Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai đã từng!
CA DAO
Từ Cáp Xanh Giắc[1], những suy nghĩ trừu tượng bị thay bằng những lo âu thường nhật của kẻ nghèo khó, cầu bơ cầu bất trong tâm trí Phi. Hầu như từ khi đặt chân xuống tàu, anh em Phi sống nhờ vào lòng tốt của ông già và những thủy thủ hào hiệp. Nhưng con tàu không thể cứ mãi lênh đênh, đến một lúc nào đó, nó phải dừng lại và cập bến Sài Gòn, chấm dứt luôn tình trạng bám víu của Phi.
Nghĩ tới đó, Phi bật cười một mình khiến Phương Mai ngồi cạnh cậu ngơ ngác. Mọi thứ có vẻ ngớ ngẩn và kì cục. Rồi mình và Phương Mai sẽ chia tay nhau. Cô ấy có một mái nhà và một mái trường đang đợi phía trước… Còn mình có những vỉa hè! Vô phước cảnh sát sẽ hốt mình lẫn trong đám trẻ hư hỏng, trộm cắp. Phi chua chát đối chiếu tương lai mờ mịt của mình với cô gái.
Trên đoạn hải trình cuối cùng, Phi còn chán nản hơn cả lúc dắt trâu lên những sườn đồi sương giá Sơn Tịnh, mà dù đã xoay mỏi tay, cũng không thể nào thấy hình ảnh của anh Sói hiện lên, cứu giúp, che chở cho nỗi cô đơn tuyệt vọng của Phi.
Dù sao lúc ấy, Phi cũng sống trong khung cảnh nông thôn, với những mái nhà tranh nghèo khổ quen thuộc, những ngọn núi lởm chởm cằn cỗi nhoài mình xuống bờ biển, những cánh đồng hẹp xơ xác ngay cả trong mùa cấy… Giữa biển cả mênh mông cậu càng thấy mình trở nên bé nhỏ và những kí ức Giáng La mới đó mà đã có vẻ khó tin lắm rồi. Dường như những chuyện tra tấn khủng khiếp, những buổi quỳ sám hối dưới ánh đèn măng-sông, những thằng Đàm, thằng Khánh, kể cả chuyện cây sắt nung đỏ, đâm thấu qua sự trinh trắng của người con gái mười tám tuổi, Phi chỉ đọc thấy trong cuốn sách nào đó.
Càng rời xa Giáng La, lòng thù hận càng xẹp xuống và nỗi hoang mang rối bời của kẻ lạ nước lạ cái, càng choán mất nhiều chỗ trong tâm trí cậu.
Như cái cây bị bứng gốc khỏi chỗ quen thuộc, Phi đón nhận Sài Gòn với tâm trạng tự ti của một anh học trò nhà quê mới ra tỉnh. Còn Phương Mai lại rơi vào một thái cực khác: không đâu bằng xứ Huế của cô, cô nhìn Sài Gòn với con mắt miệt thị nhưng dè chừng.
Con tàu của họ chen lách giữa một thành phố nổi được kết thành bởi những chiếc tàu buôn đồ sộ, mang đủ màu cờ các quốc gia, sơn quét trên những ống khói.
Họ cập bến Sài Gòn giữa lúc Hòn ngọc Viễn Đông đang lên đèn. Phi lóa mắt nhìn phố xá tấp nập, những dòng xe, người cuồn cuộn trôi trên đại lộ dọc bờ sông. Cậu còn nhận ra, giữa cái xô bồ, huyên náo ấy, còn có những người nhàn tản, thong thả đi bộ, một tay thọc túi quần, một tay dắt chó. Và những con chó ấy cũng mang dáng vẻ kênh kiệu, oai vệ như chủ của chúng. Và cậu tưởng mình lạc sang một nước khác. Thủy thủ đoàn rậm rịch lo chuyển hàng hóa lên bờ. Không ai bận tâm đến việc cậu đang bối rối, không biết phải làm gì lúc đó. Nếu không có Phương Mai bên cạnh, chắc cậu còn mất bình tĩnh hơn.
Phi e dè theo cô bước lên bờ ke. Chỉ vào chiếc ghế đá còn trống trên vỉa hè, Phương Mai bảo Phi:
- Anh có nôn về nhà lắm không? – Suýt nữa cậu phì cười, làm gì có nhà mà về. Phương Mai cũng biết mình vừa đặt câu hỏi ngớ ngẩn, bèn trớ qua chuyện khác ngay. – Ngồi dưới tàu tù túng quá, tôi cũng không có chi gấp gáp.
Phi ngượng ngùng ngồi xuống ghế. Phương Mai cắn môi suy nghĩ một lúc, rồi móc bóp đưa hết số tiền còn lại cho Phi:
- Anh đừng nghĩ xấu về tôi. Tôi về với cậu tôi, nên không cần số tiền này. Còn anh chắc chưa tìm được ngay người thân… Xin anh đừng từ chối!
Phi đỏ mặt không phải vì mắc cỡ, cậu xúc động. Cô gái lẳng lặng đặt số tiền xuống ghế đá, rồi lật đật đứng dậy. Chính cô cũng đang cấn cái trước những gì đang diễn ra trong lòng cô. Thực ra, cô rất muốn đề nghị người bạn trai dễ mến kia theo cô đến ở tạm nhà ông cậu mươi bữa, chờ tới lúc tìm được nơi tá túc lâu dài. Nhưng nền giáo dục mà cô thừa hưởng và những thành kiến nghiệt ngã khiến cô không dám hành động đường đột như vậy. Cậu mình sẽ nghĩ về chuyện ni ra sao, khi thấy mình dẫn một người con trai mới quen về nhà cậu? Vừa lúc một chiếc xích-lô đi ngang qua, cô vội vã vẫy tay và lên xe…
Phi thầm cảm ơn cô gái mau chóng chấm dứt tình trạng khó xử vừa rồi. Phương Mai ngoái cổ hỏi:
- Anh đã nhớ địa chỉ của tôi chưa?
Phi gật đầu và bất giác thở dài, nhìn chiếc xích-lô lẫn vào dòng xe cộ trên đường. Cầm hai trăm bạc của Phương Mai trong tay, Phi tần ngần so sánh. Tại Giáng La người ta thuê thợ cấy ba đồng một ngày, số tiền đủ mua một ô gạo. Và nếu Phi biết thời giá lúc đó tại Sài Gòn, hẳn cậu càng thấy biết ơn cô gái Huế hào hiệp kia. Ngồi lặng trên ghế suy tính, biết tìm đâu cậu Chín giữa đô thành xa lạ này? Số tiền cô gái Huế cho, chớ có đụng đến. Phải kiếm được việc làm và một chỗ ở tạm bợ. Còn đêm nay, mình sẽ ngủ tạm ở vỉa hè vậy. Đề phòng mất cắp, mình sẽ vo tròn những tờ giấy bạc cho vào lai áo. Thực hiện xong ý định đó, Phi mới yên tâm rời ghế đá, thận trọng băng qua đường nhựa, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo, nơi cất giữ những đồng bạc quý giá. Bên kia có một tửu lâu sang trọng, khách khứa ra vào tấp nập… Mùi đồ ăn thơm nhức mũi từ nhà hàng bay ra, Phi tảng lờ bước đi.
Mặt trời đã lặn rất lâu, nhưng ánh sáng từ những dãy đèn đường và những cửa hàng hắt ra khiến cậu nghĩ thầm, có lẽ ở những thành phố như Sài Gòn không bao giờ có bóng đêm và cậu băn khoăn: Người ta sẽ ngủ vào lúc nào trong dòng thời gian luôn chuyển động mãnh liệt kia?
Về khuya, gió thổi từ bờ sông càng lạnh. Phi buộc phải lui sâu vào bên trong nơi có một vòm cong bằng đá che cả dãy hành lang hun hút của Á Châu Ngân hàng. Chọn một góc khuất gió, Phi ngồi bệt, tựa lưng vào chiếc cột xi-măng tròn, đầu cúi gục xuống hai đầu gối chụm lại.
Giấc ngủ chập chờn trả lại Phi về ngôi làng miền Trung xa xôi. Cồn Mả chìm vào đêm, hàng rào tre xõa tóc xào xạc trong gió. Mặt nước Bầu Vực ánh lên bởi ánh trăng non. Luyến vừa gánh nước về La Huân. Cậu đợi mãi, không thấy Luyến trở lại, vội la to:
“Luyến ơi!”
Bỗng có người nào đó đạp mạnh vào hông Phi. Cậu đổ kềnh sang bên, ngơ ngác tỉnh lại. Giọng chửi thề the thé:
- Đ… má mày. Dậy!
Một người đàn ông to lớn, vai rộng kềnh càng, trán dô, hai tay chống nạnh trước mặt Phi. Cậu lồm cồm bò dậy. Người đàn ông đá tiếp vào mạng sườn Phi đau nhói:
- Đ… má mày, câm hả? Lạy đi, tau tha chết cho!
Thấy Phi lầm lì, người đàn ông càng tức giận. Gã túm lấy áo Phi lôi dậy. Đám du đãng vây quanh, khoái trá reo lên:
“Bữa nay chưa thấy máu, buồn thúi ruột, anh Hai Phát Diệm cho tụi em coi một màn cụp lạc đi!”
Phi ghê tởm ngó vào bản mặt sứt sẹo của gã. Cái nhìn đó của Phi làm gã nổi cơn điên. Gã túm lấy tóc Phi lôi xềnh xệch đến sát chân cột tròn và đập liên tiếp mấy cái. Đau xóc óc, mắt mũi cậu hoa lên. Gã buông tay ra nhìn Phi, thách thức:
- Đ… má mày. Nhào dô!
Phi chậm rãi chống tay ngồi dậy, rồi vịn vào tường đứng lên. Đầu óc Phi chưa hết choáng váng nhưng cậu thèm khát trả thù. Phi rùn chân, lấy hết sức, lao vào bụng gã đàn ông. Bất ngờ, gã bật ngửa ra sau, cả đám du đãng bàng hoàng…
Phi lầm lũi bước ra hàng hiên tối tăm, không thèm ngoái lại xem có ai đuổi theo không? Cậu chỉ thấy chán ghét và cô đơn. Ngồi xuống ghế đá mà hồi chiều Phương Mai đã chỉ cho cậu, Phi thở dài: Ta sẽ về Giáng La với Luyến và Ba Đoát…
Nhưng cậu không ngờ, số phận cậu đang được đám du đãng lấy hàng hiên Á Châu Ngân hàng làm nơi tụ họp định đoạt. Phi mở thao láo mắt nhìn mặt sông mênh mang, bỗng đôi môi run lên: Luyến ơi, bao giờ tụi mình mới lại được gặp nhau?
Cậu hi vọng, giấc mơ dở dang nơi hành lang Á Châu Ngân hàng trở lại. Nhưng chỉ có những hình ảnh chắp vá rời rạc đầy giấc ngủ chập chờn của Phi trên ghế đá lạnh lẽo…
Còn tinh mơ, bến tàu trở lại huyên náo sau những giây phút nghỉ ngơi hiếm hoi trong đêm. Phi giật mình tỉnh giấc, cậu ngạc nhiên thấy một chiếc mền màu cứt ngựa thủng lỗ chỗ, đắp ngang lưng cậu. Và ngay bên cạnh, một giọng cười khoái trá vang lên. Phi ngơ ngác ngó sang, bắt gặp gương mặt hớn hở của kẻ đang ngồi chung ghế đá với cậu.
Gờn gợn trong tâm trí Phi, một hình ảnh mơ hồ nào đó… Kẻ ấy nheo mắt nhìn cậu, thôi cười. Hình như kẻ ấy muốn Phi tự nhớ lại. Nó trạc tuổi mình, Phi moi óc, sục sạo trong kí ức, cặp môi mỏng dính đang mím chặt lại, nhưng sự chờ đợi háo hức bỗng làm gương mặt nó trở nên con nít lạ thường.
Chợt Phi hét lên:
- Hải! Chu cha, tưởng ai!
Nghe gọi đúng tên mình, kẻ ấy mắt sáng lên, sung sướng, hãnh diện. Mãi sau Hải cất tiếng khàn khàn bảo Phi:
- Phúc bảy mươi đời nhà mày, tau về muộn tí nữa, tụi nó cho mày uống no nước sông Sài Gòn và chìm lỉm như cục cứt chó. – Đột nhiên Hải buồn rầu. – Tau thay đổi nhiều lắm phải không?
Phi gật đầu. Nó bỏ nhà cậu mợ nó để làm một tên com-măng-đô kia mà? Trời xui đất khiến thế nào nó lại nhập bọn với gã đàn ông gớm ghiếc hồi hôm. Nhưng nó không hỏi gì mình về Đà Nẵng hoặc vì sao mình vô đây, nghĩa là nó không thích gợi những chuyện đó. Hải chìa gói thuốc Ba-stô cho Phi. Cậu lắc đầu, Hải thản nhiên xoè diêm châm thuốc và rít một hơi dài. Nó ngửa cổ lên thành ghế, nhả khói thuốc, chậm rãi:
- Mày ngủ say như chết, nói mê lảm nhảm. Tụi nó xúm xít quanh, bàn đủ thứ: Thằng bảo nên rủ mày nhập bọn. Còn thằng Hai Phát Diệm nhất quyết đòi trùm mền kín đầu, rồi ném mày xuống sông. Mày làm nhục nó ngay trước mặt tụi đàn em của nó. Tau nhận ra mày ngay, đếch có gì ngạc nhiên cả. Đời là một con zê-rô khốn nạn, mà Sài Gòn là con zê-rô tổ bố nhất. Mày vào đây cũng phải!
Hải đột ngột kết thúc bài “đít-cua” chào mừng, húng hắng ho, rồi khạc ra một cục đờm to tướng, bắn ra xa chỗ hai đứa đang ngồi. Nó trầm ngâm một lúc, rồi như sực nhớ ra điều gì, Hải đứng vuột dậy:
- Đi mày!
- Đi đâu?
Phi ngần ngừ hỏi lại. Hải thọc tay vào túi quần, mặt vênh lên:
- Đi sở thú uống cà-phê!
Hai đứa đang đi, tự nhiên Hải đứng lại, ngắm chiếc quần Phi đang mặc, chau mày:
- Tại đất Sài Gòn này, mày có cởi truồng, thiên hạ cũng mặc. Nhưng mày là bồ tau, tau phải lo cho mày đàng hoàng.
Nói xong, Hải nghiêm trang bước đi như một ông anh dẫn em trai đi dạo phố. Phi ngẩn ngơ đi sau Hải. Cậu ngầm so sánh Sài Gòn với Đà Nẵng. Đà Nẵng giống như một trại lính xám xịt, nhà cửa được xây dựng theo lối tạm bợ, dân thành phố đi lại cứ ngó mặt nhau chằm bằm như sắp đánh lộn đến nơi. Còn Sài Gòn đinh tai nhức óc bởi tiếng động cơ của vô số các xe cộ chen nhau trên các đại lộ thênh thang. Nhưng không ai bận tâm hay để mắt đến người bên cạnh. Hai bên đường phố chi chít những bảng hiệu, những biển quảng cáo…
Hai đứa dừng lại trước một sạp bán quần áo cũ trong chợ trời. Hải khoanh tay trước ngực, hất hàm bảo Phi:
- Mày tha hồ chọn, thích bộ nào bảo tao!
Phi ngượng nghịu ướm thử một chiếc quần tây màu vàng đã cũ. Người bán hàng đon đả đưa ra mấy chiếc quần tốt hơn, Phi lắc đầu:
- Thôi, chiếc này vừa rồi!
Hải mỉm cười:
- Đừng sợ thiếu tiền, miễn là mày thích!
Và Hải thực tâm sung sướng khi thấy chiếc quần vừa vặn với người bạn. Hải móc tiền ra trả, vui vẻ đưa Phi ra khỏi chợ trời và vẫy một chiếc xích-lô máy. Phi vội vã cản lại:
- Đi bộ thôi!
Hải không chịu:
- Anh hùng nào, giang sơn nấy. Đây là Tây Cống[2] nhá, chứ không phải xứ Đà Nẵng quê mùa của mày!
Phi miễn cưỡng leo lên ngồi cạnh Hải. Khói đen từ ống bô đùn ra một cột khói khét lẹt đằng sau…
Chợt một cơn mưa bóng mây hiện ra trên cao, thả những giọt nước mưa lóng lánh rơi xuống giữa thành phố nắng chói chang…
Hai đứa ngồi bên cửa sổ một tiệm cà-phê nhỏ, nằm xế cổng sở thú. Hải dõng dạc kêu:
- Hai ly cà-phê sữa. Một gói cô-táp!
Phi tò mò nhìn ra ngoài. Xích-lô đậu thành dãy bên kia vỉa hè. Mấy bác đạp xích-lô vắt vẻo ngồi trên xe, chân bắt chéo đọc nhật trình hoặc kháo chuyện ầm ĩ. Hải nhấm nháp từng ngụm cà-phê sữa, mặt tư lự. Một chiếc xe vận tải dừng lại trước cổng sở thú. Người tài xế bóp còi inh ỏi. Vài ba người từ phía trong chạy ra, lật bửng xe, chuyển những súc thịt bò tươi xuống chiếc xe đẩy tay. Phi ngơ ngác hỏi:
- Trong kia có chợ hả?
Hải thương hại lắc đầu:
- Không. Xứ mày chó ăn đá, gà ăn sỏi, chỉ có tụi nhà giàu mới dám nếm thịt bò. Còn trong này, lũ hùm beo mỗi ngày cũng xực cả tấn… Mẹ khỉ, nói thế chứ tao cũng thèm rỏ dãi!
Hải châm tiếp một điếu thuốc, giọng nó vốn khàn khàn, bây giờ cố nói thầm thành ra Phi chỉ nghe bập bõm. Hải bỗng nhiên long trọng, giở lối xưng hô tây bồi “toa-moa”:
- Thằng nào có thân thằng ấy lo, moa cũng đếch bao nổi toa quá tuần lễ. Biết đâu chiều nay, moa bị cớm vồ… Nhưng moa nói cho toa nghe, muốn sống chỉ có hai cách. Một là làm thú dữ, để sáng sáng người ta chở thịt bò vào chuồng cung phụng mình. Hai là làm người dữ như tổng thống Diệm, ghét ai, kí rẹt một cái, bộ hạ lôi thằng vô phúc ấy ra bắn liền… Tuỳ toa chọn.
