Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ẩn Sĩ Cách Mạng
Ẩn Sĩ Cách Mạng

❊ ❊ ❊

Đạo đức học của ngày mai là mĩ học!

M. GOR-KI

Chợ Phong Thử thay đổi trên mức tưởng tượng của Phi, một loạt dãy nhà ngói thay thế cho những túp lều xiêu vẹo đổ nát. Chế độ mới cố tạo ra bộ mặt một xã hội phồn vinh. Vừa ra sức xây dựng đảng Cần lao – Nhân vị miền Trung khét tiếng sắt máu, Cẩn vừa đứng ra làm rạp chiếu bóng Hưng Đạo tại Huế. Còn giữa lúc cố vấn Nhu, chiến lược gia trụ cột trong chương trình bình định – tố cộng, thì Lệ Xuân lại buộc quốc hội thông qua một dự luật về hôn nhân một vợ một chồng.

Trần Quốc Thái, đương kim quận trưởng Điện Bàn, cũng theo cách tương tự. Đích thân hắn đốc thúc xây dựng những ấp chiến lược khủng khiếp quanh chân núi Bồ Bồ, lại đồng thời cho xây Trường trung học đệ nhất cấp Kỳ Châu – Phong Thử và Trung học đệ nhị cấp Nguyễn Duy Hiệu tại Vĩnh Điện.

Tiệm may của cậu Tám Hơn cũng khác trước một trời một vực. Cậu đã xây nhà gạch, đặt thêm nhiều bàn may và thuê thêm thợ. Cô Hai Chi, con gái lớn của cậu, ra Đà Nẵng học cắt may tân thời, về chỉ huy đám thợ và cho trương tấm biển kẻ chữ lớn:

“Tay-lo Hơn, chuyên may Âu-Việt phục”

Phi không khỏi ngỡ ngàng bước vào tiệm may của ông cậu. Cậu Tám mừng quá kêu lên:

- Bớ con Hai, anh Ba mi về nè. Kêu hai li cà-phê và gói Cô-táp nghe! Răng, cậu sinh viên Huế có tính về nói vợ không?

Phi cười cười. Cô em họ của anh càng thay đổi mau lẹ, trang điểm như dân thành phố, môi son má hồng, kẻ lông mày bằng chì đậm, bộ đồ xoa Pháp màu mỡ gà, vừa khít lấy thân hình thon thả của cô.

Trời ơi, sống thế này làm sao đủ gan nhập cuộc với Giáng La?

Hai Chi vui vẻ nhận lời anh, về Giáng La nhắn tin cho Luyến. Phi miễn cưỡng tiếp chuyện cậu Tám. Cậu kể say sưa cho Phi nghe, kế hoạch khuếch trương làm ăn của cậu. Cậu chưa đủ vốn cho nên phải chịu chết gí trong vùng nguy hiểm này. Quốc gia với cộng sản đụng nhau như cơm bữa, trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.

Phi giật mình, từ bao giờ cậu Tám chuyển giọng, nói tới quốc gia và cộng sản một cách thản nhiên thế này? Phi nhăn nhó hỏi lại:

- Con hỏi thiệt cậu Tám, cậu Tám quên hết mọi kỷ niệm kháng chiến rồi sao?

- Đâu có! – Cậu thở dài. – Nhưng nhớ ích chi? Suốt đời cậu long đong, vô lẽ bắt mấy đứa nhỏ chịu cực miết ráng? Có điều kiện thì cho sắp nó sung sướng, ở đây ngày mô cậu lo ngày nớ. Con Hai là trụ cột gia đình, một tay hắn gầy dựng cơ đồ. Rủi mai mốt nó đi theo một người quốc gia thì nhục nhã với cả họ hàng mà dính vô một anh cộng sản càng kẹt hơn nữa, máu chảy đầu rơi, tan cửa nát nhà như không. Cậu nói thiệt, con ráng học cho thiệt giỏi rồi kiếm việc ở ngoải. Chớ lẩn quẩn ở Giáng La thì không yên với cả hai phía mô!

Dễ hiểu thôi, một tiệm may xây bằng gạch, tám bàn máy và lời lãi đã làm cho cậu Tám hèn đi. Cả đời cậu dễ dầu chi tạo dựng nổi một cơ đồ như vậy. Mà Diệm cũng chỉ mong có thế nơi lớp người thoái lui như cậu!

- Phi nên giúp cậu khuyên nhủ Hai Chi. Thương cha mẹ, gia đình thì ráng giữ mình, đừng để ai xui khôn xui dại hành động này nọ. Chừ chỉ lo làm ăn, sinh sống, cậu sẵn lòng góp tiền của cho mấy ông nằm vùng, nhưng đừng bắt cậu phải nhào vô với mấy ổng, kẹt dữ!

Đến lượt Phi thở dài, dễ gì thuyết phục con người đã hơn một lần bầm giập ra sống vào chết? Bây giờ biểu họ đi lại con đường ấy, khó hung!

Luyến tất tưởi tới chợ, như tình cờ gặp nhau trong tiệm may. Khách ra vào tấp nập. Cậu Tám bận đo quần áo cho khách. Hai Chi ra chợ mua sẵn đồ ăn trưa.

Còn lại Phi với Luyến, vẻ mừng rỡ, cảm động hiện ra trên mỗi biểu hiện và cử chỉ của Luyến. Hai người đang nói chợt bối rối im lặng, Phi thèm được nắm tay người bạn gái từ thời đen tối kêu lên:

“Đã có lúc anh oán em, vì em, anh không thực hiện được giấc mơ của loài chim di trú, bay trốn khỏi mùa đông tàn khốc trên quê hương. Tha lỗi cho anh nghe, Luyến?”

Luyến hạ thấp giọng, thông báo:

- Chú Quốc, phó bí thư Điện Bàn, trực tiếp tổ chức đường dây đưa anh vô căn cứ. Sẽ có người cùng anh đi hợp pháp đến bến đò Chu Bái…

- Ai vậy, Luyến? – Phi rạo rực hỏi. – Luyến sẽ đi với anh phải không?

Luyến chỉ cười:

- Tạm thời anh chỉ cần biết vậy, mẹ Cộng sẽ chở đò cho anh sang bên tê!

Mình nghe riết chuyện mẹ Cộng từ hồi chú Quyên kia. Không biết mẹ vào tù ra tội bao nhiêu lần, cũng không biết bao nhiêu cán bộ đã được mẹ đưa đò qua sông theo đường dây Sùng Công – Xuân Diệm – Lộc Chánh? Mẹ trực tiếp hay gián tiếp, phá bao nhiêu ấp tân sinh, khu trù mật và giờ đến ấp chiến lược! Có mẹ, cán bộ du kích yên lòng qua lại.

- Bên kia sông có một ngôi miếu lớn, anh ngó về bên phải ngôi miếu khoảng năm chục thước, sẽ thấy một ngôi nhà. Chủ nhà tên Trung, anh khai tên Ngọc qua Hồ Vực nói vợ, chị Trung khắc hiểu. Từ đó chỉ sẽ bày tiếp cho anh.

- Lỡ tôi qua Hồ Vực nói vợ thiệt, được không?

Phi cố giữ bộ mặt thản nhiên, hỏi lại. Luyến cười xinh quá, hai gò má đỏ rựng:

- Nếu anh là con người như rứa, anh nói vợ từ hồi còn ở hẻm Cao Thắng rồi.

Phi cúi mặt, tưởng Luyến trách móc mình. Luyến lại ân hận, răng mình lại khơi chuyện đó với ảnh? Chuyện mình với ảnh có chi mô, răng mi tính oán trách ảnh? Anh Phi là sinh viên, lại sống ở thành phố, bao nhiêu cô gái hợp ảnh, còn mình quê mùa ri!

- Răng, anh nói chuyện với cô em họ của anh chưa?

- Chưa.

Phi thầm cảm ơn Luyến.

- Nhưng dòm thấy Hai Chi khác quá, phấn son loè loẹt, không biết bà con Giáng La dị nghị thế nào mỗi lần con Hai về làng?

Luyến lắc đầu:

- Dễ chi ngó bề ngoài đã hiểu được lòng người… Thôi, tôi về. Anh cứ nghỉ ngơi trong nhà cậu Tám đây. Hồi mô có người đón thì anh theo họ. Anh đã nhớ những gì tôi vừa nói chưa?

- Nhớ, nhưng biết ai đến đón tôi, phải có ám hiệu gì nhận ra người đó?

Luyến nghiêm trang trả lời:

- Đâu có đó, anh yên tâm, họ sẽ có cách làm anh nhận ra! A, anh nên chọn một bí danh!

Phi suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Phương Mai!

Người ta sẽ tưởng mình là con gái, còn mình nhớ tên một người bạn.

- Cũng được.

Luyến gật đầu, cô muốn nán thêm ít phút nữa, biết bao nhiêu điều trên đường từ Giáng La tới chợ Phong Thử, cô định nói với Phi. Giờ đây, cô bỗng nhận ra giữa họ có một khoảng cách khá lớn. Không còn như hồi hai đứa chung một cái xiềng, trong nhà giam của bọn bình định nữa. Cô thở dài, thôi, để người ta bay nhảy!

- Luyến, tôi quên chưa hỏi!

Cô giật mình, sung sướng quay lại. Phi bồi hồi, chính anh cũng muốn nói bao điều nhưng trước hết, anh thèm được hỏi: Luyến có thể tha thứ cho anh một lần không?

- Hồi này anh Ba Đoát sao, hả Luyến? Nghe nói ảnh cưới vợ rồi?

Luyến thất vọng, cô chờ một câu hỏi khác kia.

- Anh Ba xuống vùng cát hoạt động rồi lấy luôn cô con gái nhà cơ sở nuôi ảnh. Hình như chị ấy đẹp lắm!

Luyến muốn nói thêm, còn chúng mình răng anh? Hồi mô thống nhất, hai đứa mình có thực hiện lời cha trăng trối không? Biết mô lúc nớ anh sẽ ớn em hoặc một trong hai đứa không còn nữa?

Đồ ăn ngon và nhiều, mải nghĩ Phi không biết Hai Chi đang ngó anh tủm tỉm cười. Để mấy đứa em thu dọn chén dĩa, Hai Chi vào buồng riêng. Cậu Tám đã học thói quen ngủ trưa của mấy anh chủ tiệm. Thêm ly rượu thuốc ngà ngà, cậu ngáy ngon lành trên bộ ván đặt giữa nhà. Phi không có việc chi làm, lục lọi trong đống sách vở của mấy đứa em ra coi. Toàn chuyện tình cảm, yêu đương, kiếm hiệp rẻ tiền, chẳng có quyển nào đáng coi.

Hai Chi từ buồng trong bước ra. Phi ngạc nhiên, không biết con nhỏ tính đi đâu mà diêm dúa thế kia? Cũng áo dài cắt kiểu rắc-lăng thướt tha, quần lụa phủ chấm đất, tóc dài thả sau ót, hình như nó xức dầu thơm, tóc láng mướt. Môi tô son đỏ tươi, cổ đeo vòng kiềng vàng. Tay nó xách chai gì thế, lại bọc giấy bóng kính đỏ?

Phi ngạc nhiên:

- Mi đi đâu đó, Hai?

- Đi nói vợ cho anh, chớ đi đâu?

Hai Chi cười ngặt nghẽo. Phi chợt hiểu, ngồi thừ ra băn khoăn. Ra khỏi nhà, Hai Chi dặn:

- Anh chớ cho ông già em hay chuyện em hoạt động nghe, ổng khuyên em hoài, em giả bộ vâng lời ổng. Nhưng sống như ổng dị òm, mình là dân Giáng La, hồi mô Bình Phước cạn nước, dân Giáng La mới thôi theo cộng sản. Rồi ổng tính gả em cho con trai lớn của giám đốc Đại lý vận tải biển miền Trung. Nghe nói hiện chừ, ông nớ giàu nhất Đà Nẵng. Trời đất, bạn anh chớ ai, cái anh chàng từ Hội An lên đây ăn cơm, bữa anh từ Sài Gòn về thăm nhà lần đầu đó.

Phi ngơ ngác, đầu dây mối nhợ chằng chịt quá. Hóa ra thằng Sanh đã để ý tới cô em gái họ của anh từ lúc ấy.

- Anh chàng phóng xe Prô-muya về thăm ông già em hoài. Ngó điệu bộ dị hợm, em không ưng. Nhưng ông già em biểu: Hắn còn trẻ, mai mốt hắn làm chủ cả một gia tài lớn, mi chỉ việc ngồi ăn không, sướng một đời.

Dân làm ruộng hai bên tò mò nhìn anh em Phi diễu qua đường cái. Qua các vọng gác, bọn lính áo đen chòng chọc nhìn cô gái ăn vận lộng lẫy quên cả hỏi giấy tờ. Phi thấy ngay dụng ý của Luyến khi bố trí cho anh đi chung với cô em họ của mình.

- Mặc xác tụi nó, em quen hết trơn đám sĩ quan xếp sòng của tụi nó, tụi nó không dám hỗn với anh em mình đâu. Anh biết không, anh chàng đó dụ khị em ra Đà Nẵng, lập một băng cách mạng riêng. Hắn biểu, muốn làm cách mạng thì phải có thế và có lực, nhà hắn giàu dư tiền, hắn lại có thế, chừ em chịu ưng hắn, hắn cam đoan sẽ làm náo loạn cả Đà Nẵng. Anh coi, tức cười không chớ?

- Em nói với Sanh thế nào?

- Em biểu, em là con gái nhà quê, lại là con lớn trong nhà, chỉ biết lo làm ăn, không biết chính trị, cách mạng là cái chi hết. Anh có ưng làm như anh nói thì kiếm người khác. Nghe xong hắn buồn xo. Hơi mô lí đến hạng công tử vô công rồi nghề đó, anh. Hăng máu vịt, giáp mặt Trần Quốc Thái chưa chi đã són ra quần…

Phi bật cười. Con gái Giáng La bậm trợn thật. Nhưng Hai Chi làm sao hiểu nổi Sanh, nó không phải hạng thỏ đế như cô nghĩ đâu? Chỉ có điều, trong vụ giết thằng Phán, Sanh che giấu một ý định quá mờ ám. Nghĩ đến Sanh, Phi thấy ngài ngại.

Đến gần nhà mẹ Cộng, Hai Chi quay lại. Nhiệm vụ của cô đã hoàn thành, phần còn lại mẹ Cộng lo.

Mẹ ở một mình trong ngôi nhà lụp xụp như lều vịt ngay bên bờ sông. Một bà già cao, gầy, nhai trầu bỏm bẻm, thỉnh thoảng lại nhổ quết trầu một cái toẹt… Không ai bảo ai, nhưng hầu hết cán bộ du kích qua lại vùng này đều gọi mẹ là mẹ. Nói cho đúng, mẹ còn hơn cả một người mẹ. Tên mẹ không có trong danh sách của bất kỳ chi bộ nào, nhưng mặc nhiên, mọi người coi mẹ là một đảng viên.

Trưa đứng bóng, Phi xách chai rượu qua đò sang Chu Bái. Vùng này Phi không lạ. Hồi còn mang đồ nghề theo cha đi làm thợ xẻ trên Hồ Vực, anh đã lội nát đất bên kia sông Chu Bái. Dễ dàng tìm thấy ngôi nhà chị Trung. Chị đón Phi bằng nụ cười rất dễ mến:

- Vô đây Phương Mai, mười giờ đêm sẽ có người xuống đón em!

Một chặp, Phi đang ngồi uống nước ở nhà trong, chị Trung hớt hải chạy vào:

- Bọn bảo an lên!

- Em đi nói vợ mắc mớ chi sợ bảo an!

Phi điềm nhiên trả lời, chị Trung dậm chân:

- Trời đất, cách đó qua mặt ai thì được, chớ với thằng Ba Cùi này thì không xong mô. Em tránh mặt hắn là tốt nhất!

Chị mở khám thờ bằng gỗ, bảo Phi chui vào. Kín bưng, không biết ông thợ mộc nào ghép mộng khéo thế, không có lấy một kẽ hở. Vào được một lúc, Phi bắt đầu thấy ngộp thở. Bọn bảo an kéo vào đầy nhà chị Trung. Phi ngồi trong khám thờ, nghe rõ giọng một thằng mà anh đoán là Ba Cùi, nham nhở hết biết:

- Cô Trung sống một mình bên bến đò đợi ai rứa? Đợi cộng sản hay đợi người tình. Đợi cộng sản thì anh đây cắt đầu phơi nắng chơi, đợi người tình thì thiệt phụ lòng anh quá, em ơi…

Trời đất, cứ đấu láo kiểu này, bao giờ tụi nó mới cuốn xéo, Phi ngớp ngớp miệng, đầu óc quay cuồng. Bên ngoài chị Trung lo tím mặt, hấp tấp ra ổ gà đẻ, hốt cả nắm trứng, chia cho tụi bảo an và kiếm cách lôi Ba Cùi ra khỏi nhà. Giằng co miết, lúc tống khứ được cả lũ đi khỏi, chị chạy vội vào nhà, mở khám thờ cho Phi. Anh lảo đảo ngã bệt xuống đất, mặt mũi tím ngắt. Hai chị em ngó nhau sảng hồn.

