Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đối Mặt Với Những Chọn Lựa
Đối Mặt Với Những Chọn Lựa

❊ ❊ ❊

Một mùa hè lại qua đi…

Hàng phượng đỏ lác đác sót lại trên những vỉa hè Hội An. Mưa mỗi lúc một dầm đề, lầy bùn và gió cửa Hàn se lạnh. Bóng Cù lao Chàm mờ nhạt dần qua mỗi ngày.

Hai Chi mang thư đến cho Phi trong những ngày u ám ấy:

“Hãy nhắn con em trong họ về ăn Tết và giỗ tổ dưới quê!”

A, nghĩa là cấp trên triệu tập Ban chấp hành Hội Sinh viên – Học sinh Giải phóng miền Trung lên núi, chuẩn bị sức lực và phương hướng cho mùa khô 63 đang tới.

Lên danh sách 16 người, 9 trong Ban chấp hành và 7 cơ sở nòng cốt. Mọi thông báo bay theo đường dây vô hình, các trạm liên lạc triển khai công tác tiếp nhận.

Hẹn nơi tập kết ở Phong Thử, Nguyễn Duy Hưng chịu trách nhiệm tiếp nhận khách đến từ nhiều chuyến xe của tài Chúc. Chúc là giao liên hợp pháp, thường xuyên ra vào Phong Thử, thậm chí có khi phải ở lại. Kiếm cớ chi hợp lý cho mỗi chuyến lưu lại ba bốn ngày ở Phong Thử? Phi thành “ông tơ bà nguyệt” bất đắc dĩ. Lý tưởng nhất là Hai Chi chịu ưng Chúc? Dễ chi, con Hai xinh nhất chợ Phong Thử, ga-lăng như thằng Sanh nó còn chê. Chàng Chúc nhà ta xấu trai, trông hơi quê mùa. Ráng ghép đôi miết. Hai Chi bằng lòng thương. Bữa gặp Phi để trả lời dứt khoát có cho gia đình Chúc về Phong Thử ăn hỏi hay không, Hai Chi cắn môi để khỏi bật lên tiếng khóc:

- Thực lòng, em không yêu anh Chúc. Không phải vì ảnh xấu trai hay gì khác. Mà chỉ vì em chưa thấy yêu. Chừ anh nói đó là nhiệm vụ thì em… phải hoàn thành! Rồi cũng có khi sống miết với nhau thành quen mà yêu nhau!

Phi thương cô em họ quá, nhưng chuyện đã vậy, vì sự sống còn của một đường dây giao liên cốt tử, anh làm ngơ như không hiểu khía cạnh tàn nhẫn của cuộc hôn nhân này. Chúc lái xe nhà, chạy tuyến Đà Nẵng – Phong Thử. 16 người đến sau 16 chuyến xe của Chúc, lần lượt tập kết tại Phong Thử. Từng cặp trai gái đóng vai người về quê ăn tết. Khách từ Quảng Trị vào, từ Bình Định ra, người nào người nấy mang quà bánh cho bà con nặng trĩu trên vai.

Đêm, mười sáu người đi bộ về đất thánh Giáng La. Một đại đội địa phương Điện Bàn đón sẵn. Người chỉ huy lại là Ba Đoát, vừa ở Bắc về. Phi ôm lấy Ba Đoát. Trong bóng tối không thấy rõ mặt nhau, nhưng qua vòng tay ôm cứng, biết anh Ba mập lên nhiều.

Ba Đoát khoe:

- Tau đi Bắc về, không có quà cho mi, mi đừng giận tau. Ra đó, khắp nơi mời kể chuyện tuyến đầu tổ quốc những năm tháng đen tối và nổi dậy. Tau vác chuyện Giáng La ra kể. Bữa nghe đài Giải phóng báo tin Hội liên hiệp Sinh viên – Học sinh Giải phóng miền Trung ra đời, trúng ngày tau đến công trường phá đá ở Khu gang thép Thái Nguyên, tau kể luôn chuyện đời mi. Tau đoán đâu có sai, mi chớ ai vô cái vụ này? Lúc ra về, Ban chỉ huy công trường hỏi, chúng tôi muốn tặng quà đồng chí, nhưng không biết đồng chí cần thứ chi? Tau xin liền: Kíp mìn! Mấy ông trợn mắt, lấy kíp mìn làm chi? Tau cười, đánh giặc chớ chi. Cứ theo cách nớ, tau mang về một ba-lô bự, toàn kíp mìn, dây bấm mìn. Xài thả dàn. Chừ tau về đứng chân vùng cát rồi, nhưng ông Hồ Xuân kêu lên biểu: Chú Ba, tết này tôi có những vị khách cực kỳ quan trọng, chú lo bảo vệ, đón họ lên căn cứ chu đáo! Rứa là tau đi đây!