Thứ triết lí “phản Bồ Tát” trắng trợn của Hải không có gì mới mẻ, nhưng Phi chỉ ngỡ ngàng ở chỗ: Nó đâu còn là thằng Hải đêm đêm chui vô mùng thủ thỉ chuyện trò với mình. Nó khác gì gã đàn ông đòi trùm mền kín đầu mình, quẳng xuống sông Sài Gòn.
- Tiên sư cậu mợ, tiên sư các em, tiên sư đồng bào… Tiên sư đời! Tao trốn lên tàu hỏa, tới Nha Trang thì bọn nhân viên hỏa xa đuổi xuống, cầu bơ cầu bất, may có con mẹ buôn cá thuê tau. Mụ là chủ một vựa cá dưới Cù Lao. Mẹ kiếp! Con gái dưới ấy đĩ không chịu được, đôi vú thây lẩy cứ như hai quả đu đủ. Còn tụi đàn ông suốt ngày hết đánh bạc lại đánh nhau. Tao là ma mới lại nhỏ con, bạ thằng nào cũng muốn làm bố tao… Chúng nó thức trắng đêm chơi xóc đĩa, tiền được bạc nhét đầy mấy cái túi vải. Tao buồn ngủ díp mắt vẫn phải thức, chia bài hầu cho chúng nó. Sáu Quang là thằng đầu nậu ở đấy. Gặp ngày đen nó thua cháy túi. Bao nhiêu giận dữ, xót của nó trút lên đầu tao: “Tổ cha thằng Bắc Kì xạo, chia bài gian”. Tao chưa kịp cãi, nó xô tới, đạp tao ngã dúi dụi rồi ngồi lên ngực tao, lên gối như giã gạo. Cả bọn thản nhiên nhìn tao ngồi dậy như con chó ghẻ. Tao hận quá, vớ lấy con dao răng cưa chuyên chặt đá ướp cá và hét lên:
- Tiên sư chúng mày, vào đây!
Sáu Quang tưởng tao giỡn, cười sằng sặc, phanh ngực áo tới sát mặt tao:
- Chém đi thằng Bắc Kì, tau khen!
Cả bọn cười ồ lên. Tao vung thẳng cánh chém xả vai nó. Máu phun như suối, cả bọn ngồi im són đái ra quần. Tao bảo:
- Thằng nào thách nữa không?
Sáu Quang ôm vai rên rỉ, còn tao thành tao bây giờ… Tiên sư chúng nó, hom sau chúng nó gọi tao là anh Hải!
Và tao hiểu: Tiên sư đời, mạnh được, yếu thua. Tao tiến bước vào Sài Gòn và tao sống!
Hải nghiến răng, cằm bạnh ra, đặt mạnh li cà-phê xuống bàn. Phi đột nhiên đứng dậy, Hải ngồi im mặt sa sầm:
- Tùy mày!
Phi rời tiệm cà-phê, Hải chạy theo níu tay cậu:
- Cần gì cứ đến chỗ đêm qua hỏi Hải Pắc-ke, tụi nó biết liền à! Mày cầm tạm ít tiền này…
Hải dúi nắm bạc nhàu nát vào tay Phi. Một niềm thương xót làm cổ họng Phi nghẹn lại. Cậu muốn nói với thằng bạn khốn khổ câu gì đó thật nhẹ nhàng. Nó chẳng còn gì thân thích ngoài câu chửi: Tiên sư đời! Còn mình, ít nhất cũng hi vọng được trở về Giáng La gặp Luyến…
Cái gì khiến những ngón tay Phi rời rã để những đồng bạc rơi xuống đất và cậu từ giã Hải như chạy trốn.
Cũng một lần đến Nha Trang, nhưng hoàn cảnh và phương tiện di chuyển khác nhau, làm cậu và Hải nhìn thấy hai cảnh tượng khác nhau, trong một thành phố ấy. Cậu nhìn thấy nghĩa trang ngư phủ, nơi có mỏm núi nhô ra biển, ông già Quảng Nam yên nghỉ đầu quay về phía gió lộng. Còn Hải nhìn thấy những cô gái vú thây lẩy như hai quả đu đủ và những gã đàn ông dữ tợn đánh bạc, lỗ mãng. Hải vào Sài Gòn để tìm cái hành lang hun hút bóng đêm. Phi vào Sài Gòn để tìm cậu Chín. Hải đã tìm thấy cái Hải muốn một cách quá dễ dàng… Phi biết tìm đâu ra cậu Chín giữa thành phố hằng hà sa số người?
Lần theo những vỉa hè râm mát dưới bóng những tàn lá sum suê, Phi miên man thả hồn suy nghĩ. Có lẽ kiếm miếng ăn trong đô thành hỗn tạp, kì dị này không đến nỗi trầy trật như ngoài Quảng. Nhưng liệu mình có trở thành kẻ luôn miệng chửi thề và sẵn sàng vung lưỡi dao răng cưa, chém xả vai người khác không? Đôi lúc bất chợt đưa mắt ngó kĩ xung quanh, Phi thấy mình lọt vào một khu vực quá giống Hội An. Phong vị “Tàu” bao trùm lên cách kiến trúc nhà cửa, đường sá, tiệm ăn, người qua lại và phục sức của họ. Phi không ngờ, đó chính là cái “đế chế Trung Hoa” lọt thỏm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn.
Cậu lần lượt xin vào thử tay nghề tại ba trại thợ mộc. Một chú thợ vườn Giáng La làm sao đóng nổi đồ “mớp” Chợ Lớn. Phi ngượng nghịu bỏ đi không đợi người ta tỏ dấu hiệu từ chối. Tới chót mút đường Hồng Bàng, Phi dừng lại trước một ngôi nhà có tấm biển lớn: Tân Thái Hoa. Cậu lơ láo quan sát, đó là một xưởng rập xoong nồi và dụng cụ gia đình bằng nhôm. Những tấm nhôm xếp chồng lên nhau ngoài sân. Trẻ con ngồi thành dãy, dùng bột nhôm đánh bóng những chiếc nồi mới lấy từ khuôn ra. Cậu mạnh dạn bước vào. Một người đàn ông trạc ba mươi tuổi, gương mặt hiền lành, tóc cắt cao, chặn cậu ngay trước hàng hiên:
- Em muốn tìm việc phải không?
Phi mừng rỡ gật đầu. Người đàn ông vui vẻ hỏi tiếp:
- Em biết làm gì?
- Dạ, tùy mấy anh, mấy chú bố trí!
Phi rụt rè trả lời, không hiểu sao người đàn ông hoảng hốt nhìn cậu, rồi vội vã kéo tay cậu rời xa đám thợ trẻ con:
- Nè, mới ở Quảng vô phải không?
- Dạ.
Tự nhiên Phi cũng hạ thấp giọng theo và lo ngại liếc nhìn xung quanh. Người ấy bảo nhỏ:
- Em ra cổng đợi anh chút xíu. Nhớ đừng đi mô nghe!
Phi giật mình, người đàn ông đột ngột chuyển sang giọng Quảng nói với Phi. Cậu không hiểu uẩn khúc, chỉ thấy anh có vẻ dễ mến và điều đáng kể nhất: ảnh chắc là dân ngoài mình. Tuy vậy cậu cũng bồn chồn chờ đợi,
Người đàn ông y hẹn trở ra, nháo nhác tìm kiếm. Thấy Phi, anh nhanh nhẹn bước đến gần, thân mật hỏi:
- Từ sáng đến chừ đã có chi bỏ bụng chưa?
Phi bối rối lắc đầu.
- Em quê ở mô?
Người đàn ông vồn vã hỏi thêm. Phi cảm động trả lời:
- Dạ, Điện Bàn.
Người đàn ông chợt nắm tay Phi hỏi dồn:
- Điện Bàn nhưng chỗ mô?
Phi mắt cay xè, tiếng nói thân thương của người đồng hương làm cậu run người:
- Dạ, Giáng La!
- Con ai?
Người đàn ông hồi hộp hỏi, mắt hấp háy. Phi luống cuống, lắp bắp:
- Dạ, ông Tư Nẫm, thợ mộc!
Người đàn ông chộp lấy vai Phi mà lắc mạnh:
- Trời, cậu Ba!
Phi bàng hoàng để mặc nước mắt ròng ròng trên má. Người đàn ông thở dài:
- Mỗi lần nhắc đến Giáng La, chị Hai cậu lại khóc, tưởng mọi người chết hết trơn với tụi thằng Đàm, thằng Thái rồi. Ai ngờ cậu Ba lại vô đây?
Phi đoán, có lẽ ảnh là chồng chị Hai, nhưng ngập ngừng chưa dám hỏi. Người đàn ông kéo tay Phi:
- Đi ăn mai đã, chuyện chi hạ hồi phân giải… Anh là Tốm, Tốm Quảng Nôm[3]…
Anh Tám hớn hở đưa Phi vào một tiệm phở Bắc, kêu liền một lúc bốn tô. Phi trố mắt nhìn những tô phở bốc khói nghi ngút, nước dùng béo ngậy, sóng sánh lớp váng mỡ màu vàng. Anh ngây người nhìn cậu ăn, trán Phi lấm tấm mồ hôi. Y xì cảnh cha mình dắt mình tới quán cơm ven lộ bữa trời mưa, cha con gặp nhau trong bụi duối Sơn Tịnh. Chưa hết tô này, anh đã đẩy tô khác tới trước mặt Phi và giục:
- Ăn nữa đi!
Sốt ruột quá, bao nhiêu chuyện muốn hỏi và muốn kể. Hai anh em dắt díu nhau ra khỏi tiệm phở. Phi không nhịn nổi nữa hỏi liền:
- Chị Hai em và Út Hà sao anh?
- Nôn rứa!
Mặt anh Tám cười thiệt lành. Chắc ảnh vui, vậy là không có điều chẳng hay xảy ra với Út Hà.
- Tôi với chị cậu lấy nhau được giáp năm, còn Út Hà… đi với cậu Chín rồi!
Thiếu chút nữa, Phi nhảy cẫng lên mà la. Anh Tám vội rị cậu lại:
- Biết rứa đã, còn nhiều chuyện hay hơn nhiều. Mai mốt phỉ sức nghe… Chừ cậu Ba kể coi, Giáng La răng, ai biểu cậu vô đây, đi một mình hay đi với ai? Lúc cậu Ba biểu: Tuỳ mấy anh mấy chú bố trí, tôi hết hồn luôn, vừa mừng vừa sợ có người nghe thấy, biết ngay cậu Ba từ Quảng mới vô. Trong ni mật vụ nhiều hơn trấu, ăn nói ráng giữ gìn nghe!
Phi đỏ lựng mặt. Cậu thong thả kể chuyện quê nhà, nhưng đến đoạn thằng Khánh nung đỏ cây sắt gí vô cửa mình Luyến, mặt cậu nhợt nhạt và nhăn nhúm. Anh Tám thở hắt ra:
- Cũng nhiều người vô đây kể chuyện quê hương đen tối. Nhưng bữa nay nghe cậu Ba kể, tôi thiệt không ngờ…
Từ lúc đó, hai anh em nín lặng đi bên nhau. Phi đinh ninh, anh Tám đang dẫn Phi về nơi ở của vợ chồng anh. Nhưng anh Tám lại nói ngay:
- Bữa ni anh tạm gởi cậu tại nhà dì Hai Chạy, cũng người Điện Bàn. Mai mốt có dịp, chị Hai sẽ tới thăm cậu. Còn chừ chưa được.
Phi sốt ruột, hỏi ngay:
- Còn cậu Chín và Út Hà?
Anh Tám cười cười:
- Cũng rưa rứa!
Biết có chuyện. Phi đành im lặng.
Dì Hai Chạy ngượng nghịu bảo Phi:
- Nhà nhớp ri đây, cậu Ba chịu được thì ở. Nghiệt một nỗi, không có đèn đóm chi hết. Qua không đủ tiền sắm công-tơ riêng, mà câu nhờ đường dây nhà hàng xóm thì bất tiện. Qua đi làm tối ngày, qua giao luôn nhà cho cậu Ba, – dì thở dài héo hắt. – Thằng con qua không chết cùng cha nó hồi Tây đánh bom cầu Kì Lam, thì cũng cỡ tuổi cậu Ba chừ! – Dì mỉm cười như mếu. – Hai Chạy hay Hai Trốn cũng một tên qua. Hết chạy ăn lại chạy giặc. Chạy vô đây vẫn mạt. Không biết hồi mô mới cất đầu lên nổi?
Lúc mới nghe tên dì, Phi hơi buồn cười. Giờ nghe dì tổng kết đời mình bằng hai thứ chạy cực nhất thế gian: chạy ăn và chạy giặc, Phi mới hiểu hết cái đáng sợ của một tên người. Số phận dì giống như số phận của trăm ngàn bà mẹ Quảng Nam khác. Đất đai cằn cỗi cỏ chê, mỗi năm vài cây lụt trôi nhà cửa. Chiến tranh bằm giập trần ai. Tóc dì thưa và mỏng, phía trước chỉ còn lơ thơ vài sợi bạc. Da mặt dì nhăn nheo, mi mắt sưng húp, lúc nào cũng như mới khóc. Từ khi mẹ chết, chưa bao giờ Phi có dịp quan sát một người đàn bà đứng tuổi…
Bỗng nhiên dấu vết của người mẹ tưởng như đã phai mờ trong kí ức Phi trỗi dậy khiến Phi thèm được kêu một tiếng:
- Mẹ!
Dì lại lụi hụi xuống bếp lo bữa chiều để kịp giờ trực đêm. Dì là y công trong bệnh viện Từ Dũ. Căn nhà giờ đây không còn xa lạ đối với Phi. Cậu háo hức quan sát nó với thiện cảm ấm áp. Nếu không phóng tầm mắt ra ngoài để khỏi thấy những cao ốc ngất ngưởng, bệ vệ có hàng rào bê tông kín bưng, hẳn Phi có cảm tưởng đang ở trong nhà một nông dân nghèo xứ cậu.
Một cái chõng mà lưng người cọ xát quá nhiều, khiến những giát tre nâu bóng lên. Chiếc bàn gỗ cũ kĩ và hai chiếc ghế đẩu kê sát vào vách nhà thưng bằng những ván gỗ sứt sẹo. Trên bàn đặt bộ li chén uống nước bằng thủy tinh xấu. Dưới chân bàn, đặt một cái rương mây đựng quần áo.
Nhà dì áp lưng vào bức tường của một ngôi biệt thự, một cái gác lửng ọp ẹp gần chạm vào mái tôn. Bếp không có chỗ thoát khói, bao nhiêu khói quẩn trong nhà khiến tường vách bám đầy những bụi bồ hóng màu hung hung.
Dì đặt một tô canh chua nấu với cá vụn, một chén nước mắm giằm ớt. Trong nhà tối hơn hoàng hôn sắp tàn bên ngoài. Ngọn đèn dầu tù mù không hắt nổi bóng ba người quanh mâm cơm lên bức vách. Phi yên tâm nhớ đến khung cảnh Giáng La. Và cậu không muốn nhớ đến những gì đang xảy ra và hiện diện ở bên ngoài, bởi nếu đối chiếu, người ta sẽ phải thừa nhận, ngôi nhà này như một mụn cóc dơ dáy, lạc lõng giữa hai dãy biệt thự sang trọng.
Ăn xong, Phi giành phần rửa chén bát, dì không chịu và chỉ chỗ cho Phi lấy trà cho vào bình tích. Dì cẩn thận xếp từng cái chén đã rửa sạch vào chiếc rổ tre và lật đật ra khỏi nhà sau khi ngoái cổ lại dặn:
- Hai anh em có đi mô thì khóa cửa. Chẳng có chi sợ mất trộm, nhưng để trống hoang, mấy người ăn xin rúc vô làm ẩu!
Anh Tám khoan khoái ngả lưng lên chiếc chõng tre hút thuốc và mỉm cười nhìn theo Phi đang leo lên gác lửng, tiếp tục khám phá cái “tổ ấm mới mẻ” của mình. Trên đó có những hòm xiểng cũ mèm, phủ đầy bụi và những đồ vật linh tinh, không biết dùng vào việc gì. Mái tôn nhô cao hơn bức tường của ngôi biệt thự. Người ta chắn khoảng trống đó bằng những tấm ván và chừa chỗ cho một ô cửa sổ. Qua ổ cửa sổ đó, Phi nhìn xuống khoảng sân biệt thự, nơi những cây vú sữa um tùm và cành lá vươn lên phủ kín một góc mái tôn.
Ánh điện từ ngôi biệt thự lọt qua những kẽ lá trở nên vàng óng. Đưa mắt lách theo những đốm sáng kì ảo ấy, Phi nhìn thấy một khuôn cửa sổ rộng mở trên tầng hai ngôi biệt thự. Và từ đó, tiếng nhạc dập dìu thấp thoáng bên tai cậu… Cậu cố khép nhỏ con ngươi như kiểu mắt mèo, tập trung sức nhìn vào khuôn cửa sổ, nơi cậu đoán có người đang chơi đàn. Nhờ vậy, cậu phát hiện ra gương mặt của một cô gái đang nghiêng đầu dưới ánh đèn. Phát hiện ấy bỗng làm cho khoảng cách giữa Phi và cô gái ngắn lại, tưởng như chỉ cần vươn tay thêm chút nữa, Phi sẽ chạm vào cửa sổ đối diện.
Phi cay đắng chợt nghĩ, mình đứng dưới đáy nhìn lên, thành ra người ta cao vời. Cậu tự ái đóng mạnh cửa sổ và dò dẫm bước xuống thang. Anh Tám nhỏm dậy, thấy mặt Phi rầu rầu trong ánh sáng yếu ớt của cây đèn dầu.
- Cuối hẻm này có xi-nê Việt Long, hay anh em mình đi coi phim cho đỡ buồn?
