Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Huế Nhập Môn
Huế Nhập Môn

❊ ❊ ❊

Ai sống thở than, chết mỉm cười?

Gần sáng, Phi thiếp đi không phải nhờ những kí ức Sài Gòn. Anh bị gây mê bởi không khí trầm mặc của Huế. Và anh cũng đánh mất luôn cảm nhận dòng thời gian quen thuộc.

Quen sống với nhịp điệu của một đại đô thành xô bồ, cuồn cuộn, anh đột ngột chìm lỉm xuống đáy cố đô tĩnh lặng. Mới hôm qua, dù anh ngủ say đến mấy đi nữa, đúng ba giờ sáng, tiếng xích-lô máy rẻ tiền chói tai như một thứ đồng hồ báo thức, dựng cổ anh dậy, bắt anh nhớ tới một ngày với nhịp độ chóng mặt, bắt đầu. Còn bây giờ, giấc ngủ triền miên, vô hướng, mơn trớn anh trong hơi ẩm và khí trời se lạnh.

Khi ánh mặt trời le lói chiếu qua khe cửa, rọi thẳng vào mặt, Phi lười biếng mở mắt và lơ mơ. Anh chậm rãi ngồi dậy, mặc quần áo và lẩm bẩm:

- Thế là ta đã ở Huế!

Anh đưa mắt nhìn dòng sông đang trễ nải, bất động để mặc những chùm tia sáng nhợt nhạt phản chiếu trên mặt nước bàng bạc màu tro. Hai bờ sông ken dày phượng vĩ, lá xanh và vòm hoa đỏ, đơm vồng chóp cây ướt át như vừa được tưới nước.

- Thế là ta đã tới Huế!

Anh cố minh xác sự kiện ấy bằng cách quan sát phòng trọ của mình. Sạch sẽ nhưng đạm bạc. Rất có thể mùi hôi của dầu hỏa và gỗ mục anh cảm thấy ngay khi bước vào phòng tối qua, chỉ là hậu quả của trí nhớ khứu giác của anh khi phải chen chúc trong đám hành khách ngồi trên toa tàu hạng bét.

Căn phòng còn giữ nguyên dấu vết của một gian thờ Phật, đôi câu đối thếp vàng chắc mới bị tháo xuống, đang nằm dưới chân tường. Và chiếc giường sắt sơn trắng kia, rất có thể mới được khiêng từ một nhà thương thí về đặt tại đây. Hiển nhiên, khi bắt đầu xây cất, người ta không trù liệu dùng nó làm khách sạn, rồi do một biến cố nào đó, nó được hướng vào mục đích này.

Ta phải sống tại thành phố này vài năm (ít nhất cũng hết đại học). Cho đến giờ, ta biết gì về Huế? Hình như xưa kia họ gọi nơi này là Thuận Hóa, sau đọc chệch thành Huế. Từ thời Chúa Nguyễn trị vì đến thời cậu Cẩn làm mưa làm gió, ước chừng ba trăm năm… Ngoài ra, ta nhớ lõm bõm vài ba giai thoại rời rạc về Huế, về những khách ngủ đò trên sông Hương và cậu học trò xứ Quảng ra thi, ngẩn ngơ trước những cô gái Huế. Rồi ta sẽ phải học bài học nhập môn Huế, có lẽ cực hơn khi ta lần đầu tới Đà Nẵng hay Sài Gòn? Cố đô có nét gì u uẩn, xa lạ quá.

Nhưng trước mắt, ta sẽ làm gì ở Huế? Còn hơn nửa tháng nữa các trường đại học mới khai giảng. Ta chưa biết nên ghi danh học phân khoa nào? Và ta sẽ tự nuôi sống mình chờ đến lúc có chỉ thị của cấp trên bằng cách nào?

Phi chiết tính thật nhanh. Hiện giờ anh còn đủ tiền sống mươi lăm ngày và trả tiền trọ. Nhưng khi số tiền đó hết, thì sao? Ngay lập tức đi kiếm việc làm đã. Phi miên man đắn đo mọi việc trong khi chờ nước từ vòi nhỏ giọt xuống cái la-va-bô đã rạn nứt và ố vàng. Nước tanh tanh. Dù sao định hướng ra được một ý đồ nào đó cũng khiến Phi yên tâm hơn.

Anh lơ đễnh nhìn lướt qua gương mặt mình in trên tấm gương tróc thủy treo lơ lửng trên tường và bước xuống thang. Thang gỗ hẹp và dốc đứng. Mỗi lần anh đặt chân xuống, nó lại rung rinh và phát ra tiếng cót két. Phi nhủ thầm, sáng nay mình sẽ xài sang chút đỉnh, ăn mừng ngày đầu tiên sống ở Huế, cà-phê và một ổ bánh mì thật giòn.

Phi đến gần cô gái mà anh đoán chắc là nhân viên lễ tân của khách sạn. Kiến thức của anh về các khách sạn thật ít ỏi và phần lớn thâu nhập qua sách vở hoặc nghe người khác kể lại. Cô ta ăn mặc tươm tất, áo dài màu trắng (biết đâu cô ta còn đang đi học?). Gương mặt không đẹp nhưng thanh thoát, tự chủ. Cô mỉm cười lễ phép thay cho lời chào hỏi và tỏ thái độ sẵn sàng tiếp chuyện. Phi hỏi cô:

- Thưa, thường đêm, mấy giờ khách sạn đóng cửa?

- Xin ông đừng bận tâm. Khách sạn đóng cửa lúc mười giờ. Nhưng ông có thể về bất cứ giờ mô tùy thích. Sẽ có người trực mở cửa đón những khách về trễ.

Cô dừng lại, vẫn nụ cười trang nhã trên cặp môi thoa nhẹ một chút son tươi mát.

- Xin ông tha lỗi, hình như ông lần đầu tới Huế?

Thánh thót không kém tiếng đàn nhỏ giọt của Linh Vân lúc nửa đêm trong hẻm Cao Thắng. Phi khoan thai gật đầu. Cô gái nói tiếp:

- Du khách thường hay dạo đêm trong cố đô để thưởng thức, những gì bị khỏa lấp giữa cảnh ồn ào, bụi bậm của ban ngày!

Trước kia, Phi đã từng quen biết hoặc tiếp xúc với một vài người Huế như Phương Mai, giáo sư Tuân và bạn bè gốc Huế trong lớp B-1 của anh. Nhưng đó là những người Huế ở ngoài Huế. Chất Huế của họ biến dạng hay pha trộn ít nhiều. Còn kia là Huế ngay trong Huế!

- Cô làm ơn cho tôi hỏi, ở đây có ai muốn thuê người dạy kèm không?

- Thưa có, nếu ông có bằng tú tài toán càng dễ hơn. Những sinh viên khác đến đây học cũng thường kiếm tiền bằng cách này.

Phi nghĩ thầm, cô gái có vẻ rành đời sống sinh viên quá.

- Nhưng tôi chưa quen ai ở đây cả?

- Thưa, cũng không có gì khó. Ông có thể nhờ đăng tin trên báo Công dân, của ông Phan Bá Nguyên. Không bao giờ ông Nguyên chịu lấy tiền của những sinh viên muốn đăng tin để kiếm một chỗ dạy thêm. Tôi có thể giúp ông tìm ra tòa soạn đó. Nó nằm trên đường…

Cô gái mau mắn hướng dẫn anh. Dường như chưa yên tâm, cô lấy giấy bút ra vẽ sơ đồ đường đi cho anh. Anh cảm ơn và định bước ra, cô gái mỉm cười kêu lại, đưa cho anh một tấm cạc để ra vào khách sạn. Tự nhiên, Phi thấy đời sống thật dễ chịu và chẳng có lí do gì để thù ghét mọi người.

Với cảm giác đó, anh lựa một chỗ còn trống trong một tiệm cà-phê khá khiêm nhường, cách khách sạn vài trăm mét. Ngon miệng lạ lùng, anh ghìm mình mới khỏi kêu ổ bánh mì kẹp chả thứ hai. Hơi ngả người trên thành ghế dựa, anh khoan khoái hút thuốc và ngắm những người qua lại bên ngoài. Một vài viên chức ăn vận tề chỉnh, lác đác có người mang đồ vét, thắt cà-vạt to bản thẫm màu hoặc in hoa lấm chấm, đủng đỉnh đạp xe. Rồi những nữ sinh áo dài trắng thướt tha, ôm cặp trước ngực, đi thành từng tốp hai, ba cô trên vỉa hè.

Phi thoáng nghĩ, hay là ở Huế chỉ có hai hạng người, viên chức và học sinh?

Quan sát một lúc, Phi lượm tờ báo để sẵn trên bàn lên coi. Anh nhìn lướt qua, tờ Liên Hoa của Phật giáo tại Huế, do thượng tọa Đức Kính nào đó chủ trì. Trang nhất có bài xã thuyết “Vấn đề Nhân Vị trong đạo Phật hôm nay”. Vốn nuôi ác cảm đặc biệt nặng nề với chữ Nhân vị trong cụm danh xưng Cần lao – Nhân vị, Phi chú ý coi tác giả viết gì.

Nói “Nhân vị” tức chiều theo một danh từ của thời đại. Đáng lẽ ra phải nói: vấn đề địa vị con người trong đạo Phật. Tác giả mở đầu như vậy, rồi giải thích loanh quanh một hồi trước khi trích dẫn một đoạn kinh Ưu Bà Tắc, ca ngợi hoàn cảnh thuận lợi của con người sẵn có, tiến bước mau lẹ trên con đường giải thoát… Trong mọi loài, con người có đủ điều kiện hơn, như về trí khôn ngoan chẳng hạn. Hơn nữa, hoàn cảnh con người không quá khổ như địa ngục, không quá vui như thiên đường và không ngu si như con vật.