Sơn và Cẩm Lệ thấy cung cách nói chuyện của Ba Đoát lạ lắm, kêu Phi ra một chỗ riêng, hỏi:

- Ông nớ là ông mô, anh?

- Ông nớ tên Ba Đoát!

Phi tủm tỉm cười, giới thiệu. Nội cái tên Ba Đoát cũng đủ làm đám khách khứa thành phố nhớ lại hàng loạt những chiến công khét tiếng của anh Ba – Giáng La, mà họ từng nghe đồn đại. Cả lính tráng địch loan truyền thêm. Phi đoán là những vị khách thành phố đang lè lưỡi lắc đầu, ngầm quan sát Ba Đoát trong đêm.

Suốt đêm, mẹ Cộng lo chở các cô, các cậu sinh viên, học sinh, thanh niên vượt qua sông. Trong bóng tối, Sơn ngồi xích lại bên Cẩm Lệ và đưa tay quàng nhẹ qua eo lưng cô. Cẩm Lệ ngây ngất hưởng hạnh phúc và tiếng hò khoan nho nhỏ của mẹ Cộng rì rầm như mái chèo chạm mặt nước lao xao. Trong đêm nghe man mác niềm vui quê hương.

Nhắm núi Chúa đi tới. Chạm chân dốc Ô-ray, qua hòn đá Điện Bàn, các vị khách chân yếu tay mềm quen đi trên đường nhựa thành phố bắt đầu thấm mệt, la lết cùng đường. Hành lý, quà bánh mang lên căn cứ, nào đường, sữa, bánh kẹo, mì ông Phật, thuốc lá Ru-by, trà Mai Hạc, đường phổi Quảng Ngãi, bỗng trở nên nặng ngàn cân và cả 4.000 khăn tay thêu tặng chiến sĩ Giải phóng của các em gái sống trong lòng địch. Ba Đoát ra lệnh cho bộ đội gánh giùm. Riêng Nguyễn, chết cũng không chịu để lại bình ắc-quy và dây nhợ, bóng đèn. Trước khi lên núi, Nguyễn bảo Phi:

- Mấy anh mấy chú trên nớ nhớ thành phố hung lắm. Mình phải rinh Đà Nẵng đặt ngay trên dốc Ô-ray. Muốn vậy, sống chết phải mang bình ắc-quy lên. Có điện là có thành phố!

Lên tới Ô-ray quá nửa đêm. Ba Đoát hạ lệnh cắm trại, các vị khách lăn chiêng ra đất. Ba Đoát sốt ruột quá, không dám ngủ, đi quanh đốc thúc bộ đội cảnh giới, sẵn sàng chiến đấu. Tờ mờ hôm sau lên đường, xế trưa tới chỗ ông già áo xanh.

Cả đám reo lên sung sướng, y hệt Phật tử leo lên Niết bàn!

Bữa cơm căn cứ đầu tiên ngon đặc biệt, quây quần bên nhau giữa rừng kháng chiến, anh nào, cô nào cũng hào hứng bốc trời. Ít lâu nay sống náu mình ở thành phố ngột ngạt, tới đây được hít thở không khí tự do.

Nhìn mọi người hồn nhiên đón chào ngày đầu tiên trên căn cứ, Phi thương Hoan lạ lùng. Giờ này, trong căn nhà cuối đường Thanh Sơn, Hoan đang làm gì? Chắc mải lo cất giấu máy in của toà soạn và lau chùi những vết mực dây ra nhà. Tại sao Hoan lại không được quyền hưởng không khí hạnh phúc này?

Đêm, ông già áo xanh cùng các vị khách trẻ tuổi của mình nhóm lửa. Giọng kể chuyện của ông đầm ấm lạ thường.

