Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba Đoát
Ba Đoát

❊ ❊ ❊

Kẻ nào phải trả học phí bằng máu, kẻ ấy sẽ tiếp cận sự thật tàn khốc, mau lẹ và chính xác hơn những người khác!

Mấy người ưa tướng số thường nói, xưa rày ở đất Giáng La, không ai có lá số tử vi dễ sợ như Ba Đoát. Dường như trên trời có bao nhiêu hung tinh, thì cũng bấy nhiêu hung tinh rủ nhau chiếu hết vào mệnh Ba Đoát.

Trước khi lấy cha Ba Đoát, mẹ Ba Đoát đi ở cho một nhà chủ. Cô chung đụng rồi có bầu với một anh tớ trai. Nhà chủ chửi quá chừng, anh tớ phải bỏ lên Bồng Miêu đãi vàng, rồi chết sập hầm ở đấy. Cô ở gái bụng chửa vượt mặt, bị chủ đuổi khỏi nhà, đành xuống Hội An đẻ con và ở vú. Rủi nhà chủ mới cho đầy tớ ăn cá ươn có dòi. Mẹ ỉa chảy, đứa bé bú sữa độc đau bụng mà chết.

Cha Ba Đoát hồi ấy đã có vợ, nhưng bà này hữu sinh vô dưỡng. Ông làm nghề thọc huyết bò thuê, sáng sớm gánh thịt bò xuống cho chủ ở Hội An. Gặp cô ở vú giữa chợ mà thành vợ chồng. Ba Đoát vừa đầy tuổi tôi (gọi là Ba vì trước đó, mẹ Ba Đoát đã sinh một thằng con trai với đầy tớ), cha đưa hai mẹ con về Giáng La.

Mẹ lớn đánh chửi không thương xót. Cha chỉ biết nhẫn nhục khuyên vợ nhỏ:

“Đất không chịu trời, thì trời chịu đất!”

Năm Nhật đảo chính Pháp, cha bị gọi đi phu làm sân bay cho quân đội Thiên Hoàng. Bây giờ sân bay ấy chỉ còn dấu vết trong tên gọi “Trảng Nhật”.

Lính Phù Tang kêu cha làm biếng, đem chém đầu nêu gương cho dân chúng. Mẹ lại lủi thủi dẫn Ba Đoát lên thị trấn Vĩnh Điện ăn mày. Ông anh ruột mẹ Ba Đoát làm bộ nhục nhã vì đứa em ăn mày, kêu mẹ con Ba Đoát về ở với ông. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Ông cậu tham lam, tàn nhẫn. Bắt cháu giữ trâu, gả em gái cho một lão tàng tàng lớn tuổi, lấy cặp vịt xiêm.

Đấy là đời chồng thứ ba của mẹ Ba Đoát.

Được ít bữa, mẹ gọi Ba Đoát lên ở với cha dượng. Cha dượng lạnh tanh máu cá, lại dữ đòn. Ông nuôi một cặp chó đực và cái. Một mình ông được ăn no, còn mẹ, Ba Đoát và cặp chó thi nhau nhịn đói.

Bữa ông cúng thần tài ngay trên nền nhà, Ba Đoát được giao việc canh đôi chó. Ba Đoát nhìn mấy món xào nấu thèm nhỏ rãi, quên bẵng việc đôi chó cũng có tâm trạng như mình… Chúng xấn vào định kiếm miếng ăn. Cha dượng xì xụp khấn, ngẩng đầu lên, chắp tay vái, trúng đít chó đen thui.

Ba Đoát ăn đòn dư sống thiếu chết. Mẹ lạy như tế sao, cha dượng mới tha chết và đuổi ra khỏi nhà…

Ba Đoát thành trái banh cho các nhà chuyền nhau. Đầu tiên dắt trâu cho Trùm Trầu. Trầu dư người, giao Ba Đoát cho sui gia là Tiết. Lão này chê Ba Đoát tốn cơm mà dắt trâu lại không siêng, dẫn Ba Đoát xuống tận Bình Dinh, cho quan Lãnh thuê lại.

Cha dượng cũng chán vợ, đuổi mẹ Ba Đoát đi. Mẹ đói rạc người, mò đến quan Lãnh xin hai nón khoai khô (trừ công dắt trâu của con trai).