Đêm xuống, ngồi trong nhà hóng tiếng chó sủa. Chị Trung bảo:

- Em cứ ngủ, lấy sức đêm nay đi. Chị gác cho!

Ngủ thế nào được, phấp phỏng chờ giáp mặt người đại diện Mặt trận Giải phóng Khu 5, rồi còn lo đường trở về Giáng La. Hút thuốc liên tiếp, bỏng cả môi. Chợt mừng rỡ, nghiêng tai nghe, hình như từ rất xa, có tiếng chó sủa. Rồi tiếng chó sủa to dần, ba người đàn ông mang súng bước vào nhà:

- Phương Mai mô?

Chị Trung chưa kịp lên tiếng, Phi đã la nhỏ:

- Anh Ba, em đây!

Hai anh em ôm chầm lấy nhau, Ba Đoát nói:

- Tau nghe ông Hồ Xuân biểu xuống đón một vị khách thành phố tên là Phương Mai, cứ ngỡ một tiểu thư. Lên đường nghe, tau đi trước, nhỏ Phương Mai đi giữa, còn hai thằng Tâm và Chức đi sau cùng. Có chi, tau với hai thằng lo đánh chí tử, bảo vệ “cổ” bằng mọi giá nghe. Cô Phương Mai mất một sợi lông chân, ông Hồ Xuân trị tụi mình sặc gạch!

Ba Đoát nhanh nhẹn đi trước, Phi nhìn theo cái bóng mờ mờ khi ẩn khi hiện thấp thoáng phía trước, bươn theo. Chợt Ba Đoát dừng lại, chỉ vào một khối đá to, lù lù ngay bên lối mòn lên núi, cười bảo:

- Hòn đá Điện Bàn đây rồi. Ráng lên, sắp tới đó!

Nói sắp tới, vậy mà khi gà rừng gáy, hừng đông hằn nơi chân trời, mới tới dốc Ô-ray. Ba Đoát mỉm cười:

- Mi ngồi đây đợi, hồi mô có ông già mặc áo xanh ra đón thì cứ theo ổng. Nhiệm vụ của tau đến đây là xong. Bao chừ mi xuống núi, lại có kế hoạch khác. Tau đi đã, nghe.

Nói xong, hai đội viên và Ba Đoát thoăn thoắt bước đi, chẳng mấy chốc bóng họ khuất sau cánh rừng nhỏ. Phi mệt mỏi tựa lưng vào hòn đá thiu thiu ngủ.

Bỗng có người lay nhẹ vai anh:

- Mệt hung, phải không?

Phi mở choàng mắt, y chang chuyện cổ tích, cậu bé nghèo khổ lên rừng đốn củi gặp ông Bụt hiện lên. Phi bồi hồi. Trước mặt anh, ông già mặc áo xanh người thấp lùn, gương mặt điềm đạm, cặp mắt nhu hòa đang mỉm cười nhìn anh. Anh đâm luống cuống. Ông già áo xanh nói tiếp:

- Ráng chút nữa, đi em!

Chắc ông già áo xanh này là cần vụ cho ông Hồ Xuân? Vừa đoán, Phi vừa lật đật đi theo. Ông già nhanh nhẹn, bóng áo xanh của ông thấp thoáng bên anh. Độ chừng năm phút, tới bên một con suối đá, làn nước trong vắt tràn qua những phiến đá trắng. Rừng núi xung quanh yên ả, dường như anh lạc vào khu rừng của những ẩn sĩ.

Ông già áo xanh ngồi xuống một phiến đá, giản dị bảo anh:

- Nào, ngồi xuống đi, Phương Mai. Báo cáo tình hình thiệt tỉ mỉ, sẽ có người cho chúng ta uống trà thiệt nóng!

Thấy Phi ngơ ngác, ông chợt hiểu:

- Tôi là Hồ Xuân, em cứ gọi tắt là Ba cho tiện!

Tự nhiên, giọng nói cử chỉ của ông khiến Phi bình tĩnh rất nhanh. Anh lần lượt báo cáo, từ chuyện móc nối với thầy Lưu đến sự kiện ông Dự từ chức. Hồ Xuân chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng ông lại ghi chép gì đó trong cuốn sổ tay kê trên đầu gối. Ông không ngắt lời Phi bằng những câu hỏi vô ích. Phi cứ việc báo cáo. Chỗ nào cần hỏi, ông đánh dấu, chờ Phi dừng lại uống trà, mới nhẹ nhàng bảo Phi nói thêm…

Đêm, Hồ Xuân và Phi ngủ trên sạp nứa trải lá. Ông kể quãng đời học sinh của ông tại Huế. Kết thúc câu chuyện, Hồ Xuân nói thêm:

- Hồi nớ mình hoạt động chút ít chi đó, nhưng rất muốn mọi người biết thành tích trội bật của mình. Sau này lớn lên mới hiểu, đó là bệnh thích phô trương, hình thức của anh tiểu tư sản học sinh!

Phi mỉm cười trong bóng tối, ông già khôn thiệt, dạy người khác, nhưng lại làm ra vẻ kể chuyện đời tư của mình.

Ba ngày liên tục, ông hướng dẫn Phi học nhập môn “duy vật biện chứng” trong triết học của Hê-ghen, coi đó là môn “đại số học của cách mạng”. Rồi đến những bài khó hơn, phức tạp hơn về đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc ở Nam Việt Nam và việc vận dụng phép biện chứng trong phân tích tình hình địch, ta và quy luật phát triển của đấu tranh cách mạng.

Nói tới đâu, ông lại giúp Phi đối chiếu với chính những mẩu chuyện thực tế mà Phi đã báo cáo với ông. Nhờ vậy, Phi hiểu thực chất vấn đề rất sáng sủa và sâu.

Đặc biệt, ông chú ý đến số phận những con người như giáo sư Huyễn, vợ chồng ông Dự, những thành viên cơ hữu trong nhóm “Nhà thờ họ”. Phi còn đưa ông coi tất cả những bài thơ của thi sĩ Phan Trịnh mà Ngọc Trà đã tập hợp giúp anh. Tưởng ông cũng cảm nhận như mình khi đọc những thi phẩm phù phiếm đó, anh nhận xét đầy tự tin:

- Theo tôi, muốn xây dựng phong trào tại Huế, chỉ có thể dựa vào thanh niên, sinh viên gốc Quảng Nam có mặt ngoài đó.

- Tại sao?

Ông cau mày hỏi, Phi hăng hái trả lời:

- Tại vì thanh niên Huế không có khả năng làm cách mạng, hệ thống thần kinh của họ bị tê liệt vì chim – hoa – cá – cảnh. Theo dõi nhóm “Nhà thờ họ”, chúng ta phải nhận ra nơi họ những triệu chứng của bệnh suy đồi, bạc nhược và thiếu máu vì ẩn nấp quá lâu vào thiên nhiên u sầu và tĩnh mịch. Họ mất ý chí chiến đấu và những ảo tưởng ru ngủ họ.

Ông lo âu theo dõi thái độ nhiệt thành của anh trong lúc say sưa phủ định Huế. Chờ Phi nói xong, ông nhẹ nhàng lấy trong xà-cột, một tờ báo Sài Gòn, tờ Thần Chung, đưa cho Phi:

- Phi coi số báo này chưa?

- Dạ, coi rồi.

Phi nhận ra người trong bức hình là giáo sư Lê Quang, ông Vĩnh đã từng giới thiệu cho anh làm quen hồi còn ở Sài Gòn.

- Phi có biết Lê Quang là người Huế không?

- Dạ biết. – Phi bối rối trả lời. – Chính tôi đã gặp ảnh hồi ở Sài Gòn!

- Vậy, kết luận của Phi về khả năng cách mạng của thanh niên và trí thức Huế, có còn đứng vững nữa không? Ngay giữa Sài Gòn, một giáo sư Huế cùng các đồng chí của mình, đôi lựu đạn vô xe của Pôn Hác-kin, trưởng Phái bộ Quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. Việc không thành, người chiến sĩ yêu nước ấy đã lãnh án tử hình một cách dũng cảm và tỏ rõ phẩm chất cách mạng của mình. Rõ ràng, vấn đề đặt ra là: không phải chỉ có người xứ này mới có khả năng làm cách mạng, còn người xứ khác thì không. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, một nhúm cộng sản đơn độc không bao giờ có thể hoạt động hiệu quả và trở nên một lực lượng mạnh mẽ khi họ tự tách mình ra khỏi quần chúng và dân tộc. Phi đừng quên điều đó! Sở dĩ sự nghiệp cách mạng của chúng ta vô địch, không một kẻ thù nào đánh bật được chúng ta ra khỏi đất nước này, chỉ vì chúng ta là Ăng-tê, con của nữ thần Đất. Chừng nào chúng ta còn bám rễ vào mảnh đất và nhân dân này, chừng đó chúng ta còn được nuôi dưỡng và nhân dân sẽ truyền cho ta sức mạnh… Ngay hiện tượng “Nhà thờ họ”, nếu nhìn theo con mắt thiển cận hẹp hòi, chúng ta sẽ bỏ phí một lực lượng cách mạng còn ẩn tàng trong tâm hồn của những thanh niên trí thức yêu nước, khắc khoải và thấm đượm nỗi đau của dân tộc, nhưng chưa thấy hướng đi… Đọc những bài thơ của Phan Trịnh, ta nhận thấy nơi con người trai trẻ này, lòng căm hờn mọi nỗi bất công và sự quằn quại trong quá trình đi tìm đường của một bộ phận thuộc thế hệ trẻ hôm nay. Họ đang đứng giữa ngã năm ngã bảy của cuộc đời đầy biến động và họ băn khoăn lựa chọn, chứ không chịu buông xuôi. Phải giúp họ tìm một hướng đi đúng đắn chớ không nên vội vã chụp cho họ cái mũ suy đồi. Viễn mơ cũng có năm bảy loại. Loại thoát ly dân tộc, thời cuộc, loại làm dáng thời thượng, loại khát khao lý tưởng và hành động có ích, xứng đáng với nhân cách một người trí thức yêu nước, tự trọng. Phi hãy đến với họ từ nhận thức hiện trạng đất nước bị chia cắt bởi Mỹ và tay sai. Từ đó khơi dậy ngọn lửa nhiệt tình trong họ, ngọn lửa bấy lâu cháy hoài phí cho những bi thương cá nhân, những thân phận bế tắc…

Không dễ gì ngay lập tức thành kiến của Phi tiêu tan. Hồ Xuân cười, ông hiểu điều đó:

- Thôi, tạm trang bị cho em chừng đó, về hoạt động thực tiễn tự em sẽ kiểm nghiệm và rút ra những kết luận thỏa đáng, khách quan và gần gũi với sự thật hơn!

Suốt thời gian Phi thọ giáo thầy Hồ Xuân, Ba Đoát vắng mặt. Chỉ có Thức lo cơm nước cho hai thầy trò. Lúc rảnh rỗi, Thức mắc võng bên cạnh Phi, hai đứa kể chuyện cho nhau nghe. Nhờ vậy, Phi biết chuyện võ sĩ Sáu Kỳ, cha Thức, giúp Ba Đoát trong vụ diệt bọn Quốc dân đảng Thanh Phong.

Ngày cuối cùng ở bên ông già áo xanh, giờ đây đã trở thành người trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của Phi, anh cảm thấy buồn. Biết bao giờ mới được trở lại khu rừng của vị ẩn sĩ cách mạng này? Anh thổ lộ tâm trạng ấy với ông, ông trả lời thật đôn hậu:

- Không, đừng mơ ước như vậy, chúng ta sẽ gặp nhau giữa đô thị chan hòa ánh nắng ngày toàn thắng. Em cần gì cứ nói?

Phi chỉ xin quyển “Làm gì?” của Lê-nin bằng tiếng Pháp. Hồ Xuân nói:

- Được, sẽ có người chuyển món quà đó về Huế cho em sau!

Ông tiễn Phi tới tận chân dốc Ô-ray, bắt tay Phi thật chặt và chỉ nói:

- Hãy sống như Lê Quang!

- Dạ!

Phi nhủ thầm. Vâng thưa thầy, em sẽ sống theo gương Lê Quang, người con quang vinh của đất nước chúng ta.

Đến giờ Ba Đoát mới xuất hiện, nghe chỉ thị của Hồ Xuân:

- Anh Ba ráng lo cho chú em đây đến nơi an toàn nghe!

- Báo cáo thủ trưởng, rõ!

Lại tốp dẫn đường bữa trước. Đi đường, Ba Đoát có vẻ buồn, không thích nói chuyện. Phi cũng không dám hỏi. Chính Ba Đoát cho Phi coi tấm hình vợ mình:

- Nó đó!

Phi ngơ ngác. Ba Đoát giải thích:

- Vợ tau chứ ai. Mấy ông bắt tau ra Bắc chữa bệnh, tau không chịu, cãi lại: Tôi chỉ có mỗi bệnh: ức cầm súng, cho ở lại Điện Bàn giết giặc, khỏi ráo mọi thứ bệnh. Nhưng ông Ba kiên quyết bắt đi.

Lần đầu tiên, Phi bỗng thấy Ba Đoát tìm cách giấu giếm những ý nghĩ thầm kín của mình. Tại sao anh Ba không dám nói là ảnh không muốn xa người vợ mới cưới của mình?

Ba Đoát mắt đỏ hoe, hiện tượng lạ lùng, anh Ba chưa bao giờ bộc lộ tình cảm kiểu này, nắm tay Phi dặn dò và vẫn gọi vợ mình bằng “nó”.

- Anh đi gấp quá, không kịp báo tin cho nó. Bữa mô có dịp gặp, em tìm cách xuống thôn Trung, Điện Hòa gặp nó, kể cho nó hay…

Tới bờ sông Đông Phú, một nhánh sông chảy qua Tuý Loan, Ba Đoát bảo hai đội viên quay lại. Chập tối, hai anh em lội qua sông, tấp vào chân núi Bồ Bồ, từ đó băng tới Bình Phước về nhà Phi. Trời chưa sáng.

Chia tay. Bóng Ba Đoát nhòa vào đám sương đêm còn giăng đầy Cồn Mả…

Phi vừa chợp mắt trên ổ rơm, những lời dặn của ông già áo xanh lởn vởn hiện ra trong óc anh. Tại sao ổng bắt mình phải sục ngay vào nhóm “Nhà thờ họ”? Những thanh niên tóc dài học lối sống híp-pi ấy, có khả năng làm cách mạng ư?

Bỗng nhiên, anh nghe tiếng súng nổ phía bờ sông Bình Phước…

Chia tay Phi, Ba Đoát đến Cồn Mả gặp Mười Lúa. Theo lệnh bí thư tỉnh ủy, Ba Đoát phải ra Bắc chữa bệnh, đồng thời đưa luôn thằng Phương, con trai Mười Lúa, đi cùng. Nhưng để tránh con mắt dò xét, nghi kị của bọn hội đồng, cần phải có kế hoạch đánh lừa chúng. Mười Lúa có nghề hộ sinh, đã từng cứu vợ Oanh, công an Vĩnh Điện, trong một ca đẻ ngôi ngược. Vợ chồng Oanh chịu ơn chị từ đó. Chị sẽ đưa thằng Phương lên thị trấn, làm như tạt vào thăm vợ chồng Oanh và nhân đấy, phao tin sắp gởi con vào Sài Gòn cho người bà con, rồi bí mật đưa Phương lên xanh Hòa Vang. Ba Đoát sẽ đón sẵn ở đó, rồi hai chú cháu lên đường vượt Trường Sơn. Thấy vắng mặt thằng Phương, bọn hội đồng đặt nghi vấn, đã có Oanh làm chứng việc Mười Lúa gởi con vào Sài Gòn… Kế hoạch như vậy, Mười Lúa bàn với Ba Đoát ngoài Cồn Mả, xong Mười Lúa báo cho Ba Đoát một tin:

- Cậu Ba nè, chiều ni thằng Sách dẫn bọn bình định lội vô đám nhà Hoàng Ba, vặn vẹo gia đình ổng. Trước đó, con Năm, em họ cậu Ba, tí tởn chuyện chi đó với tụi nó. Tôi sợ con Năm biết láng máng chuyện mình bố trí bữa trước…

- Được, để con em họ tôi cho tôi lo.

Ba Đoát đứng dậy, xốc cây súng lên vai. Mười Lúa đâm hoảng, níu tay Ba Đoát. Chị không lạ gì tính nết Ba Đoát, nhất định hắn vừa tính chuyện quyết liệt đây:

- Khoan đã, cậu đi mô chừ? Sắp sáng rồi, cậu phải trở về căn cứ kẻo trễ!

- Không, tôi muốn nói chuyện phải quấy với con Năm!

Trời đất, đến Mười Lúa còn ớn cái kiểu nói chuyện phải quấy của Ba Đoát, chớ đừng nói ai:

- Hượm đã, cậu Ba, mới chỉ nghe phi phỏng vậy thôi, còn phải theo dõi tiếp tục mới có thể kết luận là con Năm có khai bậy với tụi chúng hay không? Tôi sợ mình xử oan nó!