- Người ta thường nói: Ai hay nghĩ về quá khứ là bắt đầu già! Nhưng với tôi, có những kỷ niệm mà mỗi lần ôn lại, tôi càng phấn chấn làm việc và trẻ ra. – Cả đám thanh niên mỉm cười. – Cuối năm 1958, tôi có dịp làm việc tại một căn cứ của ta. Tôi chú ý đến một người đàn ông đặc biệt, thường quẩn quanh chỗ chúng tôi trao đổi công tác. Thấy tôi có vẻ e ngại, đồng chí cán bộ trạm bèn kể tôi nghe về người đàn ông đặc biệt đó. Đồng chí ấy đã từng phụ trách thành ủy Đà Nẵng hồi kháng chiến. Thành uỷ giao cho đồng chí ấy chuẩn bị sẵn một kho lương thực bí mật trên bán đảo Sơn Trà. Trước khi tập kết, đồng chí ấy lựa một đảng viên trung kiên nhất, giao nhiệm vụ tiếp tục giữ kho. Không may, có bọn phản bội chỉ điểm, địch xộc tới, hốt hết cả 9 tấn gạo. Người đảng viên ấy phải lánh vào cánh rừng hoang phía đông Sơn Trà… Rồi coi như mất tích. Sau đó, đồng chí cán bộ thành ủy trở lại chiến trường hoạt động. Đồng chí ấy thường bơi từ bên kia đèo Hải Vân qua bên này vịnh Liên Chiểu, về hoạt động, để tránh vòng vây nghiệt ngã của địch. Đồng chí ấy nghe những người đánh rớ bên Sơn Trà kể rằng, gần đây có một con “ma núi” thường hiện xuống bãi biển Tiên Sa, ăn cá của dân chài lưới. Đồng chí cán bộ nghĩ ngay đến người đảng viên trung kiên coi kho, rất có thể người ấy mất liên lạc, sau khi mất kho gạo. Người cán bộ liền qua Sơn Trà đánh rớ đêm. Quả nhiên, cứ đánh được con nào để trên bờ, lúc sau quay lại, cá đã biến mất. Bữa sau, đồng chí cán bộ bèn để lon gạo và một bức thư vắn tắt: Nếu là Trung Khiết thì chờ bắt liên lạc! Và họ đã liên lạc được với nhau. Đồng chí ấy đưa Trung Khiết về căn cứ phục thuốc. Trung Khiết kể rằng: bữa nhận được lon gạo trên bãi cát, anh ấy nhai gạo sống. Bốn năm liền, Trung Khiết sống bằng trái cây và tôm cá. Cam chịu làm một Rô-bin-xơn chứ không chịu xuống núi đầu hàng giặc. Chỉ có giữ được ngọn lửa cách mạng trong tim, con người mới có thể chịu đựng nổi gian khổ như vậy… Người đàn ông đặc biệt đó là Trung Khiết!

Mắt Phi mờ đi, nhiều đốm lửa chập lại làm một, môi anh mằn mặn vị nước mắt. Có lẽ các bạn anh cũng đang nghĩ như anh, về ngọn lửa giúp con người vượt lên cái chết thể xác lẫn tâm hồn. Cẩm Lệ khóc, nước mắt giàn giụa trên gương mặt hiền hậu.

Cùng lúc đó, dưới suối có ánh đèn pin nhập nhoạng. Một người từ đó bước lên. Không ngờ, đó chính là nhà thơ yêu dấu của đất Quảng, thơ của anh được tuổi trẻ miền Trung thuộc nhiều nhất, nhờ nghe qua đài phát thanh hoặc qua những cuốn sổ chép tay, truyền nhau đọc và thuộc lòng. Một nghệ sĩ cách mạng mà vinh quang của anh ở chỗ, tuổi trẻ coi anh là biểu tượng của niềm thơ và tự do.

Thu Bồn biết tin khách thành phố lên núi, bèn cùng các chiến sĩ vào một buôn gần đó, đem chiếc đồng hồ đeo tay đổi lấy một chú heo ba nắm, cõng về đãi khách ăn tết Nguyên đán đặc biệt, Tết Quang Trung.

