. Hai biết hết những ai trong đám trí thức miền Trung đã từng theo kháng chiến. Giáo sư Vi được Hai cho về dạy ở Trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nhưng khi Vi hành động bất lợi cho chế độ độc tài, Hai sẵn sàng chấp thuận để bên công an cho nhân viên mật vụ xông vào tận lớp học, bắt giáo sư Vi đưa ra Huế và thủ tiêu luôn. Ý chừng Hai và tân chế độ muốn giết Vi để răn đe đám trí thức chống đối. Đến giáo sư Vi, con trai cựu tỉnh trưởng Hoàng, nổi lên chống cụ Ngô còn bị giết chết tươi, huống hồ chi lũ trí thức có sẵn tiền án theo Việt Minh?

Đến lượt ông bị bắt, công an Huế vào Đà Nẵng, di lý ông về quê hương. Ông không ngạc nhiên, chấp nhận cái kết cục oan nghiệt này. Nhưng lần thứ ba, cái nếu như đã đưa ông bước thẳng đến tuyệt vọng. Trên đường trở về Huế, ông biết thêm: Trần Chánh Thành được mời ra làm Bộ trưởng Bộ Thông tin cho chính phủ Diệm. Ông ngơ ngác, hình như có một phương cách bí hiểm chi đây, anh em họ Ngô đang dùng ngay bọn đã từng sống trong lòng kháng chiến để đánh lại kháng chiến. Ông nhớ lại từng người trong đại đội Vệ quốc đoàn của ông. TH và TT tập kết, Nguyễn Văn Hai, Trần Chánh Thành trở cờ, Vi bị giết, Lưu bị o ép… Còn vợ chồng nàng vẫn ở Huế. A, nghĩa là ta sẽ không cô đơn khi về cố đô!

Tới Huế, chính Cẩn kêu ông lên thẩm vấn và ngồi bên cạnh Cẩn là bạn ông!

Mắt mũi ông hoa lên, xây xẩm. Trời ơi, bạn ông và chồng nàng đã trở thành giám đốc Nha Công an Trung phần, dưới trướng Ngô Đình Cẩn.

Cuộc hội ngộ giữa người chết với Thập điện Diêm La cũng chưa chắc đã ghê rợn bằng cuộc thẩm vấn này.

Cẩn vừa nhai trầu bỏm bẻm, vừa tủm tỉm cười:

- Hai ông bạn cũ, đã từng ở chung một đại đội Vệ quốc. Thôi hỉ, tui nhường cho hai ông hàn huyên!

Ông choáng váng thì ít, hoang mang thì nhiều. Thế là bạn ông và nàng đã phản bội ông lần thứ hai, lần cuối cùng. Không một lý do nào biện minh nổi việc nhận lời làm giám đốc công an cho tên đao phủ họ Ngô. Cả hai im lặng, đối diện nhau trong phòng thẩm vấn. Không biết ai đã chết trong ai?

Ông nghĩ tới nàng. Và lần đầu tiên trong đời, ông căm ghét và khinh bỉ nàng. Nếu không có sự toa rập của nàng, không bao giờ bạn ông sa đọa đến mức này!

Ông được tha về, đấy là thân xác ông, còn linh hồn ông chìm đắm trong cõi chết. Ông bắt đầu đánh cờ một mình cho cả hai phía, thế cuộc đảo điên như trên bàn cờ. Bạn, tình, lý tưởng, luân lý… sụp đổ. Tựu trung cũng một thế cờ. Đến lượt hai đứa con trai của ông làm cho ông tan nát. Thằng lớn học giỏi, khoa thi nào cũng đứng đầu, tốt nghiệp cử nhân văn chương Sài Gòn, đỗ thủ khoa, về Huế thi chứng chỉ cử nhân triết cũng đứng đầu, được cả huy chương danh dự của Viện đại học Huế. Nhưng học giỏi để làm gì? Ông không chịu được cái “Nhà thờ họ” quái gở của lũ trẻ vong thân do con ông cầm đầu. Ông và lứa trí thức thời ông, rất mơ mộng, lãng mạn, nhưng không bao giờ đánh mất gốc. Còn con ông và bạn bè nó lại nổi loạn chống lại truyền thống tổ tiên để hiện sinh… Và kết quả của lối sống loạn đó, nó đi yêu cô em gái, con bà o ruột nó. Một mối tình làm cả dòng họ và nhất là ông nhục nhã ê chề với Huế. Thằng em nó ăn phải đũa anh, cũng tấp tểnh nổi loạn. Hai đứa con trai cùng phản bội ông. Ông biết sống với ai ngoài cô con gái út và một bàn cờ?