Phi uể oải chờ anh Tám khóa cửa. Cậu cố né tránh, không nhìn về phía ngôi biệt thự có tiếng nhạc. Họ lững thững đi bộ.
Rạp Việt Long vốn hẻo lánh. Khách quen của nó gồm những bác đạp xích-lô, những chị vú, những ma-ri sến mê cải lương đến độ có bao nhiêu nước mắt tưới hết lên những mối tình bi thảm, éo le diễn trên sân khấu và những chú bé đánh giày suốt ngày mơ làm một Đại Ca-thay. Còn con cái những công chức sống trong hai dãy biệt thự thì nhăn nhó mỗi khi có việc phải đi qua rạp chớp bóng dơ dáy, loang lổ những đám sơn ố vàng đã chịu đựng mưa gió cả mươi năm nay chưa được ngó ngàng tới. Chỗ của họ ở trung tâm thành phố kia, những Eden, Rex, Hưng Đạo, Quốc Thanh…
Hàng ghế sắt xục xịch, đu đưa khi cả đám khán giả nhốn nháo đứng dậy chào cờ và thực thi nghi thức “Suy tôn tổng thống”. Phía trên tấm màn trắng đục còn hằn những vết chỉ ráp lại, làm thành màn ảnh, người ta treo khá ngay ngắn chân dung tổng thống Diệm và hai lá cờ vàng bắt tréo bên dưới…
Phi rùng mình nhớ lại, cái gương mặt múp míp bỗng nhúc nhích và soi mói nhìn thẳng vào mặt cậu trong quầng lửa ngùn ngụt của đêm tố cộng.
Đám trẻ đánh giày được dịp gào lên the thé:
- Bao nhiêu năm Người đi xa quê nhà…
Anh Tám bóp chặt tay Phi không cho cậu ngồi thụp xuống nửa chừng bài hát “Suy tôn Ngô tổng thống”.
Phi ngơ ngác nhìn anh há miệng ra, ngậm môi lại theo nhịp bài hát. Trông anh Tám lúc đó thảm hại và nhẫn nhục quá.
Nghi thức bắt buộc “Suy tôn” chấm dứt, khán giả ngồi xuống một cách ầm ĩ, mặt ghế va đập vào khung sắt kêu lạch cạch. Trên màn ảnh, xuất hiện tiêu đề bộ phim “Chúng tôi muốn sống”.
Mãi lúc sau cậu mới láng máng hiểu những gì diễn ra trong phim. A, lời thoại ngô nghê, cốt truyện vá víu linh tinh, tố cáo “tội ác cộng sản khi phát động đấu tố, truy tô, truy thuế nông nghiệp trong những năm 52 tại vùng tự do Quảng Nam…”
Phi hơi nhổm người, anh Tám hiểu ngay ý định bỏ ra của Phi. Anh nghiêng đầu qua vai Phi nói nhỏ:
- Không thích cũng phải ngồi coi cho hết. Hay là ngó lên trần!
Trên đường về nhà, anh bảo Phi:
- Khối gì an ninh chìm trong rạp. Đừng bao giờ để lộ ra ngoài, lòng căm thù của mình, phải để nó chảy ngầm trong máu và biến thành hành động của mình!
Phi lẳng lặng không nói tiếng nào, cậu trằn trọc chờ sáng…
Hai chị em trân trối nhìn nhau. Miệng méo xệch, hai cánh mũi rung rung, chị Hai òa khóc. Anh Tám dịu dàng bảo vợ:
- Khóc nhỏ chút mình, tôi đã dặn mình rồi mà…
Chị cố nén, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Nhìn cánh tay đen đúa, gầy guộc của em trai, chị lại tức tưởi:
- Mi ốm ghê rứa Ba?
Không có vẻ gì chị đã thành dân Sài Gòn và đã có gia đình riêng, vẫn chị Hai năm nào ở Cấm Nhọn – An Thành, cho em theo bộ đội rồi dúi mặt vào đống rơm mà khóc, vẫn chị Hai trong đội ươm tơ của trại Ba Thư, mỗi lần em trai ngã bịnh lại bắt chước người ta, tìm đến gốc cây đa dù hái một chiếc lá rồi khấn thầm:
“Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập tự do hạnh phúc. Cầu xin vong hồn chiến sĩ vô danh phù hộ cho em trai tôi là Nguyễn Phi, quê ở Giáng La, Điện Bàn tai qua nạn khỏi!”
Mọi chuyện quê nhà, chắc anh Tám đã kể lại cho vợ nghe, vậy mà gặp Phi, chị Hai vẫn mếu máo hỏi:
- Mi nói răng, chết hết trơn rồi hỉ?
- Nói dật dờ, dễ chi giết hết trơn dân Điện Bàn! – Dì Hai Chạy la. – Đó, như ông Ba Thư đó, thà chết chứ không van xin Võ Trắc. Răng mi không kể cho thằng Ba nghe?
Nước mắt vòng quanh, chị thuật lại cho em nghe đêm xảy ra chuyện Ba Thư dẫn mấy đứa vượt trảng cát tìm nhà Sáu Lung. Ba Thư bị giết, Sáu Lung buộc phải ra nhậm chức quận trưởng để cứu Lệnh. Sau đó, ông Sáu cho tiền và chỉ đường cho chị Hai dẫn Út Hà vô thấu Quy Nhơn. May gặp cậu Chín ở đó. Cậu giữ Út Hà, bảo cho ra Bắc học, còn chị Hai được cậu Chín giao cho anh Tám dẫn vô Sài Gòn. Hai người cùng quê, gần gũi nhau và thương nhau. Một bữa mì Quảng tại nhà dì Hai Chạy đây, đãi dăm ba bà con, bạn bè cùng quê, hai người thành vợ chồng từ đó. Giờ anh Tám làm thuê cho tiệm Tân Thái Hoa bên Chợ Lớn, còn chị Hai đi ở cho gia đình một viên đại uý, nhà gần trường đua Phú Thọ. Nhà chủ này có lính canh gác cẩn mật lắm, ngay cả anh Tám, mỗi khi tới thăm vợ đều phải chịu khám xét rầy rà…
Nghe chuyện, Phi ức quá hỏi chị:
- Hết chỗ làm hay sao chị Hai lại đâm đầu vô chỗ đó?
Anh Tám đỡ lời cho vợ:
- Rài rài hãy nói kĩ chuyện nớ. Chừ lo nồi nhân mì Quảng đã!
Dì Hai Chạy ngồi xổm giữa nhà xắt mì. Chị Hai lo nấu nướng. Anh Tám cười cười, nhìn vợ lăng xăng chạy qua lại quanh em trai. Phi vờ hít hà, rồi la:
- Ủa, hình như nồi nhân cháy khét!
Chị Hai lật đật chạy xuống. Dì Hai Chạy cười cả:
- Con nớ tình cảm dữ rứa, mai mốt thằng Ba lấy vợ, chắc nó cưng em dâu hung lắm!
Đặt nồi nhân giữa nhà, chị Hai lo bỏ mì rồi chan nước lèo vào từng tô cho mọi người. Còn chị chỉ ngồi ngắm em trai. Phi phải dọa:
- Chị Hai không ăn, em thôi liền à!
Chị Hai luống cuống cầm đũa, lùa qua quýt mấy miếng, rồi lại chống đũa nhìn em trai ăn.
Còi tầm ủ mười hai giờ trưa. Chị hớt hải đứng dậy:
- Con về nghe dì, tới giờ dẫn mấy đứa nhỏ đi học rồi!
Ngó theo chị cắp nón lủi thủi đi trong hẻm vắng, Phi thấy lòng thắt lại. Từ lúc đó, cậu chỉ cắm mặt xuống tô mì, cố giấu những giọt lệ đang lặng lẽ rớt khỏi mi mắt.
- Bao giờ em mới được gặp cậu Chín hả anh Tám?
- Thủng thẳng thế nào em cũng được gặp mà. Có điều em phải học cách thức bình tĩnh hơn!
Anh Tám vốn củ mỉ cù mì, bỗng dưng thấy anh nghiêm giọng, Phi không dám hỏi vội, chỉ ngồi im.
- Diệm khác Bảo Đại. Mình tổn thất lớn là do đánh giá nó không trúng. Nó chống cộng khát máu, nhưng lại biết làm cho dân tin tưởng ở tinh thần quốc gia của nó. Chế độ nó phát-xít, nhưng nó lại biết cách bắt dân nuôi hi vọng vô nền Đệ nhất cộng hòa của Ngô Chí sĩ. Nó tập trung đánh phá miền Trung và một vài địa bàn có phong trào kháng chiến mạnh từ trước, nhưng lại ra sức củng cố uy quyền, thực lực tại những vùng đông dân cư và kinh tế dồi dào. Đánh nó không phải dễ, nhất là quật đổ uy tín của nó. Đó, chắc cậu Chín gặp em, cũng nói chừng nớ chuyện!
Anh Tám im lặng một lúc. Phi hoàn toàn bất ngờ trước những nhận định của anh Tám về tình thế.
- Giờ anh tính ri. Chắc em không muốn dựa dẫm vào bất cứ ai, kể cả chị Hai. Bởi vậy mọi người sẽ giúp em bước đầu, tìm công ăn việc làm và tập quen với đất Sài Gòn. Trước sau, anh em mình cũng đụng độ với chế độ này. Nếu em không thuộc Sài Gòn như lòng bàn tay, mai mốt rủi cảnh sát ví, biết đàng mô thoát thân?
Anh dừng lại âu yếm nhìn Phi, giọng đỡ nghiêm hơn:
- Ban ngày cậu Ba có thể đi bán báo Độc Lập và trà đá lẻ. Tối lại, anh em mình thuê xích-lô, đạp lòng vòng kiếm khách được không Phi?
Phi gật đầu…
Đạp tới chân dốc cầu Trương Minh Giảng, Phi như hụt hơi, hai bắp đùi mỏi rời, pê-đan trở nên nặng kinh khủng. Mỗi lần nhỏm lên đạp, người Phi lạng hẳn sang bên. Nhìn tên khách Mĩ ngồi một đống chật xe, Phi lầu bầu chửi: “Thằng khốn nạn, đồ con heo, đồ bị thịt, mày không thấy cái dốc dựng đứng kia à?”
Người cậu bỗng nhẹ hẫng, chiếc xích-lô quay ngang, đổ kềnh lưng chừng dốc. Tên Mĩ la hoảng vội nhảy khỏi xe tránh một vũng nước bẩn. Nhưng chính động tác hấp tấp ấy làm hắn mất đà và trượt chân ngã xoài trên mặt đường. Hắn cáu kỉnh, bước tới bên Phi, lúc ấy cậu cũng đang nhăn nhó xoa xoa cái đầu gối bị trầy xước da. Dưới ánh sáng những bóng điện mắc hai bên dốc, cậu thấy tên Mĩ hung hãn xông tới. Phi giơ tay đỡ theo bản năng. Tên Mĩ gạt tay Phi, tát hai cái liên tiếp vào mặt cậu, rồi hằm hằm bỏ đi. Hai má bỏng rát, Phi điếng người nhìn theo tên Mĩ.
Chưa hết phiên, Phi vẫn đạp xe trả ngay cho chủ. Từ lúc đó, cậu lang thang trong đêm và cuối cùng, mò về nhà dì Hai Chạy. Dì trực đêm không về. Cậu mở khóa, rồi leo thẳng lên gác lửng, nằm vật xuống sàn gỗ.
Dãy biệt thự đã tắt đèn, ngõ hẻm yên vắng, tiếng đàn thánh thót nhỏ giọt. Cậu ngửa mặt nhìn lên ánh trăng ướt rượt trên những tàn lá vú sữa… Cũng ánh trăng ấy tạo ra một tấm lụa bạc, choàng lên những mái nhà, những vòm cây và bỗng nhiên lớp tôn che trên đầu như vừa bị bóc đi, để cậu tiếp xúc thẳng với bầu trời lồng lộng và âm nhạc từ phía cô gái bỗng lan tỏa như những lớp sóng vỗ.
Mới sáng sớm, anh Tám đã tới tìm cậu. Phi ủ dột bước xuống thang, hai mắt đỏ kè. Câu tránh nhìn anh rể. Anh Tám lo ngại hỏi:
- Cậu bịnh hả?
Phi ngồi im. Chợt anh Tám chăm chú nhìn Phi trước khi nói chậm rãi:
- Anh mới gặp cậu Chín!
Như người đang ngủ mê bị một thùng nước lạnh giội từ đầu xuống chân, Phi bừng tỉnh:
- Sao anh không cho em tới gặp luôn?
- Cậu Chín giao nhiệm vụ cho em!
Anh trịnh trọng báo tin. Phi thoáng nghĩ, trở về Giáng La hay vô bưng? Anh Tám móc túi, lấy ra tờ báo gấp tư, trao cho Phi và nói:
- Mục rao vặt, trang tư đó. Cậu đọc báo, tôi chế chút trà.
Phi chưng hửng. Đang chuyện nọ xọ chuyện kia. Có trời biết ảnh và cậu Chín muốn gì ở mình? Nhưng cậu vẫn lơ đãng giở xem mục rao vặt bán nhà, đấu thầu, nhượng cổ phần.
Và một mẩu tin:
“Trường tư thục Nguyễn Bá Tòng chiêu sinh. Trường nằm trên đường Hồng Thập Tự, do người công giáo di cư thành lập. Thư viện lớn, nhiều sách quý. Học giỏi được miễn phí. Có thể ghi tên học lớp buổi tối. Quy tụ nhiều giáo sư lừng danh: Giáo sư toán Nguyễn Văn Phú, giáo sư Việt văn, thi sĩ thời danh Vũ Hoàng…”
Phi nhếch mép cười, đọc chơi vậy, làm chi có chuyện cắp sách tới trường.
Theo dõi thái độ thờ ơ của Phi, anh Tám tủm tỉm cười, đặt bình trà lên bàn:
- Răng?
Phi ngơ ngác, không biết anh Tám muốn hỏi chuyện gì. Nhưng anh đã thôi cười, mặt nghiêm lại:
- Cậu Chín giao nhiệm vụ cho em: đi học!
Phi sửng sốt nhìn lên. Anh Tám đặt tay lên vai Phi, nói gằn từng tiếng:
- Học càng giỏi, càng gấp càng tốt. Không phải học cho riêng em, học cho quê hương. Hồi ở Hội An, em đang theo học đệ thất phải không?
Phi xúc động gật đầu, mắt cứ chớp chớp. Anh Tám quả quyết:
- Bọn mình không có thì giờ, em phải học nhảy cóc! Tối đi học, ngày đi làm. Anh chị sẽ phụ thêm cho em yên tâm hoàn thành nhiệm vụ cậu Chín giao. Nhớ không, Phi?
- Dạ.
Phi trả lời nhỏ, trong bụng nghĩ thầm: Mình phải học thiệt giỏi. Hai trăm bạc Phương Mai cho, mình vẫn để dành, giờ bỏ ra mua sách vở, đỡ gánh nặng cho anh chị. Chị Hai sắp sanh chắc cũng kẹt!
Anh Tám nghỉ việc buổi chiều, giúp Phi sửa sang cái gác lửng thành phòng học. Dì Hai Chạy giúp Phi năm chục bạc, Phi từ chối, dì hờn mát miết đành chịu thua dì.
Lúc hai anh em dọn phòng học, mấy lần Phi gợi chuyện để anh Tám nói cho nghe về ngôi biệt thự kia. Nhưng cậu ấp úng hoài, chính anh Tám lại chỉ tay qua phía biệt thự rồi kể:
- Đó là nhà ông Vĩnh, một nhà văn có tiếng, quê ở Châu Đốc. Không biết vợ ổng ở mô, hiện tại ổng ở với đứa con trai bốn tuổi và hai cô em gái. Cô lớn tên Linh Ca, sinh viên năm thứ ba Văn Khoa. Cô nhỏ tên Linh Vân, học đệ nhị nữ trung học Gia Long. Cậu Ba đã nghe tiếng đàn trong đêm rồi chớ? Cô Linh Vân chơi đó. Cậu Ba không nên nhìn họ như những nhà giàu có khác. Nhà họ không nuôi người giúp việc. Nếu họ cần người gánh nước thuê, cậu Ba nên nhận lời!
Phi cười nhạt, trong bụng không khỏi ngạc nhiên. Vì sao anh Tám lại biết họ rành như vậy? Và tại sao ảnh lại khuyên mình gánh nước thuê cho họ? Đói rã họng, mình cũng không làm đầy tớ cho hạng ăn trên ngồi trốc thiên hạ…
Anh Tám vẫn thong thả nói tiếp:
- Người ta thường nói, bán anh em xa mua láng giềng gần. Cậu không nên lạt lẽo với gia đình ông Vĩnh!
Phi cau mày. Anh có định giễu cợt em không anh Tám? Em, một thằng khố rách áo ôm, đâu dám lạt lẽo với họ?
- Mình gánh nước thuê lấy tiền ăn học, có chi nhục nhã?
- Không có chi, nhưng em sẽ kiếm việc khác!
Phi quả quyết trả lời. Cậu không ngờ anh rể cau mày:
- Nhưng nếu đó là nhiệm vụ, em có làm không?
Phi uất ức kêu lên:
- Làm chi có nhiệm vụ kiểu yêu nớ?
- Ba, nghe anh nói đây. – Anh Tám đột ngột xoay mặt Phi xáp lại mặt mình. – Em tưởng anh muốn cho chị Hai em làm đầy tớ thằng đại úy khốn kiếp ấy hả?
Giọng anh gay gắt quá. Phi bàng hoàng đứng im. Anh Tám dịu giọng lại:
- Nói vậy chắc em hiểu?
Phi bắt đầu sống theo một chương trình đều đặn đến nghiệt ngã. Sáng sớm chạy ra sạp, nhận báo đi bán. Trưa, nháo qua nhà ăn cơm, rồi hộc tốc tới trường. Đặt sách vở vào một chỗ, nhận cây chổi lao công, quét một hơi hai mươi phòng học và sân trường rộng thênh thang. Vừa thở vừa nhai trệu trạo miếng bánh mì đã khô cứng, từ năm giờ chiều, học luôn đến chín giờ đêm. Về nhà, quảy đôi thùng thiếc ra vòi nước công cộng, xếp hàng chờ hứng đầy thùng. Xong xuôi, chong đèn học bài tới khuya. Tụi học ban ngày phần lớn con nhà giàu. Theo lớp đêm toàn học trò lam lũ, bán báo, đánh giày, đạp xích-lô, hoặc mồ côi cha mẹ.