Vừa từ dưới suối lên, Thu Bồn nhập cuộc ngay. Ai cũng tranh nhau ngồi gần nhà thơ của mình. Ấm áp quá, suốt đêm treo võng đọc thơ cho khách.

Ông già áo xanh phải la:

- Thôi hỉ, phải nghỉ lấy sức mai làm việc!

Cả đám năn nỉ xin phép được thức trọn đêm với thi sĩ cách mạng. Náo nức. Sương phủ kín rừng. Suối kêu róc rách thâu đêm. Rất xa, từ dưới đồng bằng, dội lên tiếng súng như tiếng pháo giao thừa đốt sớm…

Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương

Như hôn người yêu sau ngày xa cách

Tôi không khóc nhưng vẫn trào nước mắt

Con đã về với mẹ – Mẹ quê hương![1]

Sáng hôm sau, anh Hiền báo cáo sự tích “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc”. Coi như bài học mở đầu. Hồ Xuân lên lớp về phương pháp cách mạng và phong trào đô thị miền Nam, tình hình và triển vọng.

Đêm giao thừa, đúng dịp chào mừng sinh nhật Đảng, ngày 3/2… Tổ chức văn nghệ dưới ánh đèn ắc-quy. Thu Hiền, khách Quảng Ngãi, xung phong hát, trúng bài… vàng úa! Ai cũng tức cười. Hiểu ra, Thu Hiền cũng cười…

Ông già áo xanh cất tiếng hát, bài “Đi lên, đi lên”. Giọng ông trầm ấm. Ông không hát, ông kêu gọi, đi lên, xuyên qua đêm đen dày đặc và bóng tối, đi lên, vượt suối băng ngàn…

Hết văn nghệ, Ba Đoát xách võng đến mắc cạnh chỗ Phi nằm. Suốt đêm cứ thấy anh Ba đứng lên ngồi xuống, hết thở dài lại gắp than mồi lửa điếu thuốc cuốn nguyên lá. Chết cha, quên bẵng chuyện Ba Đoát nhờ mình nhắn tin cho vợ anh Ba. Phi nói nhỏ:

- Anh Ba, có chuyện chi vậy? Hay là… nhớ vợ!

- Nhớ vợ, – Ba Đoát cười lạnh lẽo. – Còn vợ mô mà nhớ, nó chịu làm vợ nhỏ thằng Hàn hồi tau ra Bắc. Lại lấy trúng thằng ác ôn đó. Tau sẽ giết cả hai đứa!

Phi ngao ngán nghĩ thầm. Sao chị ta ngu rứa không biết? Chọc ai không chọc, lại lựa Ba Đoát mà chọc? Thoáng có tiếng thở dài, Ba Đoát tung võng ngồi dậy, bẻ đốt xương ngón tay côm cốp.

Ngày 5 tết, đúng ngày Quang Trung đại phá quân Thanh hai thế kỉ trước, lễ tuyên thệ làm ngay bên hòn đá Điện Bàn. Hồ Xuân đứng giữa, bóng áo xanh của ông in đậm trong tâm trí mọi người, hình ảnh một người anh lớn. Những cô gái thành phố mặc áo dài trắng, choàng vuông dù hoa bên ngoài.

Xuống núi, tạm biệt cánh rừng tự do, mười sáu người chia thành ba toán. Một toán theo lối Túy Loan, một toán theo lối sông Chu Bái, một toán về Giáng La…

Đêm trước xuống núi, Phi nằm riêng một chỗ với ông già áo xanh (mãi mãi anh cứ gọi huyền thoại của anh bằng cái tên của một ông bụt dân gian). Ông nghiêm trang nói với anh:

- Đồng chí Phi, tôi với đồng chí Tư Hòa, nhất trí giới thiệu đồng chí vô Đảng Nhân dân Cách mạng Nam Việt Nam, nghĩa là Đảng Lao động Việt Nam. Đồng chí hãy viết bản tự khai lí lịch và đơn xin vô đảng. Thành ủy Đà Nẵng sẽ ra quyết định kết nạp đồng chí!

Ông xúc động ngừng lại, hai bàn tay, một già một trẻ, siết chặt lấy nhau. Xin chúc mừng đồng chí!