Ăn vừa hết hai nón khoai khô ấy, đúng lúc dân nổi dậy theo Việt Minh, phá kho thóc.

Lão Hàn, con trai quan Lãnh, ra làm thư kí ủy ban kháng chiến. Cán bộ Việt Minh xã Chơn Hòa bắt lão thanh toán tiền công bốn năm đi ở cho Ba Đoát. Lão bấm bụng trả bốn ang lúa lép!

Ba Đoát học bình dân, thoát nạn mù chữ. Đòi đi học lớp một, mẹ bảo:

- Con nhà ăn mày không chết đói là phước hung rồi. Học chữ đâm ra rối ruột, mặt mũi đâm ra sáng sủa, xin ai dám cho?

Đói khát, đày đọa, đòn roi, chưa bao giờ Ba Đoát khóc. Nghe mẹ cản không cho đi học, Ba Đoát khóc, mắt đỏ ngầu, răng nghiến chặt. Mẹ đành chiều. Mặc quần áo nhớp nhúa, rách rưới tới lớp, lũ học trò nhà giàu chế giễu:

- Con nhà trôi sông lạc chợ tính học thi tiến sĩ… hành khất hả?

Căm hận, nằng nặc bắt mẹ về Giáng La. Mẹ ngán mẹ lớn không chịu. Ba Đoát đành một mình về làng. Ba Đoát thèm có một quê hương. Định xin học tiếp lớp hai, mẹ lớn la như cắt họng:

- Mi ưng học, tới mẹ mi mà học. Chừ lo làm ăn rồi dành dụm tiền mà cưới vợ. Một cắc tau cũng không cho mô.

Đành thua. Xin vào du kích xã, gài chông, đánh mìn, bắn tỉa, giết được Tây. Xã đội tuyên dương. Mẹ lớn im khe, không dám mắng nhiếc mỗi lần Ba Đoát bỏ việc nhà lo công chuyện kháng chiến. Ba Đoát thầm cám ơn cây súng cà khổ và trái mìn tự tạo, ban cho anh tư thế con người. Lớn rồi, biết thương mẹ suốt đời ăn nhờ ở đậu, Ba Đoát xin tre pheo, dựng túp lều gần Cồn Mả, đón mẹ về ở cùng.

Trước khi Tây nống ra Điện Bàn, Uỷ ban kháng chiến chia cho mẹ con anh sào rưỡi ruộng đất thục. Cả đời, mẹ con anh không dám mơ có lúc được làm chủ cả một miếng đất!

Mùa đầu lúa tốt chi lạ. Chưa kịp gặt, mẹ trúng ca-nông gục ngay bên bờ ruộng lúa.

Con người Ba Đoát xong từ đó!

Với Ba Đoát, trên đời chỉ có hai hạng người: Bạn và Thù. Bạn phải bảo vệ, thương yêu, thù phải giết. Triết lí sống của anh trần trụi và đơn giản biết bao. Có thể lúc sơ khởi hoặc hồi xung sát quyết liệt, sự quy kết đơn giản trên giúp anh mau chóng lựa chọn được hành động thích hợp và có hiệu quả cao. Và anh cũng sẽ không phải chịu đựng những suy tư phiền toái, mất thì giờ trước những ám ảnh rắc rối chằng chịt trong mọi mối quan hệ. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng: cuộc chiến ngày càng biến động về tầm mức, cường độ cũng như tính chất, theo những dạng vận động ngày càng phức tạp, thì việc quy kết như trên không còn tác dụng, thậm chí nguy hiểm nữa.

Ngay trong Giáng La, cũng đã thấy xuất hiện một vài chỉ dẫn, phản bác lí thuyết “Bạn”“Thù” của Ba Đoát.

Trong thời kì chín năm thứ nhất, làm sao nảy ra nổi hiện tượng Lê Vân? Rồi chuyện cháu gái của cô Mười Lúa? Và rồi những chuyện “chưa từng có” sẽ lần lượt xảy ra dồn dập, theo đà tăng nhanh của chiến tranh. Tâm lí của Ba Đoát vẫn diễn biến như thế, anh không hề thừa nhận tính cách đặc biệt khốc liệt và sự phân hóa lạ lùng của con người trong cuộc chín năm thứ hai, thứ ba này.