- Oan chi, con nó không khai vụ ni thì cũng sẽ khai vụ tê. Chị Mười cứ về đi, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm!

Ba Đoát thoăn thoắt rời Cồn Mả. Mười Lúa run bắn chân tay, nhưng không dám gọi to sợ lộ. Chị tự trách mình: đã biết tính hắn rứa, mình còn dật dờ kể chuyện ni làm chi? Con Năm làm gián điệp thiệt thì không sao, nhưng vô phúc nó oan, mình ân hận suốt đời!

Chị chạy quýu cả chân trên con đường tối om, trễ là hư hết trơn mọi sự. Mười Lúa vừa đến ngõ nhà cô Năm, đã nghe tiếng bà mẹ khóc rấm rứt trong nhà. Bà ôm lấy chị, hai bàn tay nhăn nheo của bà run run:

- Tui lạy cô Mười. Con Năm vừa bị anh Ba hắn dẫn đi. Trời cao đất dày, con tui mà phản lại cách mạng thì chính tôi sẽ bóp cổ nó, chớ mô chờ cách mạng xử. Nhưng nó oan, oan lắm cô Mười ơi…

Rồi bà quỳ sụp xuống, ôm lấy chân Mười Lúa. Chị hỏi vội:

- Ba Đoát dẫn con nhỏ đi hướng mô?

- Hướng tê tề, chắc đưa ra hục sông!

Để bà mẹ lăn lộn vật vã trong đêm, Mười Lúa lao vào bóng tối.

Chị chạy, trống ngực đập thình thịch. A, hình như có tiếng cuốc đất và tiếng khóc sau những bụi keo rậm rạp. Mười Lúa căng mắt nhìn, một bóng người hiện lên trên bờ sông. Chị kêu lên:

- Cậu Ba! Việc này…

Ba Đoát lạnh lùng trả lời:

- Nhiệm vụ diệt ác là của tôi!

Cô gái đang bị bắt buộc tự đào hố chôn mình, thấy có người chạy đến, òa khóc. Ba Đoát chĩa súng.

- Câm ngay, đào tiếp đi. Tau giết chừ!

Cô gái quăng chiếc cuốc, lao đến ôm Mười Lúa.

- Oan con lắm cô Mười ơi, con không khai chi hết…

- Câm!

Ba Đoát quát:

- Mi tính la làng cho tụi thằng Sách đến cứu mi hử?

Và anh sấn tới, giằng cô em họ ra khỏi vòng tay Mười Lúa. Cô này càng bíu chặt lấy Mười Lúa. Ba Đoát gằn giọng:

- Đồng chí lui ra để tôi thi hành án với tên điệp ni!

Ba Đoát hét lên, không cần biết anh đang đứng giữa lòng địch. Mười Lúa đã bình tĩnh trở lại:

- Đồng chí Đoát, đồng chí là đội trưởng công tác, nhưng tôi là bí thư chi bộ Giáng La!

Tình thế nguy ngập khiến chị phải bất chấp cả nguyên tắc bí mật (cho đến giờ chị vẫn hoạt động hợp pháp). Mười Lúa run lên, giọng đanh hẳn lại.

- Nguyên tắc đảng lãnh đạo, đồng chí quán triệt hay không, biểu? Đồng chí phải nghe lệnh bí thư chi bộ, người lãnh đạo cao nhất ở đây. Tôi sẽ báo cáo việc này lên thường vụ và đồng chí bí thơ Hồ Xuân!

Nghe đến tên Hồ Xuân, tự nhiên Ba Đoát khựng lại. Mười Lúa khẽ bảo cô gái:

- Nín đi! Chuyện đâu còn đó!

Trước khi hậm hực bỏ đi, Ba Đoát giận dữ chĩa súng bắn vào bóng tối…

Đấy chính là những tiếng súng Phi vừa nghe thấy trong đêm.

Mấy năm nay, cha Phi dành dụm được ít nhiều, Tám Hơn còn hứa cho ông vay tiền đủ xây nhà. Ông trù liệu làm nhà trước khi đi nói vợ cho Phi. Và ông đinh ninh Phi sẽ cưới Luyến. Ông hỏi:

- Hè này con tính làm chi?

- Dạ, con tính mở lớp dạy hè cho các em học sinh trong làng!

Ông vốn hiền lành, nhu nhược, chẳng bao giờ ngăn cản con chuyện gì, thấy con lưu lại quê lâu thì sợ, nhưng chỉ dám khuyên xa xa:

- Con liệu coi có… mần răng không?

Cha sọm đi quá mau, dì từ lúc lấy cha đến nay, không sinh nở gì hết, Út Hà biệt tăm tích, chị Hai hy sinh, chỉ còn mình Phi, cha lo là phải thôi!

Quê hương đang gượng dậy sau những chiến dịch tố cộng đẫm máu. Đêm đêm nằm trên chõng tre, giữa Giáng La mùa mưa, Phi nghe thấy rõ tiếng thanh niên hú gọi nhau lên núi. Tiếng hú đó chuyển từ nhà này sang nhà khác, từ xóm này sang xóm khác. Đến sáng, những gia đình có người nhảy núi phải lên báo cáo cho hội đồng xã biết, đêm qua phía bên kia kéo về bắt con, em, cháu chắt họ đi đâu không biết. Để sau đó, những thanh niên này trở thành những dũng sĩ của tiểu đoàn Giải phóng R-20 oai hùng, lập nên những chiến công vang dội trong đánh Mỹ!

Trước khi trở lại với Huế, Phi còn một tháng hè. Anh muốn dùng tháng ấy mở lớp huấn luyện đặc biệt cho thanh niên học sinh, dưới hình thức công khai, hợp pháp: dạy học hè, kèm luyện thi các môn toán, lý!

Mượn được trụ sở tại trường trung học Kỳ Châu – Phong Thử. Có bốn mươi mốt học sinh đủ các lớp, xin học thêm hoặc luyện thi. Đụng ngay Nguyễn Đình Quy, kẻ từng được Phi đặt biệt hiệu “hung thần thọt”, cựu quận trưởng Đại Lộc bị thất sủng, về trường này dạy học. Số phận hắn giống hệt số phận những thành viên khác trong Quốc dân đảng dưới chế độ Diệm. Hầu hết bọn này đều điên cuồng chống lại kháng chiến, sau Giơ-ne-vơ ngóc đầu dậy, đưa từng thằng về nắm chức quận trưởng các huyện Quảng Nam cũ. Như Phan Thiệp ở Tam Kỳ, Vũ Đình ở Thăng Bình, Lê Đình Duyên ở Duy Xuyên, Nguyễn Đình Hiệp ở Quế Sơn, Nguyễn Đình Quy ở Đại Lộc, Lê Tuân ở Tiên Phước…

Tuần trăng mật của Quốc dân đảng và tân chế độ diễn ra quá ngắn ngủi. Bây giờ Diệm đã củng cố xong, dẹp tan các phe phái đối lập, từ Bình Xuyên, Hòa Hảo đến Cao Đài…, bắt đầu tính sổ với Quốc dân đảng miền Trung, loại trừ không thương tiếc các phần tử Cu-dê-đê ra khỏi chính quyền các cấp và thay vào đó bằng đám tâm phúc của mình. Một lần nữa, Quốc dân đảng kéo nhau vào đập Thạch Bàn, lập chiến khu chống Diệm và cộng sản, cử Nguyễn Đình Thiệp làm thiếu tướng, Tư lệnh Cu-dê-dê, Diệm xua quân lên đánh, Cu-đê-dê một mớ chết, một mớ về đầu hàng…

Lớp luyện thi và dạy kèm của Phi thành nơi ôn lại đau khổ, chết chóc trên quê hương. Gia đình mỗi học trò trong lớp đều có một mối thù với chế độ hiện tại. Không cha mẹ, chú bác, anh chị thì cũng bà con lối xóm bị địch giết: giết trôi sông, giết cắt cổ, giết phơi nắng, giết chôn sống, giết lẻ tẻ, giết hàng loạt, giết bí mật, giết công khai giữa chợ… Kể cho nhau nghe, kể luôn chuyện thằng bạn này, thằng bạn kia đã lên xanh…

Một tháng sôi sục căm thù, mãn khóa, đưa nhau về Cồn Mả – Giáng La làm lễ tuyên thệ.

Đêm, bóng tối âm u vốn mang nỗi chết gieo trên thôn xóm, giờ đây lại ấp ủ những đốm lửa mới nhen nhúm trong lòng mỗi đứa trẻ Giáng La. Phi kiểm điểm thấy thiếu hai trong số bốn mươi mốt học sinh. Hỏi, không ai biết Nguyễn Duy Hưng và Nguyễn Đức Trường đi đâu, làm chi không đến dự lễ tuyên thệ? Chờ miết, mới thấy hai thằng chạy đến Cồn Mả, miệng há ra thở tranh với mũi.

Phi chưa kịp hỏi, Nguyễn Duy Hưng hổn hển nói:

- Tụi em tính, phải có quà chi thiết thực dâng cho lễ tuyên thệ lên đường đêm nay. Em rủ thằng Trường, bí mật vô nhà thằng Quy, mang theo con dao găm anh Ba Đoát tặng trước khi ảnh ra Bắc chữa bệnh. Thằng Quy giết nhiều người mình lắm, giết cả cha em và cha thằng Trường, hồi hắn làm quận trưởng Đại Lộc. Hai đứa em vô trúng lúc nó đang nằm ngửa trên đi-văng, em nhào tới liền, đâm một nhát lút qua ngực nó!

Phi đứng lặng nghe chuyện trả thù. Cả đám hay tin thằng Quy bị giết, bật lên reo to:

- Giết… giết, trả thù cho Giáng La!

Không khí buổi lễ càng bốc lửa. Cần chi lời tuyên thệ trống rỗng, khoa trương, mỗi đứa trẻ Giáng La mang sẵn trong máu một lời thề sâu nặng:

- Hãy trả thù cho Giáng La!

Phi ngắm nhìn từng gương mặt thân yêu trong đám lửa bập bùng của những cây đèn bão đung đưa. Phải tung lực lượng này vô các thành phố, thị trấn, làm ngòi nổ cho phong trào thanh niên, học sinh. Anh không biết, cho đến ngày toàn thắng, trong số bốn mươi mốt đứa trẻ Giáng La đêm nay, sẽ thiếu vắng bao nhiêu gương mặt?

Phải, mình sẽ tìm cách gài Nguyễn Đức Trường, Lê Công Phùng, Lê Công Niêm, Trần Thiện Trác vô trường Phan Châu Trinh – Đà Nẵng, còn Nguyễn Duy Hưng vô trường Nguyễn Duy Hiệu – Điện Bàn, riêng đám Trà Thăng Long, Trà Thị Minh Minh, Phan Thị Liên, Phạm Niệt…, đưa vô trường Trần Quý Cáp – Hội An.

Sáng sau, Phi ra bến xe Phong Thử, chờ xe đò đi Đà Nẵng, thấy dân chúng xôn xao bàn tán: Hồi hôm quân Giải phóng vào tận Kỳ Châu, giết Nguyễn Đình Quy, nhưng rủi em họ Quy đến đúng lúc, thế mạng cho Quy. Phi giật mình, nghĩ ngay đến Hưng. Biết mình giết hụt kẻ thù, chắc nó rầu lắm!

Tới Đà Nẵng, Phi chạy lo thực hiện kế hoạch gửi gắm lũ trẻ Giáng La vào các trường…

Tạm ổn, mệt bã người, anh ra ngồi thờ thẫn trên một chiếc ghế đá, đặt trên bờ kè sông Hàn, đối diện với toà Thị chính. Ngồi cách anh một ghế bỏ trống, là một chàng trai cỡ mười sáu, mười bảy tuổi mặt buồn xo, hút thuốc lập bập, thỉnh thoảng lại thở dài. Phi liếc nhìn, đoán thầm, chắc anh chàng đang thất tình. Làm quen thử coi.

Anh đến gần chàng trai:

- Anh làm ơn cho châm nhờ điếu thuốc!

Chàng trai lơ đãng ngẩng lên, đưa cho anh hộp diêm. Rít một hơi thuốc dài, Phi lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh chàng trai. Chàng ta tò mò nhìn Phi:

- Anh là sinh viên à?

- Phải, còn anh?

Chàng ta thay đổi hẳn thái độ, niềm nở bắt chuyện. Và chỉ ít phút sau, Hải Sơn, tên chàng trai, đã kể cho Phi nghe sơ qua về mình. Sơn mồ côi, làm thuê cho ga-ra Bảo Lâm, tối theo học trường Văn hóa Quân đội Sao Mai. Sơn ôm mộng học lên đại học, nhưng xa xôi lắm. Hai đứa con mồ côi nói chuyện dễ hiểu nhau quá. Sơn nằn nì mời Phi về nhà bà dì họ của cậu ở Ngã ba Thanh Khê…

Tới ngã ba, Sơn dẫn Phi rẽ vào con đường nằm bên trái sân bay, xung quanh xóm nhà lá có những bụi tre um tùm. Sau nhà bà dì Sơn có mấy cây mãng cầu, nhà tranh vách đất, vì kèo kiểu xưa. Gian giữa đặt bàn tiếp khách, xế bên cửa sổ nhìn ra hàng tre có chiếc bàn học của con gái dì.

Phi quan sát ngôi nhà. Rồi mình sẽ phải hoạt động tại Đà Nẵng, địa thế này ngó bộ khá tiện lợi để xây dựng một “tổ kén”. Mẹ con bà dì của Sơn vào Hội An ăn giỗ, hai anh em tha hồ hàn huyên.

Sơn líu ríu nổi lửa nấu cơm. Phi vừa lặt rau vừa hỏi cặn kẽ về từng người trong nhà.

Hoá ra chồng dì Cứ hi sinh trong trận Hải Vân hồi đánh Pháp. Trận đó Việt Minh giết tên quan năm Pháp, Rô-giê. Dì có sáu người con, bốn trai tập kết, con gái lớn lấy chồng ra ở riêng. Hiện dì sống với cô út, Mai Hạnh cùng tuổi Phi, xinh nhất ngã ba Thanh Khê, nữ sinh đệ tứ Trường trung học tư thục Phan Thanh Giản. Dì nhận một người con nuôi tên là Đua, quê Hạ Nông, thượng sĩ truyền tin. Đua đã có vợ con đàng hoàng, thỉnh thoảng lại đáo qua nhà thăm mẹ và cô em nuôi. Lý lịch gia đình bảo đảm, nhất định phải tìm hiểu thêm khuynh hướng chính trị của họ, trước nhất là Mai Hạnh!

Ăn cơm xong, hai anh em leo lên giường, tỷ tê trò chuyện. Phi có mang theo chiếc ra-đi-ô nhỏ chạy pin. Anh bật công tắc, tìm sóng phát thanh. Trúng đài Hà Nội, anh cố ý để chậm lại một chút rồi lướt qua. Sơn vội níu tay anh:

- Trời đất, đang “Tiếng thơ”, dò lại đi anh!

Phi mỉm cười thật tươi, lựa đúng làn sóng của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Nghệ sĩ Châu Loan đang ngâm “Bài ca mùa xuân 61” của Tố Hữu.

Chào 61 đỉnh cao muôn trượng…

Sơn nghe lịm luôn. Hết bài thơ. Phi đưa ra-đi-ô cho Sơn:

- Anh cho em mượn mà nghe “Tiếng thơ”, một tuần nữa, anh sẽ quay lại đây nói chuyện thêm với em!

Sơn ôm chiếc ra-đi-ô vào sát ngực và hai anh em thao thức đến sáng…

Hôm sau, Phi ngồi xe đò vào Vĩnh Điện. Anh nhẩm tính. Gửi gắm thằng Hưng cho ai trong trường Nguyễn Duy Hiệu bây giờ? Anh không quen giáo sư nào ở đây cả. Tốt nhất, vào nhà Kiếm đã, mọi việc tính sau.

Trước kia, Kiếm thường rủ Phi về nhà mình, lúc ấy Phi ngại nhà Kiếm giàu, ít muốn đến. Không hiểu sao, ông già Kiếm lại thương Phi, muốn nhận Phi làm con nuôi?

Thị trấn Vĩnh Điện trở nên một đầu mối buôn bán, giao thương sầm uất. Tìm nhà Kiếm không khó. Kiếm đi vắng, một cô bé lối mười sáu tuổi ra mở cửa. Phi ngạc nhiên. Trời đất, nhỏ Hoan chớ ai, ngày trước mình tới đây, Hoan mới sáu, bảy tuổi, bây giờ đã thành thiếu nữ, xinh quá. Không biết nhỏ Hoan còn nhớ mình không?

Phi cười cười hỏi:

- Nhỏ Hoan phải không?

Cô bé sửng sốt, bối rối:

- Dạ, phải, mời anh vô. Anh Kiếm em đi vắng!