Trên dốc Ô-ray, Phi bỗng lần đầu tiên cảm thấy, biển sao mà gần gũi thế! Dường như anh với tay là chạm phải những lớp sóng vạm vỡ của nó. Biển, anh sẽ đi tới biển, cùng với những dòng sông dữ dội của quê hương anh.

Ngày 5 tháng 12 năm 1962

Nhận thư cậu, đọc trong lo âu. Cậu chỉ quan hoài hai chuyện: một, bắt mình ghi lại những ngày huý kị trong năm (chiều lòng cậu, mình đã ghi những ngày này vào nhật ký). Hai, cậu thiết tha muốn được một lần gia đình sum họp đầy đủ. Hình như cậu linh cảm thấy, thời gian khốn khó nhưng êm ả đã trôi qua, đang đến khúc quanh khốc liệt. Vâng, nhất định con sẽ về với cậu, về với quê hương và vĩnh biệt một quá khứ chao đảo, đón nhận một lựa chọn tối hậu mà rút cuộc, mỗi người có lương tri đều phải lựa chọn. Con còn phải về để trả lời với “người ấy”, một tiếng “Vâng!” dứt khoát.

Sửa soạn hành trang về Quảng, 1 quần đốn, 1 áo lương, 1 quần đen, 1 bộ Ca-pi-tôn, một bộ vét, 1 quần tẹc-gan, 1 sơ-mi vải, 2 quần cụt, 1 may-ô có tay, 1 không có tay, 1 bộ py-gia-ma, 1 bộ nút, 1 đôi vớ và 1 quyển lịch cho cậu. Đấy là những thứ tôi sẽ xếp vào trong túi xách về Quảng, còn những thứ khác (ngoài tôi ra không ai nhìn thấy), cũng chất đầy trong tâm hồn và trí não tôi. Năm Cọp sắp qua đi (Đúng là năm Cọp thật, cái gì cũng dữ dằn, táo tợn!). Năm Mèo đến. Mình mất mát nhiều ảo tưởng và bù lại, một ngả đường thoát hé mở phía trước, mình sẽ dấn thân vào đó. Nhận được bức thư cuối cùng của Nhung (một trong những cái “cuối cùng” của giai đoạn vô thanh dồn dập đến với mình). Dĩ nhiên, nàng buồn và nuối tiếc cho sự lờ đờ của mình. Nàng đã phải viết thành chữ rằng:

“Khi đứng trước Thiên Chúa, Người sẽ không hỏi anh đọc bao nhiêu kinh, đã xem lễ bao nhiêu lần. Người sẽ hỏi anh cho kẻ đói ăn không, cho kẻ khát uống không, cho kẻ rách mặc không. Nghĩa là Chúa sẽ hỏi, anh làm được bao nhiêu điều lành ơn phúc? Nhưng khi đứng trước những kẻ có thẩm quyền cấp học bổng du học, sinh viên Thiên Chúa giáo sẽ thích hợp với lối sống Tây phương hơn! Công, bạn học của chúng ta, đã kịp hiểu điều đó trước anh và Công đang sống phây phây trong một đại học đường Huê Kỳ. Nhung không muốn xúc phạm anh. (Nhung đã cam chịu thất bại trong tình yêu, nhưng Nhung muốn một nhân tài như anh không bị bỏ rơi, chúng ta phải đứng lên trên tất cả những thành kiến xã hội, tôn giáo, chọn lựa phương pháp hữu hiệu nhất, phụng sự cho một quê hương Việt Nam đã bị chiến tranh liên miên tàn phá). Chỉ có chúng ta mới biết sống trong tình yêu khiêm nhường, thiết thực theo Phúc âm.

Cầu nguyện đừng cả tiếng, ăn chay đừng xoa xuýt miệng mình, làm việc lành tay phải đừng cho tay trái biết!

Chúng ta coi khinh những chính khách ồn ào, lại càng ghê sợ những kẻ bạo loạn, ném bom, ám sát và xách động dân chúng. Trong âm thầm, giới trí thức chúng ta (trí thức hoà bình, lạy Chúa ban phước lành cho anh), chúng ta sẽ giúp quê hương gượng sống từ tro tàn! Chính vì lẽ đó, em van anh, anh hãy nhẫn nhục ra đi và học thành tài. Anh cũng đừng để mặc cảm dối trá ám ảnh anh. Thực ra, khi chấp nhận trở thành Ki-tô hữu một cách không tự giác đi nữa, mục tiêu cuối cùng của “hành động tưởng như giả trá” đó lại là cái gì đó, rất gần gũi với lí tưởng Thiên Chúa giáo.