Đọc đến đây, Phi bỗng khinh bỉ bỏ tờ báo xuống bàn. Nhai cóc sống để tự sát chưa phải địa ngục à? Lấy mảnh sành cứa đứt bìu dái, nặn hai hòn tinh hoàn ra ngoài, chưa phải là địa ngục à? Thọc cây sắt nung đỏ vào cửa mình một cô gái mười tám tuổi, chưa phải là con vật à? Cứ cho ông tác giả này quỳ sám hối hoặc phơi nắng dưới chân cột cờ, chắc họ sẽ không nói trạng như vậy nữa. Phi dụi điếu thuốc đang hút dở và ra khỏi tiệm.

Toà soạn báo Công dân đặt trong ngôi nhà một tầng nhỏ và xinh xắn. Từ cổng đi vào, qua giàn hoa giấy rậm rịt, người ta dễ lầm nó với cơ ngơi của một viên chức thường thường bậc trung. Ông chủ báo tiếp anh nhã nhặn và kiên nhẫn nghe anh trình bày. Anh rụt rè đưa cho ông mảnh giấy đã viết sẵn mẩu tin cần đăng.

Ông đọc chăm chú:

“Sinh viên có tú tài toán, nhận dạy kèm tại nhà từ đệ thất đến đệ tứ. Cơm đủ ăn!”

Ông mỉm cười:

- Cơm bình dân hay cơm… tổng thống?

Phi ngượng nghịu nghe ông hỏi đùa. Tuy vậy cung cách vui vẻ, giản dị của ông làm anh mạnh bạo hơn. Anh xin phép hút thuốc.

- Tôi không hút thuốc, em cứ tự nhiên.

Đẩy gạt tàn tới trước mặt Phi, ông hỏi tiếp:

- Lỡ có người cần tìm thì liên lạc với ai. Địa chỉ nào?

- Dạ.

Phi sực nghĩ, hay mượn tạm địa chỉ Tuấn Anh, bạn cùng lớp mình, vừa thi trượt tú tài hai. Nghe nói, nó đã về Huế ở với bà cô ruột, đợi sang năm thi lại.

Anh rút bút ra ghi thêm: Hỏi Tuấn Anh, 180 Phan Bội Châu, Huế.

- Thôi được, em cứ yên tâm về. Chúc em may mắn!

Ông niềm nở bắt tay Phi và tiễn anh ra tận cửa. Dường như chính Phi vừa hứa đăng bài cho ông, chứ không phải anh đến làm phiền ông!

Rời khỏi tòa soạn, Phi quyết định cuốc bộ một vòng làm quen với đất Thần kinh.

Khi chàng trai Giáng La hai mươi tuổi trầm ngâm nghĩ ngợi, đưa chân qua cây cầu Tràng Tiền thơ mộng, hẳn chàng không ngờ được rằng: Hương Giang sẽ trở thành con sông của cuộc đời mình. Rồi Hương Giang lững lờ hay xoáy cuộn, qua mười lăm năm tuổi trẻ bùng cháy và gian truân mà chàng sẽ trải qua. Chàng đến với Hương Giang để tìm mình, để khởi sự. Hương Giang sẽ chứng kiến bao lần chàng qua cõi chết ghê gợn, qua máu lửa, thử thách khốc liệt. Và chàng càng không ngờ nổi, sẽ có lúc chàng phải lặn lội đến tận ngọn nguồn sông A Mơn trên dãy Trường Sơn chất ngất, nơi phát nguyên của Hương Giang.

Sự thai nghén một con sông cũng kỳ vỹ như việc thai nghén một con người. Sông A Mơn dùng dằng hơn trăm cây số hoang dại nơi đầu nguồn, để rồi tự tách mình ra làm hai nhánh. Cho tới chợ Tuần thuộc ngã ba Bảng Lảng, hai nhánh ấy giao duyên trở lại làm một trong nguyên khởi.

Hương Giang là đứa con lạ lùng của cuộc giao duyên, là một từ hai như vậy đó!

Hành trình tiếp theo của nàng, vâng, nếu chữ con sông gợi cho ta cảm nhận giới tính nữ của Hương Giang, chỉ còn mục tiêu tối hậu: giao phối với biển!

Nhưng nàng không đến với cuộc giao phối vĩ đại ấy nôn nóng, hừng hục như sông Mã, không ồ ạt, tràn lan như Cửu Long, càng không sủi bọt, xoáy cuộn như Thu Bồn. Nàng trầm tư, mơ mộng và thẫn thờ pha chút luyến tiếc quãng đời trinh trắng của mình trước khi chấp nhận tình yêu của biển cả. Nàng lắng xuống sâu thẳm, miên man lượn lờ quanh những dãy đồi tây nam xanh mướt Kim Long, nơi phát tích Huế bây giờ. Những câu hò mơ mộng như níu kéo dòng chảy hồi tưởng xót xa. Cuộc bể dâu in dấu ấn tàn lụi lên bóng mỗi lâu đài, chùa chiền, lăng tẩm, như để tự an ủi mình trong hào quang của quá vãng.

Cửa Thuận An là kẻ chót tiễn nàng. Và như vậy, hơn một lần, nàng là Huế, linh hồn Huế hòa tan trong dòng nước số phận nàng!

Tiễn nàng ra đến biển, nhập vào cuộc hôn phối, chúng ta quay lại với Phi nãy giờ vẫn phân vân trên cầu, phóng tầm mắt như cố tìm hiểu một không gian còn quá bí ẩn và xa lạ với anh.

Sau này anh mới biết, Cao Bá Quát đã từng viết về Hương Giang: Trường Giang như kiếm lập thanh thiên, còn anh lại chỉ quen thuộc với những con sông xứ Quảng – những con sông chằng chịt và hùng mạnh. Có chi bày hết cả ra hai bên bờ. Bên bồi thành cồn, thành bãi, đến nỗi sáu xã họp lại giữa dòng chảy Thu Bồn – Vu Gia mà thành Gò Nổi. Bên lở, lở sâu hoáy, dòng nước khoét vào đồng ruộng từng mảng lớn như nửa bờ Vĩnh Điện.

Giờ đây, anh đang đối diện với một con sông khác hẳn và một dòng chảy ngầm bên dưới mà mắt anh chưa nhìn thấy. Một con sông khắc khoải và không ít quật cường!

Anh sực nhớ lời thở than của Phương Mai, nơi tiệm cà-phê dưới chân núi Đồng Bò, trên bờ biển Nha Trang, hồi mấy năm trước…

Xế trưa, nắng gắt, Phi tạt vào một tiệm giải khát bên bờ nam sông Hương. Anh ăn một chén chè đậu xanh đánh rồi quyết định về nhà trọ. Mở khóa bước vào phòng, nằm vật trên giường, nghỉ một chút cho lại sức. Không biết làm gì nữa, Phi vùng dậy mở va-li, tính lấy tiền trả nhà trọ. Tái mặt. Số tiền ngót hai ngàn biến mất. Phi cười thê thảm. Chắc mất trên tàu, lúc mình mở va-li lấy áo ấm ra mặc?

Sáng nay anh chỉ dám tiêu một ít tiền lẻ, giờ đây hoàn toàn vô sản. Suy nghĩ một lúc, Phi lấy mấy bộ đồ ra khỏi va-li, gói vào một tờ báo cũ… Còn lại bao nhiêu sách vở, anh xếp ngay ngắn trong va-li, khệ nệ xách xuống nhà. May mắn vô chừng, vẫn cô gái ban sáng. Phi chờ lúc vắng người, chỉ có mình cô đứng trong quầy giao dịch, bèn tiến đến:

- Tôi rớt tiền trên tàu. Cô làm ơn cho tôi gởi va-li sách ở lại đây tạm thế chân tiền trọ. Khi nào có tiền, tôi sẽ quay lại chuộc.

Cô gái ái ngại nhìn anh. Anh chẳng phải khách trọ đầu tiên rơi vào tình huống đáng buồn này. Tuy vậy, cô gái vẫn dịu dàng an ủi Phi:

- Theo tôi, số sách này hẳn phải có giá trị hơn số tiền trọ ông còn thiếu. Chừ do hoàn cảnh, ông phải gởi lại. Ông có thể yên tâm, tôi sẽ giữ chúng nguyên vẹn cho đến khi ông quay lại!

Cô dừng lại, môi hơi mím trước khi nói tiếp:

- Hơn nữa, nếu được gặp lại ông, tôi sẽ rất vui lòng!

Cắp mấy bộ đồ gói trong tờ báo cũ. Phi bước ra đường với cảm giác chơ vơ khó tả. Chẳng bao giờ anh quay lại chuộc cái va-li đó nếu không có một lần ngẫu nhiên, anh có việc phải gặp cô gái dễ mến ấy!

Chân mỏi nhừ, mồ hôi ướt đẫm áo, Phi ngồi xuống chiếc ghế đá đặt dưới cây me um tùm bên bờ sông. Trước mặt anh có một ki-ốt bán các loại sách vở, kinh kệ và đồ cúng bái, thờ phượng Phật giáo.

Đêm nay ngủ đâu? Ngày mai ăn đâu? Làm gì có một cô Phương Mai hào hiệp giữa cố đô buồn thiu này!

Anh đã lội cùng Đông Ba, không kiếm được chỗ làm thuê. Gió hiu hiu, Phi gối đầu lên bọc giấy báo cũ, mắt đờ đẫn…

Đoàn tàu lửa vun vút lao qua cầu Kỳ Lam. Cả con tàu lẫn cây cầu đều trắng toát. Chung quanh biển dâu xanh ngắt, Út Hà reo lên:

- Lẹ lên, anh Ba, Giáng La kìa!

Út mặc bộ đồ mùa hè màu trắng, đang bíu lấy cửa sổ toa tàu, đu người nhìn ra ngoài cho rõ. Chị Hai la:

- Trời đất, té chừ!

Tự nhiên đoàn tàu vỡ tung thành nhiều khúc, lả tả rớt xuống mặt sông đen ngòm. Anh em Phi lơ lửng rơi cùng những mảnh vụn của đoàn tàu. Anh rùng mình, vung tay gạt một mảnh vụn đang táp vào mặt. Mảnh vụn ướt át và âm ấm, hay là một con sâu rớt từ trên cây xuống?