Phi ngồi cùng bàn với Hinh, dân Bắc di cư và Thước, quê Cẩm Văn cũng gần Giáng La. Mẹ Hinh bán bún riêu ngoài chợ Bến Thành, bố Hinh đánh bạc như điên. Mỗi cuối tháng, ông trở về nhà với hai cái túi quần lộn trái. Mẹ Hinh khóc lóc, giận đời chán, nổi quạu chửi chồng thậm tệ, hành hạ lũ con. Còn cha Thước chết sớm, mẹ tái giá lấy một ông cai đội. Ông này cũng người Bắc, sau Giơ-ne-vơ, ông này đưa cả nhà vào Nam. Vợ chết, ông lấy mẹ Thước. Được ít lâu, dượng Thước chết trong một trận chạm súng với quân Bình Xuyên. Thước phải giúp mẹ nuôi một lũ em cùng mẹ khác cha. Hinh nghịch hoang bằng mấy thằng Kiếm – Vĩnh Điện. Thước lầm lì cục dễ sợ. Nhưng cả hai thằng đều học giỏi, thay nhau đứng nhất nhì trong trường. Học cùng lớp nhưng cả ba thằng ít có dịp trò chuyện với nhau. Vừa tan học đã lo vắt chân lên cổ chạy về nhà.
Có lần, báo ế quá, Phi đến trễ giờ, không kịp quét dọn đàng hoàng. Giám học Trần Văn Minh kêu lên xì-nẹt giữa văn phòng:
- Ai cho phép anh ngửa tay lĩnh tiền mà làm ăn như ri hả?
Tức lộn ruột, muốn quăng trả cây chổi vào mặt hắn mà về, nhưng nhớ lại vụ anh Tám mới thổ huyết, lại cắn răng, ở lại sau giờ học đêm quét suốt lượt. Không chừng anh Tám mắc bệnh lao. Hồi này ảnh ít đến chỗ dì Hai Chạy. Chị Hai sắp sanh, da mặt xanh hơn tàu lá. Anh Tám lo quắt cả người, công việc ở xưởng quá vất vả, đêm thì quần quật đạp xích-lô, thỉnh thoảng anh lại biến mất khỏi Sài Gòn ít bữa, không ai biết lí do. Mặt anh lúc tái mét, lúc đỏ bừng, tóc xơ xác rụng từng đám. Thường sốt về đêm, mỗi lần ho gập người như sắp gãy làm đôi. Thôi rồi, toàn triệu chứng lao phổi!
Cảnh nhà đã buồn, lại gặp trúng giờ Việt văn của lão nghiện Vũ Hoàng. Lão còm nhom, môi thâm sì, mắt toàn lòng trắng dã, giảng một lúc lại gục đầu xuống bàn ngủ, ngủ chán, tỉnh dạy lúc nào chửi cộng sản lúc ấy. Giảng bất cứ tác phẩm văn chương nào, cũng kiếm chuyện móc máy chống cộng. Hinh thúc cùi chỏ vào sườn Phi, chửi lầm bầm:
- Tiên sư anh nghiện, bọt rãi sùi cả hai bên mép kia kìa!
Lão chợt tỉnh, cất đầu lên, bắt cả lớp chép đề luận với cái giọng nhừa nhựa:
- Ngô chí sĩ nói: Tôi không phải là thần thánh siêu phàm xuất chúng, chẳng qua chịu khó thức khuya, dậy sớm mà nên việc lớn. Anh hay chị hãy bình luận câu danh ngôn trên!
Cái mõm vêu vao của hắn phun ra những lời đó như chực ném vào mặt mọi người một cục đờm xanh lè.
Nhờ bàn tay phù thủy của Lên-xđên, những cuộc xung đột giữa các phe phái đối lập tắt dần. Tin tức đẫm máu từ miền Trung vọng vào cũng yếu đi. Người ta tiếp tục tranh giành, chửi thề, đấm đá nhau quanh vòi nước công cộng hàng đêm, trong khi mật vụ và Phong trào Cách mạng Quốc gia làm nhụt chí mọi kẻ mưu toan chống chính phủ. Ngay cả trong ý nghĩ thầm kín, người ta cũng sợ hãi mỗi khi một ý tưởng phản nghịch lóe lên.
Phi gánh đôi thùng nước tới cửa ngách biệt thự, tiếng đàn từ trên lầu văng vẳng xuống. Suýt nữa Phi chửi thề. Nỗi khó chịu của cậu tăng dần, khi những hợp âm quen thuộc líu ríu quấn vào nhau, đan thành cảm giác mộng mị. Dù anh Tám quả quyết đây là nhiệm vụ, Phi vẫn thấy bực bội với anh rể, người đã đẩy mình vào tình thế lố lăng…
Phi đang cau có suy nghĩ, bỗng nhiên con chó vốn vẫn nhốt trong lồng cũi, không hiểu tại sao sổng ra, lao vào Phi. Cậu lùi lại định thủ thế, không ngờ lại đặt chân đúng vào đám rêu trơn tuột trên nền đá lát. Con chó chồm lên, bấu lấy cổ Phi. Cậu nổi điên đứng dậy, vơ lấy đòn gánh phang túi bụi. Và cậu nghiến răng, thèm khát đập vỡ sọ con chó.
Ông Vĩnh vắng nhà, chỉ có Linh Ca hấp tấp chạy xuống. Trong khoảng sân tối om, giữa tiếng vật lộn, tiếng rên rỉ, phải khó khăn lắm, Linh Ca mới phân biệt được người và vật. Cô hét lên:
- Đừng giết nó!
Con chó trúng mấy đòn chí mạng, đang quằn quại trên mặt đá. Phi trút hờn lên chiếc đòn gánh. Nghe tiếng hét của Linh Ca, Phi giật mình, quật chệch chiếc đòn gánh qua chỗ khác, nếu không chắc con chó chết tốt.
Cậu bối rối, sượng sùng nhận ra ý đồ trả thù vô lí và man rợ của mình. Còn Linh Ca chưa hết run rẩy, trống ngực đập mạnh.
Linh Vân đứng từ trên lầu hai ngó xuống, chợt hiểu, chính cô có lỗi. Mọi ngày cô thường tháo cũi, thả cho chó chơi rông một lúc rồi nhốt lại. Bữa nay cô lơ đễnh sao đó, quên nhốt…
Linh Ca hơi hoàn hồn, hỏi Phi:
- Có sao không em?
- Hình như em hơi quá tay?
Phi không dám ngó xuống con chó đang rên rỉ mỗi lúc một yếu ớt.
- Không, lỗi tại nó! – Linh Ca ngồi xổm bên con chó, tay vỗ vỗ nhẹ đầu nó. Chợt cô hấp tấp đứng dậy bảo Phi. – Em lên nhà, chị buộc thuốc cho, kẻo bị nhiễm trùng.
Phi ân hận hỏi nhỏ:
- Nó sao rồi?
- Nó sẽ chết!
Linh Ca thở dài bỏ đi. Phi ngập ngừng theo sau. Mình có lỗi gì trong vụ này. Chính nó vô cớ nhảy xổ vào mình, buộc mình phải tự vệ. Dù đã tìm hết lí lẽ để thanh minh, vẫn có một sự thật không thể chối cãi nổi, nếu cậu chỉ dừng ở mức tự vệ, chiếc đòn gánh sẽ không bổ xuống một cách dữ dằn như vậy. Con chó vô phước khi nó gây sự với cậu đúng lúc tâm trạng của cậu đang bị dồn nén và cậu luôn luôn sợ bị kẻ khác coi thường hay nhục mạ mình!
Linh Ca đưa cậu vào phòng riêng. Dưới ánh đèn, cậu mới hay, quần dài của cậu bị rách toạc một đường từ đầu gối đến tới lai quần. Cậu lại tự giận mình, đã vậy còn chường mặt để họ thấy nguyên hình một thằng gánh nước thuê?
Linh Ca hoay hoay mở tủ thuốc, tìm bông băng và thuốc sát trùng. Phi quan sát lặng lẽ người em gái lớn của ông Vĩnh. Có lẽ chị giống ông Vĩnh. Có lần chầu chực bán báo tại một tiệm cà-phê, cậu đã gặp ông Vĩnh tại đấy. Dĩ nhiên, lúc đó ông không nhận ra cậu. Bao giờ cậu cũng xuất hiện tại nhà ông trong đêm và theo lối cửa ngách. Cậu để ý thấy môi ông luôn mím chặt và trán hơi dô.
Linh Ca thản nhiên quay lại, bảo Phi:
- Em chịu khó mặc đồ lót, đưa quần dài cho chị máy lại. Hơn nữa, cũng cần kiểm tra vết thương!
Thái độ giản dị, ân cần của Linh Ca làm Phi đỡ ngượng ngập. Chị khéo léo rửa chỗ bị trầy và bôi dung dịch i-ốt vào đấy. Xong xuôi, Linh Ca bảo:
- Em ngồi chờ chút xíu.
Chị mang theo chiếc quần rách của Phi, bước ra. Một lúc sau, Linh Ca trở lại, mang theo một bộ đồ đã giặt ủi thơm phức:
- Em xài tạm bộ đồ của anh Vĩnh, nghe?
Suýt nữa Phi rụt tay lại. Bộ đồ sang trọng quá. Ngay cả giám học Trần Văn Minh khinh người như rác, cũng không dám mơ một bộ đồ thế này. Nhưng Linh Ca đã khép cửa, ra khỏi phòng cho Phi mặc đồ thoải mái.
Linh Vân đang ngồi ủ rũ, giật mình khi thấy chị gái vào phòng mình:
- Trời đất, cô quên nhốt chó làm nó cắn người ta gần chết, không qua mà xin lỗi ư?
Linh Ca cau mày nói với em. Linh Vân thở dài:
- Lẽ ra ảnh không cần phải giết nó!
- Biết thế nào là cần với không? – Linh Ca bực bội kêu lên. – Thử đặt cô vô địa vị cậu ta coi, tự nhiên con vật dữ tợn xông vô cắn xé mình, cô có tự vệ không hay bỏ chạy? A, cô sẽ bỏ chạy thiệt, nhưng cậu ta lại không xử sự như vậy… Thôi, qua xin lỗi cậu bé Quảng Nam đi!
- Em cảm thấy sờ sợ…
Linh Vân cúi gằm mặt trả lời chị. Linh Ca đặt tay lên vai em:
- Mai mốt anh Vĩnh trở lại Sài Gòn, nghe chuyện này, liệu ảnh có buồn không?
Linh Vân là em gái út, bình thường muốn gì được nấy, không ai nỡ làm trái ý cô bé dễ thương, dịu dàng này. Nhưng không vì thế mà cô trở thành nhõng nhẽo, khó chịu. Nghe nhắc đến tên ông Vĩnh, cô đành miễn cưỡng đứng dậy.
Nghe tiếng gõ, Phi ngượng nghịu ra mở cửa. Cả Linh Ca và Linh Vân đều kinh ngạc. Trong bộ đồ mới, cậu bé Quảng Nam biến đổi lạ lùng. Chỉ cần thêm cặp gương trắng nữa, người ta sẽ không tin nổi đó là cậu bé gánh nước thuê, ít phút trước vừa vật lộn với con chó.
Linh Ca phá tan bầu không khí im lặng nghi ngại:
- Linh Vân tiếp khách giùm chị nghe. Chị lo pha cà-phê để tụi mình nhấm nháp.
Linh Ca đi khỏi, Phi và Linh Vân ngồi bó cứng mỗi người một góc, trên chiếc ghế dài bọc da mềm.
Lần đầu tiên Phi được ngồi gần cô gái, gần đến nỗi cậu có thể ngửi thấy mùi tóc, mùi da thịt đặc biệt chỉ có ở những người con gái trinh trắng. Gương mặt Linh Vân trái hẳn vẻ khắc khổ, gân guốc của ông Vĩnh và Linh Ca. Sài Gòn một trăm phần trăm, từ gương mặt trái xoan, mái tóc thề đen mướt chảy tràn xuống vai, đến đôi mắt mở to cả tin, đầy sức biểu cảm, cánh mũi phập phồng mỗi khi sợ hãi hay hồi hộp. Và nhất là giọng nói ngọt ngào, êm ái.
Phi bỗng thấy mình quá vô lí khi căm ghét Linh Vân và tiếng đàn đêm đêm của cô. Con người cô đầy ắp cảm xúc tươi tắn, cô phải được giãi bày, trang trải thường xuyên cảm xúc ấy với mọi người và khung cảnh quanh cô. Người Phi ngứa ngáy râm ran như có kiến bò. Cậu cố cưỡng lại cảm giác ngột ngạt khó tả, bằng cách sử dụng đến cặp mắt thợ mộc, đánh giá những đồ đạc bằng gỗ có trong căn phòng.
Ngay bên cửa sổ, một chiếc bàn học bằng gỗ cẩm lai vàng ánh với những vân gỗ thẫm. Sàn nhà lát gỗ đánh xi đen bóng, tương phản với màu vàng chanh của bốn bức tường bao quanh. Giá sách cũng đóng bằng gỗ đắt tiền, trên đó đặt những cuốn sách bìa cứng, gáy mạ vàng chìa ra ngoài. Trên bức tường đối diện với khuôn cửa sổ nhìn xuống vườn, treo một bức tranh phiên bản, lồng trong khung gỗ mun. Một nụ cười bí hiểm, không rõ hạnh phúc hay trầm tư của người đàn bà trong tranh. (Sau này chính Linh Vân giải thích, Phi mới hiểu, đó là tác phẩm của đại danh họa Ý Đại Lợi)…
Mùi hoa sữa từ dưới vườn thoảng qua khuôn cửa và nấn ná ở lại phòng. Mọi thứ càng có vẻ không thực. Cậu bé của Giáng La chếnh choáng trước khung cảnh thần tiên bên cạnh trinh nữ Sài Gòn. Còn Linh Vân dùng đuôi mắt quan sát “cậu bé Quảng Nam”. Một cậu trai quá ư bình thường, dễ hòa lẫn vào đám đông. Cặp lông mày rậm đen che không nổi đôi mắt sáng ngời, sống mũi cao, loại người có nghị lực và sớm vật lộn với đời. Khoa nhân tướng học nhập môn chỉ cho phép Linh Vân biết tổng quát như vậy. Ghê thiệt, cậu ta có thể phang đòn gánh giết chết tươi con vật đáng thương ấy?
Linh Ca bưng chiếc khay đựng ba li cà-phê, tươi cười bước vào phòng:
- Ủa, chị tưởng hai em nói chuyện vui lắm?
- Làm chi có, chị Ba! – Linh Vân mỉm cười thanh minh. – Em là nước Phổ bại trận, phải chờ người thắng ra điều kiện đầu hàng cho em trong “hoà hội Véc-xây”!
Phi không biết “hòa hội Véc-xây” mặt ngang mũi dọc ra sao, nhưng cũng đoán được Linh Vân có ý đùa. Cậu lúng túng cười theo. Cà-phê tí tách nhỏ giọt xuống đáy li sứ trắng. Mùi cà-phê bốc lên thơm dịu, ấm cúng đến ngỡ ngàng. Những thứ ấy có thật, trong khi sự có mặt của hai cô gái lại có vẻ ảo. Một giấc mơ được sắp đặt cố ý đến nỗi bắt ta phải nghi ngờ nó.
- Quên mất. – Linh Vân đột nhiên kêu khẽ. – Em thấy anh Vĩnh uống cà-phê bao giờ cũng hút Craven “A”. Để em xuống phòng ảnh tìm thử!
Còn lại hai người, Linh Ca hỏi nhỏ:
- Em đang học lớp mấy?
Phi luống cuống, mặt đỏ dừ:
- Em có học hành gì đâu!
- Dóc, đêm nào chị cũng thấy bên em sáng đèn đến quá 12 giờ, sau cả chuông nhà thờ Huyện Sĩ. Nói thiệt đi, có gì cần, chị và Linh Vân sẽ giúp.
- Dạ!
Phi bối rối gật đầu. Chị Linh Ca và chị Hai mình khác nhau một trời một vực, nhưng tình cảm đôn hậu của một người chị gái thì giống nhau y xì. Có lẽ nhờ ý nghĩ so sánh ấy, Phi quyết định cầu cứu chị Linh Ca. Cậu định học nhảy cóc lên đệ ngũ, nhưng kẹt nhất hai môn sinh ngữ và toán. Nếu chị Linh Ca chịu giúp thì hên lắm.
- Em nói chị đừng cười. Vô đây em mới học đệ thất, em muốn nhảy cóc, nhưng… kẹt toán với Pháp văn!
Linh Ca im lặng một lúc, rồi ngước lên nhìn Phi:
- Chị hiểu, chị sẽ giúp em Pháp văn, còn Linh Vân sẽ kèm toán. Em thấy có được không?
Phi ngẫm nghĩ và xấu hổ nhớ lại thái độ hằn học của mình trước đó với hai chị em Linh Ca. Chị vẫn dịu dàng nói tiếp:
- Đây là lần thứ nhất được nói chuyện nhiều với em. Nhưng qua dì Hai, chị cũng phần nào biết được hoàn cảnh của em. Dù sao, chị và Vân cũng may mắn hơn em trong con đường học vấn. Chị thấy mình có bổn phận giúp đỡ những người như em. Sau này, em sẽ hiểu, những điều chị vừa nói là rất thực lòng. – Chị ngưng lại, mắt ngó đăm chiêu ngoài khung cửa sổ như đang tìm một vật nào đó ngoài bóng tối. – Nói thật với em, ông già chị ngày trước giàu có nhất nhì Châu Đốc. Má chị mất sớm, ổng có vợ nhỏ, hiện giờ hai người qua Pháp sống… Anh Vĩnh đưa chị và Vân về đây. Gia đình li tán từ đó. – Chị thở dài. – Hoàn cảnh khác nhau, nền giáo dục khác nhau, chắc em và chị cũng nhìn đời khác nhau? – Đột ngột Linh Ca chuyển hướng câu chuyện, Phi tò mò theo dõi. – Mai sau, dù chúng ta có lựa chọn những con đường khác nhau mà đi, chị hi vọng, những kỉ niệm êm đẹp này sẽ khiến chúng ta giữ mãi tình cảm thuần khiết vô tư, đã từng có giữa chúng ta.