Khách chưa chịu khai tên, Hoan vừa chế trà vừa cố vắt óc nhớ lại, anh này là ai mà biết tên mình. Lâu nay mình có thấy ảnh trong đám bạn anh Kiếm đâu? Cô bé không dám ngồi đối diện với khách, cứ đứng khoanh tay bên bàn như học trò trả bài thầy. Phi không nỡ kéo dài tình trạng bối rối của cô bé:

- Anh là Phi đây!

- Ủa, anh Phi! Anh khác quá ta! – Hoan kêu lên mừng rỡ. – Ngỡ khách lạ nào chớ? Trời đất, ba em biết tin anh thi xong tú tài 2 rồi ra Huế học đại học, vừa mừng cho anh vừa buồn cho anh Kiếm, ảnh đến chừ vẫn chưa xong đíp-lôm! Ớn ổng quá trời. Để em chạy ra phố kêu anh Kiếm về nghe. Ba em thương anh dễ sợ, toàn lấy chuyện răn con cái trong nhà. Anh liệu đó, em ghen luôn.

Hoan hồn nhiên dẩu mỏ. Phi thấy trong lòng dâng lên một thứ tình cảm dịu dàng, đầm ấm. Anh vội ngăn lại:

- Hượm đã, anh còn ở đây tới chiều lận. Nào, kể chuyện học hành của em cho anh nghe đi!

Hoan kéo ghế ngồi sát bên anh:

- Em đang học đệ ngũ, học thường lắm. Nhưng đặc biệt, trong lớp em có một giáo sư Việt văn tên là Phan Trịnh, thần tượng của tụi học trò Vĩnh Điện đó!

Nhắc tới thầy Phan Trịnh, mắt Hoan sáng lên, giọng thành kính như con chiên nói tới Chúa.

- Cả cuộc đời thầy Trịnh là một cuốn tiểu thuyết li kỳ, sầu mộng, bi thương. Không một đứa học trò nào không thuộc thơ thầy hoặc không ngẩn ngơ trước câu chuyện tình lạ lùng của thầy! Anh Phi biết không, thầy quê ở La Sơn ngoài Huế. Nhà thầy nghèo lắm, cha thầy gác ba-ri-e xe lửa, mạ thầy mắc bệnh điên.

Mặt Phi hơi nóng lên, cảm giác ghen tỵ thoáng qua, rồi như cảm thấy xấu hổ vì sự nhỏ nhen của mình, anh cố bắt tâm trí quay về với khung cảnh người đàn bà điên ru anh dưới nắng hè gay gắt buổi chiều ấy, bên bờ Hương Giang.

- Sau gia đình thầy rời vô Đà Nẵng, cả nhà thầy chui rúc trong một túp lều lụp xụp bên cạnh đường rầy xe lửa, chỗ Tam Giác ngập ngụa rác. Thầy tự kiếm ăn, tự nuôi mình ăn học thành tài. Mười sáu tuổi, thầy đã có thơ đăng trên “Bông lúa”, “Bách khoa” hay “Phổ thông”… Hồi thầy học đệ nhị Quốc học Huế, thầy làm thơ hay lắm, để em đọc anh nghe một đoạn, chịu hông?

Trạng thái khó chịu trở lại, khi nhỏ Hoan tiếp tục kể lể say sưa về thầy Trịnh, nhưng Phi cố trấn tĩnh, gật đầu:

- Ờ, đọc thử coi.

Cô gái không nhàn ra nỗi khó chịu của anh, hăm hở:

Con đã khóc trượt ngón tay trên chữ

Giấy trắng đỏ dần lên, con nhuộm máu từng trang

Em đã cười nụ cười trên môi chị

Từ tận cùng bùn máu gọi triều dâng…

Rồi hào hứng kể tiếp:

- Bài luận thi “Bắc oong”[1] của thầy đạt hai mươi trên hai mươi. Thi “Bắc đơ”[2], bài triết của thầy cũng đạt điểm cao nhất hội đồng thi năm đó. Ngay các cử nhân văn chương cũng phải kính nể thầy, dù thầy chỉ là chân tú tài. Người thầy thấm đầy máu tráng sĩ Kinh Kha, thầy thường đọc cho tụi em nghe câu thơ khí phách: Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn. Rồi thầy yêu, tình sử của thầy cũng bi thương như cuộc đời thầy. Thầy yêu Băng Sương, nữ sinh Trần Quý Cáp – Hội An, ra Huế học đệ nhất Đồng Khánh, nổi danh hoa khôi ở ngoài. Nhưng nhà Băng Sương giàu có, không thích cách mạng. Mà thầy Trịnh lại gần như là hiện thân của cộng sản!

Phi phải ghìm mình để không bật cười. Trời đất, cô bé lãng mạn này tưởng tượng ra người cộng sản theo hình ảnh tráng sĩ Kinh Kha, múa gươm, đổ rượu xuống sông, cạn chén li bôi với công tử nước Yên, trước khi lên đường giết bạo chúa! Nếu vậy, khi gặp ông già áo xanh nhỏ thó trên dốc Ô-ray, chắc nhỏ sẽ thất vọng, điếng người! Thôi, hẵng tạm để yên con nhỏ với niềm say mê thần tượng của nó, thời gian sẽ làm công việc mở mắt cho Hoan. Chờ Kiếm về đã, sẽ bàn cách gặp Phan Trịnh.

Chưa vào tới nhà, Kiếm đã la lên:

- Thằng Phi mô?

Kiếm nắm vai Phi mà lắc. Anh nhỏ con hơn Kiếm nhiều, đứng bên Kiếm thấp hơn cả cái đầu. Phi sốt ruột, nói ngay chuyện muốn gặp giáo sư Phan Trịnh.

Kiếm lắc đầu cái một:

- Phan Trịnh không có ở đây. Chuyện thằng học trò của mi để tau lo. Tính răng với thằng Thái bây chừ?

- Chuyện chi mới được chứ?

Phi ngạc nhiên hỏi. Kiếm quay lại nạt em gái:

- Chuyện người lớn, con nít biết gì mà hóng? Ra ngoài ngó chừng, tụi tau bàn đại sự!

Hoan sợ anh một phép, lẳng lặng đi ra cửa.

- Mi không biết chớ, trường Nguyễn Duy Hiệu xây bằng máu dân Giáng La đó. Quận Thái bắt dân làm gạch xây trường, xây nhà cho quận trưởng luôn. Vừa đói vừa khát, vừa bị đánh đập, xây xong trường, tám người bỏ mạng. Trần Quốc Thái cậy thế Lệ Xuân, cấu kết với thằng Hồ Đài, hiệu trưởng, con nuôi Ngô Đình Cẩn, lộng hành dễ ghét. Tụi nó tập trung đánh Điện Tiến – Gò Nổi. Nửa đêm Thái còn phóng xe gíp xuống Giáng La, đánh trống báo động, kêu dân tới tiếp cứu, ví đuổi cộng sản. Người mô tới chậm, bắt liền, đánh chết tại chỗ. Đó, mi tính coi những thằng khốn nạn, khát máu như vậy lại đòi lấy tên cụ Hường Hiệu đặt cho trường? Lại còn xưng thân dân, gần dân, ai muốn yết kiến cũng tiếp. Chướng quá, chịu hết nổi!

Phi nghe Kiếm xả một tràng, hỏi thử:

- Chướng, làm chi nó?

- Giết!

Kiếm nghiến răng, đáp thọn lỏn. Phi nhìn thấu ruột gan bạn. Không, anh không việc gì phải ngại Kiếm. Cha Kiếm giàu bốc đồng, nhưng đồng tiền đó chưa đủ sức làm lóa mắt những đứa con. Chúng vẫn còn giấc mơ anh hùng lãng mạn, tài tử kiểu Hoan, chúng vẫn nghiến răng nổi giận trước những việc chướng tai gai mắt như Kiếm. Phải đưa Kiếm đến với đội ngũ. Còn việc giết thằng Trần Quốc Thái, không đơn giản như vậy được, phải có lực lượng và kế hoạch tỉ mỉ.

Kiếm chở Phi ra bến xe Vĩnh Điện đi Hội An, nửa chừng, ngang qua quận đường, Phi đột ngột bảo bạn:

- Mi cho tau xuống đây!

Kiếm ngạc nhiên:

- Chuyện chi vậy?

- Tau vô gặp thằng Thái!

Đến lượt Kiếm kinh ngạc. Kiếm có gan giết nó vào lúc bất ngờ hoặc trong đêm xáp tới, thịt luôn. Còn giữa ban ngày, vào thẳng quận đường giáp mặt nó thì Kiếm cũng ớn. Kiếm cũng không hiểu nổi động cơ sâu xa nào đã thúc đẩy Phi làm chuyện này. Ngay Phi, trong thâm tâm, cũng không dám tự thú nhận, anh muốn làm một cái gì đó gây ấn tượng không kém gì Phan Trịnh, ít nhất cũng là trong con mắt nhỏ Hoan!

Phi nhảy xuống xe, lững thững bước vào dinh quận trưởng. Trần Quốc Thái được tin, đón anh ngoài bậc thềm. Hồi mới đến nhậm chức, Thái nhỏ xíu ốm xo, bữa nay mập phì ra, bụng phệ. Người ta bảo, hắn uống máu người mà mập. Môi thâm, tóc xoăn, mắt trũng hoáy, mặc sơ-mi zét ngắn tay, cà-vạt màu hoa cà. Thái nhiều vợ, vợ lớn ngoài Đà Nẵng có một đại bài gạo…

Vừa quan sát Thái, Phi nhớ lại những gì người ta kể về hắn. Giọng Quảng Bình trọ trẹ, pha eo Hà Nội, đặc biệt những chữ có phụ âm kép “ng” sau cùng. Hắn hỏi:

- Anh ở đâu?

- Thưa, Đại học Huế!

- Sinh viên hả?

Thái nhếch mép cười ruồi. Phi bình thản:

- Phải, thưa đại uý quận trưởng!

- Anh ở đâu?

- Đà Nẵng, thưa quận trưởng!

Ngu gì khai gốc gác Giáng La với mày!

- Anh cần gặp tôi có chuyện gì?

- Tôi có dịp dạy thêm ở vùng này, dân oán thán quận trưởng ngút trời, tôi đến để báo quận trưởng rõ!

Thái rũ người trên sa-lông, cười sằng sặc:

- Anh hiểu gì, toàn nghe luận điệu thân cộng. Còn tôi vì dân, lo cho dân. Anh coi, có quận trưởng nào như quận trưởng Thái này không? Đến từng xã dựng lò gạch, lo xây nhà, cất trường cho dân. Anh nghe ai nói?

Thái bất ngờ hỏi luôn. Phi trấn tĩnh trả lời:

- Giáo chức, trí thức, toàn những người đàng hoàng!

- Trí thức không bao giờ hiểu nổi nhà binh, vả lại, kể làm chi hạng tôm tép lau nhau đó. Tôi không có thì giờ tiếp anh nữa!

Phi đứng dậy theo, mỉm cười đi ra…

Kiếm đợi sẵn trong quán nước xế quận đương, thấy bạn đi thong thả ra, giục giã:

- Đi thôi, đừng để nó kịp hối, cho lính đuổi theo!

Phi chưa kịp kể diễn biến cuộc đối thoại với tên sát nhân, Kiếm đã phòng xa…

Xuống Hội An, gặp thầy Lưu, Phi kể lại, tất nhiên giấu thầy cái lý do khá con nít của hành động ấy. Thầy cau mày trách móc:

- Đối thoại với thằng vô lại ấy làm gì?

Im lặng một lát, thầy thở dài:

- Lần sau con đừng khinh suất như vậy nữa. Làm gì cũng phải có mục đích rõ ràng. Nếu định giết nó, tại sao không mang súng theo? Nếu định trấn áp nó, tố cáo nó, thì phải chuẩn bị áp lực bên ngoài hỗ trợ, còn nếu định vô coi mặt nó, yêng hùng cá nhân đối thoại với nó lấy tiếng, thì tùy con.

Nghe thầy nói, Phi ngượng chín cả người.

- Còn chuyện gởi gắm mấy học trò Giáng La vô Trần Quý Cáp, thầy tự liệu sức làm được. Con cứ yên tâm ra Huế học!

Phi cúi gằm không dám nhìn mặt thầy Lưu. Để lặng một lúc cho trò đủ thấm thía, thầy chuyển sang hồ hởi:

- Phi, thầy có tin này cho con hay lắm. Thôi, chuyện vừa xảy ra, thầy nói con rút kinh nghiệm lần sau thôi. Bây giờ tính chuyện phía trước đã. Con phải ra ngay Đà Nẵng, đến đường Phan Châu Trinh, gặp Nguyễn Li – Li là học trò của thầy từ thời Lê Khiết – Quảng Ngãi…

Phi giật mình, mừng rỡ vô kể, nhưng cố giữ mình ngồi yên, nghe thầy Lưu kể về “cậu ký bánh mỳ” mà anh đã từng kết bạn từ thời biệt thự Mô-ranh…

- Ông thân sinh ra Li có năm người con, hai gái ba trai, hồi kháng chiến từng tham gia Liên Việt tại Quán Rường, Mỹ Phước, Tam Kỳ. Li đang học canh nông tại trường Nông-lâm-súc Blao, Lâm Đồng, về Đà Nẵng nghỉ hè. Con nên móc nối với Li, chậm trễ, Li phải vô Thủ Đức, uổng cho phong trào lắm. Nếu Li không có ở Đà Nẵng, con vô Tam Kỳ, hỏi Nguyễn Lương, anh trai Li, giáo sư Việt văn trường Trần Cao Vân, nhất định gặp được Li. Giáo sư Lương cũng tâm huyết lắm. Được anh em nhà đó nhập cuộc, thầy tin rằng công tác của con có nhiều thuận lợi!

Cảm động, thương mến, kính trọng thầy. Thầy già yếu, sống trong vòng vây kẻ thù vẫn không ngớt lo lắng, tìm kiếm người có tâm huyết, giới thiệu cho phong trào. Chào thầy, bước ra đường, Phi thấy lâng lâng cảm xúc và tin tưởng…

Không biết “cậu kí bánh mì” còn nhớ những kỉ niệm với mình ở nhà lão thầu thuế chợ, Bắc Kỳ di cư không? Bây giờ phải đi tìm anh chàng Đồng Nguyễn. Cần thiết lập trục liên lạc Giáng La – Hội An – Đà Nẵng. Mà ở Hội An, Phi nghĩ trước tiên đến Nguyễn…

Đã từ lâu Hội An là tỉnh lỵ cũ của Quảng Nam, nhưng dân Hội An vẫn sống lối nửa thành thị nửa thôn quê. Nếp sống quen thuộc mộc mạc đó khiến cặp bài trùng Đợi – Nguyễn tự nhiên nổi bật giữa thị xã. Hai chàng thanh niên cùng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Huế, cùng về Hội An một lượt, chia nhau làm hiệu trưởng hai trường tiểu học cộng đồng Cẩm Phô và Cẩm Kim. Vẫn ở chung một nhà, cùng nhau sáng lập ra hội Xê-li-bạt[3]!

Công an chìm, công an nổi Hội An không lạ gì lai lịch ngon lành của hai chàng và hội độc thân của họ. Gia đình hai chàng đều khá giả. Cha Đợi là một y tá tư có khá đông thân chủ. Cha Nguyễn, một nhà buôn giàu khét tiếng Vĩnh Điện, ông Tám Đàn. Và nếu có quá tò mò dò xét đời sống tình cảm của hai chàng, người ta lại càng yên tâm.

Hai chàng đã cam kết sống độc thân cho tới ngày N! Chỉ có họ hiểu với nhau, ngày N là ngày thống nhất.

Trước kia, Nguyễn có học một kỳ tại trường Duy Mỹ kháng chiến, cùng lớp Phi. Nhưng sau đó, khi quốc gia nắm chính quyền, chàng trở thành một đứa con ngoan của gia đình, một gia đình phất nhanh theo tốc độ chống cộng của chính quyền. Chàng được gửi ra Đà Nẵng học trường Phan Tây Hồ. Tại đây, lần đầu tiên, chàng được một cô nữ sinh cùng lớp để ý. Nhưng mối tình câm ấy để lại dấu vết trong nụ cười vô tư của chàng trai mỗi lần có ai nhắc đến tên cô gái đó. Rồi chàng là học sinh lớp đệ tam đầu tiên của trường công lớn nhất Đà Nẵng, trường Phan Châu Trinh, nơi số học sinh toàn con ông cháu cha. Chàng đặc biệt giỏi hai môn tưởng như hoàn toàn trái ngược nhau: Điện – Cơ và Hán học. Chàng nghiền ngẫm đủ các pho truyện Tàu từ “Hồng lâu mộng” đến “Đông Châu liệt quốc”. Chàng thuộc làu thơ Cao Bá Quát, chàng đã viết những luận văn thiệt hay về danh sĩ Bắc Hà này và chàng thích nhất “Trường can hành” của Lục Du, thi sĩ đời Tống.

Chàng vừa ngâm nga những câu thơ khí phách như vậy vừa cặm cụi chế biến, độ lại các loại động cơ từ máy bơm đến cái đi-na-mô phát điện. Chàng thích mặc blu-dông mềm, chàng chỉ dùng hai phương tiện di chuyển: hoặc chiếc xe máy mô-tô Bê-can hoặc đạp xe xết-xăng[4] cởi truồng, không chắn bùn, chắn xích, không thắng, chàng thò đối chân dài ngoẵng quệt xuống đường thay thắng.