Nửa thức nửa ngủ, Phi nhờm ngớm cái vật ươn ướt trên má. Anh mở choàng đôi mắt nặng trĩu. Gương mặt dị dạng của người đàn bà choán hết tầm nhìn của anh. Anh nhoai người tránh vòng tay ôm của bà và hét lên thất thanh:

- Làm chi kỳ vậy?

Người đàn bà hoảng hốt lui lại, giọng vật nài:

- Ngủ ngon mạ thương, răng con không ngủ…?

Lúc đó, Phi thoáng hiểu. Bắt gặp anh ngủ gà gật trên ghế đá, người đàn bà điên sà tới, nựng nọt anh như ru con. Anh luống cuống nhìn quanh, người ta đang xúm xít lại coi…

Người đàn bà điên chợt khựng lại, nghiêng tai nghe ngóng. Mặt bà ngây dại như con nít áp tai vào vỏ ốc biển, cố hóng lấy thứ âm thanh bí ẩn, mơ hồ của đại dương cất giấu trong đó. Người điên có thể mất khả năng suy nghĩ, hồi tưởng hay phân biệt màu sắc, phải trái… Nhưng khi một tín hiệu nào đó tình cờ thắp lại trong tiềm thức tối tăm, hỗn độn một điểm lóe sáng thì họ đặc biệt nhạy cảm với tín hiệu đó.

Người đàn bà điên không để ý đến đám người hiếu kỳ và cả “đứa con của mình”, bà lại lững thững đi tiếp và hát nghêu ngao bằng một chất giọng trong vắt, êm ái, khác hẳn điệu bộ ngây ngô bên ngoài.

Chợ Dinh bán áo con trai…

Bà lại tiếp tục lang thang tìm nó về ru ngủ trong vòng tay của bà. Khi bà vừa rời khỏi khoảng râm mát nơi bờ sông dưới những tán cây che, bỗng dưng sung sướng kêu lên:

- Trời đất, con tôi đây, con tôi đây rồi…!

Và bà cúi xuống cái bóng của chính mình đang đổ dài trong nắng chiều trên mặt đường. Thì ra, trước khi gặp Phi, bà ta đang theo dõi cái bóng của mình và đinh ninh cái bóng ấy chính là đứa con bà cần tìm… Bất thần, những vòm cây che mất ánh nắng và cái bóng tan biến. Bà hoảng hốt đi tìm nó. Bà tưởng nó, cái bóng – đứa con của bà, tấp vào ghế đá mà ngủ gật. Bây giờ, bà có thể yên tâm, cái bóng sẽ không rời bà hoặc chạy trốn dọc theo con đường tràn trề nắng!

Có lẽ mẹ mình còn sống cũng trạc tuổi người điên kia. Phi chua xót nghĩ tới mẹ. Người điên ăn mặc nhớp nhúa, rách rưới và dây nhợ buộc chằng chịt quanh người. Phi dụi mắt, cơn mộng dữ giữa xế chiều cố đô làm nẩy sinh mối buồn bã thương tâm, hơn là sự lo âu trong lòng anh.

Đám đông tản đi, một người đàn bà ăn vận xuềnh xoàng, chép miệng kể lể:

- Thiệt tội, bà nớ ở cạnh nhà tôi. Chồng bà gác đường xe lửa trên cầu Bạch Hổ, con gái lớn tự tử đâm đầu vô xe lửa, thằng con trai đang học Quốc học tự nhiên bỏ nhà đi bụi đời, đứa kế bại liệt, con gái út chết đuối, chưa kể một thằng con trai chết do thương hàn nhập lí…

Phi thở dài, rã rượi bỏ đi. Mẹ chết đói và mẹ khùng khác chi nhau. Huế có hạng viên chức và học sinh, Huế còn có những gia đình tan tác. Quên cả cơn đói đang giày vò bao tử, Phi nặng nhọc vượt qua mặt những ki-ốt bán sách, ảnh Phật giáo. Không biết đi đâu nữa, vẫn những tà áo trắng chập chờn lượn trên cầu, những cánh chim biển trắng toát kia từ biển lạc vào vùng đất chết lặng, buồn tẻ này để tìm chi?

Con người thường quy kết cho thiên nhiên những dụng ý trớ trêu. Dường như mỗi diễn tiến của nó, từ cơn gió thoảng qua hàng me xào xạc đến cơn mưa dông cuối tháng tám dương lịch, đều chỉ nhằm một mục đích: khoét sâu vào mớ cảm xúc u ám, đơn độc của những kẻ đang núp dưới những hàng hiên của đường Lê Lợi. Xưa kia, thời thuộc Pháp, đấy là đường Giuyn Phe-ri, nơi những công sở, trường học, dinh thự lớn của Huế nối nhau đến tận bến đò Thừa Thiên – Phủ Doãn.

Trong chốc lát, bầu trời đang xanh và mây trắng soi mình xuống dòng sông Hương trong vắt đến nỗi, nếu nhẩn nha đứng trên cầu Tràng Tiền ngó xuống ta có cảm tưởng, những con cá dưới đáy sông đang bơi lội trong đám mây trắng ấy đã biến mất…

Phi giật mình, trời tối sầm rất mau. Những đám mây xám bất thần chiếm hết khung trời Huế và nhả ra từng luồng gió nóng. Mưa mù mịt, đùng đùng trên đường phố. Bên cạnh anh, hai thanh niên đang núp mưa, khoái trá chuyện trò. Phi nghe nhưng không hiểu gì. Và không một lần ngó anh, họ đắn đo chút ít trước khi băng qua đường dưới làn mưa đục lờ. Phi dựa lưng vào tường ngó ra. Từng đôi trai gái thong thả dạo phố, từng hai mái đầu chụm lại dưới mỗi tán ô che, thướt tha và bất cần đời. Cơn mưa dông tạo thành lớp vỏ che ngăn cách cuộc dạo chơi thơ mộng của họ với những gì rác rưởi bùn lầy xung quanh. Họ bỏ quên đường phố, hàng hiên và cả cơn mưa, chỉ để nhận biết hơi thở gần gũi và mái tóc ướt rượt, thơm ngây ngất của người tình của họ.

Phi lạnh run, thọc tay vào túi quần. Thèm khủng khiếp một điếu thuốc hạng nặng.

Đêm, chợ Đông Ba hiện hình một thế giới khác biệt diễn trong bóng tối hôi hám, nồng nặc mùi chợ búa, khăm khẳm mùi mùn thớt băm thịt, mùi lá bánh lăn lóc trong những vũng nước đen lờ nhờ và mùi của đám người vô gia cư cùng những kẻ hành khất tá túc trong những sạp hàng trống rỗng.

Phi chán cả nghe và nhìn.

Anh nằm im, cố nín thở để khỏi phải ngửi đủ thứ mùi khó chịu. Tiếng chuông nhà thờ Phú Cam nửa đêm như tiếng điểm giờ ngục thất, của điếm canh, của đêm trước mặt trời sẽ lặn vĩnh viễn.

Đói, lợm mửa và mất ngủ. Phi khắc khoải chờ sáng. Chắc Huế cũng có ngân hàng máu, ta sẽ bán máu!

Bán máu không dễ dàng như anh tưởng. Người bán máu ngồi xếp hàng dài trên dãy ghế kê dọc hành lang.

Ta cứ phải bổ túc thêm những gì ta đang học bài nhập môn Huế. Huế có khá nhiều người phải bán máu như ta.

Mồ hôi râm rấp trên trán, Phi lặng lẽ đợi đến lượt mình. Những gương mặt này khá quen thuộc, ta đã gặp đâu đó? Phải rồi, trên các toa tàu hạng bét, trong khu chợ Đông Ba mỗi đêm ập xuống. Tất cả những người kia và ta là đồng loại, những kẻ bán máu để có ít tiền còm mà sống sót và hau háu chờ nhận miếng bít-tết nguội ngắt của ngân hàng máu ban cho theo quy định hiện hành. Ha, ha, bán máu đổi cơm!

Trời đất, mới tinh mơ, sao Hương Giang đã cháy nắng thế kia? Anh lảo đảo nhắm cái bóng người mặc áo blu trắng để đột nhập căn phòng sặc sụa mùi cồn, mùi phê-nôn và những dụng cụ mạ kền sáng rợn người. Ông Hoài ngồi sau chiếc bàn giấy lớn, thấy người thanh niên lảo đảo bước vào, biết ngay là anh sắp lả đi vì kiệt sức, cau có bảo cô y tá: “Đưa anh này ra. Cô muốn tôi ngồi tù vì giết người hả?”

Phi tỉnh hẳn như bị hắt nước lạnh vào mặt. Lấy đi, hút đi, tôi cần tiền, có lẽ đôi mắt van nài của anh đã thốt lên mớ ngôn từ câm lặng ấy. Người đàn ông sa sầm nét mặt:

- Cậu người ở đâu?

- Dạ, Quảng.

Trò chuyện ngắn thì được. Tôi đói và buồn ngủ mờ cả mắt. Xin ông lẹ lên, chưa bao giờ có triệu chứng ho lao hay trùng giang mai trong máu tôi!

- Cậu tới Huế học à?

Phi gật đầu. Mệnh lệnh vắn tắt kinh khủng, ra Huế học và chờ!

- Cậu nhịn ăn mấy ngày rồi? Tôi đang cần tìm người dạy kèm cho mấy đứa con tôi. Mời cậu!

Người đàn ông đưa mắt cho cô y tá. Cô này bỏ ra ngoài.

- Tôi là Hoài. Còn máu của cậu, – ông ta thấp giọng, – cậu tưởng xứ Quảng nhà cậu còn nhiều máu lắm hả, đồ ngu. Cố dành dụm máu cho những việc khác.

Sao giọng ông lại nghẹn ngào thế không biết? Cô y tá mang đến một ly sữa và một ổ bánh mì để lên bàn rồi kín đáo bỏ ra.