Phi lặng đi, giữa Sài Gòn huyên náo, xô bồ vẫn còn những ốc đảo êm dịu trước những tiên cảm ghê rợn đang chờ đợi mọi người. Tự nhiên Phi liên tưởng đến Giáng La, nơi mỗi lúc một trở nên xa xôi, huyễn hoặc với cậu. Giá căn phòng này vĩnh viễn tách bạch hẳn với dòng sống bên ngoài và em có thể nói thực tất cả với chị, ngay cả chuyện đi học và nhận gánh nước thuê trong biệt thự của chị, cũng là nhiệm vụ cậu Chín giao cho em!
Linh Vân trở lại, đặt hộp thuốc Craven A xuống mặt bàn, ngạc nhiên thấy không khí trong căn phòng trầm lắng hẳn xuống. Cô phải mời đến lần thứ ba, Phi mới chịu rút một điếu ra châm lửa. Linh Ca nói với em gái:
- Phi đang kẹt Pháp văn và toán. Chị tính giúp Phi mỗi tuần một buổi, học Pháp văn. Còn em sao?
Hai má Linh Vân hơi ửng hồng, ngó cô càng xinh. Phi vội vã quay mặt sang chỗ khác, khói thuốc thơm ùa vào ngực, ấm nóng. Tê tái nhớ lại, mỗi đêm tan học, thường bước nhanh qua cổng trường, nuốt nước miếng, khi nghe tiếng rao của một ông già người Hoa kiều:
“Ai pánh pao đây!”
Đêm sao ngắn quá vậy? Linh Vân nói gì đó với chị, cậu không nghe rõ, chỉ thấy cô đến bên giá sách rút ra một quyển trao cho Phi:
- Đây là cuốn giáo khoa toán của Ka-ron-nê. Anh cầm lấy mà xài, tôi sẽ giúp anh theo kịp chương trình bằng cuốn này!
Trời ơi, cuốn sách mà cả hai thằng Hinh, Thước thèm phát khóc mà không sắm nổi. Tối mai, chắc tụi nó trố mắt khi mình đưa ra khoe. Hình như sách cũng được ướp nước hoa?
Phi trăn trở trên gác xép. Chịu không nổi, cậu ngồi dậy, ngó sang biệt thự, bên đó cũng chưa tắt ánh đèn. Cành vú sữa xõa vào tầm mắt cậu. Phi ngây ngất đưa cuốn sách Linh Vân vừa tặng lên sát mũi hít hà…
Chị Hai ngồi lặng lẽ nhìn ra ngoài trời lóa nắng với đôi mắt ngây dại không hồn. Da dẻ chị vàng bệch, mi mắt sụp xuống. Từ dạo chị sẩy thai đến giờ, đây là lần đầu chị đến thăm Phi và dì Hai Chạy. Chị mang đến cho Phi một ram vở học trò, thờ thẫn trả lời nhát gừng từng câu hỏi của Phi.
Thỉnh thoảng chị thở dài, Phi sợ sệt thấp giọng hỏi:
- Anh Tám không nói với chị, ảnh ra Quảng làm chi ư?
- Không, hình như ngoài nớ có chuyện lộn xộn…
- Ảnh cũng không nói đi bao lâu sao?
- Không, ảnh chỉ dặn tôi đến thăm cậu Ba và nhắc cậu Ba ráng học thiệt giỏi…
Giọng chị gần như nấc. Trước khi đột ngột bỏ ra Quảng, anh Tám có gặp Phi. Cậu ngạc nhiên thấy anh già đi rất mau, mắt thâm quầng, má nổi từng vết nám đen, dấu hiệu bệnh lí của người ăn uống kham khổ và thiếu dinh dưỡng. Bẵng luôn hai tuần lễ, giờ chị Hai tới, mới hay anh Tám ra Quảng.
Rồi chị lại đứng dậy, xách chiếc giỏ tre bước ra hẻm vắng…
Chị Hai đi rồi, Phi uể oải đặt cuốn sách toán Ka-ron-nê xuống bàn. Mọi khi, vào quãng này, cậu sung sướng và háo hức vì sắp được ngồi bên Linh Vân, trong phòng học của cô. Cậu sẽ quên đi mọi nỗi cay cực, nặng nhọc của đời sống để thả mình vào cái hạnh phúc mơ hồ của một thứ tình cảm nửa bạn hữu, nửa yêu thương. Nhưng cuộc chuyện trò với chị Hai khiến cậu mất hứng và lo ngại. Chắc chắn phải có biến cố nguy hại nào đó đang đe dọa mọi người. Chị Hai biết, nhưng cố giấu để mình không xao nhãng việc học. Cứ thế, cậu bước sang biệt thự của Linh Vân với cảm giác có lỗi.
Linh Vân tận tình giúp Phi đuổi kịp chương trình đệ tứ. Chính những thằng học giỏi trong lớp cũng không biết động lực nào giúp Phi bứt lên nhanh chóng và vững vàng đến như vậy. Chúng có hỏi, Phi chỉ mỉm cười…
Còn cô giáo Linh Vân hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, trước cậu “học trò xứ Quảng” quá thông minh của mình. Duy cứ mỗi lần trò định ngẩng lên, hỏi một chỗ chưa hiểu trong bài tập, mắt trò lại vội vã cụp xuống, lảng tránh cái nhìn nóng bỏng của cô giáo. Sau phút ấy, cả hai đều bồi hồi im lặng và phần còn lại của buổi học chệch choạc, mỗi người đeo đuổi những ý tưởng rối bời khác nhau.
Linh Ca là người thấy trước nhất, cái gì khác thường đang len vào tình cảm giữa Phi và em gái mình. Còn ông Vĩnh ít khi ló mặt ra khỏi phòng làm việc, trừ các bữa cơm và chiều chiều dắt con trai dạo trong hẻm. Ông cũng biết Linh Vân đang giúp cậu bé gánh nước thuê học thêm, nhưng ông không có thời gian để nhận ra nét thay đổi, dù rất nhỏ, trong cử chỉ, sinh hoạt của em gái út. Linh Ca chớp mắt làm lơ mỗi khi bắt gặp những giây phút ngượng nghịu của hai trẻ. Chị buồn, nhớ lại chuyện tình cảm của chị, chuyện này ông Vĩnh biết khá rõ.
Thời chống Pháp, khi đang học ở một trường kháng chiến, chị yêu một thanh niên học trên chị hai lớp. Cả hai đều không nói với nhau một lời, nhưng họ biết chắc: họ sẽ sống vì nhau và cho nhau. Bây giờ, người ấy đã theo đồng đội tập kết lên trên vĩ tuyến 17 và thời thế này không mấy lạc quan cho hi vọng một ngày sum họp. Linh Ca vẫn âm thầm chờ. Phi có nét gì đó gần gũi với con người ấy, đó chính là điều khiến chị cảm thấy mến cậu bé Quảng Nam này…
Phi sợ nhất giây phút bài học đã mãn, sách vở gấp lại và cả hai ngồi thừ trên ghế. Có lần Linh Vân lên tiếng trước:
- Mỗi đêm gánh hàng chục đôi thùng nước, mệt hông?
Phi chỉ cười nhẹ:
- Cũng tùy người, tùy lúc!
Phi chỉ nói bâng quơ cho qua chuyện, không ngờ Linh Vân lại hiểu câu trả lời của Phi như một sự thách thức. Đêm sau Phi chưa về, Linh Vân quẩy đôi thùng nước ra vòi công cộng. Những anh ở tớ, những cô sến nhận ra ngay cái dáng vụng về của một tiểu thư vi hành. Họ tán tỉnh, giễu cợt ầm ĩ và nhiều câu đùa tục tằn khiến Linh Vân phải đỏ mặt.
Hòn ngọc Viễn Đông vốn chỉ hiện ra trước mắt cô với những hàng cây phượng vĩ đỏ rực vòm hoa trên dọc hai bên những đại lộ. Và bên cô, bạn học cùng lớp vốn là con cái những gia đình giàu có, quyền uy ngất trời, ăn mặc chải chuốt, nói năng kiểu cách, lịch sự và luôn chen vào những chữ tây… Bỗng nhiên, “đáp” xuống đáy của cuộc sống Sài Gòn, hẳn là Linh Vân phải ngạc nhiên, ghê tởm trước vẻ nhớp nhúa hỗn độn của nó. Cũng hên, có kẻ (không biết do thương hại hay muốn lấy lòng người đẹp) nhường cho cô hứng trước và khi đôi thùng đầy tràn, giúp cô đặt đòn gánh lên vai. Cô mím môi bước đi, hai tay cố nâng chiếc đòn gánh đang tì mạnh xuống vai cả sức nặng của đôi thùng. Cô loạng choạng, xiêu vẹo như một chú lính thủy say rượu ngoài bến tàu, đôi thùng nước đu đưa, va quệt và tung tóe xuống đất thành một vệt dài sau lưng cô… Mệt quá, cô hổn hển, để đại đôi thùng xuống sân, ngồi bệt xuống bậc thềm. Gió đưa thơm ngát mùi hoa sữa, cô đưa tay quệt mồ hôi đọng trên má.
Được Linh Ca cho hay, ông Vĩnh rời khỏi phòng làm việc xuống sân. Khi Linh Vân ngẩng lên, trong bóng tối hư ảo của mảnh vườn, thoáng thấy gương mặt sững sờ của anh trai. Dường như ảnh đoán ra chuyện riêng của mình?
Ông Vĩnh vẫn im lặng nhìn em, tự nhiên Linh Vân thêm can đảm nói liền một hơi:
- Từ mai, chúng ta đừng để anh Phi gánh nước nữa. Và tại sao chúng ta không giúp dì Hai Chạy câu nhờ đường dây điện. Chúng ta dư sức thắp cho mỗi ngọn cây vô tri vô giác kia, một ngọn đèn cả trăm nến, còn nhà của họ thì…
Phi ngỡ ngàng dừng lại. Ngôi nhà vốn tăm tối của dì Hai Chạy bỗng sáng bừng lên. Thấy Phi chậm chạp bước vào, dì Hai khoe liền:
- Hồi chiều, cô Vân dẫn một bác thợ điện xuống đây. Cô biểu đã bàn với mi rồi, mắc điện sáng cho mi học đỡ hư mắt. Cổ còn để thư cho mi trên bàn tê tề!
Phi đoán ngay ra mọi chuyện, vui buồn lẫn lộn, cầm chiếc phong bì màu xanh nhạt thơm phức mùi nước hoa. Cậu hấp tấp mở phong bì, bên trong để sẵn mấy tờ giấy bạc mới tinh và một mẩu thư ngắn.
“Anh Phi, bài vở của anh độ này nhiều hơn mà thì giờ học của anh lại quá ít, V mong anh chia sẻ với V món quà mọn này. V sẽ bớt ăn quà sáng. Việc gánh nước để người khác lo. Cám ơn anh nhiều!”
Phi vội vã cho cho tiền và thư vào phong bì, ngồi lặng đi. Không, mình không thể nhận tiền bố thí. Mình đủ sức tự lo lấy! Giá Vân đừng nghĩ ra cái trò chơi “cao thượng” này, mình sẽ giữ được thái độ tự nhiên. Còn bây giờ…
Phi ngao ngán giở sách vở, nhưng mắt cậu lại chỉ thấy những đốm sáng trên những hàng chữ và con số. Chắc ánh điện làm mình chói mắt? Cậu nhổm dậy tắt công-tắc đèn và châm lửa vào cây đèn dầu quen thuộc. Tình trạng không khả quan gì hơn. Ngọn đèn lù mù càng làm cho những cành vú sữa sáng rực lên dưới ánh trăng. Cậu nhướng mắt, cố tìm qua kẽ lá mái tóc nghiêng nghiêng bên khuôn cửa sổ đối diện. Trời ơi, tất cả vẫn thế, chỉ thiếu mỗi tiếng đàn mà khu vườn trở nên hoang vắng!
Ba đêm tiếp theo, tan học, Phi không vội vàng về nhà như mọi lần. Cậu cắp sách lang thang trên những đại lộ cho đến khi thành phố bắt đầu giới nghiêm. Cậu tấp vào một hàng hiên nào đó gà gật ngủ chờ sáng…
Lòng cậu trống trải và nỗi cô đơn không chỉ tác động lên thần kinh vốn mẫn cảm với những trạng thái sợ hãi, bất an hay bị lăng nhục của cậu, nó còn làm cho cơ thể cậu đau đớn, cơ bắp mỏi nhừ.
Một buổi trưa, dì Hai Chạy lo lắng hỏi:
- Răng rứa, Ba?
Cậu không trả lời dì, cắm cúi nhai cơm như nhai trấu và lật đật bỏ đi khỏi nhà…
Rồi đêm ấy, vừa bước ra khỏi cổng trường, cậu giật thót người khi thấy Linh Ca đang sốt ruột đợi cậu. Dưới ánh đèn phố nhập nhoạng, Linh Ca xót thương nhìn gương mặt hốc hác, phờ phạc của cậu.
- Ba đêm nay, em ngủ đâu?
Nghe chị Ca hỏi, mắt Phi nong nóng, nghĩa là đêm nào Phi vắng nhà, chị đều biết.
- Ba ngày nay Vân nhịn ăn và nếu em tiếp tục không về nhà, Vân sẽ chết đói!
Chết đói? Phi chua chát nghĩ. Chết đói khó lắm, bầm giập trần ai lắm. Phải mưa, bùn lầy, phải nhịn đói vài ba tháng, bao tử trống rỗng dần, còn trơ lại cỏ và xơ mít. Đầu quắt queo như một trái đu đủ phơi khô. Ngay cả khi sắp tắt thở, chỉ cần đổ vào miệng kẻ hấp hối một vài muỗng cháo loãng, kẻ ấy sẽ sống lại như được uống thuốc hồi dương. Mẹ và hai em trai tôi đã chết đói ngay trước mắt tôi… Còn tiểu thư Sài Gòn kia, có nhịn đói vài ba ngày càng có lợi cho việc giữ eo thôi…
- Ủa, em đi đâu bây giờ?
- Dạ, không…
Phi giật nẩy người, bừng tỉnh, cố dứt mình khỏi luồng ý nghĩ u ám. Linh Ca nhận ra “cậu bé Quảng Nam” trót ghim guốc trong kí ức những dấu ấn tàn khốc của tuổi thơ, dấn thân vào đời khác hẳn những người bạn cùng tuổi.
Với một chàng trai khác, trong trường hợp này, sẽ run lên vì hạnh phúc. Trời ơi, cả một cô gái như Linh Vân vì ta mà phải tuyệt thực!
Nhưng Phi chỉ lầm lũi bước đi. Linh Ca lại gọi giật giọng:
- Thôi, em không về vì Vân, thì ít nhất cũng vì anh Vĩnh. Ảnh rất cần gặp em. Ảnh biểu cứ nói thế chắc Phi hiểu!
Phi đứng khựng lại, có phải tự nhiên anh Tám ra lệnh cho Phi gánh nước cho ông Vĩnh đâu? Linh Ca vẫy xích-lô máy. May mắn sao, bóng tối khiến chị không nhìn thấy bộ mặt thiểu não của cậu…
Sau khi đổ nước vào bể chứa trong biệt thự, Phi quẩy đôi thùng định ra vòi nước công cộng hứng tiếp. Đột nhiên ông Vĩnh từ trong nhà bước ra sân, khẽ gọi:
- Lại đây, qua có công chuyện phải nhờ em!
Cậu ngơ ngác dừng lại. Vừa lấy trong túi ra một cái bọc nhỏ thả vào trong thùng thiếc không, ông vừa nói:
- Em làm ơn chuyển giùm cho dì Hai!
Phi khẽ gật đầu, quẩy thẳng đôi thùng về nhà. Dì đang đợi, thấy Phi bước vào cửa, hỏi ngay:
- Ông Vĩnh có gửi quà cho ai không?
- Dạ có… trong thùng thiếc!
Phi mỉm cười trả lời, nhớ lại cuộc gặp vừa rồi với ông Vĩnh trong biệt thự. Dì nhanh nhẹn lấy cái gói trong thùng thiếc và tất tưởi ra khỏi nhà.
Nhìn dì xách giỏ đi trong con hẻm, Phi thoáng hy vọng. Như vậy là anh Tám đã từ Quảng trở về bình yên, nếu không dì Hai sẽ chuyển món quà của ông Vĩnh cho ai? Mà ông Vĩnh là ai? Có thể nào một nhà văn, gốc gác gia đình địa chủ khét tiếng, được xã hội trọng vọng, lại theo cộng sản như cậu Chín, chú Quyên, anh Ba Đoát, cô Mười, Luyến, dì Hai Chạy, anh Tám, chị Hai… những người nguyên gốc nông dân, vốn chịu cực từ nhỏ, lại có thù với Quốc dân đảng, với Diệm và chế độ này?
Chợt có tiếng đập cửa bên dưới, Phi hơi lạnh người. Chắc không phải dì Hai?
Cậu đứng lặng một lúc đắn đo. Mãi đến lúc nghe giọng con gái gọi khẽ: “Anh Phi”, mới yên lòng bước xuống.
Vừa thấy Phi ló mặt qua cánh cửa hé mở, Linh Vân hờn mát:
- Bộ anh không muốn học nữa hả?
- Đâu có.
Phi bối rối trả lời. Người cậu nóng ran. Linh Vân đứng sát rạt ngay trước mặt cậu. Phi nghe thấy cả hơi thở gấp của cô gái. Cậu chưa kịp mở rộng cánh cửa, Linh Vân đã lách hẳn vào trong. Dưới ánh đèn sáng, Phi mới thấy bộ dạng chộn rộn của khách. Linh Vân quẳng tờ báo xuống mặt bàn. Phi bỗng hiểu, cô gái không tìm cậu về chuyện học hành.