Nhưng biết đâu, hai thằng anh đốn mạt của nó sẽ dẫn nó cùng “hiện sinh” theo… Còn nàng, ông biết nàng đang hiện diện cách ông một ngàn mét, nhà nàng bên kia cầu Gia Hội. Nhưng nàng đã chết, chết trong ông. Ông chỉ bám víu vào kỉ niệm về nàng và sự săn sóc của cô con gái út để sống thoi thóp. Rồi bữa nay, bỗng nhiên chàng trai kia mang thư của giáo sư Lưu tới, buộc ông phải nhớ lại tất cả. Giáo sư Lưu nhờ ông che chở cho một thanh niên nào đó. Hừ, ta che chở được cho ai khi chính ta cũng đang ngắc ngoải? Ông chán nản vào nhà mặc quần áo và hỏi con gái:

- Cậu thanh niên mang thư bác Lưu có để lại địa chỉ không, Trà?

- Dạ, có!

Trà lật đật đưa mảnh giấy Phi viết cho cha.

Hỏi dò đám sinh viên Quảng Nam có mặt tại Huế, Phi biết thêm chút ít về chị Hòa. Chị mặc áo dài trắng, nhưng lại vá một mụn vải xanh khá to trước ngực. Tính chị có vẻ đàn ông và hiện nay chị đang dạy kèm tại một gia đình trên đường lên đàn Nam Giao. Biết vậy, có dịp về Quảng sẽ xác minh thêm gốc gác, gia đình chị trước khi làm quen. Dù sao chị cũng là người thứ nhất, Phi có ý định bắt liên lạc sau khi đọc thấy tên chị trong cuốn sổ ghi danh. Phần còn lại của buổi chiều, Phi ngồi đọc toàn bộ tập báo Lành Mạnh của ông Hoài cho mượn. Tờ báo do bác sĩ Lê và nhóm bác sĩ Huế chủ trương. Danh nghĩa là tờ báo y học, nói chuyện sức khỏe, cách thức vệ sinh và những phương pháp chẩn đoán, điều trị cổ kim đông tây, nhưng càng đọc, Phi càng cảm thấy, những người làm báo này quan tâm đến sức khỏe tâm hồn người đọc hơn là sức khỏe cơ thể họ. Mấy ông bác sĩ Huế có vẻ khoái câu danh ngôn của Pôn Lăng-giơ-vanh: Một tâm hồn cường tráng trong một thân thể khỏe mạnh! Nhất định phải bỏ công tìm hiểu nhóm này.

Mấy bữa trước, nhân lúc ngồi nhâm nhi ly cà-phê sáng tại nhà, Phi hỏi ông Hoài về bác sĩ Lê. Ông Hoài trả lời:

- Hình như ông ta là một bác sĩ có tiếng nhất ở Huế hiện nay, nhưng không nhờ tài chữa bệnh, mà nhờ những hoạt động chính trị từ thời chống Pháp. Sau đó lập nhóm Hoà Bình với bác sĩ Thân. Rồi không rõ sao đó, hai ông này xa nhau. Sau ông Thân chết vì bệnh ung thư máu. Phần lớn mọi người cứ đinh ninh, ông Lê là phần tử chống đối quốc gia. Đùng một cái, linh mục Cao đưa ông Lê theo chuyến công du châu Âu nhằm xin viện trợ cho đại học Huế và tuyên truyền cho tân chế độ. Đúng là treo đầu dê bán thịt chó, không ai hiểu ra sao hết… Đã vậy, anh trai ông Lê, một nhân vật kháng chiến, lại được mời ra làm giám đốc công an. Thôi, nói chuyện chính trị làm cà-phê mất ngon.