Từ ngân hàng máu nằm trên đường Ngô Quyền đến nhà ông Hoài, phải đi ngang qua khu nhốt bệnh nhân tâm thần. Đó là hai dãy nhà trệt và những chấn song sắt chặn ngoài cửa thay cho những cánh cửa bình thường. Thoạt trông, chúng giống như những dãy chuồng thú. Đi bên ngoài, Phi thoáng thấy những người điên sau chấn song sắt đang kêu gào, tay chân múa may. Anh vội quay mặt, bước đi.

Nhà ông Hoài sạch sẽ, gọn gàng. Vợ chồng ông chỉ có một đứa con gái duy nhất mười sáu tuổi và bị câm từ nhỏ. Ông nói dối Phi, ông thương cậu sinh viên nghèo phải bán máu, thác cớ mời gia sư, chứ trong nhà ông chẳng có ai để mời gia sư dạy kèm hết.

Còn ông nghĩ thầm khi quyết định mời anh về nhà mình. Chắc rồi, cậu này không thể là mật thám. Mật thám đâu có chịu đói lả, lết vào chỗ bán máu?

Phi thầm đoán. Hình như bà vợ của ông không phải là người Việt, da bà ngăm ngăm đen và mũi hơi khoằm. Ông nói với vợ bằng tiếng Pháp pha lẫn tiếng Việt và thứ tiếng gì đó, Phi nghe rất lạ tai. Chỉ thấy bà nhìn Phi mỉm cười gật đầu và vui vẻ xuống bếp. Còn cô con gái câm luôn mỉm cười bẽn lẽn nhìn khách trò chuyện với bố mình.

- Cậu cứ ở đây với tôi, khi nào kiếm được chỗ dạy kèm hãy đi. Tôi ở Thái Lan mới hồi hương năm ngoái. Lẽ ra, – ông thở dài, – tôi định về Bắc, nhưng lại thay đổi ý định vào phút cuối và bây giờ thì quá muộn để ra đi một lần nữa.

Anh trở nên thân thuộc với ba con người ấy sau khi số phận run rủi cho anh gặp ông Hoài trong ngân hàng máu. Cô gái câm có thể ngồi hàng giờ nhìn anh không chớp mắt, khiến chính anh phải ngượng nghịu bỏ đi chỗ khác.

Anh đã lội rạc cẳng, thí xác vẫn chưa tìm được chỗ cần thuê gia sư. Mỗi lần anh từ ngoài phố thất vọng não nề trở về, Cảm Ngôn lại mỉm cười đón anh.

- Đời mấy tí hả? Tình nghĩa trên hết. Cậu mồ côi mẹ, tôi là đứa con hoang. Phu quét rác lượm được đứa trẻ sơ sinh trong thùng rác công cộng gần ngõ Cố Đạo, Hải Phòng, bế nó xuống cảng, bán cho mấy bác thủy thủ say rượu. Mấy bác thủy thủ này ham vui, đứa bé cũng không khóc, cho gì ăn cũng xong. Một hai năm sau, đám thủy thủ theo tàu A-mi-ran Sác-ne qua Thái. Nghe nói bên Thái có người thích mua trẻ con mồ côi, họ đưa tôi qua bán cho một gia đình gốc Quảng Bình. Lớn lên, bố mẹ nuôi tôi cho tôi học y khoa và tôi yêu người đàn bà Thái kia. Dân Thái sùng đạo Phật, nhưng không thực dụng quá đáng như cánh Đại thừa bên ta. Sanh đứa con đầu lòng bên ấy, nó câm như chính niềm khắc khoải cố hương của cha nó. Tôi đặt tên cho nó là Cảm Ngôn. Từ bữa cậu về đây, tôi mới thấy lưỡi nó bắt đầu cựa quậy. Nó sẽ lên tiếng!

Phi giận tái mặt nhìn tờ đơn của mình nằm hơ hỏng trên nền gạch bóng. Giám đốc Nha học chánh Trung nguyên – Trung phần kiêm hiệu trưởng trường bán công Nguyễn Tri Phương, giận dữ nhìn chõ vào mặt anh. Giọng lão the thé lọt ra khỏi hai hàm răng chuột:

- Về đi, chừng nào tôi còn tại chức, anh đừng vác mặt đến đây xin xỏ. Lũ Quảng nhà anh là một lũ ăn cháo đá bát, vô ơn bạc nghĩa và tráo trở. Thử hỏi vì lòng thương hại, tôi đứng ra bảo lãnh cho anh em giáo sư Lưu, Vi trước chính quyền và cho họ một chỗ dạy yên ấm. Thế mà lũ đó phản trắc, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Hừ, thầy Quảng nhà anh là cái thá gì mà bậm trợn vậy?

Ra khỏi văn phòng, Phi còn nhớ nguyên thái độ hằn học cay cú của lão và cách thức lão bày tỏ lòng căm ghét những ông thầy Quảng của lão. A, chắc chắn lão này từng dính líu đến cái chết của thầy Vi. Phi rúng động. Rất có thể lão đã từng tham gia kháng chiến và bây giờ lão trở cờ.

Phi về, thuật lại cuộc gặp trên với ông Hoài. Ông cười, bảo anh:

- Hạng như lão chửi thầy đồ Quảng thậm tệ có gì đáng ngạc nhiên đâu. Lão ngán là phải. Thầy Quảng dạy chữ đã đành, còn thêm nghề phụ, làm thuốc cho dân cư quanh vùng thầy gõ đầu trẻ. Mầm mống bạo loạn khởi từ đó. Thầy Quảng Trần Quý Cáp mất đầu chỉ vì cả gan dẫn học thuyết mới cho đám dân quê Diên Khánh vốn nhu thuận, phục tòng. Tới Huế, dòng tiếng nói uyển chuyển, mềm mại, tinh tế của phía Bắc kết thúc, để rồi từ Quảng Nam, bắt đầu một thứ giọng bạch bản, chất phác, mạnh mẽ như phun lửa vào mặt người nghe. Người xứ khác bảo:

- Súng nổ cái rục!

Người Quảng cãi:

- Súng Tây nổ cái rẹt!

Người xứ khác khen:

- Gấm Tàu đẹp!

Người xứ Quảng cãi:

- Nhung phương Tây mềm!

Cứ thế Quảng Nam thành hay cãi!

Phi kinh ngạc nghe ông Hoài nói về ông đồ Quảng. Ông cười:

- Ngạc nhiên lắm hả? Một anh lang băm vong gia thất thổ sao lại biết nhiều về ông đồ Quảng ư? Này, cậu đừng quên, từ thời cụ Phan Bội Châu vận động Đông Du, thiếu gì những đồ Quảng đi theo, trong số đó, nhiều người dạt cả sang Xiêm.

Bữa ăn tối, Phi không đụng đũa tới đồ ăn, mặt buồn xo. Cảm Ngôn nhấp nhổm trên ghế. Cô linh cảm, người con trai kia sắp bỏ đi. Bà mẹ cũng uể oải. Ông Hoài đắn đo:

- Có chuyện gì phải không, cậu Phi?

- Dạ, có!

Phi giật mình đáp, anh chợt nhận ra không khí bữa ăn lắng xuống hoàn toàn do lỗi anh.

- Thưa bác, ông chú cháu trong quê đau nặng, người nhà nhắn cháu về.

Biết Phi thác cớ về Quảng, ông Hoài nhẹ nhàng khuyên:

- Trong đó đang lộn xộn. Hễ ông chú qua khỏi, cậu lo ra cho kịp khai giảng. Còn chuyện khác đến đâu hay đến đó!

Phi tránh không nhìn Cảm Ngôn. Chẳng có gì phải sửa soạn, Phi tự chế nhạo mình. Người ta áo gấm về làng, còn mình phải giấu bặt chuyện đặt va-li thế chân tiền trọ và bán máu.

Anh sốt ruột, đến giờ Giáng La vẫn im lặng là sao? Hay là người đàn bà ấy đã gạt anh, không có tổ chức nào muốn anh ra Huế học và gây dựng phong trào sinh viên, học sinh? Thế là anh phải tự quyết định quay về Giáng La, bắt liên lạc với những người có trách nhiệm, đặng nhận những chỉ thị cần thiết và phương hướng hoạt động sắp tới của anh.

Ông Hoài lấy xe xô-lếch chở anh ra bến xe An Cựu. Mua vé xe đò xong, ông còn đưa cho anh vài trăm xài dọc đường. Anh từ chối không được, đành cảm ơn ông và nhận.

Xe chuyển bánh, ông đứng trong bến vẫy anh. Khi chiếc xe đò lách ra khỏi bến xe huyên náo, chen chúc, Phi giật mình thấy Cảm Ngôn đứng sẵn bên ngoài. Nhận ra anh, cô gái giơ tay ngoắt ngoắt, mắt nhòa đi. Làm sao cô biết anh đi mà tiễn? Lúc theo ông Hoài ra ngõ, anh tưởng mẹ con Cảm Ngôn đang ngủ trưa, nên không muốn đánh thức họ chào tạm biệt. Anh ngồi bó cứng và hơi cúi đầu xuống, sợ hãi tránh cái nhìn của cô gái câm. Cái nhìn ấy nói nhiều thứ quá, anh sợ những lời đó.

Năm năm rồi mới đi lại con đường Phong Thử – Giáng La, Phi ngơ ngác quan sát sự đổi thay đáng sợ của quê nhà. Trước khi về Giáng La, Phi đã ghé vào tiệm may của cậu Tám Hơn trong chợ, hỏi sơ tình hình. Cậu Tám gặp Phi vừa mừng vừa run. Cậu khuyên Phi ở tạm nhà cậu đợi, cậu sẽ nhắn cha Phi ra gặp. Chớ còn về làng bây giờ ớn lắm. Đi một bước lính bám một bước. Cũng chẳng biết tin ai bây giờ. Quận Thái làm gắt máu chứ không lơ tơ mơ như hồi Sáu Lung còn làm quận trưởng đâu. Nhất là chủ tịch hội đồng Điện Tiến bây giờ không phải người xa lạ, thằng Đán chớ ai. Hắn từng vô du kích cùng lứa với Ba Đoát, chừ nắm quyền sinh quyền sát, hét ra lửa. Hắn lại là dân Đắc Ký, thuộc hết trơn gia phả từng dòng họ ở Giáng La. Theo lời cậu Tám Hơn, dường như quận trưởng Trần Quốc Thái đã lập được trật tự quốc gia trên mảnh đất cộng sản này rồi. Tội nghiệp, cậu mới phất lên một chút, có hai bàn máy khâu và một tiệm may nhỏ, đã run rồi!