Anh “xong” một lần cho tất cả!

Số phận anh cho ta thấy thêm một khía cạnh khác của Giáng La. Khác với Phi, Ba Đoát không thừa nhận có dạng “trung gian”. Trong chiến tranh, anh không đứng bên này thì nhảy sang bên kia. Lớ quớ, lừng khừng, đứng giữa rất dễ ăn đạn của Ba Đoát!

- Chừ có nhứ kẹo, cũng không thằng mô dám nằm nhà ôm vợ. Chấp chóa đã lo giông tuốt vô cầu Bình Long và mỗi đêm thay chỗ ngủ cũng mươi lần. Thằng Nhẫn cũng rứa. Nì, sau nhà nó có đống rơm to nghe!

Được cơ sở báo cáo tình hình, Ba Đoát tức khắc nghĩ ra kế hoạch diệt tên thôn trưởng Bát Nhị. Anh hỏi thăm thật kĩ đường đi, lối lại rồi cho cơ sở về.

Tháng mười lạnh. Ba Đoát bò qua luống khoai, nằm im một lúc nghe động tĩnh, xong mới bọc luôn qua vỉa hè nhà Nhẫn. Rúc trong đống rơm, Ba Đoát còn ngửi thấy mùi cơm nóng từ nhà bay ra.

Trời bỗng nổi cơn mưa to. Ba Đoát mừng rỡ, thầm nghĩ, đúng lão trời hiệp đồng với mình.

Trườn tới sát góc hè, bỗng đàn chó xồ ra đánh hơi hầng hậc. Nghe rõ mồn một tiếng vợ Nhẫn la:

- Chó sủa tề!

Chắc ăn rồi, Nhẫn có nhà. Ba Đoát vọt tới, ép mình vào khuôn cửa. Nhẫn đi ra, tay trái cầm cây đèn năm pin, tay phải thủ sẵn trái lựu đạn.

Chó lại sủa, vợ Nhẫn nhắc to:

- Ngó chừng, chó sủa đó!

Ước đoán Nhẫn đã bước tới bậu cửa, Ba Đoát quét ngay luồng đèn pin trúng mặt nó. Nhẫn đang hoa mắt, Ba Đoát bắn luôn. Nó nhảy dựng lên, rồi ngã vật xuống đất.

Một người đàn ông khác, sau Nhẫn nhảy ra. A, thằng này đi cùng tên ác ôn, giết được. Ba Đoát rượt tới chuồng heo thì hạ được hắn. Vợ Nhẫn la làng. Ba Đoát lấy làm khoái trá nghĩ thầm. Hay lắm, mi ồ dữ, tau càng đỡ mệt.

Xóm làng nghe mấy loạt súng đã rúng. Ba Đoát lại còn đi dọc các nhà, nói chang chảng:

- Quân Giải phóng về diệt ác ôn. Đồng bào đâu ở yên đó, sẵn sàng chờ lịnh!

Chó sủa, tiếng con nít la khóc rần rần. Ba Đoát thong dong qua mặt nhà thờ họ Từ, băng ngang đường rầy, men theo bờ rào nhà thờ đạo La Ngang, rồi đi tuốt về Kì Minh.

Vào nhà cơ sở, Ba Đoát hỏi liền:

- Lão Thám về chưa?

Ông già cười khà khà:

- Chưa, chắc trận này lão Thám thua chú Ba rồi!

Nghe xong, Ba Đoát mới yên tâm ngồi xuống cạnh mâm cơm dọn sẵn. Liên hoan mừng chiến thắng có đĩa thịt luộc xắt dày cộm và chén mắm cái giằm ớt đỏ lừ. Vừa ăn Ba Đoát vừa tưởng tượng bộ mặt thảm hại của lão Thám. Gọi là “lão” cho oai vậy thôi, thực thì hai người vừa bằng tuổi nhau. Ba Đoát là đội trưởng đội công tác Kì Minh, Thám lãnh đội Thanh Phong. Hai người cùng háo thắng và ganh nhau từng li. Nhất là các vụ diệt ác: những tên thôn trưởng, hội đồng, công an Diệm.