- Coi đi anh Phi, tôi không hiểu gì hết?
Bài tường thuật cuộc họp báo của Phủ tổng thống, được đăng ngay trang nhất với hàng tít lớn, chạy dài suốt sáu cột: Cộng sản dùng tàu biển chở vũ khí cho các lực lượng phiến cộng dưới vĩ tuyến 17. Hai trong số tàu xâm phạm trái phép hải phận Việt Nam cộng hòa đã bị bắn chìm tại Vũng Rô!
Linh Vân run run hỏi:
- Chuyện này có thiệt không, anh Phi?
Cả tuần nay, dân Sài Gòn chỉ bàn tán xôn xao vụ động trời đó. Phi nghĩ ngay đến Ba Đoát. Chưa biết trả lời ra sao, Phi đành im khe. Linh Vân thở dài:
- Liệu có nội chiến không anh Phi? Bến Hải cách sông Gianh bao nhiêu cây số, hả anh?
Linh Vân sốt ruột chờ Phi trả lời. Chỉ cần ngẩng lên là đầu cậu có thể chạm ngực cô gái.
- Nếu nội chiến xảy ra, anh sẽ theo ai? Và số phận tụi mình sẽ ra sao? Liệu có kéo dài đến hai trăm năm như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh không?
Hình như Linh Vân khóc, nước mắt rớt xuống tóc Phi âm ấm. Phi không dám ngẩng lên, nói cái gì bây giờ để Linh Vân khuây khỏa. Cậu cũng không biết gì hơn Linh Vân, nhưng cậu cảm thấy, có lẽ Linh Vân không cường điệu ý nghĩa nghiêm trọng của mẩu tin đăng báo kia. Quả thực, nó báo hiệu một bước ngoặt nào đó đang đến với xứ sở này!
Cậu bỗng nhớ đến những chuyện tầm phào diễn ra ở lớp học đêm của cậu. Những câu chuyện hầu như không ăn nhập gì với những dự cảm của Linh Vân.
Đang học, tự nhiên Hinh bảo cậu:
“Mày có dám thách tau hôn nữ giáo sư Anh văn Huệ Li, ngay giữa lớp không?”
Thước ngồi bên cự nự:
- Dóc tổ mẹ!
Hinh trề môi:
- Cá không? Mất gì cho tau?
- Một chầu cà-phê La Pa-gốt!
- Thằng Phi làm chứng nhá!
Hinh tỉnh khô, khoanh tay lên bàn, mặt hiền như “ma xơ”. Phi cười, nghĩ thầm. Thằng Thước ngu quá, thách ai không thách, lại thách cái thằng bán trời không văn tự này. Mày quên cái vụ nó lột truồng Nguyễn Phượng Cát, cử nhân toán, công giáo di cư, chuyên hô hào chống cộng, ngay trong trường, rồi sao?
Hinh chửi:
- Tiên sư thằng Cát, bố nó giàu nhất Bùi Chu – Phát Diệm. Các bố mày thì đêm học, ngày lo kiếm cơm. Giờ còn bắt các bố mày thức toét mắt nghe chửi cộng. Hai đứa mày lo cúp điện, tau có cách làm bẽ mặt tên chính khách ba xu kia.
Tối đến, Phi vừa lên cúp điện, Hinh cùng thằng Phạm Nhật và Nguyễn Thanh đè nghiến Cát ra giữa hành lang tối om, lột truồng Cát rồi ôm quần áo của Cát chạy mất…
Cát trần như nhộng, phải vào nhà bác cai trường mượn đồ mặc tạm.
Chợt nữ giáo sư Huệ Li gọi Hinh lên trả bài, mặt nó đuỗn ra lo lắng. Huệ Li khoái trá chờ đợi hạ thằng học trò ương bướng này sát ván. Ai dè nó nói một tràng tiếng Ăng-lê du dương không kém gì mấy người trong điện Búc-kinh-gâm. Huệ Li buột miệng khen. Hinh mỉm cười và hôn phớt lên má cô giáo, khiến cả lớp cười rộ… Huệ Li cũng chỉ còn nước cười trừ!
Tan học, Thước la Hinh:
- Học là học, chính trị để tụi chính khứa xôi thịt mần với nhau. Lần sau, mày còn chọc quê các giáo sư, chính tau sẽ vặn họng mày.
Hinh bảo Phi:
- Sống khổ như chó, thằng Thước chỉ hăm he học thật giỏi, đỗ cao, qua ngoại quốc giật mảnh bằng cử nhơn, tiến sĩ khoa học. Tau ỉa vào tim đen của nó!
Bây giờ, Phi càng cảm nhận rõ ràng, những chuyện ấy lạc lõng quá… Mấy cậu đệ nhị giở trò tinh nghịch, trả thù vặt bằng máu anh hùng rơm, có khác gì làm lũ đà điểu rúc đầu trong cát, chạy trốn tai họa đang đến từ bầu trời!
Linh Vân bất ngờ vòng tay ôm sát đầu Phi vào bộ ngực rắn chắc của mình. Cậu bàng hoàng. Những vòm cây rung rung, gió ào ào mang tới cơn mưa đêm xối xả. Những tia chóp loằng ngoằng hiện qua khung trời hẹp của ngõ hẻm… Tiếp liền đó, những đường dây điện trần xẹt lửa điện xanh lè.
Cô thì thào:
- Sao anh?
Phi ngây ngất nhìn cô. Gió thổi khi mạnh khi yếu, những giọt mưa gõ mạnh lên mái tôn, những chuỗi hợp âm từ dồn dập đến xa vắng. Hai người có cảm giác đang nép vào nhau trong ruột một cây đàn khổng lồ, nơi những sóng âm tràn ngập, vỗ về toàn thân họ…
Không, đó chỉ là một giấc mơ!
Linh Vân về rồi, còn lại một mình, Phi rờ tay lên môi, nơi nụ hôn của Linh Vân còn vương lại chút dư vị mơ hồ.
Phòng thi im phăng phắc. Mấy chục cặp mắt thí sinh hồi hộp, theo dõi từng cử chỉ chậm chạp, trịnh trọng của viên giám thị đang bóc đề thi. Ông ta dõng dạc đọc từng chữ, mọi người nín thở, nuốt nước miếng chờ đợi:
“Anh hay chị, hãy phát biểu ý tưởng của mình, khi đọc bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của chí sĩ Phan Châu Trinh.”
Mỗi thí sinh đón nhận đề thi với một phản ứng khác nhau. Kẻ hăm hở bắt tay viết nháp, người cắn bút đăm chiêu, người khác hoảng hốt ngó quanh như cầu cứu. Với Phi, ngay những dòng chữ đầu đề đã làm người cậu ớn lạnh, đầu nóng bừng bừng như lên cơn sốt. Cậu quên bẵng phòng thi và không khí chết lặng xung quanh, quên cả tiếng sột soạt của những ngòi bút trên mặt giấy.
Hai sào khoai Tiên Hồ mùa chết, những con sông khô cong quằn quại trườn ra biển, những đám mây ố vàng. Buổi học cuối cùng của thầy Vi…
Bao nhiêu căm hờn, tủi nhục, trăn trở trào ra khỏi ngòi bút. Những con chữ đen trôi ra dăng kín cả mặt giấy trắng. Mắt Phi mờ đi, bàn tay cậu không đua kịp với cảm xúc ào ạt…
Nhưng có lẽ, người hồi hộp hơn cả những thí sinh đang căng thẳng làm bài trong phòng là chị em Linh Ca. Họ đứng sát phía ngoài hàng rào, nhìn vào sân trường thi. Dường như họ hi vọng, ánh mắt của họ sẽ xuyên qua những bức tường và cửa gỗ, nhắc Phi nhớ rằng, bên cạnh cậu đang có những người thân thiết, hi vọng, tin tưởng vào cậu…
Khi hồi trống báo hiệu giờ thi đã vãn, Phi bước ra. Linh Vân không buồn giữ ý trước mặt chị gái, hấp tấp hỏi:
- Sao, anh Phi?
Phi không trả lời, chìa mảnh giấy nháp cho Linh Vân. Cô đọc ngấu nghiến. Linh Ca cũng ghé qua vai em mà đọc. Linh Vân đọc xong, rơm rớm nước mắt:
- Anh viết bằng máu, chớ không phải bằng mực!
Trong lúc Linh Ca chế trà và bày bánh mứt mời Phi, Linh Vân mang luôn bản nháp lên khoe ông Vĩnh. Trời đất, bài văn con nít mà đưa cho nhà văn nổi tiếng, dị òm? Phi ngượng nghịu định ngăn lại, nhưng Linh Vân cười:
- Anh hiểu anh Vĩnh không bằng Linh Vân đâu!
Khoảng nửa giờ sau, cô hổn hển chạy tới phòng Linh Ca, mời Phi lên phòng ông Vĩnh. Phi hoang mang, chắc ổng chê bài văn mình viết?
Ông Vĩnh ra tận cửa phòng đón Phi, nghiêm trang giới thiệu Phi với một người đàn ông cũng đang có mặt sẵn trong phòng:
- Hai người làm quen nhau đi. Đây là tác giả bài luận tuyệt vời về cụ Phan Châu Trinh. Còn đây là giáo sư Lê Quang, dạy toán trường Pê-truýt Ký!
Giáo sư Lê Quang thân mật, siết chặt tay Phi. Cậu ngượng ngập sung sướng. Hình như hai người vừa nói chuyện với nhau về cậu?
Giọng Lê Quang thật dịu dàng và ấm:
- Chúng tôi vừa được đọc bài viết của em. Chuyện văn chương, chữ nghĩa, chỉ anh Vĩnh mới đủ tư cách nói với em. Còn tôi nhận thấy, em viết bằng những gì cay cực, kinh nghiệm đau thương mà em từng nếm trải. – Giáo sư thở dài. – Thời buổi này, dễ đâu có những người viết được như em?
- Học xong Phi tính làm gì?
Ông Vĩnh dịu dàng hỏi.
- Thưa thầy, em tính về lại Quảng!
Linh Ca đã ra trường, về dạy trường nữ trung học Gia Long, mắc giờ lên lớp. Chỉ có Linh Vân theo Phi đến coi bảng niêm yết danh sách thí sinh trúng tuyển.
Sân trường Tôn Thọ Tường đông nghẹt người. Một người trong hội đồng thi bước ra bậc thềm, đọc tên những người đỗ theo số báo danh. Mỗi lần kêu tên người đỗ kèm sau số báo danh, đám đông lại một phen náo loạn. Có kẻ tung cả nón mũ, sách vở lên trời và reo ầm ĩ. Có kẻ nghe xướng tên mình xong, chạy ngay ra đường, kêu một chiếc ta-xi, giọng lạc hẳn đi:
“Đi đâu cũng được, phóng hết tốc lực!”
Có kẻ thấy số báo danh của mình bị bỏ qua, òa lên khóc như một người mất cắp…
- 314!
Phi run lên, mặt Linh Vân cũng tái xanh chờ đợi… Số báo danh của Phi là 320. Người đọc danh sách chờ cho đám đông bớt ồn ào, mới đọc tiếp:
- 319!
Đột nhiên ông ta dừng lại, giở qua trang sau. Chân Phi muốn nhủn ra. Linh Vân nắm chặt tay Phi nín thở.
- 320, bình thứ!
Tự nhiên nước mắt Phi ứa ra. Linh Vân nhảy cẫng lên, ôm lấy vai Phi, giọng đứt quãng:
- Đi thôi, anh!
Từ nay, nghiễm nhiên anh đã trở thành học sinh Chu Văn An, trường trung học lớn nhất Sài Gòn. Ý nghĩ đó nóng hổi trong tâm trí Phi và hình ảnh thằng Hải Pắc-ke lởn vởn trong hành lang hun hút tối tăm, làm nền cho những đốm sáng loé lên…
Dì Hai Chạy và Linh Ca đã đợi sẵn ở nhà. Thấy đôi trẻ hớn hở bước vào, dì Hai khóc òa:
- Tội nhứt thằng Tám với con Hai, chỉ mong em học hành nên người…
Linh Ca vui vẻ chen vào:
- Khỏi cần hỏi cũng biết, Phi đỗ rồi. Dì Hai đã lo bữa mì Quảng mừng Phi. Chị tặng Phi đôi dép Nhật. Không biết Linh Vân sao?
Linh Vân bất ngờ xô đến, hôn chụt lên má Phi rồi bỏ chạy. Phi đứng ngẩn ngơ giữa nhà. Sao cuộc đời lại có những phút giây tuyệt vời như thế này?
Phi bỗng nhìn quanh nhớn nhác, hình như có cặp mắt xoi mói nào đó trong góc nhà, đang chĩa vào từng cử chỉ hân hoan của cậu mà chế nhạo, trách móc…
Tại sao anh Tám bặt tin từ ngày ra Quảng tới giờ? Và chị Hai hình như đang giấu mình một hung tin nào đó?
Linh Ca không hiểu sao tự nhiên Phi thẫn thờ như vậy. Chị chỉ đoán, có lẽ Phi quá sung sướng, hạnh phúc đến với cậu bất ngờ và dồn dập quá. Chị chợt nhớ, có lần Linh Vân hỏi:
- Em đợi Phi học xong tú tài rồi cùng qua Pháp với ba. Chị thấy sao?
Lúc đó chị thấy mọi suy tính của em gái quá xa vời, hão huyền… Nhưng bây giờ, chị lại nghĩ, có thể lắm chứ. Hi vọng đang chín dần trong tâm trí Linh Vân như một trái cây đu đưa vừa tầm tay.
Phi không dám tin vào mắt của mình nữa. Một người đàn ông hốc hác chờ sẵn bên vỉa hè đối diện cổng trường Chu Văn An. Phi băng qua đường và đứng lại thở:
- Anh Tám!
Anh Tám thản nhiên nói nhỏ:
- Em báo ngay với ông Vĩnh, nội trong đêm nay, ổng phải rời Sài Gòn. Nhớ giúp ổng hủy mọi dấu vết. Địa điểm và người liên lạc, ổng biết rồi… Em cũng phải dè chừng. Tình hình rất xấu. Không được tìm cách gặp anh. Lúc nào cần anh sẽ gặp em, nhớ nghe lời dì Hai Chạy!
Nói xong, anh Tám đi luôn. Phi muốn chạy theo anh hỏi bao nhiêu chuyện. Anh về bao giờ? Ngoài Quảng sao? Chị Hai sao? Nhưng anh Tám đã lẫn vào dòng người nườm nượp trên vỉa hè.
Ông Vĩnh nín lặng nghe Phi báo tin. Lúc mới gõ cửa, Phi chờ đợi thái độ hoảng hốt và một loạt câu hỏi dồn dập, lo âu của ông. Một nhà văn nổi tiếng đang sống yên lành trong ngôi biệt thự cùng với hai người em gái và con trai của mình, bỗng dưng trở thành một kẻ bị tầm nã?
Ông bình thản bảo Phi:
- Cám ơn em. Nào, ngồi xuống đây, chúng ta nói chuyện vui! – Ông mỉm cười cố che giấu tâm trạng căng thẳng bên trong. – Tôi có một việc muốn nhờ Phi…
Phi liếc mắt nhìn căn phòng đầy ắp sách vở, báo chí, tài liệu và đủ loại giấy tờ. Chắc ông Vĩnh bảo mình giúp ông hủy bỏ những tài liệu có thể làm những người ở lại biệt thự gặp rắc rối!
- Linh Vân rất quý em, nó là đứa con gái mới lớn, lẽ ra tôi phải lo cho Linh Vân một cuộc sống bình yên. Nhưng bây giờ thì… Thôi, nói chuyện đường dài bây giờ không hợp lắm. Dù sao tôi cũng cảm ơn em!
Ông đưa tay, Phi đụng nhẹ vào bàn tay đang run run của ông. Không biết ông có luyến tiếc khi phải từ giã tất cả những thứ gì ông có không? Những người ruột thịt, ngôi biệt thự sang trọng hay một thời thanh bình đã qua?
Bóng ông đổ dài trên hành lang buổi chiều, ánh nắng xuyên qua khoảng trống lỗ chỗ làm mặt ông trở nên vàng ệch. Phi không thể hiểu nổi ông Vĩnh, ổng muốn mình đối xử thế nào với em gái ổng? Chẳng là gì cả, một thứ gì như là thương hại, ban ân hoặc tệ hơn nữa, một hành động bồng bột do nhiễm phải thói lãng mạn trong các cuốn tiểu thuyết?
Phi về rồi, ông ngập ngừng trước cánh cửa phòng riêng Linh Vân. Bên trong có tiếng hai cô cháu đang trò chuyện. Con trai ông xa mẹ từ nhỏ (vợ ông đã bỏ ông ngay khi biết ông có thiện cảm với Việt Minh), quấn quýt với cô Vân. Coi như nó mồ côi mẹ và bây giờ sắp mồ côi luôn cha. Ông phải xa Sài Gòn, có trời biết bao giờ mới trở lại được? Đứng lặng thêm giây lát rồi ông bước tới, gõ cửa phòng Linh Ca. Ca có nghị lực hơn, nó chịu đựng tai họa này một cách bình tĩnh hơn nhỏ Vân, mình phải nói hết với nó.
Cửa mở, ông không bước vào phòng mà chỉ nói nhỏ:
- Linh Ca, nghe anh nói. Đêm nay anh phải rời Sài Gòn. Em ở lại lo cho Vân và cháu Viễn. Nếu kẹt quá, thu xếp cho cô cháu nó qua Pháp với ba…
Nói tới đoạn cuối, tự nhiên ông ngường ngượng. Mình có khỏi yếu đuối quá không? Ông già mình sẽ nghĩ thế nào khi thấy mình để dì cháu Linh Vân nương tựa vào ổng? Nhưng mình không thể nào bắt em gái và con trai mình chịu đựng thử thách nghiệt ngã và quá tàn nhẫn này!