Năm 59, chàng ra Huế học Cao đẳng Sư phạm, ở nhờ nhà bà cô ruột. Chàng chỉ thích chơi với một mình Đợi (và cũng vì yêu Đợi, chàng mới về Hội An, ở trọ nhà Đợi, dạy học). Về làm hiệu trưởng một trường tiểu học vừa học vừa làm, có dạy thêm nghề cho học sinh, chàng càng lao vào nghiên cứu máy móc, ngoài ra thường lui tới chùa chiền, đàm đạo với các nhà sư rành Hán học. Tính chàng hiền lành, hay cười hà hà, không gây cho ai bất cứ cảm giác khó chịu nào. Chàng cũng rất thích tranh luận với Lê Tự, một tay giỏi toán nổi tiếng. Dĩ nhiên, những cuộc tranh luận của họ không ngoài chuyện so sánh cộng sản với quốc gia. Lê Tự thiên chính quyền, Nguyễn thiên cộng sản. Nhưng cả hai chỉ dừng ở mức đối thoại, chính vì vậy không lọt ra ngoài bất cứ tai tiếng nào. Và nếu có ai hỏi Phan Thiệp, một tay tổ Quốc dân đảng, cựu quận trưởng Tam Kỳ mới bị thải hồi về Hội An dạy học, nhà đối diện với nhà Đợi, về hai giáo sư Nguyễn và Đợi, hẳn Phan Thiệp cũng biết vanh vách: hai người này có chiều cao cơ thể bằng nhau, đi đâu cũng cặp kè nhau như hình với bóng… Nhưng chắc họ không phải là hai gã hô-mô[5]!

Trên bờ sông Hội An, bỗng nhiên xuất hiện một chiếc hô-bo[6] phóng ào ào. Người lớn con nít đứng chật hai bên bờ sông theo dõi môn thể thao lạ mắt: lướt ván trên sông. Đợi lái tàu, Nguyễn đứng trên tấm ván gỗ dài, hẹp và mỏng, hai tay cầm lấy sợi dây cáp nối với đuôi chiếc hô-bo. Con tàu phóng đi, người Nguyễn như bay là là trên mặt nước. Không biết sau mỗi cuộc biểu diễn như vậy, bao nhiêu cô gái xinh nhất Hội An vuốt bụng thở dài, đưa hình ảnh hai chàng vào giấc mộng của mình? Chiếc hô-bo đó, hai chàng sắm cách đây không lâu. Xác tàu mua lại của Phi Anh (Phi Anh nguyên là nhà buôn, sau chuyển qua kinh doanh ngành chiếu bóng, xây rạp Phi Anh hốt tiền dân thị xã), còn máy do Nguyễn vá víu, xoay xở, tháo chỗ này, ráp chỗ kia mà thành.

Rồi ngày nọ, một thiếu niên Hoa kiều tìm đến Nguyễn, năn nỉ nhờ anh bày cách thức làm một chiếc hô-bo như của Nguyễn. Anh tận tình giúp đỡ chú bé ấy. Đó là đầu dây mối nhợ dẫn anh đến với Bạch Vân, chị của cậu bé. Họ yêu nhau âm thầm, chỉ có bà mẹ Bạch Vân đoán ra lờ mờ.

Chính vì vậy, chẳng ai chú ý đến việc chiếc hô-bo chiều nay rẽ nước phóng ra phía cửa Đại, để lại sau lưng những luống cày lấp lánh bạc trên mặt sông vốn yên ả. Dĩ nhiên, cũng không ai hay biết, lần đầu tiên thiếu Đợi trên con tàu. Và Phi thay thế vào đó. Họa chăng chỉ có ngọn gió dạt dào nơi cửa biển nghe được câu chuyện của họ nói với nhau.

- Sao, – Phi hỏi, – ông tính chuyện chi nữa?

- Nghiên cứu chế tạo máy phát điện chạy bằng sức gió. Tôi sống ở đây thấy gió thổi ngày này qua ngày khác uổng quá. Phải chặn gió lại, bắt nó sinh ra năng lượng, thắp sáng cho con người. – Nguyễn hào hứng vẽ cả sơ đồ nguyên lý máy phát điện bằng sức gió trên sàn tàu cho Phi coi. Phi đưa tay xóa sạch những nét phấn và gằn giọng:

- Nhưng sức gió ấy có đủ sức xoay chuyển vận mệnh con người không?

- Thôi, tôi hiểu ý ông rồi. – Nguyễn gãi đầu mỉm cười. – Lật đổ Diệm ư?

- Đương nhiên, dám không?

Nguyễn đứng thẳng người, thân hình vạm vỡ của anh nhô hẳn lên khỏi nóc ca-bin chật hẹp, giọng nói của anh bật ra từ lồng ngực vạm vỡ:

- Kể cả “un direct au coeur”[7]!

Nguyễn không tránh khỏi thói hay chen tiếng Tây trong lúc nói chuyện như các giáo sư khác.

- Và không phải chỉ mình tôi. Đợi…

Nguyễn đưa mắt nhìn Phi như để lượng định phản ứng của Phi khi nhắc với tên Đợi. Phi gật đầu tán thưởng, Nguyễn yên tâm nói tiếp:

- Và Trần Huệ, hiệu phó của tôi.

- Người Huế phải không?

- Oui, nhưng rất hăng hái và trung thực, chỉ mỗi tội hay triết lý gàn!

Phi không nỡ làm bạn cụt hứng, anh ngưng lại không nói hết nỗi lo của mình. Nhưng Nguyễn vẫn nhận ra:

- Có thể tin Huệ trăm phần trăm!

Thiên nhiên ở đây không bị khuôn lại bởi bất cứ ranh giới nào. Hình bóng tím thẫm của Cù Lao Chàm chỉ hiện diện như là chỗ đậu lại, ngưng nghỉ của mắt ta sau khi đã phóng cái nhìn mải miết đuổi theo kích thước vô tận của đại dương. Phi bỗng nhiên thương hại, nghĩ tới những ô vườn xinh xắn, được tỉa tót quá kỹ lưỡng ngoài Huế.

Màu xanh của biển làm anh lóa mắt, dường như những đám mây trắng chỉ là nét vờn phóng khoáng, táo bạo của những cây cọ cuồng phong. Hô-bo rẽ sóng, nước tung toé hai bên mạn, xới tung mặt biển ngổn ngang sóng. Tóc anh bết lại từng đám vì nước mặn. Anh đang chia sẻ với Nguyễn niềm phấn khích tột độ, ít nhất, họ cũng có một khoảng không gian để hét to lên những ý nghĩ bạo liệt vốn phải giữ kín trong đầu. Chợt Nguyễn trầm ngâm bảo Phi:

- Anh có nhớ hai câu thơ của Phạm Hầu trong bài “Vọng Hải Đài” không?

- Đọc đi!

Nguyễn hào hứng đọc to:

Giơ tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai?

Lúc quay về, Nguyễn kể:

- Dân chúng tỉnh lỵ này mới được một phen náo động. Lính Diệm phục kích trên đèo Le, bắn gãy chân một cán bộ Việt cộng có hạng, đưa về Hội An bó bột, gác xách nghiêm ngặt lắm. Bao giờ cũng có hai tên lính canh ngoài cửa phòng tù nhân. Hai tay anh ấy bị còng vào thành giường sắt. Bỗng nhiên, đêm 29 tết, anh ấy biến mất. Mỗi người kể lại sự kiện này theo sự tưởng tượng của mình, dần dà thành một thứ chuyện trinh thám ly kỳ không kém gì tiểu thuyết của Cô-nan Đoi. Dĩ nhiên, không đời nào tôi và Đợi tin rằng, người cộng sản đó có phép tàng hình, độn thổ hoặc dùng thuật thôi miên, khiến hai tên lính gác mở còng và đưa mình ung dung ra khỏi nơi giam giữ. Do một chuyện tình cờ, chúng tôi lần ra sự thật. Trước đó ít bữa, Hồ Ngọc, học sinh đệ tứ Trần Quý Cáp, đến tìm tôi hỏi mượn mô-tô Bê-can…

Phi giật mình nhớ lại, chính thằng Sanh kể, Sanh đã sai Hồ Ngọc đến xin ý kiến của thầy Lưu trước khi giết thằng Phán.

- Ngọc bảo cần xe ra Đà Nẵng thăm người nhà. Tôi nghĩ bụng, anh này vốn khí khái, ít khi chịu quỵ lụy nhờ vả ai, không hiểu sao lại năn nỉ dữ vậy? Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp Ngọc tại chùa Phước Lâm, nơi tôi thường đàm đạo với thượng tọa Ngộ Nhiên về văn chương Hán – Nôm.

Phi mỉm cười. A, chính nhà sư trẻ này đã từng thuyết pháp mình hồi bảy năm trước!

- Ngọc thuộc tuýp người khó hiểu, lầm lì và hận đời vì một lý do đặc biệt nào đó. Hai ngày sau khi người tù vượt ngục, Ngọc trả xe cho tôi. Nhìn chiếc xe, tôi biết ngay, hai ngày vừa rồi Ngọc đã dùng nó vượt qua một chặng đường dài rất xấu và phóng trong đêm không đèn đóm gì. Nghĩa là anh ta không đi Đà Nẵng, bởi đường từ Hội An về Đà Nẵng khá tốt. Phuộc trước gục xuống và mặc dù Ngọc đã phun nước rửa xe khá kỹ, tôi vẫn nhận ra những vết bùn trét vô máy. Nhất định Ngọc dùng xe này để đưa người tù cộng sản đó vượt ngục. Tôi nói những nhận xét ấy thẳng thắn với Ngọc. Anh biết Ngọc trả lời thế nào không? Ngọc đáp. Một là tôi tin anh. Hai là, chuyện này lộ ra, anh sẽ bị liên đới vì cho tôi mượn phương tiện thực thi hành động chống chính quyền. Ba là, chúng tôi có lực lượng riêng, chúng tôi sẵn sàng bắt tay bạn, đồng thời sẵn sàng thọc huyết kẻ thù. Xe hư chỗ mô, anh cứ sửa, tốn phí bao nhiêu chúng tôi thanh toán sòng phẳng! Nghe có điên không, hắn đã qua mặt mình còn dùng giọng cha nội hăm người ta. Nhưng tôi làm thinh. Điều tôi nghi ngại nhất, trong câu chuyện, Ngọc tự tin và hãnh diện, khi nhắc đến sự kiện “chúng tôi có lực lượng riêng”. Phải chăng, “lực lượng riêng” đó nằm trong Quốc dân đảng? Nếu đúng vậy, ở đây lại xảy ra một nghịch lý khó giải thích, tại sao một phần tử cu-dê-đê như Ngọc lại giải thoát cho cộng sản – kẻ tử thù của mình?

Phi cau mày suy nghĩ. Chắc thằng Sanh cũng dính vô vụ này, cũng như nó và Ngọc đã từng giết thằng ác ôn chỉ để thử nghiệm, tìm hiểu khả năng hành động và bản lĩnh yêng hùng của chính mình. Kể ra thì những hành động vừa qua của Sanh và Ngọc có lợi cho ta. Nhưng nếu cứ để tiếp tục tình trạng yêng hùng như vậy có dẫn tới hậu quả nguy hiểm nào không? Rất có thể, Quốc dân đảng hay Đại Việt lanh tay hơn, đang lôi họ vào quỹ đạo của chúng? Phải đến thăm chùa Phước Lâm, một công đôi việc. Thăm thượng tọa cố nhân và tìm hiểu về Ngọc.

Phi nói hết ý nghĩ của mình với Nguyễn và hai người dễ dàng thỏa thuận với nhau: Sau khi quay về bến, Nguyễn sẽ đưa Phi tới vãn cảnh chùa Phước Lâm.

Chiếc hô-bo miễn cưỡng giảm tốc độ, dường như nó thèm muốn được phóng điên cuồng giữa thiên nhiên rộng lớn hơn là phải vào bờ.

Sau vài câu thăm hỏi xã giao, Nguyễn định kiếm cớ thoái thác để mình Phi ngồi lại với thượng toạ Ngộ Nhiên. Nhưng hai người cố tìm cách giữ anh lại.

Phi kể với thượng tọa: anh đã quy y tại Huế với pháp danh Nguyên Thành. Pháp danh này nguyên của Tín, con trai bà Dự. Ở lâu trong nhà Dự, anh cũng biết chút ít về Phật giáo và sinh hoạt của những cư sĩ, nên anh không sợ bị nhà sư vặn vẹo đến nỗi lộ chân tướng một tên nói láo.

Ngộ Nhiên vui vẻ ôn lại một vài kỷ niệm hồi anh còn học Diên Hồng và mời anh uống thứ trà do tự tay ông sao tẩm. Và muốn cho buổi gặp gỡ tự nhiên hơn, ông ra hiệu bảo mấy chú tiểu đang cầm quạt phe phẩy cho thầy tế độ, rút lui. Sau đó, Phi im lặng chăm chú theo dõi cuộc tranh luận của bạn anh và nhà sư. Có lẽ đã quen tranh luận với nhau, cả hai không mất thì giờ rào đón lòng vòng.

Nguyễn đề cập tới vấn nạn: Phật giáo có thể hiện hữu trong lòng dân tộc với tư cách nào và nhân cách Phật đối chiếu với thân phận con người hôm nay ra sao? Nhà sư bình thản lập luận, giọng ông chắc chắn, đầy đặn và vang, bộc lộ một sức lực thể chất tráng kiện:

- Đến bữa nay, tôi có thể kể cho hai đạo hữu nghe câu chuyện có thực này. Vào những ngày đầu khi tân chế độ khủng bố cộng sản gay gắt nhất, thầy Lưu có đưa đến chùa một người, nhờ tôi nuôi giấu. Thầy Lưu chỉ giới thiệu, đó là bạn thầy Lưu. Nhưng tôi biết chắc, đó là một người cộng sản đang bị tầm nã. Tôi nhận lời và bố trí cho người ấy nấp trong hầm dưới bệ tượng Phật, nơi thường để đồ thờ tự quý giá của chùa. Hàng ngày ngoài việc tụng kinh gõ mõ, tự tay tôi bưng cơm nước cho người đó và cũng chính tôi xách xô phân, nước tiểu của người ấy đi đổ. Sau đó, tình hình bớt căng, người ấy có liên lạc đường dây đến đón.

Phi mỉm cười, nhà sư biết dùng cả chữ “đường dây”!

- Trước khi chia tay, người ấy cảm ơn tôi, tôi chỉ nói với người ấy: Xin ông đừng cảm ơn tôi, ngày nay vì sự nghiệp dân tộc, tôi có thể đổ phân và nước tiểu cho mấy ông. Nhưng mai sau, khi mấy ông giành được chính quyền rồi, tôi sẽ không hành động như vậy nữa đâu!

Con người vốn yếu đuối và sợ hãi đủ thứ: sợ chết, sợ khổ, sợ tai tiếng, sợ thua kém người khác và nhất là sợ sự thật. Nhưng Phật đã dạy chúng ta biết vô uý, biết không sợ. Tôi có thể kể lại cho hai đạo hữu nghe chuyện này chính vì lý do đó. Trước hết, phải minh định rằng: Nhất định những người cộng sản sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Trên cơ sở nhận định ấy, chúng ta mới có thể thẳng thắn đàm đạo về những vấn nạn (tiếng nhà Phật là công án) mà đạo hữu vừa nêu ra. Có người cho rằng, chẳng riêng Thiên Chúa giáo, ngay cả Phật giáo cũng là tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào ta. Nhận định như vậy vừa không đúng sự thật, vừa xúc phạm đến dân tộc này. Ai và bằng phương cách nào đã đưa Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, từ bao giờ và gây nên những thảm trạng gì, mục tiêu tối hậu của những kẻ truyền giáo phương Tây ra sao, thiết tưởng không cần nhiều lời, chỉ cần nghe dân gian nói là đủ hiểu: “đi đạo lấy gạo mà ăn”, rồi “theo cha lấy nhà mà ở” hoặc “thờ Chúa lấy lúa cất kho”! Và cũng chính dân dã khi muốn bày tỏ lòng thương xót ai hoặc tự thương mình gặp hoạn nạn thì thốt lên: Tội nghiệp, từ ngữ thuần túy của nhà Phật, từ ấy giải nghĩa cho quá trình tội của mình gây nên nghiệp và ngược lại. Hoặc khi gặp người to lớn, họ kêu: Tổ sư Bồ đề. Đó là sơ tổ Thiền tông Bồ-đề Đạt-ma.