Có kẻ khó bị bọn cướp chặn đường, một linh mục đi qua, dừng lại làm dấu rồi lại tiếp tục bỏ đi. Xa-ma-ri-cô đi qua, đưa kẻ khó ấy vào nhà, băng bó vết thương và bảo chủ quán trọ cho kẻ khó đó ăn, cho kẻ khó đó ngủ, bao nhiêu phí tổn Xa-ma-ri-cô chịu hết. Chúa Ki-tô bảo:

- Hãy học người vô thần như Xa-ma-ri-cô!

Chẳng lẽ anh không một lần đáng phục hơn Xa-ma-ri-cô sao? Chỉ cần anh bằng lòng, mọi phần còn lại, em và cha H sẽ hoàn tất, cho anh sớm lên đường du học. Đương nhiên, anh sẽ nhận được quyết định hoãn vào Thủ Đức!

Dù sao cũng cảm ơn Nhung, tôi quyết định chọn lựa: về Quảng, sống và chết như một người Quảng.

Vĩnh biệt quá khứ!

Vĩnh biệt Nhung!

Giờ này mà tôi định lẻn vào Thiên đường hay Niết bàn thì quả thật ích kỉ quá!

Li đợi Phi đọc trang nhật kí cuối cùng của mình, trên sân ga Đà Nẵng. Hai người không chú ý đến khung cảnh nhớp nhúa, ồn ào xung quanh. Nhà ga của một sáng xuân mưa lầy lội, người ngợm chen chúc nhau chờ chuyến khứ hồi. Phần đông họ là những người tha phương cầu thực, trước Tết trở về quê đoàn tụ với gia đình, bà con họ hàng, làng xóm và hiện tại, lại bươn bả ra đi.

Tiết xuân mưa phùn, trời âm u chưa hứa hẹn điều gì sáng sủa hơn năm ngoái. Đầu máy rú còi thê thảm, hai anh em tần ngần nhìn nhau. Một vào Thủ Đức, một về Huế…

Một người nhận nhiệm vụ trở thành “một sĩ quan giỏi, được tin cậy, giữ một vị trí quan trọng trong Bộ chỉ huy vùng 1 sau khi ra trường”, một về Huế với phong trào!

Con tàu khởi hành trong mưa, Phi lội bùn lép nhép trên các vỉa hè khấp khểnh, về bến xe An Lợi. Ngang qua tiệm kem Diệp Hải Dung, Sanh bỗng nhô đầu ra, gọi ầm lên:

- Vô đây, Phi, ra Huế hả?

Gật đầu lưỡng lự. Lâu lắm rồi, không có dịp nào hai thằng bạn cũ thuở Diên Hồng ngồi lại với nhau. Mới đó, hai năm đã trôi qua, kể từ lần đầu tiên hai thằng bước vào tiệm kem này.

Trọng mới cho Phi hay: Sanh đang mon men tìm cách làm thân với nhóm “Nhà thờ họ”, đặc biệt nhằm vào Ngọc Phương và Phan Trịnh.

Xuân Hòa nhận xét:

- Mình cảm thấy, thằng Sanh ra Huế có chủ đích gì khác hơn là kiếm mảnh bằng cử nhân Toán. Ông già nó dư sức lo cho nó vô Sài Gòn. Răng hắn lại chọn Huế? Mà truy ngược truyền thống gia đình Sanh, cũng lắm cái lạ lùng. Anh ruột ông nội Sanh tham gia nhóm Duy Tân cùng Trần Cao Vân – Thái Phiên, bị Pháp chém đầu. Sau đó, Pháp lại đưa con trai ông nội Sanh là Bá (bác họ Sanh), qua Paris học đốc-tơ, về nước thành người thân Pháp cuồng nhiệt. Còn mấy người em trai của cha Sanh theo kháng chiến, tập kết, gởi con lại cho cha Sanh nuôi, nhưng thái độ của cha Sanh khó hiểu lắm. Mình nói vậy để Phi lưu ý khi tiếp xúc với Sanh!