Anh mải suy nghĩ, không hay mưa đã ngớt hạt. Bất ngờ Cảm Ngôn chạy vào nhìn anh cười. Tiếng cười của cô bé câm sao mà trong trẻo thế, không gợn chút vẩn đục, u ám. Anh mỉm cười đáp lại. Nhưng Cảm Ngôn ra hiệu, anh hiểu, khách của anh đang chờ ở phòng ngoài, Cảm Ngôn đã mời khách ngồi uống nước, đợi cô vào gọi anh. Anh vuốt nhẹ tóc cô bé khen:

- Em ngoan lắm! Cảm ơn em!

Cô bé líu ríu sung sướng. Suốt ngày thơ thẩn đi lại trong nhà như chiếc bóng, Cảm Ngôn quanh quẩn bên Phi và sẵn sàng làm bất cứ điều gì anh yêu cầu.

Anh không ngờ giáo sư Huyễn lại đến tìm anh. Lần trước, trong bóng râm khu vườn, Phi tưởng giáo sư Huyễn già hơn thầy Lưu ít nhất cũng chục tuổi. Rõ ràng anh lầm, họ cùng lứa. Nhưng giáo sư Huyễn ủ rũ, cử chỉ buông xuôi và lơ đãng. Trong cái nhìn của thầy Lưu còn lung linh một vài đốm sáng ấm áp. Tuyệt không thấy điều đó trong cái nhìn đờ đẫn, lạnh lẽo của giáo sư Huyễn. Ông miễn cưỡng cử động, nói năng đến nỗi người ta phải nghi ngại mỗi lần tiếp xúc với ông. Hình như ông chán ghét cả đồng loại.

- Mời cậu đi với tôi!

Ông uể oải sau vài câu rời rạc với Phi. Anh cũng không tự ái trước cách thức ông mời anh. Không phải tự nhiên thầy Lưu bảo mình tìm ông Huyễn. Mình cũng chưa hình dung nổi, phải nhen nhóm một phong trào bắt đầu từ đâu, từ ai? Tất cả những gì chế độ họ Ngô làm trong sáu năm qua, dường như đã có kết quả. Nhưng mình tin rằng đang có những làn sóng ngầm chống đối. Không, nhận định thế này trúng hơn. Diệm lấy máu tưới lên đống lửa căm hờn, nhưng chưa kịp dập tắt hoàn toàn những đốm lửa li ti. Biết đâu trong con người kia vẫn còn một đốm than hồng? Tình cờ ông Huyễn đưa Phi tới đúng tiệm cà-phê anh đã ngồi trong buổi sáng đầu tiên đến Huế.

Mươi bước chân, mình có thể gặp cô gái xéc-via đã nhận va-li sách vở của mình thế chân tiền trọ. Mới nửa tháng, mọi thứ đã có vẻ xa xôi. Đời mình sẽ mãi như thế này, quen – chia tay – rồi không biết tá túc nơi nào. Số tiền đánh rớt trên tàu, người đàn bà điên ru anh giữa buổi trưa ngột thở, anh bồi hồi nhớ lại. Chợt giáo sư Huyễn nói:

- Uống đi cậu! Mà tôi có thể làm chi giúp cậu chừ?

- Thưa thầy! Thầy Lưu sợ con ra Huế lần đầu cái gì cũng mới mẻ, nên dặn con đến xin thầy chỉ bảo, bày vẽ.

Phi không hiểu điều mình vừa nói có gì làm giáo sư Huyễn phải nhăn mặt. Nhưng sai lầm của anh là ở chỗ: nghe người ta nói, người Huế vốn kiểu cách, nên lần đầu tiếp xúc với giáo sư Huyễn, anh đã dùng lối nói khách sáo. Chính điều ấy làm giáo sư Huyễn khó chịu. Giá như anh cứ bộc trực, giản dị hẳn ông sẽ ít xa cách anh hơn. Giáo sư Huyễn chua chát nghĩ, đến mình còn chưa biết dạy lũ con mình phải sống ra sao, bây giờ chàng thanh niên kia hỏi mình nên chỉ cho anh ta như thế nào, thật mỉa mai. Mà anh này có vẻ xã giao, không giống như me-xừ Lưu giới thiệu trong thư.