Giáp tháng trước, huyện uỷ kêu hai người lên giao nhiệm vụ: diệt mâm ác ôn Kì Quang. Ba Đoát nhận giết thằng Yến, chủ tịch hội đồng xã. Thám lo phần thằng Cúc, ủy viên cảnh sát xã. Rủi cho Ba Đoát, bữa đó Yến lại tới nhà Cúc nhậu. Một mình Thám thi hành hai bản án một lượt. Ba Đoát giận quá, trách lão Thám vô duyên thúi, phần ai nấy lo, dính chi chuyện người khác? Nhưng chính Ba Đoát cũng thừa biết, nếu anh gặp dịp may đó, đời nào chịu bỏ qua. Huyện ủy phải hứa với Ba Đoát, dịp tới sẽ tạo điều kiện cho Ba Đoát “rửa hận”.

Lần này Ba Đoát lo diệt thôn trưởng Bát Nhị, Thám trị Võ Tri, ác ôn Kì Lam. Thám thua đứt rồi, huề!

Ba Đoát vấn nguyên lá thuốc thành một điếu bự, châm lửa, hơi khói cay nồng, xộc lên tận mũi.

Lạ thiệt, năm tin, bảy tin vô trỏng sao thằng Phi không chịu về? Tình hình ngày một thơ, tụi mình với lão Thám diệt ác ngon lành, nhưng còn việc ăn nói, giải thích chính sách Mặt trận, phải có nó mới xong.

Ba Đoát thở dài, không khéo mấy ông “cách mạng nửa mùa” trong đó làm hư thằng nhỏ. Biết vậy, hồi đó mình dẫn luôn nó về Giáng La.

Ba Đoát chẳng bao giờ quên bữa chia tay với Phi trên Cầu Đá – Nha Trang.

Sau chuyến đó, anh trở về, xuống thẳng Cẩm Sa tìm bà cô. Bà bảo anh vào Tam Kì tạm lánh ít bữa. Địch còn truy nã gắt lắm. Có chi bà sẽ liên lạc với huyện ủy và nhắn tin cho anh sau.

Hồi này, chính quyền Diệm đã đủ mạnh, đưa người của mình vào nắm chính quyền các cấp từ hạ tầng xã, thôn tới quận và tỉnh. Hàng loạt người của các phe phái bị loại ra khỏi bộ máy thống trị. Sự thanh trừng trên khiến các tay tổ Quốc dân đảng uất ức. Thực ra, chúng mù quáng và say sưa nên mới bất ngờ trước sự thật này. Khi mới về nước tham chính, anh em Diệm chưa đủ thế lực và vây cánh để bao trọn đấu trường diệt cộng. Bên ngoài thì Diệm ráo riết tranh thủ sự yểm trợ của Mĩ. Bên trong, Diệm đặt hy vọng vào lực lượng phản động trong Thiên Chúa giáo.

Nhưng Diệm cũng đủ khôn ngoan để thấy, các lực lượng trên có thừa lòng căm thù cộng sản, nhưng kinh nghiệm và khả năng tổ chức chống cộng, không bằng các nhóm Quốc dân đảng (nhất là tại miền Trung và Quảng Nam). Vì vậy, thời kì đầu, Diệm khôn khéo mềm mỏng, sử dụng đám này làm xung kích trong những chiến dịch chống cộng điên cuồng và đẫm máu. Quốc dân đảng càng tưởng rằng thời cơ phục thù và hưng thịnh của mình đã tới, càng hung hăng tắm máu cộng sản. Diệm làm một công đôi việc. Một mặt khoét sâu lòng căm thù cộng sản của Quốc dân đảng. Mặt khác, tự đặt mình lên trên cuộc chém giết tàn khốc, giấu giếm bàn tay đao phủ gớm ghiếc của chế độ và tô vẽ bộ mặt dân chủ, tự do cho nó…

Và quan trọng nhất, hướng lòng công phẫn của dân chúng vào mục tiêu Quốc dân đảng! Nhưng đã tới lúc phải thay đổi sách lược. Nếu không, lực lượng Quốc dân đảng và phái khác sẽ bành trướng thế lực, khiến sách lược diệt cộng nói trên thành con dao hai lưỡi, phương hại đến an ninh của tân chế độ…

Trần Quốc Thái đã về giữ chức quận trưởng Điện Bàn trong hoàn cảnh chính trị, xã hội như vậy. Đại uý Thái ngót năm mươi, lùn, ủy viên Trung ương Cần lao – Nhân vị. Coi vậy đủ biết, Diệm đánh giá nguy cơ nổi loạn chống tân chế độ tại vùng đồng bằng hẹp này trầm trọng thế nào.