Phi mang thắc mắc đó về hỏi thầy Lưu, thầy nín lặng. Sau Phi mới giật mình biết, thầy Lưu có họ xa với cha Sanh.

Sanh không chịu để Phi buột mất, kéo vào tiệm bằng được:

- Lo chi ông, mà mô buồn ra Huế lúc ni? Ngồi chút xíu, lâu rồi mình chưa ôn lại kỉ niệm Diên Hồng!

- Nhưng cũng chính ông tuyên bố tại tiệm kem này lần trước: Thằng Sanh Diên Hồng chết rồi?

Phi móc máy. Sanh cười như không:

- Rứa mới gọi là vòng luân hồi, nhưng thôi, nói công chuyện quan trọng trước đã. Cũng hên, tôi định ra Huế sẽ tìm gặp ông ngay.

- Có chuyện gì mà “rồng hạ cố đến nhà tôm”?

Phi lơ đãng hỏi.

- Ông đã biết tin mấy thầy định thành lập Đoàn Sinh viên Phật tử Huế chưa?

- Chưa, tôi bận bù đầu, lo thi lấy chứng chỉ, biết chi chi mô?

Phi làm bộ không mảy may chú ý đến nguồn tin này. Sanh vươn người qua chiếc bàn, đập tay lên vai Phi:

- Đánh bài ngửa đi ông, chúng ta cùng có lợi mà.

- Tôi đâu phải con bạc, xin ông hiểu giùm!

Phi nửa nạc, nửa mỡ thăm dò. Sanh mỉm cười:

- Tụi mình lạ gì tim đen của nhau. Nói thiệt, chức vụ đoàn trưởng Đoàn Sinh viên Phật tử nhất định vô tay Lê Chuyên hoặc Hoàng Văn Cầu, nhưng có lẽ thằng cha rỗ hoa mè nhiều khả năng hơn (Sanh ám chỉ Cầu), còn hai ghế đoàn phó, tụi mình chia nhau!

Đúng giọng con buôn. Suýt nữa Phi bật cười. Sanh tiếp tục mặc cả thẳng thừng:

- Chúng tôi sẽ dồn phiếu cho ứng cử viên Võ của ông, ông đừng phá đám chàng Gia Li của chúng tôi!

Chợt Sanh im lặng. Phi cảm thấy Sanh sắp nói ra một điều gì đó nghiêm trọng hơn:

- Có thể ông cảnh giác với tôi vì ông tưởng tôi mù quáng theo đuổi sự nghiệp Quốc dân đảng của ông già tôi?

Phi cố trấn tĩnh mới không lộ vẻ sửng sốt. Sanh đánh giá mình quá cao, thực ra mình đã khinh suất khi không tìm hiểu kỹ gia đình và con người Sanh!

- Mặc xác đám người mê muội với ảo tưởng của họ, lớp trẻ của chúng ta phải thức thời, phải mô-đéc. Tôi ham muốn đủ thứ: quyền lực, gái, danh vọng, nên tôi không thể đi theo con đường khổ hạnh của anh. Nhưng anh tin rằng, chúng ta đang đi theo hai con đường song song với nhau, để đến cùng một đích!

Sanh trầm ngâm ngừng lời. Vẫn mưa bụi.

- Cả hai thằng đều học toán, nhưng mỗi thằng lại theo đuổi một lý tưởng khác nhau. Ông theo đuổi một lý tưởng “vô hạn”, còn tôi theo đuổi lý tưởng “hữu hạn”… Ông hướng tới “mùa xuân của nhân loại trong thế giới đại đồng” của Mác, tôi dấn thân cho một dự phóng giản đơn: minh xác cho sự hiện hữu của “cái tôi” trong thế giới đầy bất trắc và lo âu của Xác-tơ-rơ. Tôi khiêm nhường hơn ông. Tôi được ít hơn ông. Bù lại, tôi sẽ ít đau đớn hơn ông khi mộng ảo tiêu tan. Nghĩ cho cùng, ông đáng thương hơn tôi, ông lao vô cái gọi là đấu tranh giai cấp. Tôi khắc khoải cùng tâm thức. Tôi ra Huế để thành Huế, ông ra Huế để nhuộm đỏ Huế. Không biết thằng mô thành tựu trước thằng mô?