Phi nhìn Nguyễn cười, Nguyễn đang tập trung theo dõi lập luận của nhà sư nên không để ý…

- Hoặc khi diễn tả số đông không đếm nổi, dân gian nói “hằng hà sa số”. Xưa kia, khi đức Phật thuyết pháp gần sông Hằng, khi cần mô tả cái gì quá đông, Ngài thường ví với số cát của sông Hằng. Hay khi hỏi anh đi đâu miết, anh trả lời: Ta-bà thế giới! Ta-bà thế giới là thế giới của Đức Thích Ca giáo hóa. Hoặc “om sòm bát nhã”… Nội những thành ngữ dân gian như vậy cũng đủ hiểu, Phật giáo đã ăn sâu vào phong tục tập quán của người Việt ta tới mức nào!

- Các thầy đã đi trước chúng ta, làm gì bây giờ hả Phi?

Nguyễn vốn to con, bây giờ ngó anh ngồi co ro trên ghế, mặt mũi nhăn nhó, Phi bỗng thấy thương bạn. Nhưng Phi cũng không biết trả lời ra sao. Anh cắn bút suy nghĩ, những hàng chữ hiện ra trên giấy làm anh day dứt. Phải báo cáo sao cho ông già áo xanh hiểu hết nỗi băn khoăn của bọn mình và cho bọn mình biết phải làm sao bây giờ, để bứt lên trước mấy ông thầy chùa trong việc giành quần chúng, đặc biệt là thanh niên, học sinh, sinh viên và một số trí thức đang loạng choạng mất phương hướng. Đây là lần đầu tiên, anh viết báo cáo gửi “ông già áo xanh”

Chợt anh nhớ lại đêm cuối cùng, hai thầy trò ở bên nhau trên đỉnh Ô-ray.

Đêm ấy, ông già áo xanh trở dậy nửa chừng, khí rừng lạnh cũng làm anh tỉnh giấc, mở mắt. Ông nhẹ nhàng cho thêm củi vào bếp lửa đã tàn và ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Phi ngồi dậy, lòng anh chợt ấm áp một thứ tình cảm pha lẫn màu sắc tôn giáo, trước hình ảnh ông già áo xanh trầm tư bên ngọn lửa. Xung quanh ông rừng núi âm u, bóng đêm dày đặc và xuống dưới một chút là mảnh đất quằn quại đầy rẫy chết chóc. Anh tự nhủ: Mình sẽ cố bắt chước sống cao thượng, can trường và trí tuệ như vị ẩn sĩ cách mạng kia!

Anh lặng lẽ đến ngồi bên ông. Ông không hề ngạc nhiên, mắt lấp lánh ánh lửa, nhìn anh. Anh chợt hỏi:

- Người cách mạng phải sống như thế nào?

- Nhiệt tình, thông minh, thẳng thắn, trong sạch, giản dị!

Bỗng nhiên Nguyễn nói to lên bằng tiếng Pháp:

- Entrez![8]

Phi giật mình. Nguyễn ngồi xoay mặt về phía cái cửa ra vào duy nhất, cảnh giới cho Phi viết báo cáo. Anh vội vàng châm diêm đốt mảnh giấy mỏng đang viết dở và thản nhiên mồi thuốc. Loáng cái mảnh giấy đã cháy hết. Khi người thanh niên lạ mặt và Nguyễn vào phòng, Phi đã kịp bỏ tro vào chiếc gạt tàn thuốc. Nguyễn giới thiệu:

- Hai ông làm quen với nhau đi, đây là Nguyễn Phi, sinh viên Huế, còn đây, Hồ Ngọc!

Hình như Ngọc muốn dùng cái bắt tay để đánh giá nội lực của chàng sinh viên nhỏ thó. Phi nhăn nhó rút tay lại. Ngọc nhếch mép cười:

- Tôi không nghĩ anh cũng… thường thôi! Không hiểu sao thầy Ngộ Nhiên lại có vẻ ngán các anh, muốn tôi tới coi thử các anh nghĩ sao sau buổi gặp thầy? Tôi không thích làm một tên do thám, kể cả là do thám cho Đức Thích Ca, xin nói ngay để các anh biết. Quan hệ giữa anh và mấy ông thầy chùa thế nào, không liên quan đến chúng tôi. Còn chúng tôi là ai, sau này các anh sẽ hiểu, mà ngay cả khi các anh không hiểu chúng tôi, cũng chẳng chết ai. Xin chào!

Ngọc lại bóp chặt tay Phi một lần nữa, làm tay anh đau nhức, rồi lầm lì ra khỏi nhà. Phi cau có, gã này ăn phải đũa thằng Sanh rồi!

Nguyễn khinh bỉ nhận xét:

- Nhất định tên vô lại này nằm trong tổ chức cu-dê-đê và tụi nó đang tính dò xét hoặc khiêu khích mình!

Phi im lặng.

Nếu cả hai người biết được số phận tủi nhục của Hồ Ngọc, họ sẽ nghĩ và đối xử khác.

Mùa đông năm 1940, có một đại đức trẻ tuổi đến trụ trì tại một ngôi chùa hẻo lánh nhất Hội An thuở đó. Nhà sư xuất gia vì thất tình. Có lẽ căn nghiệp của nhà sư chưa dứt. Một bà góa mời nhà sư đến cầu siêu cho người chồng mới chết của mình. Nhà bà góa ở xóm Mới, chỉ có một mẹ và cô con gái mười bảy tuổi.

Nhà sư và cô gái ấy yêu nhau. Hậu quả của mối tình phá giới đó là cô gái mang bầu, sinh một thằng con trai, đặt tên là Ngọc!

Nghĩ tới hình phạt nhục nhã, khắc nghiệt của ngày Nhập Hạ sắp tới (hàng năm Phật giáo có ba tháng nhập hạ, các thầy tập trung hết về chùa ôn kinh kệ, kiểm tra những hành vi phạm giới), nhà sư nhảy xuống sông tự tử.

Cô gái bỏ đứa con lại cho mẹ và lên một ngôi chùa ở Đà Lạt, xuống tóc đi tu, biệt tích luôn. Ngọc ở với bà ngoại. Bà góa tần tảo buôn rỗi cá từ Hội An lên Vĩnh Điện nuôi cháu. Mùa xuân 47, chiến sự lan đến vùng Điện Bàn, bà góa trúng đạn tây, chết ở gần Miếu Ba Xã. Thằng bé bảy tuổi vừa khóc hu hu, vừa lếch thếch đi dọc lộ 1 tìm xác bà ngoại. Tự nhiên thành thằng ăn xin, một cái bị cói đeo ngang vai, nó đi ngược với hướng súng nổ. Tới Cầu Chìm, phía trong quận lỵ Nam Phước một chút, gặp ngay một đám người loay hoay xung quanh một chiếc xe vận tải bị chết máy. Nó quẩn quanh và khóc lóc đòi theo. Đám người đó đang lo chở vật liệu, thiết bị máy móc sơ tán từ Đà Nẵng, lên lập công binh xưởng kháng chiến tại núi Tí Sé.

Nghiễm nhiên nó có mặt trong số sáng lập viên đầu tiên của công binh xưởng quân khu 5. Ông Trần Đông Hà, chính ủy quân binh xưởng, nhận nó làm con nuôi.

Năm 53, ông Hà được lệnh ra Việt Bắc nhận công tác khác. Ông giao đứa con nuôi cho một người, cũng trong công binh xưởng. Năm 54, người cán bộ ấy đưa Ngọc theo về quê ông ở Duy Tân. Ông được phân công ở lại hoạt động bí mật. Năm 55, ông gửi Ngọc vào chùa Tỉnh hội do thầy Thích Trí Minh trụ trì.

Đúng là vòng luân hồi nghiệp chướng. Ngọc – đứa con oan nghiệt của một nhà sư, đi vòng vo riết một hồi, rút cuộc lại quay về chùa!

Y hệt câu ca dân gian:

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa lại quét lá đa…

Bắt đầu thọ hành điệu, người ta gọi nó là chú điệu Ngọc, đầu cạo trọc lóc chỉ có mỗi trái đào phía trước trán.

Bốn giờ sáng đã phải leo lên tháp chuông hun hút gió, cầm xâu dây có 180 thẻ tre. Khi đánh chuông U Minh, phải chờ dứt tiếng chuông này boong, mới được đánh tiếng chuông kế tiếp, vừa đánh chuông vừa đếm thẻ tre.

Đếm hết xâu thẻ, trời vừa sáng, leo xuống quét sân tưới rau, ăn chút cơm chay với chao, rau rợ qua quýt, rồi lật đật ra ruộng làm cỏ, cuốc đất hoặc gặt hái.

Trưa đứng bóng, bụng đói meo vẫn phải đứng hầu quạt cho các thầy ăn cơm trước. Chiều, mệt rũ người, gà gật nghe giảng đạo pháp, tối đến ngồi tụng kinh gõ mõ. Các thầy chỉ làm lễ chính long trọng, hương đèn nghi ngút, thiện nam tín nữ tấp nập xung quanh. Phần còn lại, ê a dành cho mấy chú điệu. Không khác gì tôi tớ trong chùa. Đánh bạn với thầy Năm, một thầy tu chuyên môn ăn mặn. Thầy Năm sợ Ngọc mách với thầy trụ trì, phải hối lộ oản chuối cho chú điệu Ngọc. Còn bà Ba nấu cơm trong chùa, mắt thì kém, tai lại nghễnh ngãng. Chỉ có niềm an ủi duy nhất: người cán bộ nằm vùng thỉnh thoảng lén đến chùa thăm Ngọc. Hai chú cháu ôm nhau khóc trên gác chuông, nhắc lại kỷ niệm công binh xưởng và hỏi nhau:

“Bao giờ ông Đông Hà mới dẫn quân từ Bắc vô, đánh tan chính quyền Diệm?”

Rồi bẵng luôn, qua mùa đông 56, người ấy lọt vào tay Lê Đình Duyên, đương kim quận trưởng Duy Xuyên, trùm Quốc dân đảng Quảng Nam – kẻ chủ mưu nhét ba mươi bảy người kháng chiến vào bao tời, dìm chết trong đập nước Vĩnh Trinh. Trong số đó, có người đỡ đầu của chú điệu Ngọc!

Mười sáu tuổi, sống trong chùa, biết quá rõ lối sống hư ngụy của các thầy, cậu mất lòng tin vào Phật pháp. Người cán bộ nằm vùng chết oan khốc dưới đáy hồ Vĩnh Trinh, mang theo luôn cả mối liên hệ cuối cùng của cậu với kháng chiến.

Giữa lúc đó, thầy Ngộ Nhiên qua chùa tỉnh hội, thấy Ngọc sáng sủa, lanh lẹ, can đảm, cặp mắt nhìn thẳng như xoáy vào ai đó một nỗi căm hờn, nghi kị, bèn nghĩ ngay đến việc đào tạo một người phục vụ đắc lực cho Phật giáo sau này. Thầy thương lượng với thầy Trí Minh, đưa Ngọc về Phước Lâm, cho ra học trường ngoài.

Vì vậy, so với số học sinh trong lớp, Ngọc lớn tuổi nhất. Ngọc kết giao với Hoàng Sơn (gã tự xưng là hậu duệ của Hoàng Diệu) và Nguyễn Hiệp, thành Hội An tam kiệt. Sanh học lớp trên, vốn nhút nhát, thấy nhóm Hồ Ngọc toàn thứ dữ, muốn làm thân để khỉ mượn oai cọp. Cả bọn nhận ra ngay máu lãnh tụ của Sanh pha thêm tính cách con nhà giàu hãnh tiến. Nhưng những việc Sanh nghĩ ra, giết ác ôn, cứu người tù cộng sản hạp nhãn Ngọc quá. Thế là làm tới, Sanh đinh ninh đã thao túng được nhóm này, đâu hiểu, tâm hồn Hồ Ngọc lại có cội rễ sâu xa khác.

Hồ Ngọc cho Phi và Nguyễn vào cùng một rọ với Sanh, nên cũng không mặn mà xáp lại.

Cả Phi lẫn Ngọc không ngờ, chính vào lúc họ bắt tay nhau không chút thân thiện thì Hà Nội đang bước vào những ngày đẹp nhất trong năm. Cuối hè đầu thu…

Một chiếc xe com-măng-ca mang biển số quân đội màu đỏ, che bạt kín bịt bùng, rời khỏi sân ngôi nhà 103 Quán Thánh, êm đềm lướt trên đường Thanh Niên, con đường ngăn cách hai cái hồ đẹp nhất Hà Nội, Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch, men theo sông Hồng, lao qua cầu Long Biên và cuối cùng, ngoặt vào sân bay Gia Lâm.

Thời ấy chưa có hãng hàng không Việt Nam, ngoại trừ những chuyến bay quốc tế, sân bay thường vắng vẻ. Chính vì vậy, khi chiếc xe dừng lại và hai vị khách trên xe bước xuống, đi vào phòng khách, những nhân viên phục vụ tò mò nhìn họ. Người lái xe giúp hai vị khách chuyển những chiếc ba-lô căng phồng xuống khỏi thùng xe và siết chặt tay họ, từ biệt. Hình như hai vị khách này lần đầu tiên đến sân bay, cái gì ở đây cũng khiến họ lạ lùng. Một người bốn mươi tuổi, một người xấp xỉ ba mươi. Cả hai đều dong dỏng cao, gầy, cắt tóc ngắn, mặc quân phục.

Trên đường băng, nhiều chiếc xe tải chạy tới chạy lui, lăng xăng quanh một chiếc máy bay vận tải quân sự loại nhỏ, hai cánh quạt, không số hiệu và sơn cờ. Người ta hối hả chất những chiếc hòm gỗ bọc đai sắt vào phòng đợi, nói gì đó với hai người khách. Hai người khách lật đật khoác ba-lô theo người phi công ra máy bay…

Và bây giờ, chiếc máy bay chỉ còn là một chấm đen trên bầu trời, di chuyển về phía đông. Để lại bên dưới những dãy núi đá vôi Ninh Bình, phi công cho máy bay quặt sang phía tây. Trời xấu dần khi bay về hướng nam, âm u và lắm ổ gà. Ngồi bên chiếc cửa sổ tròn, ông Hà, vị khách bốn mươi tuổi nhớ lại, tám năm trước, trên con đường mà giờ đây chỉ còn hiện ra lờ mờ ngoằn ngoèo dưới cánh máy bay, ông đã đi từ phía Nam ra, giờ ông đang đi chuyến khứ hồi lạ lùng. Tám năm – một đường cong khép kín. Chuyến bay mỗi lúc một vất vả, người trẻ tuổi bắt đầu nôn thốc nôn tháo vào chiếc xô nhỏ mà phi hành đoàn cho anh mượn. Còn ông Hà, cựu chính ủy Công binh xưởng Khu 5, chìm đắm vào kí ức. Ông nhớ tới đứa con nuôi và thành phố thân yêu của mình.

Trước lúc lên đường, vào một buổi sáng, ông được mời lên Bộ Tổng tham mưu. Một đại tá, phụ trách quân báo, đưa ông vào phòng làm việc, nơi có một tấm bản đồ Đà Nẵng với tỷ lệ 1/100.000 treo trên tường. Đồng chí đại tá yêu cầu ông không ghi chép và bắt đầu trình bày những nhận định tổng quát về âm mưu của Mỹ đối với quân cảng Đà Nẵng.

Sau đó, với những số liệu chính xác, tỉ mỉ, đại tá giúp ông hình dung cụ thể, vị trí bố phòng của địch và sự hình thành thế chiến lược của tổ hợp quân sự – công nghiệp lớn nhất miền Trung. Đó là sự chuẩn bị cần thiết trước khi ông nhập thành.

Hình như máy bay đang giảm độ cao, tìm cách đáp xuống sân bay Sê-pôn, nơi trước đó, bộ đội Pa-thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam vừa kết thúc thắng lợi, chiến dịch giải phóng cao nguyên A-tô-pơ.

Đà Nẵng ngày 26 tháng 8 năm 1961.

Chị kính mến!

Hôm nay là ngày cuối cùng, em lưu lại Đà Nẵng, xế chiều em ra bến xe Chợ Cồn đón xe về Tam Kỳ, thăm anh Lương và các cháu, chào hỏi hai bên gia đình (chao ôi, em sẽ lấy vợ đẻ con để tạo ra những đứa trẻ sống lay lắt trên quê hương máu lửa này mà không biết phải làm gì?). Và thế là kỳ nghỉ hè đã kết thúc cùng nỗi tuyệt vọng của em. Máu vẫn tiếp tục chảy và em đứng ngoài cuộc. Mọi dự kiến của em khi rời Sài Gòn về Trung, không thực hiện được, em không tìm được cái em cần tìm, ít nhất cũng là một người nào đó chỉ cho em thấy cần phải hành động ra sao, chiến đấu cho màu cờ nào? Trời đất, chỉ còn một năm học nữa, em chị sẽ tốt nghiệp trường Nông-lâm-súc Blao và sau đó phải vào Thủ Đức hoặc Đà Lạt, để trở thành một tên đâm thuê chém mướn…

Nguyễn Li đọc lá thư viết dang dở và châm lửa đốt. Anh bỏ ra bến xe đầy chán nản.