Càng gần đến Giáng La, Phi càng phải dừng lại nhiều lần trình giấy cho các chốt gác dân vệ. Xưa nay, xóm làng vốn được bao quanh bởi những luỹ tre xanh. Bây giờ tre pheo bị đốn trụi, ngôi làng như bị lột truồng, để trơ ra những ngôi nhà lụp xụp đổ nát, xiêu vẹo, trống tuềnh trống toàng. Thay vào đó là ấp chiến lược được bao quanh bởi bức thành đắp bằng đất gồ lên, chạy dài sừng sững và bên trên cắm tua tủa những mũi chông tre vót nhọn hoắt, kiên cố như những chiến luỹ thời cổ. Bên dưới, dọc theo chân thành, những hào rãnh ngập đầy nước, dưới hào cũng cắm chông chi chít.

Phi nghe đồn nhiều về những ấp chiến lược, bây giờ mới hiểu thế nào là “hai sông ba núi”. Đường vào làng có một chiếc cổng bằng gỗ chăng dây kẽm gai, có thể dâng lên sập xuống và một nhóm dân vệ áo đen đứng trấn.

Giống hệt một nhà tù thực thụ, nhận xét này làm Phi rùng mình khi đến trước trạm kiểm soát cuối cùng để vào Giáng La.

Thực ra Trần Quốc Thái không quá khoa trương, khi hắn công khai tuyên bố đã đánh tan tác mười ngàn đảng viên Điện Bàn. Nhưng Thái đã đắc ý quá sớm khi hắn không hiểu gì về mảnh đất và con người Điện Bàn – Giáng La. Cộng sản ở đây không chỉ bao gồm những người đã từng đưa tay lên thề trước cờ Búa Liềm hay có tên trong danh sách các chi bộ. Bởi vậy, khi mười ngàn đảng viên này bị giết chóc, tù đày, theo dõi thì những người nông dân chân lấm tay bùn, vốn gắn bó với đất đai, đồng ruộng, làng xóm và sự nghiệp cách mạng khởi từ trước cả Mùa Thu ấy, lại tiếp tục tự coi mình là đảng viên, âm thầm và tự nguyện, tiến hành cuộc chiến đấu sống mái với kẻ thù. Vì vậy, danh sách đảng viên thực sự ở đây được nối dài đến vô tận!

Điện Bàn bước vào cuộc chiến tranh hai phía trong bối cảnh như vậy. Không còn tình trạng ném súng xuống sông, hoặc lựu đạn cầm tay mà chịu để tụi dân vệ tay không bắt, như cựu bí thư tỉnh ủy mấy năm trước. Mỗi lần nhớ tới cái chết của chồng, Mười Lúa vừa thương vừa giận. Để thấm thía sự thật đơn giản nhưng sinh tử ấy, chị và bao đồng chí khác của chị đã phải đóng học phí bằng máu như Ba Đoát.

Chị mới được thả về dưới danh nghĩa can cứu sau thời gian bị tù vì tội danh: hốt cốt cộng sản, xách động dân chúng gây rối! Ba Đoát bí mật bắt liên lạc với chị, mấy bữa sau đưa chị về Sùng Công gặp Hồ Xuân. Ông bảo chị lo sẵn, hễ có dịp là đưa con trai chị ra Bắc theo đường dây Trường Sơn. Còn chị, ông giao hành động đơn tuyến, trực tiếp liên hệ với đội công tác của Ba Đoát.

Chị giúp Ba Đoát làm hầm bí mật trên miếu Gò Sen, gần Cồn Mả, còn chính chị khoét ruột cây rơm và lắp phên đôi trong nhà, làm công sự mật. Trần Quốc Thái đích thân xách roi gân bò, xuống tận nơi làm đốc công, ráo riết xây dựng và củng cố các ấp chiến lược trong khu vực này. Cả hai phía đều nhận thức được tầm mức sống còn của mình liên quan đến việc ấp chiến lược vững mạnh hay tan vỡ từng mảng. Nói cách khác, cả hai phía quần nhau mỗi chuyện: giữ và phá ấp chiến lược.

Cán bộ, đảng viên qua lại Sùng Công đều biết rõ, muốn phá ấp chiến lược hay vượt sông an toàn, không thể không nhờ tay mẹ Cộng.

Cứ chiều đến, mẹ giả đò mót củi, lân la đến gần các hàng rào tre, lẳng lặng tưới dầu lửa. Đêm, anh em đội công tác về, chỉ cần một mồi lửa từ que diêm chích vào là hàng rào ấp bén lửa cháy đùng đùng. Đêm nào vắng mẹ, anh em có việc gấp phải vượt sông, thế nào cũng có chuyện, không vấp ổ phục kích của bọn dân vệ cũng sa vào bãi chông. Mà dân vắng đội công tác một đêm cũng ớn lạnh với tụi thằng Đán!

Hồ Xuân xuống đứng chân hẳn Sùng Công, chỉ đạo công tác đánh ấp chiến lược, phá thế kềm kẹp của địch, nghe Mười Lúa về báo cáo.

Sùng Công có ba anh em họ Hoàng, đều là cơ sở tốt. Chính họ bàn với chị kế hoạch diệt thằng Đán và mâm hội đồng Điện Tiến. Nhưng chị thấy kế hoạch ấy phiêu lưu quá, lại biết tính ào ào, đại khái của Ba Đoát, nên phải trực tiếp báo cáo và xin ông cho ý kiến.

Hồ Xuân cân nhắc riết một hồi, không thấy cách nào hơn mà tình thế này kéo dài ngày nào, tổn thất nặng ngày ấy. Phá hàng rào, đốt vọng gác không khó lắm, nhưng thằng Đán còn sống, bà con không bung ra nổi với nó!

Ông đành gọi Ba Đoát tới, dặn tỉ mỉ, bằng mọi giá không được làm anh em họ Hoàng mất một miểng lông chân. Chưa yên tâm, Hồ Xuân còn quyết định, trong quá trình trận đánh diễn ra, ông sẽ bám tại nhà người em út họ Hoàng, để theo dõi và kịp thời ra những mệnh lệnh cần thiết.

Theo kế hoạch, ông Hoàng Hai, phó ban đại diện sẽ làm thịt dê tại nhà người em và ông Hoàng Ba đứng ra mời chủ tịch Đán cùng mâm hội đồng tới ăn.

Màn khai từ khá suôn sẻ, bọn này hớn hở đến ngay. Đang ăn uống rượu chè, Ba Đoát từ chỗ phục kích lao vào đánh tưới. Nhưng chỉ “diệt” được mỗi một mình ông Hoàng Hai! Và bọn thằng Đán chạy thoát.

Hồ Xuân giận tím mặt định la Ba Đoát, nhưng chính ông nhận ra lỗi của ông, người duyệt kế hoạch mà không lường được khả năng Ba Đoát làm lỡ việc lớn. Bất chấp nguy hiểm và lời can ngăn của các chiến sĩ cảnh vệ, ngay tối hôm đó, ông đến thăm gia đình ông Hoàng Hai. Ai dè thấy ông, thân nhân ông Hoàng Hai không oán hận mà còn hỏi: Có nên khiêng xác ông Hoàng Hai lên trụ sở hội đồng, kiện tụi này bất lực không giữ nổi an ninh để Việt Cộng tung hoành như chỗ không người?

Nghe họ hỏi, nước mắt ứa ra trên gò má, Hồ Xuân thắp nhang cắm lên chén gạo đặt trước bài vị ông Hoàng Hai, nói thầm:

- Dân Sùng Công sẽ không bao giờ quên ơn ông!

Ngay cả lũ chó đen giữ cổng ấp chiến lược, Trần Quốc Thái cũng phải điều từ nơi khác đến. Nhận xét như vậy, Phi yên tâm khi thấy không có người Giáng La nào trong tốp dân vệ gác lối ra vào làng. Tụi này lật ngược xuôi, săm soi thẻ học sinh của Phi. Đất Giáng La nổi tiếng cộng sản làm sao đẻ ra cậu tú này? Trong lúc anh bước vào làng, cả bọn xầm xì bàn tán đằng sau.

Vừa nhác thấy bóng con, cha anh hốt hoảng kéo anh vào buồng trong:

- Trời đất, con về hồi mô, răng lại về làng? Răng không ở lại chỗ cậu Tám rồi nhắn cha ra?

- Con về thăm cha, thăm dì và bà con, mắc chi phải sợ?

Phi cố trấn an cha. Ông khăng khăng:

- Thôi, thăm rứa đủ rồi. Chừ mi đi ngay ra chợ Phong Thử tau mới yên bụng… Ở đây phút mô, chết dễ như không, Phi ơi!

Phi ngẩn người chưa biết nghĩ sao, người cha vẫn nằng nặc bắt con đi ngay. Bà dì kế ở dưới bếp đi lên, mếu máo:

- Phải thằng Ba đó không?

Dì già đanh, hai má tóp lại, nhăn nheo như bà già bảy, tám mươi tuổi. Bỗng nhiên, một hồi trống giội lên, thúc bách. Cha run run lập cập bảo Phi:

- Cha phải đi trình diện. Con đi ngay đi, cha và dì sẽ ra sau!

Thấy cha cuống quýt, Phi đành phải gật đầu cho cha yên tâm. Cha nhớm chân định chạy, Phi níu lại:

- Cha nhắn cô Mười giùm con, con đã về.