Linh Ca sững sờ nghe anh nói. Trước kia, cô ngờ ngợ anh trai mình dính líu đến một tổ chức nào đó chống lại chính quyền. Nhất là khi anh cô tham gia vào nhóm làm báo nửa hợp pháp “Nhân Loại” cùng giáo sư Lê Quang và một người từ Khánh Hòa vào, cô chưa biết tên.
Ông lật đật trở về phòng mình. Một lúc sau, đèn trong phòng ông vụt tắt. Bóng tối, như thường lệ, lấp lánh qua những kẽ lá ướt sương đêm và tiếng đàn của Linh Vân thánh thót.
Ông ngồi thừ trên ghế bành, hai tay bưng mặt…
Rời nhà ông Vĩnh, Phi bải hoải, xếp sách vở qua bên và miên man suy nghĩ. Những người cộng sản chống chế độ này đã đi một lẽ. Họ không cầm súng thì cũng bị địch giết. Còn ông Vĩnh mắc mớ chi với Diệm? Báo chí và các nhà xuất bản tranh nhau in những công trình khảo cứu lịch sử của ông. Bất kì lúc nào ổng cũng có thể thành dân làng Tây, nếu ông muốn. Vậy thì cái gì khiến ông dại dột chống lại cái chế độ đã o bế, nuông chiều ông?
Dòng suy nghĩ của Phi bị đứt đoạn bởi tiếng xe hơi giội lại từ hai con hẻm, mỗi lúc một gần hơn. Phi chồm người qua thành cửa sổ, ngó sang vườn biệt thự. Đèn đóm sáng trưng, cảnh sát vây kín xung quanh.
Bỗng dì Hai Chạy hổn hển leo lên gác:
- Bình tĩnh nghen, ông Vĩnh thoát rồi!
Phi nhìn dì, mỉm cười và gật đầu. Dì chậm chạp leo xuống. Phi kéo mền trùm ngang ngực, chắc chị em, cô cháu Linh Vân bị một phen hết hồn…
Tiếng đập cửa rầm rầm, cảnh sát ập vào nhà dì Hai. Đèn pin loang loáng. Phi nghe rõ giọng một thằng ra lệnh:
- Thắp đèn lên!
Rồi chúng bước sầm sầm lên cầu thang gỗ ọp ẹp. Phi giả như đang ngủ say. Một tên giật tấm mền Phi đang đắp, quát:
- Dậy, sư khỉ, cứ giả vờ!
Cậu ngồi dậy, ngơ ngác. Thằng vừa chửi hỏi tiếp:
- Mày gánh nước thuê cho nhà ông Vĩnh hả?
- Dạ, phải!
Phi ngập ngừng trả lời.
- Đêm qua mày vẫn gánh chớ?
Hắn hầm hè hỏi tiếp.
- Dạ, có!
- Mày có thấy ông Vĩnh không?
- Dạ, không, nhà chủ bắt tôi gánh nước qua lối ngách vô thẳng bể chứa.
Hắn cau có túm lấy cổ áo Phi. Cậu nhìn thấy cái bản mặt lưỡi cày và cái cằm nhọn đưa ra phía trước, lởm chởm râu của hắn.
- Mày chưa bao giờ bước vào phòng ông Vĩnh?
- Dạ, chưa!
- Sư khỉ!
Tay trái hắn nắm lấy cổ áo Phi, tay phải hắn vung lên, tát thật mạnh vào mặt Phi. Đau lộng óc. Phi ngã ngồi xuống sàn.
- Đọc đi!
Hắn quẳng vào mặt Phi một cuốn sổ đóng bìa cứng. Cậu giương mắt nhìn hắn. Hắn cúi xuống, lật nhanh vài trang chìa ra:
- Cái này là gì hả?
Phi liếc nhìn, đúng là chữ ông Vĩnh. Đó chính là cuốn nhật kí ghi dở, đề ngày hôm qua:
“Tôi kêu cậu bé gánh nước lên phòng và cấm cậu ta không được giao du hoặc có ý nghĩ quá táo bạo với Linh Vân. Dù sao, cậu ta và Linh Vân cũng không thể vượt qua những trở ngại, những ranh giới tự nhiên…”
Phi chợt hiểu, ông Vĩnh cố ý viết như vậy để đánh lạc hướng bọn khám nhà. Bọn chúng không thể nghi ngờ gì cậu. Phi chỉ thuần túy là một đứa gánh nước mướn.
Phi đỏ mặt ấp úng:
- Chuyện ấy thì…
Tên cảnh sát phá lên cười khinh bỉ:
- Sư khỉ, đáng đời hạng chơi trèo. Ông Vĩnh có nhất thời nổi loạn, rồi ông sẽ tỉnh ngộ quay về với chánh nghĩa quốc gia. Cô Linh Vân vẫn cứ là hạng tiểu thư quý phái và mày suốt đời vẫn cứ là hạng con sen thằng ở…
Cái tát ban nãy của hắn không làm Phi đau đớn bằng lúc này. Cậu bỗng nghi ngờ những ý nghĩ ban đầu của mình. Không, ổng không định viết như vậy để mình khỏi bị rầy rà, ổng viết thật cái mà lúc gặp, ổng không nỡ nói thẳng vô mặt mình.
Hai tên cảnh sát đã bỏ đi từ lâu, ngõ hẻm đã yên vắng trở lại. Một mình Phi ngồi trong bóng tối với tâm trạng cay đắng, tức tưởi.
Buổi chiều, chị em Linh Ca và con trai ông Vĩnh được thả về nhà. Nhà cửa tan hoang, đồ đạc bị xáo trộn lung tung, sách vở vung vãi trên sàn, đặc biệt là phòng làm việc của ông Vĩnh.
Linh Vân khóc thút thít trên xô-pha. Phi lúi húi giúp Linh Ca dọn dẹp mọi thứ. Cậu hỏi nhỏ:
- Tụi nó làm dữ không chị Ca?
- Không. – Linh Ca nhếch mép cười khinh miệt. – Tụi nó lạ gì, ông già chị là triệu phú, có tài khoản tại các ngân hàng Châu Âu… Hừ, một dịp cho tụi nó hốt bạc mà!
Vài bữa sau, khi nhịp điệu bình thường giả tạo trở lại trong ngôi biệt thự, hết buổi học, Linh Vân bất thần hỏi Phi:
- Anh hiểu anh Vĩnh thế nào?
Phi thành thật lắc đầu. Vân nhướng mày hỏi tiếp:
- Thiệt anh không hiểu?
Phi cứng cỏi gật đầu. Tưởng Linh Vân sẽ tự ái, nhưng cô chỉ thở dài:
- Tôi sợ anh Vĩnh tôi sẽ vỡ mộng cay đắng!
- Tôi chưa rõ, thầy Vĩnh có giấc mộng gì?
Không kìm chế được, Phi dại dột đặt câu hỏi. Linh Vân gằn từng tiếng:
- Mộng đi chung đường với cộng sản!
Phi nhìn thẳng mặt cô gái. Linh Vân không chịu thua, cô thản nhiên:
- Anh Hai tôi yêu nước, ghét độc tài và tưởng những người cộng sản cũng như mình, vì vậy ảnh mới theo họ. Nhưng ảnh vốn sống tình cảm, mà cộng sản thì… không tim!
Phi nóng mặt, giọng khàn hẳn:
- Sao chị biết họ không tim?
Tiếng chị dằn dỗi của Phi làm Vân đau nhói. Cô hoảng hốt cúi mặt, nước mắt nhoè trên má. Rồi cô đột ngột đứng dậy, giọng kiêu hãnh:
- Tôi biết!
Cô bước nhanh ra khỏi phòng, để mặc Phi ngồi chết gí trên ghế. Linh Ca đặt vội cuốn sách xuống bàn khi thấy em gái bước vào phòng mình. Vân cắn chặt môi, đứng im một lúc rồi nói, giọng ráo hoảnh:
- Chị biểu anh Phi về đi. Em không chịu nổi nữa!
Phi tưởng có thể “trục” nổi hình ảnh của Linh Vân ra khỏi trí óc, bằng cách lao vào chuẩn bị cho kỳ thi tú tài phần một. Vân đã đỗ tú tài toàn phần và chưa quyết định, học trong nước hay qua Pháp với cha cô. Còn vì sao cô dùng dằng chưa tỏ ý dứt khoát ở lại hay ra đi, vẫn là một câu đố hóc hiểm đối với Phi.
Đôi khi để vuốt ve, mơn trớn lòng tự ái của mình, anh nghĩ, Linh Vân chưa quyết định vì còn chờ phản ứng của anh. Nhưng những lúc tỉnh táo hơn, anh lại thấy, anh hoàn toàn chẳng có gờ-ram nào trong sự lựa chọn của cô!
Tuy vậy, mỗi lần gấp sách vở lại, hình ảnh Linh Vân lại lởn vởn, khiến anh rạo rực. Trong đầu óc anh, luôn ngọ nguậy những mặc cảm bị coi thường và tình trạng dễ bị kích động bởi cái cung cách người khác đối xử với anh. Bởi vậy, anh vừa thích thú đón nhận vừa dè dặt, ngờ vực mọi sự âu yếm, thương yêu, chiều chuộng nếu có, của họ, dành cho anh. Anh cũng sẵn sàng hành động khác đi với tình cảm thật và mong muốn bên trong của mình.
Linh Vân chưa đủ kinh nghiệm trải đời để hiểu “típ” người như Phi. Nhưng vốn nhạy cảm, cô chỉ thấy, hình như Phi quá giàu lòng tự ái, hay thủ thế trong giao tiếp với mọi người.
Phi dậy sớm, đánh răng rửa mặt xong xuôi, lẳng lặng cắp sách vở đi thi. Kì thi tú tài một được tổ chức tại trường Pê-truýt Ký.
Anh co ro đứng đợi ở bến xe buýt. Chợt sau lưng anh có tiếng cười khúc khích. Phi bối rối quay lại. Trời, Linh Vân đang úp mặt vào lưng chị gái, nói bâng quơ:
- Bộ mình họ đi thi hả?
Phi luống cuống chưa biết xử lí sao, Linh Ca hồ hởi đụng nhẹ vào tay Phi:
- Chị với Linh Vân chờ cho Phi giáp mặt một người đàn ông trong hẻm, rồi mới dám đi theo Phi. Khỏi lo xui xẻo vì gặp đàn bà. Còn sớm, tụi mình kiếm chỗ ăn sáng đã nghen?
Linh Vân đã kịp vẫy một chiếc ta-xi. Phi bước lên xe, ngồi cạnh Linh Vân như một chiếc máy. Linh Ca ngồi băng trước với tài xế…
Vân cũng thôi đùa bỡn, hai má hơi ửng lên dù cô chỉ thoa một lớp phấn hồng thật mỏng. Con gái Sài Gòn không quen giấu kín tình cảm, biểu lộ sự yêu ghét khá mãnh liệt và bộc trực, nhờ vậy Phi có thể đo được mức độ tình cảm Linh Vân dành cho mình. Điều đó phần nào an ủi anh, lại làm anh nơm nớp chờ đợi cái kết cục không vui. Thà nhắm mắt làm ngơ còn hơn tự huyễn hoặc mình. Phi tự nhủ như vậy khi ngồi ngay đơ người, mắt ngó thẳng phía trước…
Linh Ca kêu ba tô hủ tiếu Nam Vang, nhưng cả ba đều húp tí nước thịt rồi đứng cả dậy. Phi bỗng lo lo, họ tốt với mình quá, rủi mình trượt thì sao?
Pháp văn thi viết, ba đề chọn một. Phi chọn đề cuối cùng:
“Thi sĩ Pháp quốc, An-phrét Đơ Vi-nhi viết:
Những gì buồn nhất của ngày xưa
Sẽ là niềm vui của bây giờ!
Anh hay chị hãy bình luận ý tưởng trên.”
Ra khỏi phòng thi, Phi thuật lại đề cho chị em Linh Ca. Vân ấm ức tiếc:
- Nếu là tôi, tôi sẽ sửa thơ của Vi-nhi. – Cô tránh nhìn Phi, giọng Sài Gòn lúc hờn mát càng ngọt. – Cuộc đời bao giờ cũng trái ngược văn chương. Những gì vui nhất của ngày xưa sẽ là nỗi mất mát của bây giờ!
Hiểu tâm trạng của em gái, Linh Ca vội lảng sang chuyện khác…
Địa lí thi vấn đáp cuối cùng. Chưa vào thi, Phi đã nghe tụi thí sinh kháo nhau, giáo sư hỏi thi nổi tiếng hắc ám. Ngay cả con trai đương kim Bộ trưởng Công dân vụ cũng khớp ổng như thường.
Phi tự nhủ, một liều ba bảy cũng liều. Học nhảy cóc liền mấy lớp, lo đuổi kịp chương trình Pháp văn với toán, lý, hóa…, đủ đứt hơi, mấy ngày cuối cùng mới giở sách địa lý ra coi đại. Trượt là cái chắc.
Giáo sư hỏi thi bằng giọng Huế, mặt lạnh tanh như tiền, hất hàm bâng quơ:
- Sợ hả?
- Dạ, sợ.
Phi buột miệng trả lời. Giáo sư cười ruồi. Ớn xương sống thiệt. Giáo sư chưa dứt nụ cười, đã nhìn chăm chú xuống đôi dép Nhựt đứt quai, phải dùng chỉ khâu lại dưới chân Phi.
- Răng không sắm dép mới vô thi? Bộ coi thường giáo sư coi thi hả?
- Dạ, đâu có. Em không kiếm đủ tiền…
Phi luống cuống trả lời. Ông thôi cười, mặt hơi dịu đi:
- Thôi được, lại bảng vẽ lưu vực hai hệ thống sông chính của Việt Nam.
Phi tự tin, lượm một thỏi phấn và bắt đầu vẽ. Giáo sư trố mắt hỏi:
- Rồi hả?
- Dạ!
Đành vậy, chẳng biết trúng trật ra sao, chỉ thấy giáo sư nhăn mặt:
- Nếu tôi kêu cảnh sát vô đây, chắc chú bị còng quá!
Phi điếng người, mặt ông đanh lại:
- Lau bảng đi, đồ ngốc! Đừng quên anh đang sống ở đâu, ăn gạo chế độ nào? Răng vẽ lưu vực sông Hồng Hà được, mà lưu vực sông Cửu Long lại lấn lên tận cao nguyên Di Linh hả?
Mồ hôi vã trên trán, Phi hấp tấp lau bảng. Đột nhiên giáo sư hỏi nhỏ:
- Hồi ở Quảng Nam, học những thầy mô?
- Dạ, thầy Lưu, thầy Vi!
Phi không kịp tính toán hơn thiệt, có sao trả lời vậy. Giáo sư thở dài:
- Nghe nói thầy Vi… chết thảm lắm, phải vậy không?
- Dạ.
Phi đờ người, chính giáo sư lại lúng túng hơn cả Phi. Ông lấm lét nhìn ra cửa phòng rồi nói nhỏ:
- Tôi chấm anh đỗ, địa chỉ có trong tấm cạc này, hồi mô cần cứ tới…
Rồi ông lại giữ bộ mặt phớt Ăng-lê như chưa hề có cuộc vấn đáp kì khôi vừa rồi. Phi cho tấm cạc vào túi, bước ra khỏi phòng thi, vẫn chưa hết kinh ngạc.
Linh Vân chạy tới hỏi dồn:
- Sao, lão già hắc ám đó hỏi sao? Có bẫy anh không?
Nghe Vân hỏi “lão già hắc ám”, Phi cau mày. Cô lại chạnh lòng, hay anh ta thấy mình quá lo lắng cho anh ta nên làm tàng? Phi ân hận đã làm cô gái chưng hửng, kêu khẽ:
- Linh Vân, tôi đỗ… thiệt mà!
- Anh đỗ là việc của anh, mắc mớ chi kêu tôi?
Phi cười, hạ thấp giọng:
- Mắc mớ lắm chớ. Không khéo Vân lại còn hắc ám hơn cả ổng!
Vân nhoẻn miệng cười. Huề. Phi hỏi lại nhưng ngó qua đầu Vân:
- Đi đâu cũng được sao?
Hỏi xong, Phi mới thấy mình ngây ngô. Nhưng Linh Vân đang mải chú ý đến những dải mây xanh đang lơ lửng trên bầu trời thành phố. Những tia nắng đang chói chang bỗng chuyển sang màu trắng ngà bởi được lọc qua bóng của cơn mưa đang tối:
- Mưa sao?
Vân thì thầm như nói một mình. Những người trốn mưa vui vẻ băng ngang qua mặt đường láng ướt. Một Sài Gòn thất thường và vô tư lự hiện ra. Linh Vân nép sát vào người Phi hơn…
Trái đất tròn, quá tròn là đằng khác. Phi mỉm cười đứng yên để cô gái ra mở cửa ngơ ngác nhìn anh, kẻ vừa bấm chuông:
- Anh hỏi ai?
- Tôi mắc nợ chủ nhân ngôi nhà này… một li cà-phê!
Phi cố giữ vẻ mặt bình thản. Cô gái reo lên:
- Ủa, anh lớn mau thiệt…
Cô gái ngừng lại, đỏ mặt, ai lại khen một thanh niên mau lớn? Nhưng Phi không để ý. Phương Mai đã kịp thành một người phụ nữ đậm đà, hấp dẫn đến nỗi Phi không dám nhìn lâu vào mặt cô ta.
- Nói thiệt nghe, tôi cứ tưởng anh quên mất rồi!
Giọng Huế của cô không mỏng mảnh như thời hai người chia tay ở bến sông Sài Gòn. Nó tròn đầy và da diết hơn nhiều.
- Thì chính chị từng đọc cho anh em tôi nghe: Dấu xưa xe ngựa…
Gặp lại bạn cũ, Phi lâng lâng cảm giác ấm cúng và quen thuộc. Phương Mai nhứ tay:
- Coi chừng, anh đang Sài Gòn hóa… Con trai Quảng không có dẻo quẹo rứa!
Cô kinh ngạc thật sự. Phi đã ra dáng đàn ông sau bốn năm xa cách. Không muốn kéo dài tình trạng hiểu lầm lí do cuộc viếng thăm của mình, Phi chìa tấm danh thiếp giáo sư Tuân cho anh.