Phi đến chậm. Li đã rời ngôi nhà trên đường Phan Châu Trinh lúc 8 giờ sáng. Người nhà Li nói với Phi như vậy. Phi lật đật kêu xích-lô chở ra bến xe Tam Kỳ. Ngang Vĩnh Điện, Phi xuống xe, chạy vào nhà Kiếm. Thấy bạn có vẻ gấp gáp, Kiếm không hỏi han gì nhiều, lẳng lặng vào lấy giấy bút theo yêu cầu của Phi.

Phi ngồi viết báo cáo gửi Hồ Xuân. Anh trình bày rõ trường hợp Nguyễn Li và đề nghị cho chỉ thị: có nên để Li vô Thủ Đức sau khi tốt nghiệp Trường Nông-lâm-súc Blao? Nếu cần, Phi có cách chạy giấy miễn quân dịch cho Li…

Cho thư vào bì, dán kín lại, Phi bảo Kiếm:

- Việc này vô cùng hệ trọng. Anh chuyển ngay cho Luyến ở Giáng La, tự Luyến sẽ biết phải làm gì. Anh ở đó cho đến khi có thư trả lời, hãy về đây đợi tôi. Anh còn, lá thư này còn, anh mất lá thư này phải hủy. Anh hiểu tôi không, Kiếm?

Mọi khi bạn bè, mi tau, bữa nay thấy Phi long trọng quá, Kiếm hiểu, chuyến này không giỡn được. Kiếm lặng lẽ gật đầu, Phi vội vã giã từ, ra đường đón xe đi Tam Kỳ.

Hoan tiếc ngẩn người, chưa được hỏi thật kỹ chuyện anh Phi vô quận đường giáp mặt hùm xám Trần Quốc Thái. Trời đất, anh Phi gan cóc tía chẳng kém chi giáo sư, thần tượng Phan Trịnh của cô?

- Vô lẽ, anh Phi cũng là…?

Chưa kịp hỏi cho hết ngọn ngành, Kiếm nạt em gái liền:

- Con nít, biết chi?

Rồi Kiếm hấp tấp phóng xe về Giáng La.

Vào thẳng trường Trần Cao Vân, Phi hỏi chỗ giáo sư Nguyễn Lương. Giáo sư mắc lên lớp. Phi sốt ruột ngồi đợi. Phòng riêng của giáo sư Lương khá xinh xắn, tường quét vôi trang nhã, một bức ảnh cỡ lớn chụp chung ba anh em trai họ Nguyễn. Họ giống nhau lạ lùng, chỉ phân biệt được từng người ở nét già dặn của khuôn mặt. Họ cùng mặc đồ vét, mang cà-vạt khác màu nhau, riêng Nguyễn Li, mắt hơi ngước lên, miệng tủm tỉm cười khá tươi. Hai người kia nghiêm trang như chụp hình căn cước.

Phi đang thả hồn xét đoán bức hình, đột nhiên một người đàn ông bước vào nhà. Phi giật mình quay lại. Suýt nữa reo lên mừng rỡ. Nhưng Li chưa nhận ra anh.

“Cậu kí bánh mì” nhã nhặn:

- Có lẽ anh đợi anh trai tôi?

- Dạ, nhưng mục đích thiệt của tôi đến đây là gặp anh!

Phi nghiêm trang trả lời. Li ngạc nhiên hỏi tiếp:

- Xin lỗi, anh là ai mà tôi chưa được hân hạnh biết và làm quen?

Li long trọng, Phi mỉm cười:

- Tôi đến đây theo đề nghị của thầy Lưu và tôi gặp anh với tư cách cán bộ Mặt trận!

Li ngây người, mắt hơi chớp chớp, xao xuyến. Li không ngờ Giải phóng đến tìm mình đúng lúc thế. Cả anh lẫn giáo sư Nguyễn Lương đều nung nấu ý định liên lạc với Mặt trận, nhưng chưa biết phải bằng cách nào. Từ khi nhận lệnh động viên, Li càng bối rối. Nên hay không nên đi quân trường, câu hỏi đó không trả lời được. Gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cán bộ Mặt trận tới tìm. Tuy nhiên, cần phải tỉnh táo, đề phòng một tên khiêu khích! Li thản nhiên trả lời:

- Trời đất. Lâu nay mắc việc hoài, tôi chưa có dịp về Hội An thăm thầy Lưu. Không biết sức khỏe của thầy hồi nay ra sao?

Chỉ cần một câu thăm hỏi bâng quơ, Phi hiểu ngay. Li muốn xác minh coi mình có thực sự là cán bộ Mặt trận hay không?

- Nếu rảnh, chúng ta hãy về Hội An thăm thầy!

Phi đề nghị. Nguyễn Li thầm đánh giá, anh chàng này ít nhất kém mình năm tuổi nhưng khá thông minh và có bản lĩnh, tạm thời có thể tin được!

Vừa lúc đó, giáo sư Lương hết giờ dạy, trở về phòng riêng. Li giới thiệu:

- Anh này từ chỗ giáo sư Lưu đến.

Nhìn nét mặt, nghe giọng nói của em trai, giáo sư cảm thấy có gì khác thường bên trong, chắc chắn người thanh niên kia vừa mang tới cho Li một điều gì đó đặc biệt. Chắc là một tin vui.

Phi nghĩ thầm, không phải tự nhiên thầy Lưu lại sốt sắng giới thiệu tỉ mỉ anh em họ và khẩn thiết yêu cầu mình tìm hiểu ngay anh Li.

- Tụi em tính ra Hội An thăm sức khỏe thầy Lưu. Có chi em sẽ quay lại kể chuyện cho anh nghe!

Phi càng yên tâm. Nguyễn Li hành động hết sức hợp lý và tự nhiên. Nếu mình là tên khiêu khích, không có lý do gì để bắt bẻ hai anh em họ. Giáo sư mỉm cười hiểu ngầm ý em trai:

- Ồ, chuyện đó nên lắm. Chúc các bạn thượng lộ bình an!

Dọc đường, ngồi trên xe đò đi Hội An, Li toàn nói chuyện chăn nuôi với trồng cây. Vừa để giết thời gian vừa để che giấu tâm trạng khấp khởi bên trong, Phi ngồi sát bên anh, người bạn lớn tuổi hơn mình, một người anh mến thương và sẽ là một đồng chí.

Có lẽ chỉ cần nhắc lại quãng đời của cậu kí bánh mì, anh ấy sẽ nhớ lại tất cả. Không, đừng vội, hãy cứ làm như lần đầu tiên mình được gặp anh Li!

Thầy Lưu vốn kín đáo, mừng giận không lộ ra ngoài, bỗng nhiên rưng rưng nước mắt khi thấy hai người học trò dẫn nhau bước vào phòng thầy.

Li hiểu hết, vô tình nắm bàn tay Phi siết chặt. Và bây giờ Phi mới nói khẽ:

- Anh còn nhớ biệt thự Phơ-re Mô-ranh và lão chủ đầu nhọn hoắt như cây viết chì không?

Li há hốc miệng:

- Trời đất, Phi. Sao cậu không nói ngay lúc ở Tam Kỳ?

Phi cười:

- Nôn chi, anh?

Ghé qua Vĩnh Điện, vào nhà Kiếm. “Giao liên” đã về trước Phi.

Anh vừa bước vào, Kiếm móc túi lấy ra bức thư ướt sũng mồ hôi.

“Cứ vô Thủ Đức học thiệt giỏi, tìm cách trở về vùng I!”

Phi bật quẹt đốt luôn mảnh thư, mừng quá ôm lấy Kiếm, chỉ kịp hẹn:

- Sẽ gặp lại một ngày đẹp trời!

Chạy vụt ra cửa…

Nguyễn Li về Đà Nẵng trước đợi anh. Từng giây từng phút, chắc chắn Li nóng ruột lắm.

- Phi coi hết tập nhật ký của mình chưa?

Phi gật đầu. Anh Li nói tiếp:

- Phi có Giáng La, mình có Quán Rường, mỗi chúng ta đều có một quê hương cụ thể để yêu thương, hy vọng và khắc khoải. Nhưng mỗi chúng ta lại có một kinh nghiệm riêng để tiếp nhận chân lý và lựa chọn con đường cho mình. Rốt ráo, mình chỉ muốn Phi hiểu tâm trạng của mình. Là một học sinh ngành Nông-lâm-súc, mình biết rõ, mỗi thứ hoa trái đều có thời điểm kết hoa ra trái của nó. Không thể bắt ép nó chín trước mốc thời hạn được. Và trong đời người ta có nhiều cái mốc thời gian. Chẳng hạn, lấy vợ, bỏ vợ, gặp bạn cố tri, trận ốm thập tử nhất sinh. Nhưng chỉ có một bước ngoặt duy nhất để phân chia cuộc đời làm hai: giai đoạn hữu thanh và giai đoạn vô thanh. Từ khi cất tiếng khóc chào đời đến lúc biết gọi tiếng mẹ đầu tiên rồi tiếng nỉ non, than thở, hét lên phẫn nộ và buồn lắng, trong tiếng thở dài hay minh triết ý nghĩa cuộc đời, đó là giai đoạn hữu thanh. Nhưng khi con người nhận ra con đường phải đi, lý tưởng phải tôn thờ, màu cờ để hiến dâng xương máu, thì con người bước vào giai đoạn vô thanh. Mình chưa bước vào giai đoạn chung cuộc đó. Xin Phi đừng sốt ruột đòi hỏi mình sớm hơn cái mình có thể tự chiêm nghiệm và chính mình sẽ tiếp tục hữu thanh, sục sạo mọi ngóc ngách trong tâm hồn của một gã tiểu tư sản, trước khi có thể vô thanh trong hành động. Nghĩa là, mình tiếp tục viết nhật ký, không phải để người khác đọc mà để soi rọi chính mình. Nhưng Phi hãy tin vào mình, nhất định mình sẽ đến được nơi Phi đã đến bây giờ. Phi may mắn hơn mình. Phi đã từng từ chối làm loài chim di trú hèn nhát, hẳn Phi hiểu sự giằng xé trong mình: giữa mặc cảm và sự lựa chọn.

Chia tay Nguyễn Li, Phi lên ngã ba Thanh Khê, giá có chỗ nào ngả lưng làm một giấc li bì, hơn tuần lễ ê ẩm trên các chuyến xe đò, chạy đi chạy lại như con thoi, hết Đà Nẵng – Vĩnh Điện – Hội An lại Tam Kỳ – Đà Nẵng. Không biết Hải Sơn đã kịp giới thiệu ông anh sinh viên Huế với bà dì và cô chị họ chưa?

Phi bước vào nhà, Mai Hạnh bẽn lẽn pha chút kính cẩn chào anh. Bà Cứ la Sơn:

- Mi biết anh Phi bữa ni về chơi, sao không nói trước để tau lo tráng mì đãi ảnh?

Quên ngay mệt mỏi, như đứa con lưu lạc, khốn khổ bỗng nhiên gặp mái nhà ấm cúng không hẹn trước trên những nẻo đường đầy cạm bẫy. Phi nhập vào không khí gia đình bà Cứ tự nhiên như con cháu trong nhà. Hạnh lễ mễ bưng hai li cà-phê mua ngoài tiệm về. Bà Cứ bảo:

- Sắp bay tiếp chuyện anh Phi, để mặc tau nấu nướng!

Đặt gói thuốc thơm cạnh phin cà-phê, Hạnh lật đật chạy đi tìm hộp quẹt cho Phi châm lửa. Lợi dụng lúc chỉ còn hai người, Sơn trách Phi:

- Anh hẹn tuần lễ, cả nhà trông hoài trông hủy?

- Nhiều chuyện vui quá!

Phi cười trừ.

- Thanh niên phải làm răng chừ? – Sơn trầm ngâm. – Em sẽ thoát ly lên núi!

- Em đã bắt được liên lạc với Mặt trận rồi à?

Phi thản nhiên hỏi. Sơn lắc đầu:

- Chưa, nhưng em cứ giả đò lên núi kiếm củi, rồi ở lại luôn đó với Mặt trận, vô lẽ mấy ổng đuổi em về? Còn có anh nữa, lo chi?

Sơn nhìn thẳng mặt Phi hồi hộp chờ, vẻ van nài:

- Anh Phi, nói đi, sống miết ở đây chán lắm. Hết làm tôi tớ cho chủ lại làm mồi cho quân cảnh bắt lính. Em cầm súng bắn lại anh, anh ưng không?

Phi lặng lẽ khuấy li cà-phê sóng sánh, ngẫm nghĩ. Nó mồ côi, nó từng phải khóc, nhục hận, trơ trọi, như mình. Nhưng cái chính, đừng để nó giận hờn đời, trả thù đời, hướng nó tới cái đích cao cả hơn.

- Mình đã ở sẵn trong lòng giặc, sao không nhân đó, đánh từ trong đánh ra?

Sơn sững sờ, sự thật đơn giản như vậy, sao mình không nhận ra? Cơ hội trả thù trong tầm tay, phải tìm đâu xa cho mệt!

- Nhưng một mình anh, mình em, giỏi lắm giết được chục thằng. Đà Nẵng có cả chục ngàn người có thù, có hận như anh em mình. Phải nhiều người cùng hội cùng thuyền mới mạnh. Sóng lớn thì thuyền phải lớn. Em nghĩ thiệt kỹ đi, nhớ coi, người em quen có ai cũng thù chế độ này như chúng ta? Giới thiệu, anh sẽ gặp họ.

Sơn hừng hực nghĩ thầm, mừng hết lớn…

Phi bật cười, ngộ nghĩnh thật. Sơn hẹn mình chiều nay đợi trên bến Bạch Đằng, thấy cô nào mặc áo dài, ống tay trái xắn lên, cười để lộ ra chiếc răng khểnh làm duyên, thì chính là Cẩm Lệ. Đợi miết, chẳng thấy cô nào như thế cả!

Một cơn mưa vừa ào qua thành phố. Không biết cô gái kia có phải Cẩm Lệ không? Cô mặc áo mưa, không biết ống tay có xắn lên không và cô cũng chẳng có lý do nào để cười lộ ra cái răng khểnh? Làm sao mình nhận ra ám hiệu như đã quy ước?

Phi đành đứng dậy, lại quầy bán thuốc lá, chỗ cô gái lẩn quẩn đi lại, hỏi mua gói Ru-by, rồi anh đến gần cô gái, lễ độ hỏi:

- Thưa cô, nếu tôi không lầm thì cô đang chờ một người nào đó?

Cô gái mỉm cười, ôi chiếc răng khểnh ám hiệu đây rồi, Phi mỉm cười theo:

- Ngồi xuống chiếc ghế này đi, Cẩm Lệ!

Hai anh em mặc những vị khách qua đường đoán già đoán non, nhìn cặp “tình nhân” mơ màng ngồi trên ghế đá, sau cơn mưa hạ. Họ ngồi quay lưng lại tòa Thị chính. Cảnh sát lượn lờ như ruồi, nhưng chắc chắn chúng không để ý đến họ. Cẩm Lệ cảm thấy người thanh niên này không xa lạ gì với cô, ảnh giống một người anh ruột, xa nhà lâu ngày, chợt quay về, thương xót ngồi nghe em gái kể lể chuyện nhà cửa, trong quãng thời gian anh vắng nhà.

Quê cô, đất Điện Nam cằn cỗi. Ba cô đi tập kết, chú ruột duy nhất lên núi, nghe đâu làm tới chức phó chủ tịch Mặt trận Giải phóng Quảng Nam. Thời tố cộng, mẹ cô buộc phải viết đơn ly khai chồng, sau dẫn hai con chạy ra Đà Nẵng. Kiếm được mảnh đất chó ỉa gần quận I, dựng túp lều thả rau muống trong bàu nước sau nhà, nuôi con ăn học. Cẩm Lệ đỗ đíp-lôm năm 59, đúng lúc mẹ cô mắc bệnh suyễn, gánh nặng gia đình đặt hết lên vai Cẩm Lệ.

Bây giờ cô dạy tư thục Sào Nam. Trường do Đặng Xuân, giáo viên kháng chiến cũ mở.

- Đặc biệt lắm, anh à. Hai phần ba nữ giáo viên trong trường có chồng tập kết. Anh mà gặp các chị Oanh, chị Lợi, chị Yến, chị Lan, chị Liên và cô Huân, em ruột anh Xuân, rồi chị Phú. Mỗi người sẽ kể cho anh nghe quãng đời ứa nước mắt, tan nát chia li của họ. Em gặp anh Sơn khi tụi em cùng theo lớp học ban đêm ở Trường Văn hóa quân đội Sao Mai. Hoàn cảnh giống nhau, tụi em thương nhau, nhưng biết hồi mô mới lo nổi đám cưới?

Thằng quỷ Hải Sơn giấu biệt chi tiết quan trọng này, Cẩm Lệ là người yêu nó. Phi vừa nghĩ vừa nhìn lên đỉnh Sơn Trà, mây đen bầm như khói tụ lại, bốc lên như từ một đám cháy khổng lồ.

Phút chốc bầu trời chuyển sang màu đồng đỏ, Đà Nẵng trong ráng chiều đỏ rực.