Cả hai theo đuổi câu chuyện tẻ nhạt, không hay, trong hoàng hôn cơn mưa đã quay trở lại… Ánh sáng bên ngoài chuyển thành màu tro và những giọt mưa rơi xiên xiên. Dường như đã núp sẵn một nơi nào đó để đợi cơn mưa chiều, những cặp trai gái Huế giương dù đi ra đường. Đủ các màu sắc, dù bao giờ cũng trên tay anh con trai, còn cô gái âu yếm nép vào vai bạn. Mọi người trong quán đều chăm chú ngắm nhìn cuộc diễu hành đầy hạnh phúc của những cặp trai gái ấy. Bỗng nhiên, từ bàn bên cạnh, câu chuyện của hai vị khách lọt đến tai Phi:

- Anh có biết hiện giờ ở Huế có hai sự kiện gì nổi bật không?

- Không, lo chạy gạo tối ngày, hơi mô tìm hiểu chuyện ba xàm.

- Nói rứa không đúng, có phải mình đang ở Hỏa Tinh mô? Hơn nữa, anh mới từ Sài Gòn ra Huế nên quên mất rằng, Sài Gòn khác, Huế khác, ở Sài Gòn, những người thuê chung một ngôi nhà, sống chung hàng năm trời cũng chẳng thèm biết tên nhau. Nhưng ở Huế, người đầu phố biết rành chuyện gia đình người cuối phố và hễ rảnh rang, người ta xúm lại kháo chuyện người khác, bình phẩm khen chê đủ điều. Nghĩa là người Huế thích quan tâm đến kẻ khác và dư luận Huế giữ một vai trò rất quan trọng. Thiếu gì người chịu không nổi tiếng thị phi, phải quyên sinh hay bỏ đi xứ khác…

- Sống ở một nơi lắm kẻ ngồi lê đôi mách như vậy thật là khó chịu, lúc nào cũng phải nơm nớp đề phòng thiên hạ dị nghị. Sài Gòn tự do và bất cần. Anh làm gì kệ xác anh, kể cả chuyện anh cởi truồng chạy ra phố, miễn là anh đừng đụng tới vợ con, nhà cửa, túi tiền và sở thích của tôi. Có lẽ Huế cổ lỗ và tỉnh lị ở chỗ đó?

- Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc, ở Huế mà không biết hai sự kiện tôi sắp kể, coi như anh chưa đến Huế.

- Kể đại đi, coi Huế của các anh có hai ê-vê-nơ-măng[2] ghê gớm tới mức nào?

- Sự kiện thứ nhất: Diệm Mi, đương kim hoa hậu Huế, cũng là người đẹp nhất trong Ngũ Mi: Nga Mi, Trà Mi, Hồng Mi, Diệm Mi, Trầm Mi… Diệm Mi đẹp đến nỗi, chiều mô các sinh viên cũng tìm cách lượn theo ngả đường nhà nàng, cầu may một cơ hội được ngắm nàng hiện ra trong khung cửa sổ. Đến chừ, nàng vẫn chưa chịu gieo tú cầu cho những người si mê nàng. Sự kiện thứ hai, một giáo sư quốc học trẻ, học giỏi, đỗ đầu tất cả các kỳ thi từ tú tài đến cử nhân văn chương, được coi là nhà hiện sinh số một, con một gia đình nề nếp nhưng bất đắc chí, không hiểu răng lại đi yêu cô em, con o ruột mình. Anh nên nhớ rằng, ở Huế, anh em con cô cậu được coi gần như là anh em ruột, vì vậy vụ này gây ra một xì-căng-đan khá om sòm. Nghe đâu, cả hai gia đình ngăn cấm họ gặp nhau. Điều đáng nói là, cô nớ đâu có đẹp đến mức khuynh quốc khuynh thành mà anh chàng giáo sư trẻ nọ vẫn mê mẩn, chà đạp lên luân thường đạo lý và sự đàm tiếu mỉa mai cay độc. Anh muốn coi thì chịu khó ngồi đây đợi, thể nào đôi tình nhân vô luân nớ cũng giễu qua đây. Mấy ông cha bà mẹ bất lực, câm điếc hay răng mà không biết dạy con cái?