Phương Mai trố mắt:
- Anh chính là cậu thí sinh không vẽ nổi lưu vực sông Cửu Long?
Phi ngượng nghịu gật đầu, Phương Mai cười giòn tan:
- Cậu Tuân về có kể chuyện, ai ngờ lại chính là anh? Ủa, tụi mình đứng hoài ngoài cổng nói chuyện kì quá. Vô đi anh, cậu Tuân cũng đang rảnh.
Mai hớn hở đưa Phi vào chỗ cậu mình. Ông ngạc nhiên thích thú nhận ra Phi:
- Quen nhau hả?
- Chuyến tàu xém đắm đó cậu!
Phương Mai nhanh nhảu đỡ lời.
- Rứa hả? Cái nước chi nhỏ xíu, đụng trốn nhau suốt lượt.
Nụ cười hiếm hoi thoáng hiện, bộ mặt lạnh lùng của ông hơi dịu đi. Mai bỏ xuống bếp nấu nước pha trà cho cậu tiếp khách. Ông Tuân hỏi nhiều hơn nói, hỏi đủ thứ chuyện. Sau cùng, ông viết thư giới thiệu Phi với một người bạn, hiệu trưởng một trường trung học ở Cần Thơ.
Vừa cho thư vào phong bì, ông nhỏ nhẹ:
- Mỗi người một chí hướng, một hoàn cảnh. Nhưng xin anh nghe tôi. Chế độ này mất lòng dân nhưng được lòng Mĩ, nên rất mạnh. Chống lại nó vô ích, ráng giữ mình là thượng sách, còn mũ ni che tai…
Chợt ông im lặng. Lưng còng hẳn xuống, mái tóc bạc chải gọn để lộ vầng trán rộng, đầy những nếp nhăn chằng chịt.
Phương Mai bưng khay trà lên, lựa thế đứng rót nước để khỏi quay lưng vào cậu và khách. Ông ủ dột trở lại, nhấm nháp từng ngụm trà nhỏ. Cho đến lúc Phi cám ơn và chào từ biệt, không lần nào ông ngẩng lên ngó mặt anh nữa…
Phương Mai dắt xe đạp ra cửa rồi bảo Phi chở mình tới nhà thờ Đức Bà. Quẹo trái, gặp ngay tiệm cà-phê đầu đường Pa-stơ. Hai người ngồi cạnh cửa sổ hình quả trám.
Thay vì ngắm đỉnh núi Đồng Bò đứng sừng sững trên bờ biển Nha Trang, họ ngước lên tháp nhà thờ Đức Bà, nơi cây thánh giá nhọn hoắt như một mũi dáo, chọc vào bầu trời.
Phương Mai mỉm cười, mơ màng ngó Phi hỏi nhỏ:
- Bốn năm đủ cho anh bén rễ đất Sài Gòn chưa?
- Chưa.
Phi lắc đầu. Mình luôn luôn thấp thỏm, không biết số phận mình sẽ do ai định đoạt, nói chi đến việc bén rễ? Mình chỉ là hạt của một loài cây hoang dại, chắc không lựa một mảnh vườn che kính và có hệ thống điều hòa nhiệt đới.
- Tôi hỏi thiệt, có cơ hội xuất ngoại, anh có đi không?
Phi ngắc ngứ trong cổ, câu hỏi tự nó đã có vẻ khôi hài.
- Có lẽ… không!
- Răng rứa?
Phương Mai hỏi và chăm chú nghe anh trả lời. Phi cười gằn:
- Một người như tôi mà nghĩ tới chuyện xuất ngoại có vẻ mắc bịnh tâm thần quá!
Phương Mai gượng gạo cười, ngay sau đó trầm ngâm trở lại:
- Tôi biết, anh sẽ không ra đi vì anh sống cho một mối thù. Còn tôi, tôi không ra đi vì tôi sống cho một mối nhục.
Tiếng chuông nhà thờ ngân nga. Tự nhiên trên mặt Phương Mai xuất hiện những nét u uẩn khó nắm bắt ý nghĩa đích thực của nó. Giọng cô tiếp tục xa vời khiến anh có cảm giác, Phương Mai đã bỏ anh ngồi một mình để phiêu du tới một miền nào khác, y hệt lúc cô ngắm nhìn biệt thự Nghinh Phong dưới nắng chiều Nha Trang.
- Hình như anh chưa khi mô tới Huế?
Phi xét nét trước khi lắc đầu. Phương Mai vẫn đuổi theo những ý nghĩ xa xôi nào đó.
- Một ngày kia anh sẽ tới Huế, một xứ có gần hai trăm ngôi chùa.
Cô mơ mộng nheo mắt, như thể bằng cách đó, cô sẽ giúp anh thấy Huế trong khoảnh khắc này.
- Và dù muốn dù không, anh cũng cứ phải chung đụng với tiếng chuông chùa hàng ngày, như ngày nào anh cũng phải ăn cơm, uống nước, hít thở không khí vậy. Nội trong một tiếng chuông, mà tiếng chuông nhà thờ với chuông chùa khác nhau như mặt trời và mặt trăng…
Phi mỉm cười lơ đãng. Có người sống để luôn so sánh mọi vật với nhau, từ tính cách hai xứ đến các kiểu tiếng chuông.
- Tiếng chuông nhà thờ từ trên cao giội xuống, giật giọng như cấp báo ngày tận thế khủng khiếp. Âm thanh của nó nằm cạn cợt ngay dưới lớp vỏ quả chuông, dễ dàng thoát ra và ngân nga… Còn tiếng chuông chùa lại lặn sâu trong ruột chuông, phải trăn trở khó nhọc mới bật lên tiếng khắc khoải, chậm rãi trấn an linh hồn yếu đuối của người nghe. Tiếng của nó xào xạc như lau lách, tà tà trong cỏ cây và chờ cho ba động của tiếng chuông trước tắt dần, tiếng sau mới ngân lên tiếp nối. Tiếng chuông an nhiên giữa đời. Đó, anh hãy nhớ lấy tiếng chuông nhà thờ Đức Bà này, để mai mốt đến Huế có dịp đối chiếu, kiểm chứng nhận xét của tôi, với tiếng chuông chùa cố hữu của một miền Trung cằn cỗi nhưng tiêu sái!
Phương Mai thở dài, nói tiếp:
- Một là âm thanh của lí trí cân đối, tỉnh táo. Một là phát khởi của tâm linh, sẽ chẳng hòa quyện vào nhau. Cũng như…
Phương Mai bỏ lửng câu nói ở đấy.
Từ giã Phương Mai, anh lên xe lam trở lại hẻm Cao Thắng. Chen chúc giữa đám hành khách, Phi tần ngần nhớ lại lời cô gái Huế khi chia tay.
- Một ngày kia anh sẽ đến Huế. Huế cách Đà Nẵng hơn trăm cây số, nhưng có lẽ xứ ấy, nơi có những con người thất bại và sầu mộng như chúng tôi, không thích hợp với những con người như anh. Anh có vẻ dễ gần Sài Gòn hơn. Nhưng tôi tin một ngày kia, Huế sẽ lên tiếng…
Cách nhà mươi bước chân, Phi đã thấy trong nhà ồn ào, có khách ư? Lạ thật, chưa bao giờ nhà dì Hai có khung cảnh tấp nập này. Kiếm lao ra chặn đứng Phi:
- A, cậu Tú đây rồi!
Ma vương, đạo tặc rách trời lọt xuống. Hai thằng vật nhau lăn kềnh giữa nhà. Kiếm đấm thùm thụp vào lưng bạn:
- Nghe tin mi đậu tú tài một, cả Diên Hồng nhốn nháo, phục mi như thần đồng, ông già tau la trời, đó, thằng Phi đã thành cậu tú, còn mi vẫn cứ hoay hoay đệ tứ. Rồi ổng biểu tau đi cùng ông già mi, vô đây thăm mi… Nè, con Hoan, em gái tau, gởi lời thăm mi. Nó lớn hung rồi, mấy đứa con trai trong xóm nhìn trộm nó hoài, tau la: Nè, tau rấm em tau cho thằng bạn tau rồi, tụi bay đi chỗ khác chơi được không?
Kiếm nói tía lia không cho ai xen vào. Phi ngồi cạnh cha, ngượng nghịu cười. Cha Phi già sọm, mặt đen như da thuộc, người càng bé con con. Dì Hai Chạy tíu tít chạy lên chạy xuống, lo cơm nước. Giọng dì càng líu ríu:
- Nè, anh Ba có chịu tôi nói vợ Sài Gòn cho thằng Phi không? Xong cái rẹt. Rồi!
Dì hạ thấp giọng như sợ người bên kia nghe lọt chuyện bí mật của dì.
- Bên nớ, có cô gái thương thằng Phi như điên. Vì thằng Phi mà cổ không chịu qua Pháp với chả cổ. Nhưng con dâu như cổ thì đâu có sống nổi ở đất Giáng La!
Phi la lên sượng sùng:
- Trời ơi, con lạy dì. Lỡ người ta nghe, dị lắm!
Dì cười mắt hấp háy. Cha Phi ngẩn người, không hiểu thực hư thế nào. Răng con gái Sài Gòn lại chịu lấy một thằng con trai khốn khó như con trai ông? Hay là thằng Ba bảnh thiệt?
- Phi ơi, dì gởi cho con ít lon nếp. Bữa mô học khuya, con nhớ nhờ bà dì đây nấu cho mà ăn!
Cha Phi chen được một câu mới đỡ tủi. Phi bồi hồi nhìn bàn tay nhăn nheo của cha cẩn thận trút nếp từ ruột tượng sang cái rá tre. Làm cách nào để báo tin cho chị Hai và anh Tám về thăm cha? Dễ gì anh chị về nổi Giáng La, hay cha vô được Sài Gòn lần nữa?
Chợt dì Hai Chạy kêu Phi xuống bếp, nói nhỏ:
- Mi khỏi lo, tau sẽ biểu thằng Tám hẹn chỗ để mi đưa ông già tới đó.
Phi gật đầu, thầm biết ơn dì.
Thường lệ, năm giờ chiều mỗi ngày, khi ánh nắng gay gắt đã tắt, hoàng hôn êm dịu làm ngõ hẻm nguội bớt cái nóng ban ngày hầm hập, Phi sẽ ngồi trên gác, ngó sang, im lặng nhìn Linh Vân qua khuôn cửa sổ lầu hai biệt thự.
Hôm nay mải có khách, Phi quên khuấy giờ quy ước đó. Chỉ mình Kiếm leo lên gác. Thấy cành vú sữa lắt lẻo, Kiếm thò tay ra vít lại gần cửa sổ. Đúng lúc Linh Vân xuất hiện bên phía đối diện. Cô đỏ bừng mặt, vội thụt người lại khi nhận ra một thanh niên lạ mặt đang mân mê trái vú sữa trên tay. Kiếm đã kịp nhìn thấy cô gái, nghĩ thầm: A, bồ thằng Phi chắc?
Thấy Phi ló mặt trên cầu thang, Kiếm cười sặc sụa. Phi đoán ra ngay, gắt khẽ:
- Thằng quỷ, Sài Gòn không như xứ Vĩnh Điện nhà mi đâu.
- Lỗi tại mi chớ, răng mi không chịu thú tội trước. Tau tưởng người dưng, chọc quê cô nàng chút xíu. Nhưng tau biểu cho mi hay, đừng có mới nới cũ. Con gái Sài Gòn đẹp thiệt, nhưng mai mốt, mi sẽ ân hận khi dám khinh gái Vĩnh Điện nhà tau!
Kiếm nửa đùa nửa thật. Phi vẫn chột dạ, gương gạo:
- Mi vẫn rứa!
Đèn vừa tắt, Kiếm đã ngáy ầm ầm, ngủ bù cho một đêm thức trắng chờ tàu tại ga Đà Nẵng. Cha con Phi rì rầm trò chuyện. Toàn chuyện chết chóc. Cô Mười Lúa bị nhốt đến năm 1958 mới được thả về. Cô xin phép bọn hội đồng xã qua Lộc Chánh hốt cốt chú Bổn. Mẹ Cộng chở cô và hai người chị gái chú Bổn qua sông Lộc Chánh, gặp ngay thằng Đinh, thằng đã bắn chết chú Bổn tại cầu Chánh Cửu. Giáp mặt kẻ thù, cô Mười phải cắn răng xin phép nó. Nó giở giọng nhân nghĩa:
- Hồi đó ông Bổn đừng cù cưa tính chạy trốn, tôi đâu nỡ giết ổng. Nay chị nghĩ rứa cũng phải. Sống thù, chết bạn, để tôi cho người giúp chị hốt cốt ổng về Giáng La.
Cô Mười từ chối, chỉ yêu cầu nó chỉ chỗ chôn chú Bổn. Nó dẫn mấy ngươi đi đào. Đào lên, thấy chú Bổn bị chôn sấp mặt, hai ống xương tay còn lòng thòng sợi dây trói. Hốt cốt cho vào tiểu sành vừa rước về tới Sùng Công, thằng Đáng, ác ôn nhất hội đồng Điện Tiến, ngăn lại và bắt cô Mười tra hỏi:
- Ai xúi Mười Lúa hốt cốt Bùi Bổn về kích động dân chúng chống chính phủ?
Lại giải Mười Lúa xuống quận. Hai bà chị chú Bổn chạy vạy mãi, mới chôn được bộ xương mục nát của em trai xuống đất Giáng La máu lửa.
Còn Luyến, trước khi đánh cô, bao giờ tụi nó cũng uống rượu say mới xông vào. Đánh hả rượu, lại uống, lại đánh. Luyến rụng hết tóc, phát điên phát cuồng, xé bung hết quần áo, chạy giữa thị trấn. Ai cho gì cũng đưa vào miệng nhai. Có tên lính cho viên đạn súng côn, biểu nuốt. Luyến nhai trệu trạo định nuốt. Tụi nó nghĩ là Luyến điên thật, thả về… Được mấy bữa, Luyến mất tích. Nghe đâu cô chết đuối ngoài bến Hục, chỉ tìm thấy bộ đồ rách bươm của cô trên bờ sông…
Phi cắn chặt môi, lạnh toát người. Từng chi tiết đè nghẹt ngực anh. Ghê sợ và xấu hổ, anh không dám nghe cha kể tiếp nữa. Thế là Luyến đã chết, chết trong khi hàng đêm anh thao thức chờ nghe một bản đàn thánh thót và một gương mặt trắng hồng, thơm phức mùi nước hoa đắt tiền, thường xuyên ngự trị giấc ngủ của anh.
Luyến ơi, anh thương Luyến quá, anh thương Luyến mãi mãi. Không bao giờ anh bội bạc Luyến để thương yêu một người khác. Lời hứa trong phòng giam, nơi có những người nhai cóc sống tự sát vì tuyệt vọng, vốn chết lặng từ lâu trong kí ức, nay trồi lên như một mũi kim, đâm thấu qua mỗi tế bào của kẻ bội bạc.
Nhưng một tiếng nói khác lại cất lên, Luyến sống như thế cũng cực quá, đày đọa quá, Luyến chết chưa chắc đã là bất hạnh…
Rồi cũng chính anh, anh ghê tởm lời biện minh cho tội lỗi của mình đang mấp máy định bật thành lời trên môi…
Giọng kể của cha anh vẫn nhẩn nha, khiếp hãi.
Con Chinh, cháu kêu cô Mười Lúa bằng dì ruột bị bắt lên quận, không hiểu sao lẹo tẹo bắt bồ với thằng Sách, trưởng đoàn bình định. Hai đứa dẫn nhau về Giáng La làm đám cưới. Con Chinh đến mời anh ruột Mười Lúa ăn đám cưới, ổng không chịu. Nó chỉ thẳng mặt cậu nó mà mắng: “Ông phách lối mà ngu. Mai mốt có chuyện chi, ông đừng có trách tôi là ác, không biểu trước!” Ổng sợ hết hồn, bên nhà con Chinh đang làm lễ tơ hồng, ổng vào chuồng trâu, thắt cổ tự vẫn.
Còn Ba Đoát cũng biệt tăm từ đó tới giờ…
Quận trưởng Thái làm lễ ăn mừng đã tiêu diệt gần xong mười một ngàn đảng viên của Điện Bàn. Hiện giờ Thái bắt dân vùng cát đốn tre, vác lên rào ấp chiến lược “hai sông ba núi” ở Sùng Công rồi Giáng La. Quanh làng, chúng bắt đào hai con mương sâu ngập đầu người, rải chông. Lại ba lớp tường đất sừng sững trồng tre gai kín bưng. Sáng, lính chặn cổng thu căn cước của từng người trước khi ra đồng. Chiều về, kiểm tra lại mới cho vào làng.
Nửa đêm, quận trưởng Thái phóng xe gíp tới trụ sở Hội đồng, đánh trống báo động. Ai không chạy tới kịp truy bắt Cộng phỉ, Thái ra lệnh bắn liền.
Cộng sản, giết. Tình nghi thân cộng, giết. Tố cáo vu vơ, giết. Giết lầm hơn bỏ sót…
Kể xong cha thở dài:
- Nghe con đậu tú tài, cha mừng sảng, tính vô gấp biểu con chớ dại dột về Giáng La, chết như không. Ngặt nỗi không biết kiếm đâu ra tiền ăn đường, tàu xe và cũng chưa biết đàng đi, lối lại răng. Hên cách chi, thằng Kiếm về hỏi thăm chuyện mi. Tau nói thiệt với nó. Nó về kể với cha nó. Ông Hào cho tiền, biểu thằng Kiếm đưa tau vô đây. Ngó nước da, ổng cũng thương mi…
Phi biết, cha sợ nhất việc anh muốn quay về quê. Cả đời ông cay cực, thất học, giờ có thằng con học tới tú tài, chi không mừng, không lo. Phi thở dài nhìn lên trần nhà tối om…
❀ ❀ ❀
[1] Vũng Tàu.
[2] Một tên gọi khác của Sài Gòn.
[3] Tám Quảng Nam, lối đọc chệch âm của xứ Quảng.