Có lẽ bà Cứ có khách, chưa vào đến sân đã nghe tiếng cười nói râm ran trong nhà. Phi cười một mình, nhà có cô con gái đẹp chưa chồng, tha hồ dập dìu khách khứa. Không khéo người ta tưởng mình ghen tuông thì nguy? Suốt ngày tiếp bạn trai thế này, Mai Hạnh lấy đâu ra thời gian học hành bài vở? Hèn nào không thấy cô gái đẹp nào học giỏi, mười cô dốt hết chín! Ờ, mà cần gì học, Hạnh sẽ lấy một anh chàng giàu có, du học Âu – Mỹ về, số phận của những giai nhân đời nay thế cả mà!

Bước chân lên thềm, Phi nhìn thấy lưng người khách, anh ta đang quay về phía Hạnh, nói chuyện gì đó, cô cười thật tươi. Đột nhiên, người khách quay lại nhận ra Phi. Cả hai ngơ ngác, Phi chỉ kịp kêu lên:

- Ủa, anh Trọng, tôi tưởng…!

- Mình nghe Sơn nói, định tới rủ ông cùng ra Huế cho vui.

Trọng liến láu chặn lời Phi, đồng thời đưa mắt ra hiệu cho Phi chớ tiết lộ “lý do đau thương” khiến Trọng phải về Đà Nẵng!

- Hạnh không ngờ hai anh quen nhau! – Cô gái vui vẻ chen vào. – Nghe anh Trọng kể chuyện và đọc thơ Phan Trịnh, mê luôn. Nhất định Hạnh phải xin mẹ cho ra Huế, coi thử mặt con người hào hoa của nhóm “Nhà thờ họ” của mấy anh.

Trọng vội la lên:

- Ấy, chớ, Phan Trịnh có người tình rồi, một hoa khôi đại học, gốc Hội An. Vả lại “Nhà thờ họ” sắp dẹp tiệm rồi. Hạnh ơi, xin mời Hạnh cứ ra Huế, không có Phan Trịnh này thì có Phan Trịnh khác.

- Chẳng hạn như Phan Trọng?

Phi bật cười châm nhẹ. Trọng đỏ mặt. Hạnh cười giòn tan. Ôi chao, cứ tưởng anh Phi cù lần, ai ngờ ảnh cũng tinh dễ sợ. Còn chàng Trọng chưa chi đã sợ mình mê Phan Trịnh, nên vội mách Phan Trịnh đã có nơi có chỗ. Nhưng dù sao cũng phải thừa nhận, chàng Trọng nhân hậu, cởi mở, bà già mình cũng có vẻ ưng ảnh.

Có trời hiểu thằng cha này. Phi nghĩ thầm, mới sáng nay, mình gặp hắn rầu rĩ trên bến Bạch Đằng. Hắn yêu dễ dàng nhiều cô một lúc. Có nhiều buổi chiều, Phi bắt gặp Trọng tha thẩn đi quanh ngõ nhà Ngũ Mi, hỏi hắn, hắn khai đang say Nga Mi. Được cái với bạn trai, Trọng không giấu giếm chuyện đó. Hắn quan niệm, muốn làm cách mạng thì phải giàu tình cảm, nghĩa là phải yêu nhiều!

Chính vì vậy, dù biết Trọng từ lâu, gốc gác gia đình cách mạng. Phi vẫn chưa dám móc nối, chỉ giữ quan hệ bạn bè thân thiết.

Trọng cũng đoán, có lẽ thằng Phi thuộc một tổ chức nào đó.

Đùng một cái, Trọng đang học văn khoa Huế, có điện tín trong Đà Nẵng gửi ra:

“Thu chết, về ngay.”

Trọng tưởng Thu, anh ruột mình chết, vội vã về Đà Nẵng chịu tang, về tới nơi mới biết, cô Thu, mười sáu tuổi, cháu ông trưởng ty Bưu điện chết vì xe cán. Trước kia, Trọng đã có lần đưa Thu tới thăm Phi tại nhà bà Dự (cũng lúc đó, Trọng đang săn Mai, một nữ sinh viên sư phạm, ấy là chưa kể người yêu trong mộng của hắn lại là Nga Mi!)

Trời ơi, hắn về đưa ma người tình buổi sáng, bây giờ, buổi chiều đã vui vẻ tán Mai Hạnh rồi. Tất nhiên, không nên lật tẩy hắn trước mặt Mai Hạnh, nhưng phải cho anh chàng đa tình này một lời cảnh cáo.

- Buổi sáng nay, anh nói chuyện bức điện tín nào đó. Ai chết kia mà?

Trọng đỏ mặt lảng sang chuyện khác:

- À, chuyện nhà thôi, điện tín báo tin đàn gà tự nhiên toi cả đám. Nè tụi mình ra bến An Lợi đi, chút nữa trễ, e không còn xe ra Huế!

Hắn hấp tấp kéo mình đi sợ lộ chân tướng trước mặt người đẹp. Mai Hạnh vui vẻ tiễn hai ông anh sinh viên. Phi dặn lại:

- Sơn về Hạnh nhắn giùm, tụi này đi gấp, sẽ có dịp trở lại thăm dì.

Ra ngoài đường, Phi hỏi:

- Ma đưa lối quỷ dẫn đường sao ông lại quen Mai Hạnh?

Xuân Trọng nhún vai, phun ngay tiếng Tây:

- Par hasard![9] Mình có thằng bạn, con chủ ga-ra xe hơi, đến chơi thấy một ông tướng ngồ ngộ, làm quen sơ sơ. Bỗng nhiên Hải Sơn (ông tướng con đó) kể chuyện bà chị họ hắn đang có một tên đại uý trồng cây si. Bà chị họ không ưng bọn nhà binh như đa số các cô gái thời nay. Biết mình là sinh viên Huế, Sơn nhờ mình tới dàn cảnh bồ bịch với bà chị họ hắn để tên đại uý nọ thối chí. Thấy chuyện hay hay, mình tới, không ngờ nàng xinh quá. Lộng giả thành chơn, đến lượt mình bứng cả gốc si đại thụ tới trồng giữa nhà nàng. Nàng cũng có vẻ khoái mình. Còn tên đại uý bất hạnh thì tức điên. Yêu đương văn nghệ thôi mà, ông bắt tôi ép xác như ông răng được? Nè, tôi hỏi thiệt chỗ bạn bè với nhau: ông và Mai Hạnh có chuyện chi không? Nếu có, biểu để tôi tính đường tính nẻo dọt lẹ, còn không, xin cũng nói ngay, nàng đẹp quá, lọt vô tay thằng khác thì tiếc hùi hụi!

Phi hỏi lại:

- Chỉ có vậy thôi à?

- Cái chi ra cái nấy! Nếu ông yêu Mai Hạnh thiệt thì tôi lặng lẽ thối lui trong danh dự. Còn nếu ông chỉ liên hệ với nàng nhằm lôi kéo nàng vào tổ chức của ông, thì xin ông cứ việc dìu nàng vô con đường lý tưởng của ông. Còn tôi, tôi giúp nàng bay bổng với tôi trong vòm trời tình ái. Cùng một lúc, với tôi, nàng sẽ có hai thiên đường: lý tưởng và tình yêu. Mọi ngả đường đều dẫn đến Rôm, chắc chi ông lẹ tay hơn tôi trong cuộc chạy đua đến thiên đàng cùng nàng?

Phi bỗng thấy lối đùa giỡn của Trọng lạc lõng, cau mày:

- Tôi hỏi thật, Trọng định rong chơi, đùa giỡn đến bao giờ?

Trọng làm thinh cho đến lúc chiếc xe đò chậm chạp leo lên đỉnh đèo Hải Vân, hành khách ùn xuống, ngắm cảnh, chờ đoàn xe từ Huế vào. Trọng nói nhỏ:

- Phi, tụi mình ra phiến đá kia ngồi đi!

Hai đứa ngồi xuống bên nhau. Trọng thở dài:

- Có lần, trên chuyến xe chạy từ Quảng Nam ra Đà Nẵng, tình cờ tôi quen một chú bé cùng làng, tên nó là Huỳnh. Dĩ nhiên, nó nhận ra tôi trước. Nó thuộc lứa đàn em, kém tụi mình năm sáu tuổi. Huỳnh đang học đệ tam Phan Châu Trinh, khá lanh lợi. Nó kể chuyện tình của nó với một con nhỏ cùng lớp, mùi mẫn lắm. Bố mẹ con nhỏ là dân công giáo di cư, lại giàu có, biết chuyện, cấm ngặt con nhỏ không được gặp Huỳnh. Nó thất tình bèn làm thơ. Thơ thẩn cũ mèm, “tự lực văn đoàn” một cây, tôi lơ đãng nghe cho nó khỏi cụt hứng. Nhưng lúc tôi xuống bến An Lợi, đón xe ra Huế, nó buồn thật sự. Nó hỏi:

- Buồn quá, biết làm chi cho vui anh Trọng ơi?

Tôi lên giọng tiền bối dạy dỗ liền:

- Làm trai ai lại đi tìm vui, phải tìm chuyện nguy hiểm. Niềm vui của đàn ông chính là sự mạo hiểm. Còn đàn bà lại tìm thấy niềm vui trong thanh bình.

- Nguy hiểm là răng?

Mắt nó sáng rực lên. Tôi nói đại, đang sốt ruột ra Huế, ông lỏi cứ đeo hoài.

- Thì ôm bom lao vô kho xăng như Đuốc Sống đó. Hoặc dẫn đầu đoàn biểu tình, ưỡn ngực ra cho địch bắn như Trần Văn Ơn!

Ra Huế cũng quên bẵng chuyện gặp Huỳnh, tôi còn bận lượn quanh nhà Ngũ Mi và theo trêu chọc những cặp tình nhân che dù dạo chơi dưới mưa. Tôi vờ như đến xin lửa thằng chả, rồi ghé tai các nàng thì thầm: Đừng tin chả, hắn nói láo với em đó! Nghĩ cho cùng, những cuộc nổi loạn bỏ túi nhăng cuội, bắt đầu trở nên vô nghĩa với tôi. Hiện tại chó đẻ, cần phải đạp nó xuống bùn chứ không phải suy ngẫm, để tóc dài, làm thơ. Mỗi lần về quê Quá Giáng, tôi lại phải chứng kiến bao nhiêu thảm cảnh, bọn hội đồng tác oai tác quái, đêm nào cũng có người bị bắt, bị mất tích. Còn tôi thì cứ phiêu diêu, bận rộn chinh phục trái tim các cô gái. Ai ngờ, Huỳnh ra Huế, đến tận làng cư xá Nam Giao tìm tôi. Gặp một tên cùng làng giữa lúc đang buồn chán cũng mừng, tôi hỏi:

- Mi ra Huế chơi hay có chuyện chi?

- Em ra Huế tìm anh!

Huỳnh đáp thọn lỏn. Tôi khựng lại, xưa nay có ai tìm mình đâu, toàn mình đi tìm họ! Bỗng nhiên chú bé tâm thần này công phu ra tận Huế để tìm mình. Tôi cười:

- Tìm chi? Mới xong tập thơ tình nữa, chưa biết đọc ai nghe hả. Hay cần kiếm người lập hội kín?

Nhưng nó không cười, nét mặt ngây thơ của nó trở nên long trọng. Mà ông biết, tôi chúa ghét những tên kênh kiệu, long trọng. Cũng tự nhiên, tôi cảm thấy Huỳnh sắp đòi hỏi ở mình một điều gì đó khác thường! Hai anh em rủ nhau tới cà-phê Dung.

Im lặng hồi lâu, nó nhìn quanh rồi van nài:

- Anh Trọng, giao việc cho em đi, em làm được mà, anh hãy tin em!

Tôi chợt hiểu. Luống cuống đưa ly cà-phê lên nhấm nháp như đang cân nhắc. Kỳ thực là để che giấu sự xấu hổ. Tôi không dám ngó vô cặp mắt chờ đợi khẩn thiết của thằng bé. Trời ơi, nó ra Huế và đinh ninh rằng, tôi sẽ đưa nó vô tổ chức cách mạng! Trong khi đó thì anh Trọng của nó đang lao vô những mảnh tình vụn vặt! Nhưng tôi không đủ gan thú nhận sự thật nhảm nhí đó với nó. Rằng nó đã chọn lầm người, chính mình chưa biết phải sống ra sao, đi theo ngọn cờ nào? Sự im lặng của tôi lại được nó hiểu theo một cách bất ngờ:

- Em biết, em chưa lấy gì để làm tin cho tấm lòng của em. Em sẽ có cách chứng minh, mấy thằng ác ôn, công an, đại diện xã mình tàn bạo điên cuồng. Không giết nó, dân ngạt thở lắm, em sẽ khử một tên trong bọn. Lúc đó xin anh nhận em vô tổ chức, được không anh?

Nó chìa bàn tay non nớt, thư sinh ra nắm lấy bàn tay run lẩy bẩy của tôi. Hạnh phúc làm thằng bé mất hẳn vẻ u buồn khi mới gặp tôi ở cư xá Nam Giao. Quả nhiên lần này về đưa đám Thu, gặp một anh chàng cùng làng làm công chức ở Đà Nẵng kể lại, không biết Việt cộng làm cách nào, lọt vào tận giường ngủ chi trưởng công an xã, đặt lựu đạn khiến hắn chết banh xác, bọn còn lại trong làng xáo xác như gà phải cáo. Chắc Huỳnh làm vụ này? Tôi chột dạ, cứ ngỡ nó nói dóc, bây giờ lỡ gặp nó, tôi biết trả lời thế nào đây? Chừng nào chưa thành người cách mạng thiệt thọ, tôi không dám gặp thằng bé cùng làng đó. Phi hiểu cho tôi nghe. Đâu chỉ là sự tự ái trước một chú nhỏ, câu hỏi lúc nãy của Phi làm tôi day dứt: Trọng, mi sống nhởn nhơ, đùa giỡn với cuộc đời chó đẻ này tới bao giờ?

Giọng Trọng không còn mạch lạc nữa, nghẹn nơi cổ họng đắng ngắt. Phi vẫn nín lặng nghe. Luyến đã nói với mình khi mình vội vã chê trách lối sống của Hai Chi: Dễ chi ngó bề ngoài mà hiểu được bụng dạ của con người? Mình mới nhìn thấy một anh Xuân Trọng đa tình, yêu một lúc năm sáu cô gái, sáng đưa ma người tình này, chiều đã tán tỉnh người đẹp khác, lúc nào cũng tìm cách biến mọi thứ thành trò cười. Nhưng đã bao giờ mình tìm cách khám phá nơi tâm hồn Trọng, cái mầm mống của niềm đau, nỗi day trở tìm hướng sống? Một cậu bé đệ tam cấp Phan Châu Trinh đã đánh thức trong lòng Trọng nỗi nhục nhã của kẻ dửng dưng, đứng ngoài cuộc để đời mình trôi qua một cách phù phiếm. Nhưng còn mình, mình đã làm được gì cho quê hương, cho bạn bè cùng lứa và cho phong trào?

- Phi ơi, có lẽ tôi phải nói với Phi điều này, y hệt chú bé Huỳnh đã nói với tôi, khi chia tay tại quán cà-phê Dung. Tôi sẽ chứng minh tấm lòng của tôi, chừng đó xin anh nhận tôi vào đội ngũ!

Xuân Trọng ngẩng đầu. Chiếc xe của họ đã đến lượt đổ dốc, bấm còi inh ỏi gọi khách. Trời bảng lảng chiều, sương mờ bắt đầu chờn vờn lưng chừng những vách đá dựng đứng bên bờ vịnh Liên Chiểu. Biển dâng sóng. Đà Nẵng chìm vào hoàng hôn tàn úa. Nhưng trên những chóp núi phía tây dãy Trường Định – Bà Nà, chợt đỏ lựng và bừng sáng. Mặt trời sắp đi hết một hành trình hăm bốn giờ của nó, sẽ tắt sau dãy núi kia. Và tới phiên hừng đông nhen lửa ngoài chân biển.

Phi và Trọng ngồi xích lại bên nhau trên xe đò. Phi choàng tay qua thành ghế, ngả người khoan khoái. Anh không cô đơn trở về Huế. Anh có bạn, Trọng đang đòi hỏi nơi anh một quyết định:

- Nè, có tính nhào vô nhóm “Nhà thờ họ” không?

Phi hào hứng:

- Bắt đầu từ ai?

- Từ Ngọc Cương, được không?

- Sao lại Ngọc Cương, mà không phải ai khác?

- Không biết tại sao, cũng có thể tôi cảm thấy con người này có bản lĩnh nhất trong nhóm. Ảnh đã quyết định làm gì thì sẽ làm đến cùng!

❀ ❀ ❀

[1] Tú tài một và tú tài hai (phiên âm tiếng Pháp) (Caruri).

[2] Tú tài một và tú tài hai (phiên âm tiếng Pháp) (Caruri).

[3] Hội độc thân.

[4] Vành bánh xe có đường kính 700 mi-li-mét.

[5] Đồng tính luyến ái.

[6] Loại tàu nhỏ, tốc độ cao.

[7] Một cú đánh thẳng vào tim (tiếng Pháp).

[8] Mời vào (tiếng Pháp).

[9] Tình cờ, ngẫu nhiên (tiếng Pháp).

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.