Phi ngạc nhiên, gương mặt giáo sư Huyễn chợt tái xám, đôi môi mím chặt. Ông run rẩy lại gần quầy trả tiền cà-phê, rồi lủi thủi bước ra ngoài trời đang mưa. Anh ngẩn ngơ theo sau.

Giáo sư cúi đầu rảo bước. Mưa nặng hạt hơn, hai người tấp vào hành lang nhà bưu điện. Ông hổn hển dựa lưng vào tường, Phi lo ngại theo dõi sắc mặt của ông. Chợt ông thì thầm như van nài:

- Bác muốn nhờ cháu đến nhà dạy kèm cho Ngọc Trà, con gái út của bác. Cháu đừng từ chối.

Phi ngạc nhiên chờ ông nói tiếp. Ông có vẻ lạnh, bàn tay ông nắm chặt lấy tay Phi. Đột ngột nhìn thẳng vào mắt anh, ông hỏi:

- Cháu có biết người ta lập ở Huế một Viện đại học để làm gì không?

Câu hỏi hoàn toàn bất ngờ với Phi. Anh vốn coi chuyện Huế có trường đại học là lẽ đương nhiên. Xưa kia, Huế vốn là kinh đô của một vương triều kéo dài hàng trăm năm và bây giờ, số học sinh, trí thức quy tụ tại đây cũng khá đông. Mở đại học ở Huế là để mở mang một vùng văn hóa.

Ông ngó quanh trước khi nói:

- Huế đang được trù liệu trở thành pháo đài tiền tiêu của Thiên Chúa giáo chống lại… phía bên kia!

Phi không hiểu nổi cái lô-gích của những gì vừa diễn ra chiều nay trong con người giáo sư Huyễn. Cuộc trò chuyện tẻ nhạt, thái độ lạ lùng khi ngẫu nhiên tiếp nhận câu chuyện của những người khách bàn bên và lời cảnh cáo về một pháo đài đang được trù liệu. Anh chỉ nghĩ đến một điều thiết thân, anh sẽ chấm dứt cảnh ăn bám ông Hoài và anh sẽ có dịp tìm hiểu thêm về con người thực của giáo sư Huyễn. Làm cách nào biện bạch với vợ chồng ông Hoài và Cảm Ngôn, về quyết định bỏ đi của mình?

Anh không dám đưa mắt về phía cô bé câm đang khóc nhỏ và thu xếp đồ đạc quần áo của anh cho vào chiếc xách. Ông Hoài thẫn thờ pha trà:

- Cậu đi, ngôi nhà này sẽ buồn lắm. Nói thật, cách thức ăn nói và cử chỉ của cậu khiến mọi người vừa thương vừa lo cho cậu. Cậu nên nhớ, chúng ta đang sống trong luật 10/59. Nhưng tôi hiểu, mỗi người một thân phận. Đi đâu thì đi, đừng quên chúng tôi. Tội nghiệp nhất là Cảm Ngôn, nó không biết nói mà…

Phi cầu mong sao cho cuộc ra đi nhanh gọn hơn. Ông bà Hoài ngồi lại trong nhà. Cảm Ngôn xách gói đồ tiễn anh ra cổng. Phi nói nhỏ:

- Thỉnh thoảng em đến chỗ anh chơi nghe?

Cảm Ngôn gật đầu, mắt đỏ hoe. Chưa bao giờ cô bé câm lại thèm nói đến thế, một tiếng kêu bình thường mà cô không làm nổi: Anh!

❀ ❀ ❀

[1] Đồ kẻ cướp (tiếng Pháp).

[2] événements – sự kiện (tiếng Pháp).

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.