Thái tổ chức lại đoàn bình định tố cộng, hầu hết lấy người nơi khác đến, Bắc di cư hoặc công giáo. Tình hình tố cộng khẩn trương và hiệu quả hơn thời trước nhiều.

Ba Đoát đóng vai trò anh thợ rèn xin ở nhờ một gia đình Tam Xuân, dưới kênh Ba Kì chút ít. Nhà chủ có cô con gái bán lòng heo tại chợ Tam Kì.

Được ít bữa, quen hơi bén tiếng, cô này đâm ra thương anh thợ rèn chất phác, khỏe mạnh. Cả nhà đều biết chuyện này, trừ Ba Đoát. Cho tới ngày bà cô Ba Đoát vào tìm cháu. Vừa tới nhà, bà hỏi nhỏ Ba Đoát:

- Nì, gia đình này có tốt không?

- Tốt!

Ba Đoát trả lời chắc nịch. Bà cô hỏi thêm:

- Tin được không?

Ba Đoát mỉm cười gật đầu. Bà cô tưởng cháu đã kịp móc nối nhà chủ, chụp nói to giữa nhà:

- Thôi, chia tay đi. Chuyến này mi lo ra Điện Bàn đánh lớn đó!

Ba Đoát hoảng quá, không kịp ngăn. Ai ngờ khi lộ ra chuyện “anh thợ rèn giả”, cả nhà buồn rầu, còn cô gái bán lòng heo khóc đòi làm đám cưới. Cưới rồi đi đâu cũng được. Ba Đoát vừa thẹn và cảm động, đứng đơ người, mặt thộn ra không biết trả lời sao. Đã không ân hận vì mình lanh chanh làm Ba Đoát kẹt, bà cô còn hùa thêm:

- Phải đó, làm đám cưới rồi về đánh giặc!

Ba Đoát ấp úng như ngậm hột thị. Cũng may, cha cô gái còn đủ bình tĩnh để dàn xếp ổn thỏa. Thương nhau cứ thương, không ai cấm. Nhưng thời buổi này, thương phải để bụng. Ba Đoát có chuyện Ba Đoát, không được làm lỡ chuyện lớn.

Thế là Ba Đoát qua cầu thoát nạn, vừa ấm ức, vừa rạo rực, từ giã Tam Kì.

Bà cô đưa Ba Đoát xuống thẳng Đông Giáp, sát biển. Biết lão Thám từ đấy.

Nguyễn Chức, bí thư Điện Bàn mới về, dẫn cả đám lên căn cứ tại núi Phú Túc gặp anh Ba Thấu, Thường vụ tỉnh ủy, phụ trách cánh Bắc Quảng Nam.

Căn cứ chi, núi rừng không? Gặp cơ quan huyện Hòa Vang, không có lều lán chi hết trọi, toàn núp trong cây, cột dây, mắc võng cao vồng lên, tránh không để cây cỏ bị gãy rạp, tụi địch sẽ nghi ngờ. Mưa gió răng cũng chừng nớ. Dưới hang đá có vài cái nồi con con. Giang sơn cách mạng mới có vậy, cũng mừng hung rồi.

Dẫn tuốt lên tỉnh, cơ quan 50, Bắc Quảng Nam. Cả cơ quan có mấy mạng, Ba Thấu, Hoàng Tự, chánh văn phòng, Nguyễn Ngọc Lân, dân Điện Hòa, phụ trách hành chính và hai anh liên lạc. Anh Đồng, liên lạc từ Khu xuống, anh Hoàng, liên lạc với các huyện.