Không biết cha có nghe thấy không, chỉ thấy ông lật đật phóng ra sân, cắm cúi chạy như bị ma đuổi. Phi hỏi:

- Trống chi mà dữ vậy, dì?

- Trống kêu những người can cứu tới trình diện. Cha mi cũng thuộc loại đó. Tới trễ, nhẹ cũng bị đánh u đầu, nặng có thể bị tù, bị giết!

Cả nửa giờ sau, cha mới phờ phạc trở về nhà. Mặt cúi gằm xuống đất, ông trách con:

- Tau biểu, mi lì không chịu nghe. Chừ ông chủ tịch kêu mi lên Hội đồng, tính răng?

Ngột thở dữ, Phi nghĩ thầm, đánh hơi lẹ thiệt, mình về chưa đầy giờ đồng hồ. Nó tính kêu mình lên làm gì? Tra hỏi chuyện cậu Chín à? Hay chuyện chị Hai? Hay tra hỏi xem có phải mình về móc nối với những người nằm vùng không? Phi băn khoăn bước ra ngõ. Cần nghĩ sẵn những câu trả lời hợp lí việc mình về thăm nhà. Mình là sinh viên Huế kia mà?

Đột nhiên từ ngã rẽ, một người đàn bà làm như tình cờ, đi cùng chiều với Phi một quãng. Thiếu chút nữa Phi mừng rỡ kêu lên: Cô Mười.

Mười Lúa thản nhiên dấn lên trước, nói trống không:

- Về thăm nhà mắc chi!

Rồi Mười Lúa tách qua lối khác. Phi thấy vững tâm hơn. Nghĩa là còn có những người nằm vùng trong một tổ chức chặt chẽ, ở bên Phi.

Ba tên áo đen ôm súng đang tán gẫu trên bậc thềm trụ sở, thấy Phi, nhỏm cả dậy:

- Ê, đi mô?

Phi dừng lại, nhưng chưa vội trả lời. Mãi khi chúng xáp tới, súng ống lăm lăm, Phi mới thong thả đáp:

- Tôi lên thăm ông chủ tịch Đán!

Đán ngồi trong, thò cổ ngó ra. Coi thử khẩu khí cậu tú Giáng La sao? Bỗng im lặng, rồi chợt nghe cậu tú mỉa mai:

- Mấy anh đừng mất công tìm lựu đạn trong người. Tốt nhất mấy anh vô nói ông Đán ra tiếp khách!

Đán hơi lạ, cậu tú có vẻ chững chạc quá? Đán quê Đắc Ký, cách Giáng La một con sông Bình Phước, lạ gì gốc gác mạt rệp của cậu tú, cũng như không người Giáng La nào không biết cái tiểu sử xấu xa của đương kim chủ tịch hội đồng Điện Tiến. Đán đã từng bị Ba Đoát (thời ấy là chấp ủy thanh niên xã) đuổi ra khỏi tổ chức thanh niên và du kích vì tội trai gái. Đán bỏ về Đắc Ký làm ruộng và nuôi mộng rửa mối nhục trên. Khi chính quyền Diệm về tiếp thu Điện Bàn, Đán là kẻ đầu tiên dưới chân núi Bồ Bồ lên thị trấn đón tân chế độ. Dĩ nhiên, Đán biết chắc, tên hắn được Ba Đoát ghi lên hàng đầu trong danh sách ác ôn phải giết. Hắn chấp nhận tình trạng khủng khiếp đó. Nhưng hắn cũng biết, không nên gây thù chuốc oán với cậu tú mặt bấm ra sữa kia. Với mảnh bằng tú tài toàn phần, thằng nhóc khốn nạn có thể vào trường võ bị Đà Lạt hoặc quốc gia hành chính. Mười năm nữa, nó sẽ được móc lon trung uý hoặc chức quận phó. Lúc đó nó sẽ nhớ lại tất cả những gì bữa nay ta đối xử với nó. Hơn nữa, dù sao, cậu tú cũng là người phe mình, dĩ hòa vi quý vẫn hơn!

Đán vừa bước ra cửa niềm nở đón cậu tú, vừa đắn đo như vậy. Phi đâm ra lúng túng, tại sao Đán khúm núm với mình thế kia? Phi còn thiếu sự từng trải để hiểu ngay lí do của thái độ khác thường ấy nơi tên đồ tể.

Thăm viếng xã giao ông chủ tịch Hội đồng xong. Phi quay về, gặp nhiều tốp dân làng đi lại trên đường. Gặp ai, anh cũng nhã nhặn chào hỏi vì toàn bà con họ hàng, vai vế trên anh. Nhưng anh ngạc nhiên, mọi người nhìn anh với những cặp mắt e dè, đầy dò xét khó chịu. Nhất là vài người đã thấy cảnh Đán tiễn chân anh ra tận cổng trụ sở và thân thiết bắt tay anh.

Chấp chóa, cơm nước vừa xong, Phi ngồi xổm trên bậu cửa nhìn ra sân, hút thuốc. Chợt một bóng người lúp xúp đi tới. Anh hơi nhỏm dậy và dụi điếu thuốc đang cháy dở xuống đất. Bóng người đã lù lù tới sát bậc thềm. Phi rùng mình. Cái bóng cất tiếng khàn khàn:

- Chào cậu tú!

- Trời ơi, anh Ba.

Phi kêu chưa dứt tiếng, Ba Đoát đã đun mũi súng sát bụng anh. Cha Phi nghe tiếng kêu của Phi lật đật chạy ra, nhìn Ba Đoát lăm lăm chĩa súng, còn con ông đi giật lùi, ông la lên nghẹn giọng:

- Răng rứa?

- Đừng la làng, tôi bắn chết tươi cậu tú chừ, đi!

Ba Đoát lạnh lùng hất mũi súng, Phi bàng hoàng đi theo ra ngõ, không hiểu Ba Đoát giỡn hay thiệt. Cha Phi chết lặng giữa sân. Trời ơi, lọt vô tay Ba Đoát coi như rồi!

Ba Đoát lặng lẽ đi sau, dừng mũi súng thúc vào lưng Phi để hướng dẫn. Mấy lần Phi tìm cách quay lại, Ba Đoát gằn giọng:

- Lẹ lên!

Phi ngậm tăm, mắt anh dần quen với bóng tối. A, Ba Đoát đưa anh ra Cồn Mả. Cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng Phi. Hình ảnh Ba Đoát ngồi xổm lưng dựa vào bia mộ bằng đá gắn trên mả vôi, mắt trừng trừng ngó phía trước sống lại. Gió thổi lạnh buốt dù mới cuối tháng tám tây, toàn thân Phi nóng ran nỗi sợ hãi: Không biết mình đã phạm phải tội gì? Qua khỏi dãy mả bên ngoài, Ba Đoát nói nhỏ:

- Dừng lại, quỳ xuống, nghe tau hỏi!

Phi đang luống cuống, bỗng nhiên nỗi hờn giận tủi nhục khiến Phi phản kháng:

- Sao lại bắt tôi quỳ? Tôi phạm tội gì, anh Ba?

- Tội gì rồi biết, quỳ xuống!

Ba Đoát thúc mũi súng lạnh toát vào gáy Phi. Anh biết, đừng chọc giận con người ghê gớm này. Có chi thanh minh sau, khi con người này đã qua cơn kích động! Phi miễn cưỡng quỳ xuống. Ba Đoát dường như hài lòng, mũi súng lơi ra một ít:

- Răng chừ mi mới chịu về? Ăn phải đũa của mấy ông bà cách mạng xa-lông trong nớ rồi phải không?

Đang bị nỗi sợ hãi làm buồng ngực đau nhói, nghe chữ “cách mạng xa-lông” buột ra khỏi miệng Ba Đoát, suýt nữa Phi bật cười.

- Thằng Đán gọi mi lên giao việc chi? Khai thiệt thì tau khoan hồng!

Vô lí khủng khiếp, hắn kêu lên trình diện, có vậy thôi. Nhưng Phi không dám cãi ngang xương với Ba Đoát:

- Đâu có, hắn bắt tôi trình diện!

- Nói láo, kêu mi trình diện mà hắn phải khúm núm đưa mi ra tận cổng trụ sở à? Mi tính gạt con nít hả?

- Thì chính anh con nít chớ ai, đưa súng vô bụng người ta bắt đi, bắt quỳ rồi tra hỏi toàn những câu dật dờ. – Phi tức tối đứng thẳng dậy. – Anh không có quyền đối xử bất công với tôi như vậy!

Ba Đoát đang dịu dần đi, bỗng thái độ gay gắt của Phi làm anh ta nổi giận:

- Nè, tau không biết run tay mô. Răng tụi Diệm chiếu cố cho mi du học, mi không đi? Tính về đây tiếp tay cho thằng Thái đánh phá Giáng La hả? Nói mau, tau đếm tới mười!

Không, anh ta không dọa đâu. Trời ơi, chết thế này tức hộc máu, nhục quá, không khác gì con chó. Ba Đoát chậm rãi đếm, nỗi sợ mỗi lúc một bóp nghẹt lấy lồng ngực Phi. Ba Đoát đếm tới chín, Phi hấp tấp lên tiếng:

- Anh Ba, hiểu cho em!

Hình như giọng nói của anh khó nhọc lắm mới thoát ra được khỏi lồng ngực uất ức, nghẹn ngào, trở nên run run.

Ba Đoát cười thương hại:

- Thôi, giỡn chú mày một chút. Chờ đó ông Chín Chữ sẽ nói chuyện với chú. – Đột nhiên Ba Đoát thở dài. – Nhưng nói thiệt, mới xa Giáng La một vài năm, chú mày đã thay đổi khá nhiều và… hèn đi!