Trên chiếc tơ-rắc-xi-ông chỉ có ba người, hai chàng thanh niên và bác tài lặng lẽ. Cái gạt nước trễ nải di động trên mặt kính mờ mịt những giọt mưa.

Chuyến xe vét trong ngày.

Đúng như Sanh dự liệu, không ma nào thèm ra Huế giữa thời tiết khó chịu này. Cỗ xe chạy chậm lại khi tới cầu Thủy Tú. Bác tài bâng quơ thông báo:

- Hai cậu nhìn thử xuống vệ đường coi?

Phi và Sanh phát hiện ra hai xác người nằm sóng soài trên đám cỏ ướt. Bác tài thở dài:

- Ba ngày nay, họ phơi hai cái xác “Việt cộng xâm lược yêu nước” ở đây!

- Bác vừa nói cái gì hả?

Sanh hỏi vẻ khiêu khích. Bác tài nhắc lại:

- Tôi nói: hai tên Việt cộng xâm lược yêu nước!

Sanh ngạc nhiên:

- Đã xâm lược răng yêu nước được?

- A, “Việt cộng xâm lược” là nói theo quốc gia, còn “yêu nước” nói theo kinh nghiệm của bản thân tôi.

Phi hiểu. Sanh đang tìm cách thăm dò phản ứng của chính anh. A, kẻ thua cuộc nhất định là Sanh!

- Bác chỉ nói theo luận điệu bên tê!

Sanh cao giọng thách thức.

- Cậu đừng lớn lối vậy, tôi tự hiểu những gì tôi thấy, không ai tuyên truyền được tôi hết!

- Thì ít nhất bác cũng chịu ảnh hưởng tuyên truyền từ hồi Việt Minh?

- Đúng, Pháp tái chiếm Đà Nẵng, tôi dẫn vợ con chạy ra vùng tự do. Nhờ Việt Minh thắng Điện Biên, tôi mới được về Đà Nẵng. Còn ông Diệm chạy qua Mỹ. Chính Mỹ đưa ổng về. Chừ biểu ông Diệm có công đánh Pháp, gí súng bắt người ta công nhận, người ta sợ chết phải công nhận thôi. Cũng như chừ quốc gia biểu, hai người nằm dưới vệ đường tê là cộng sản xâm lược thì chỉ có bọn lòng chim dạ cá tin thôi, còn chúng tôi không thể…

Chợt nhận ra mỗi lúc lời mình một thêm nguy hiểm, bác tài im bặt.

Cả ba lại chìm vào những luồng suy nghĩ khác nhau trên con đường hoang vắng bởi làn mưa xám ngắt…

Người tài xế bàng hoàng, sực nhìn qua gương chiếu hậu. Cả đoàn quân xa phía sau đang bóp còi loạn xạ xin đường. Ông vội vã quay vô-lăng, cho xe của mình lánh sang một bên, nhường đường. Chiếc xe dẫn đầu đoàn công-voa nhà binh chạy vượt lên, rồi thắng kít lại, ngay trước mũi cỗ xe khách. Một viên sĩ quan nhảy xuống khỏi ca-bin, hùng hục chạy lại. Bác tài vừa ló đầu ra định thanh minh, viên sĩ quan trẻ măng trong bộ đồ rằn ri, đội bê-rê đen và hai bông mai bạc trên ve áo, lôi bác tài xuống khỏi chỗ ngồi.

- Đồ khốn nạn!

Đồng thời với tiếng thét giận dữ, viên trung uý tát thẳng tay vào mặt người tài xế. Phi giận run, định chồm khỏi ghế. Sanh vội ghìm anh lại.

Bác tài đứng chết lặng giữa đường, mưa rơi đầm đìa hòa lẫn với dòng lệ buồn tủi trên gương mặt sượng trân, ngó đoàn xe nhà binh rùng rùng chạy ra Huế…

Bỗng nhiên một dự cảm lo âu loé lên trong óc Phi.

Huế sắp xảy ra biến cố! Anh và các đồng chí của anh có quá chậm trễ không?

❀ ❀ ❀

[1] Thơ Thu Bồn.

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.