Sau Hoàng trúng bệnh. Ba Đoát thay vào chỗ đó…

Ngày ngày đi từ Trung Mang xuống Hoà Vang, nghỉ trong phần ngày còn lại, chờ tối xuống chân núi Mồng Gà, băng qua Phước Nhơn, đồn Gò Cà, xuống thấu Tứ Sơn, Đông Phú, vượt sông Yên về Điện Tiến, Điện Hòa…

Cuối những năm 57, 58, tình hình trở nên thơ thới. Ba Đoát ôm mộng đánh lớn, lội khắp vùng địch. Leo núi, bơi sông giỏi, thử thách gớm lắm. Kỉ luật chặt, quân lệnh như sơn, đi không được bẻ cây chống, lội suối, trật dấu phải khỏa cát lấp bằng hết dấu…

Trên đường tới Trung Mang, có hòn đá to nằm phơi lưng chừng núi. Anh em Điện Bàn lên căn cứ thường nghỉ chân lại đó, gọi luôn là “hòn đá Điện Bàn”.

Đứng trên hòn đá Điện Bàn, Ba Đoát nhớ lại cách thức mấy ông trên cơ quan nói trước đồng bào trong các cuộc mít-tinh, anh cũng dõng dạc nói với mấy tảng đá xung quanh:

- Kính thưa đồng bào, có áp bức thì có đấu tranh, giặc cướp đường sống của ta, ta cầm súng đánh lại. Âm mưu địch thì đen tối, ta phải làm chi chừ?

Không may, ông Ba Thấu tình cờ bắt gặp, về cơ quan nhái hoài:

“Kính thưa mấy tảng đá, kính thưa các bụi cây…”

Trên cho thành lập các đội công tác vùng địch, rút Ba Đoát về làm bảo vệ cho đoàn cán bộ xuống sâu. Đi trước bám dân, nắm tình hình, đào công sự mật.

Nửa năm 59, chuẩn bị vũ trang đồng khởi, Ba Đoát làm đội trưởng đội công tác Kì Minh, có bốn, năm đội viên. Mới gặt vừa xong, ước khoảng tháng ba, bắt đầu đánh diệt ác. Ba Đoát đánh phỉ thôi, như cá bơi trong nước…

Nửa đêm, Thám mò tới Kì Minh. Ba Đoát ngóc đầu cười, nghe Thám rằn rực:

- Công nhận thua mi trận này. Nhưng tại lão trời phản tau. Đang khi không đổ mưa. Tau núp miết chỗ thằng Võ Tri sẽ đến ngủ. Ai dè gặp mưa, hắn ở nhà luôn, đành phải lộn lại nhà nó, thành ra trễ ri.

Thám ướt như chuột lột, phải đốt lửa hong quần áo. Chưa tới sáng, giao liên chạy hỏa tốc xuống, kêu cả hai lên gặp huyện ủy. Nguyễn Chức giao cho Ba Đoát đánh đồn Kì Lam, Thám đánh đồi Câu Lâu. Mỗi mục tiêu có cái khó, cái dễ, coi như bằng nhau.

Giao xong, Nguyễn Chức bảo:

- Hai đồng chí muốn thử sức, chuyến này tha hồ. Đâu có lẹt xẹt như diệt ba thằng ác ôn!

Đồn Kì Lam đóng tại đầu cầu phía cụp Diêm Sơn, không có cơ sở tại chỗ. Từ Bát Nhị đến đó khá xa, chốt tại đồn có khoảng một trung đội bảo an và dân vệ. Xin một tổ vũ trang, tỉnh đồng ý, Ba Đoát về lo chỗ giấu quân rồi đón tổ vũ trang xuống ếm sẵn.

Đích thân Ba Đoát đi trinh sát. Đùm một trái lựu đạn cho vào túi gạo, cột lên đầu đòn xóc, lận súng sát lưng, giả đóng vai người vùng cát lên mua keo về bón ruộng. Lội khắp cả khu vực tìm đường tiến, đường thoái. Lên thẳng đồn, ngó nghiêng đám keo dưới bờ sông. Thằng dân vệ đang gác hỏi:

- Nè, dòm chi đó?

- Dòm keo chớ chi! – Tưng tửng trả lời, cứ ra vẻ quen nhau sẵn từ trước. – Mua nhúm keo về bón ruộng, chủ đòi mắc quá trời!

- Đòi bao nhiêu?

Vốn gốc dân cầm cuốc bắc mạ, thằng dân vệ ham bắt chuyện mần ruộng.

- Bốn mươi!

- Trời đất, tụi nó coi tiền to như cái bánh xe!