Nói xong, bỏ mặc Phi chết điếng trong Cồn Mả, Ba Đoát lững thững xách súng đi ra. Một lúc sau, Ba Đoát lặng lẽ trở lại với một người đàn ông. Từ đó cho đến lúc Chín Chữ, tân bí thư Điện Bàn, nói chuyện với Phi, Ba Đoát hoàn toàn nín lặng. Thỉnh thoảng Phi lại liếc nhìn Ba Đoát như muốn thanh minh điều gì đó, nhưng Ba Đoát tỉnh khô.

- Công tác đô thị khó lắm, anh cũng không biết đàng. Em cứ bám riết lấy đài Hà Nội mà làm theo. Nếu có điều kiện, mua cho huyện ủy một cái bàn máy đánh chữ!

Nín lặng, còn biết trả lời sao, không lẽ từ Huế trở về Giáng La để nhận một chỉ thị chung chung và thực hiện sứ mạng sắm cho huyện ủy một cái máy đánh chữ?

Chia tay Chín Chữ, hai anh em lặng lẽ đi bên nhau. Phi rờn rợn nhớ lại câu chuyện giỡn của Ba Đoát.

Quả thiệt mới xa Giáng La vài năm, chú thay đổi khá nhiều và hèn đi! Tiếng thở dài thương hại của Ba Đoát sau nhận xét nghiệt ngã ấy cứ xoáy mãi trong óc Phi.

- Phi, nghe tau nói đây, có súng là có tất cả. Cách mạng hay không cũng xà quần chuyện đó. Cứ nghe, nhưng đừng làm theo mấy ông hữu khuynh. Làm tới! Đó, mi coi, mới giết mươi thằng ác ôn, phong trào Điện Bàn đã thơ hung rồi. Mi ra Huế, tổ chức du kích bí mật, tau chuyển súng, lựu đạn ra đó, giết hết trơn bọn Cần lao, khỏe re à. Có súng sẽ có phong trào!

Nghe Chín Chữ nói đã nản, nghe Ba Đoát bày vẽ lại càng bối rối.

Ra chợ Phong Thử, Phi trở lại nhà cậu Tám. Cậu mừng rỡ tíu tít, làm bữa cơm mời họ hàng, bà con đến mừng Phi có bằng tú tài toàn phần.

Không hiểu sao, hai thằng Kiếm và Sanh hay tin, rủ nhau về nhà cậu Tám thăm Phi. Nhưng Phi biết, mấy gia đình kháng chiến cũ, hoặc có người thân bị chính quyền sát hại, bắt giam tù đày, đang nhìn anh với những cặp mắt khó chịu, không mấy thiện cảm. Đành chịu, biết sao.

Bốn giờ chiều, trời đổ mưa xám xịt. Mưa giội bùn, nửa chợ phía trước ngập nước. Ba chàng thanh niên uống chút rượu ngà ngà, ngồi trong tiệm may lụp xụp, lần hồi ôn lại kỉ niệm thời Diên Hồng.

Bỗng Sanh đờ đẫn kêu lên:

- Thiệt tội thầy Lưu, Kiếm kể chuyện mi, thầy nghe xong rồi khóc. Từ đó thầy nhắc mi hoài. Nghe tin mi đã thi xong tú tài hai, thầy vui dễ sợ. Răng mi không ráng xuống Hội An thăm thầy?

Kiếm ngồi im, mắt buồn bã chăm chăm nhìn li rượu trong vắt còn lưng chừng và thầm nghĩ:

“Bạn bè tan tác, thằng Phi sắp thành sinh viên Huế, thằng Sanh ra Đà Nẵng học đệ nhị Phan Châu Trinh. Cha mình còn mải làm giàu, cụ cựa chi cũng sợ chính quyền làm khó dễ chuyện làm ăn.”

Chuyện lạ nơi con người vốn hiếu động, Phi lo âu nhìn Kiếm.

Sanh chững chạc hơn nhiều, nói năng gãy gọn và mạnh mẽ hơn. Ăn mặc ra dáng một thanh niên Đà Nẵng.

Có lẽ Hội An giống Ba Đoát ở chỗ, xong một lần cho tất cả. Kể từ lúc những chuyến tàu buôn của thương khách ngoại quốc tấp nập ghé vô Phố Hội và những người Trung Hoa đổ bộ ngày càng nhiều lên thành phố, mở cửa hàng, dựng chùa chiền, thờ cúng đủ mặt những vị thần dân tộc của họ từ Quan Công, Phục Ba tướng quân đến Khổng Minh và những chiếc ghe bầu Quảng Nam xuất phát từ đây, lần mò theo hệ thống kênh rạch chằng chịt phía Nam, miền đất Hội An mãi mãi thế này, một thị trấn cổ với những căn nhà gạch thấp lè tè lợp ngói vẩy cá, những ngôi chùa sơn son thiếp vàng loè loẹt và hai con khỉ cùng hai chú chó đá ngồi buồn thiu trên chùa Cầu. Và bây giờ, khi đã thành tỉnh lị Quảng Nam, Hội An vẫn rứa.

Đến nỗi, năm năm sau trở lại Hội An, Phi có thể nhắm mắt mà vẫn đến trúng cái cầu thang gỗ, leo lên gác lửng tối mò của thầy Lưu trên lớp học của trường tư thục Diên Hồng.

Từ ngoài bước vào chỗ thầy, Phi chỉ thấy bóng một người thấp thoáng mờ ảo. Anh lên tiếng:

- Thầy!

Thầy Lưu giật mình ngẩng lên, mãi sau mới nhận ra Phi:

- Con phải không, Phi?

- Dạ!

Phi bồi hồi đến gần thầy, dưới ánh sáng cây đèn gió, anh thoáng thấy nụ cười hiền lành của thầy:

- Thưa thầy, con mới về, tới thăm thầy. Thầy có mạnh không ạ?

- Con đã trở về đất thánh Giáng La của con rồi ư?

- Dạ!

Thầy già hẳn so với hồi mình đi, tóc bạc quá nửa mái đầu triết gia.

- Con giỏi lắm, không đứa mô ở đây sánh kịp nghị lực của con. Thầy nghe tin con đã thi xong tú tài hai, về Huế học đại học sau khi từ chối học bổng xuất ngoại của chính quyền, thầy rất mừng và hiểu con hơn. Ủa, răng con không ngồi xuống?

Thầy dịu dàng ngồi xích qua một bên lấy chỗ cho Phi ngồi. Thầy nói hơi nhiều, nên ho húng hắng. Có lẽ năm năm qua thầy có nhiều chuyện đau lòng, phải cắn răng nhẫn nhục chịu đựng. Điều đáng sợ nhất là để tắt mất ngọn lửa trong hơi thở, cái nhìn, giọng nói, chưa xảy ra với thầy! Vẫn còn, nhưng mong manh như ngọn đèn chập chờn kia!

- Thưa thầy, có lúc nào thầy sống lại những kỉ niệm kháng chiến không ạ?

Thầy đứng dậy, ra tận cửa dòm bên ngoài, rồi khép chặt thêm cánh cửa. Động tác ấy vô nghĩa vì gác lửng chỉ thông với bên dưới bằng một nẻo thang duy nhất, còn cánh cửa mở ra khoảng trời phía trên mái rêu phong. Không lẽ bọn công an chìm nằm phục trên mái nhà rình rập thầy?

Quay lại, thầy trầm ngâm:

- Răng không, dân Quảng mình có câu: Ngó lên Hòn Kẽm – Đá Dừng, Thương cha nhớ mẹ quá chừng, bậu ơi, lòng thầy cũng rứa!

Phi chăm chú nghe thầy, thương xót nhìn đuôi mắt thầy rạn chân chim, má hõm xuống, mắt chậm chạp nhìn dõi từng điểm trong căn gác. Dưới chân cây đèn gió, một tập thơ cổ mở ngỏ. Phi lướt mắt qua dòng chữ ngoằn ngoèo. Vốn chữ nho ít ỏi chính thầy dạy anh hồi còn học Diên Hồng, chỉ đủ để anh đọc tên sách: “Lược ước tập” của nhà sư Viên Thành nào đó.

- Con đến xin thầy chỉ đường cho con làm cách mạng!

Thầy đứng phắt dậy, run run đặt ngón tay trỏ lên môi:

- Con hỏi đột ngột quá, đã lâu, chưa có người nào ném vô mặt thầy câu hỏi ấy và chính thầy cũng không dám tự đặt nó cho mình.

Thầy ngừng lại, trong thầy dấy lên bao ý nghĩ chua chát. Mới hai mươi tuổi, cậu bé này còn đòi được dấn thân, còn ta, một cựu đảng viên? Tại cái xứ này, không ai có thì giờ miệt mài nghiên cứu cho xong một lý thuyết rồi mới quyết định nhập cuộc. Đặc biệt từ khi Đảng ra đời, nhiều người đến với cộng sản không phải xuất phát từ lý thuyết sách vở, mà hoàn toàn từ tình cảm. Theo cộng sản nghĩa là đứng về phía dân tộc, anh em, bạn bè, làng xóm, quê hương. Bởi vậy lẽ đương nhiên, khi họ Ngô núp dưới bóng của Huê Kỳ trở về thiết lập nền độc tài chống cộng theo học thuyết Nhân Vị – Duy Linh do cố vấn Ngô Đình Nhu cóp nhặt từ những cuốn tư tưởng nhập môn của Mu-ni-ê, sặc mùi Thiên Chúa giáo, mưu toan chống cộng của họ đã đánh thẳng vào tình cảm và quyền lợi của đa số. Ngay trong hàng ngũ cán bộ ở lại miền Nam, đã diễn ra tình hình, một số bị bắt bớ, một nhúm phản bội, ly khai, còn lại một số núp vào Phật giáo. Diệm thẳng tay đàn áp vô thần, nhưng đối với những phần tử hữu thần, có kiêng dè đôi chút. Phải trở thành tín đồ một tôn giáo nào đấy thì mạng sống an toàn hơn, nhưng không thể gia nhập Thiên Chúa giáo được (gia nhập tôn giáo này vào lúc này, đồng nghĩa với hành vi phản bội dân tộc và chống cộng). Gia nhập Đất Thánh Giáng La thì khốc liệt quá, chi bằng vào Phật giáo, chờ cơ hội hoạt động trở lại. Tuy nhiên, phải thừa nhận lối suy nghĩ như vậy có tác dụng an ủi được chính người lựa chọn cách ẩn nấp, thay vì lựa chọn một phương thức chiến đấu thực sự. Lộng giả thành chơn, một vài người giả đò theo Phật giáo riết rồi thành Phật tử bất bạo động thứ thiệt! Một vài người khác, tuyệt vọng trước viễn cảnh mờ mịt của việc thống nhất quốc gia, nhưng đánh hơi thấy cơ hội Phật giáo sẽ tham gia chính quyền, bèn xa rời mục tiêu chiến đấu khi thề nguyền dưới lá cờ Búa Liềm để quay sang làm một chính khách Phật giáo. Và cũng không ít người vẫn nuôi ngọn lửa đỏ trong tim, dù bên ngoài khoác tấm áo cư sĩ vô tư.

Chính sự có mặt của những người này và khả năng tập hợp quần chúng của họ, đã làm dấy lên cơn bột phát Phật giáo những năm sáu mươi. Và Phật giáo bỗng trở nên một lực lượng có tổ chức. Điều này xa lạ với truyền thống “vô ngôn thông” của chính thứ tôn giáo ấy trong quá khứ, vốn chỉ hiện diện trong thế giới tâm linh bàng bạc hơn là trong một bộ máy thế tục kiện toàn. Trước những năm sáu mươi, một số nhà sư thành lập phong trào Phật giáo miền Trung. Và cuộc tranh luận sôi nổi của nội bộ Phật giáo về phương cách tổ chức và mục tiêu hành động cho gia đình Phật tử, phản ánh trình độ nhạy cảm của một vài nhà sư có nhãn quan chính trị sắc bén nhất. Những người này không bỏ lỡ cơ hội, đón lõng cơn bão đang đến, làm rung chuyển xã hội miền Nam. Từ vĩ tuyến 17 trở xuống, người ta chia thành hai vùng Phật giáo: Phật giáo miền Vạn Hạnh cho miền Trung và Phật giáo miền Khuông Việt cho lực lượng hỗn hợp của Phật giáo di cư. Chung quanh mỗi ngôi chùa trong làng, hình thành một khuôn hội Phật giáo. Có xã bao gồm bốn, năm khuôn hội như vậy. Riêng Quảng Nam, trong thời kỳ này, có tới hàng trăm, hàng nghìn khuôn hội và người ta kính trọng một cách âu yếm, gọi người cầm đầu mỗi khuôn hội là bác khuôn trưởng. Rồi hàng ngũ các huynh trưởng Phật giáo cũng được hệ thống hóa theo cấp: Huynh trưởng là phật tử cấp Tập (địa phương), cấp Tín (Tỉnh) cho đến cấp Tấn (trung ương). Hàng loạt tổ chức Phật giáo biến tướng ra đời.

Chính thầy Lưu cũng trở thành phó đại diện Phật giáo Quảng Nam. Nhưng liệu mình có dám kể lại cho người khác nghe cuộc gặp gỡ đau khổ giữa mình và bác sĩ Thân hay không? Thân cũng là đảng viên cũ như mình, đã tham gia nhóm Hòa Bình ở Huế. Được ít ngày chi đó, tân chế độ đàn áp, Lê khuyên Thân nấp vào Phật giáo, Thân không chịu. Quả nhiên, Lê sa đà miết thành ra mê man trong cơn sốt ảo tưởng: có thể thông qua Phật giáo kiếm cho mình một chân đứng trong chính trường miền Nam. Bản chất cơ hội của Lê làm Thân đau đón, ê chề hơn cả nỗi sợ bị chính quyền o ép. Thân vào tận Hội An, tâm sự với mình, mình bàng hoàng, nhưng trước mặt Thân, chính mình cũng không tự thanh minh nổi cho mặc cảm đầu hàng của mình khi lựa chọn một lối sống cầu an, giữa lúc trăm ngàn người lao đao trong làn sóng tố cộng điên cuồng. Lê núp bóng Phật giáo để thành kẻ cơ hội, còn mình núp bóng Phật giáo để chối bỏ. Quên sao được gương mặt sầu não của Thân:

- Rứa là hết, người ta vẫn có thành kiến cho rằng, mấy anh trí thức hèn nhát dễ chao đảo, không đủ sức dấn thân đến cùng cho một sự nghiệp. Mấy anh làm răng thì làm, chớ tôi thà chết còn hơn phản bội!

Ai ngờ, đó là lần cuối cùng gặp Thân. Sau nghe nói, Thân chết đột ngột vì ung thư máu. Nhưng biết đâu, chính chứng u hoài cay đắng đã giết chết con người cao thượng đó?

Liệu mình có biện bạch nổi với đứa học trò cũ kia không, lí do nào bỗng nhiên xui khiến mình nướng quãng đời còn lại của một kẻ thất bại, mày mò tầm chương trích cú, dịch từng câu thơ toàn giọng điệu “vong quốc chi âm” trầm thống của một ông thi sỹ Nam Tống thời tàn mạt:

Bất nhẫn đăng cao lâm viễn

Vọng cố hương diểu mạc

Quy tứ nan thu…

(Không nỡ lên cao nhìn xa

trông vời quê cũ mịt mờ

nỗi nhớ khôn nguôi…)

Lứa tuổi hai mươi hôm nay có tiêu hóa nổi không, có dư thời giờ để nghe trọn những câu thơ u sầu ấy không?

Phi nhờ mình hướng dẫn làm cách mạng thiệt hay là mỉa mai cay độc? Lẩn quẩn với mớ ý nghĩa rối ren trong cuộc đối thoại với chàng trai đến từ Giáng La, thầy Lưu bất chợt nắm bàn tay Phi. Bàn tay chàng trai ấm nóng như một sợi dây lửa lan truyền khắp sống lưng thầy. Mưa ào đến đột ngột trên mái ngói, sấm đùng đùng đâu đó bên ngoài cửa Đại, gió thổi vần vũ hàng dừa bên kia sông Cẩm Nam, se se cảm giác tổ ấm. Không, chàng trai không mỉa mai, chàng trai nhiệt huyết mang tới cho căn phòng hơ hổng này, cái khát vọng đòi bùng nổ. Thầy trấn tĩnh sau cơn xúc động, ngồi xuống bên ngọn đèn, giọng trầm ngâm:

- Thầy sẽ giới thiệu con với một vài người ở Huế mà theo thầy, vì hoàn cảnh éo le phải tạm thời bưng tai bịt mắt. Nay có người đánh thức họ dậy, hẳn họ cũng sẽ đứng bên con. Như giáo sư Huyễn, cựu giáo sư trường kháng chiến Tam Kỳ, giáo sư Trần, cựu giáo sư trường Cẩm Khê – Tam Kỳ. Mẹ ông này họ Thân, một họ đã từng có người làm quan to trong triều. Cha giáo sư Trần lại gọi nghĩa sĩ Lê Đình Dương bằng cậu ruột. Nay họ họp nhau lại tại Huế, thành lập trường tư thục Đào Duy Từ. Tiếng là mở trường làm kế độ nhật, nhưng thật tình có ý ngầm biến học đường thành nơi tàng long, phục hổ, nuôi dưỡng nhân cách, phát hiện và giúp đỡ những học trò có chí khí. Không trực tiếp đương trường chống chế độ bằng gươm giáo, thì chí ít họ cũng khơi dậy máu hào hùng khi xưa.

Sao không một lần thầy nhắc tới Phật giáo, Phi tự hỏi.

- Còn một điều này nữa, thầy cũng muốn nhắc con lưu ý trong quãng ngày sống ở Huế. Bề ngoài, Huế có vẻ kiêu sa, khinh bạc, nhưng phải sống rất lâu trong Huế mới nhận ra nỗi đau của Huế. Nỗi đau phải tận mắt chứng kiến một loạt vương triều sụp đổ, vì hèn yếu, nhu nhược và cổ lỗ. Nhưng dù sao, cũng một thời Huế đã là trung tâm văn hóa của cả quốc gia. Hai phương diện đó đã tạo nên diện mạo khắc khoải lạ lùng của huyền đô. Kiêu sa, khinh bạc đó, nhưng cũng trầm tư đó trước mỗi biến chuyển thời cuộc. Nhưng cái khó nhất, phát khởi trong lòng Huế bí ẩn đó, cái kho tinh binh xưa từ thời Nam chinh Bắc chiến. Làm được việc đó, Huế sẽ thanh tân trở lại, A, chẳng rứa thì đã không có người quả quyết, Nguyễn Du đã mượn cốt truyện Trung Hoa nhưng lại lấy Huế để tả cảnh, tả tình và phô diễn ý tưởng của mình!

Thầy khựng lại và mỉm cười:

- Cũng lạ lùng thay cho cái khám phá táo tợn đó. Người đó còn cho rằng, chính Hội An ta đây lại là mảnh đất Việt Đông của người anh hùng Từ Hải, không cam chịu chết đứng mà khải hoàn dưới cờ. Thầy chúc con lên đường may mắn!

Đường lên Hải Vân còn nguyên như thời Pháp, hẹp và quanh co. Xe lên tới đỉnh đèo thì dừng lại, chờ đoàn xe bên kia lên để thả dốc một chiều. Phi đứng cùng đám hành khách trên đỉnh đèo gió lộng, chờ tới phiên mình.

Buổi sáng tinh khôi, biển Liên Chiểu mở ra tấm gương xanh biếc. Mây trắng lớp lớp bao quanh những chóp núi, hai phía thăm thẳm. Ngũ Hành Sơn lấp lánh sau lưng, còn trước mặt là Lăng Cô êm đềm sóng vỗ. Gió thổi bồng bềnh cả tóc. Phi nói một mình trên đỉnh đèo.

- Thưa thầy, con sẽ đến với Huế thanh tân!

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.