A, thì ra chú mày chưa đến nỗi thành ác thú, còn biết chê kẻ khác hám tiền. Tự nhiên muốn cứu thằng này.

- Khát nước quá!

- Vô trong mà uống!

Thằng dân vệ sốt sắng mời.

Trời đất, có trinh sát mô sướng hơn mình không? Vừa uống nước vừa tha hồ ngắm nghía từng chỗ để súng, đặt trung liên, vọng gác… Xách đòn xóc quay ra, nói chuyện tiếp. Vừa gặp thằng em hắn lên kêu anh trai về ăn giỗ, mừng cho hắn thoát chết đêm nay.

Đánh rồi, rút lối mô? Cầu Phong Thử, cầu Hà Nha cũng có địch như rươi.

Anh vác đòn xóc đi dọc chợ Bến Hục, vào chợ Phong Thử, gặp bà Mười Phan, cơ sở Kì Minh và mươi người khác. Những người này nhìn sững, Ba Đoát tỉnh bơ, cười lơ láo đi coi chợ rồi về tuốt Giáng La.

Bà con mua bún tươi, thịt bò ê hề khao quân. Vào nhà đội Cầu, báo cáo với Thường vụ tỉnh ủy. Chắc thắng! Trình bày phương án, ngoài tổ vũ trang, tỉnh chi viện thêm hai lính chiến.

Tối sau vào đánh, ba người ba khẩu tuyn cải tiến và thủ pháo. Bò tới sát đầu cầu, Ba Đoát vừa hạ xong hai thằng gác, đã thấy thủ pháo nổ trong sân đồn. Hơn hai chục thằng trong nhà đang ngủ, bay xác. Thu súng khiêng về. Vấp ngay toán địch từ Phong Thử chạy lên chi viện, cách nhau lối bảy thước, quỳ xuống, kê súng sẵn, hét lên:

- Tổng đoàn Bảy phải không? Trả lời mau!

- Phải!

Bọn lên viện trả lời, tưởng đồng bọn sống sót hỏi.

- Chi viện hả?

- Phải!

Thôi, không sợ lầm nữa đâu, bắn tưới. Tổng đoàn Bảy chết luôn tại chỗ cùng ba thằng khác. Bọn còn lại chạy tứ tán. Dẫn luôn hai chiến sĩ vũ trang về Giáng La.

Lại thắng lão Thám trận này. Bên nớ, một anh hi sinh…

Địch rúng, tình hình phát triển tốt. Trên ranh cũng đánh mở ra, chuẩn bị cho các xã nổi dậy, trước hết là Kì Minh, Thanh Phong. Lúc đó Giáng La có một chi bộ, La Huân một chi bộ, cả hai thôn có một trung đội du kích mật.

Đích thân Nguyễn Chức kêu cả Ba Đoát lẫn Thám lên. Ngó sắc mặt quan trọng của bí thơ, cả hai không dám ho he. Ngồi chờ một lúc, Nguyễn Chức bảo:

- Huyện giao cho hai đồng chí đánh vô cơ quan Kì Minh, phải bắt được ba thằng Nhung, Diệu, Hợi để ngay tối đó mít-tinh toàn dân, mở phiên tòa xét xử tội trạng tụi ác ôn, tạo thế mở ra. Này, Ba Đoát đánh Kì Lam quá ngon lành, coi chừng chủ quan. Lần này không dễ nữa đâu, huyện tăng cường cho hai đồng chí một tiểu đội chính quy!

Dẫn ngay tiểu đội đó, cả Thám nữa là chín, một trung liên, xuống ém từ mờ sáng trong nhà bà Đội Năm, sát rạt bên trụ sở cơ quan Kì Minh. Đội Năm hồi trước theo Pháp, bị ta giết, nhưng bà vợ bây giờ lại thành cơ sở.

Ém quân xong, vào buồng trong nói với bà Đội Năm:

- Tụi tui xuống công tác, ghé vô thăm bác!

- Thăm chi tới chín người lận, lại thêm cây súng dài thượt kia?

Bà cười hỏi. Ba Đoát cũng cười chưa dám nói thẳng là sẽ đánh cơ quan hội đồng. Nhưng bà Năm đoán ra. Tụi thằng Ba xuống rầm rộ ri, chắc có chuyện vui đây. Mua thịt heo về khao lính Ba Đoát thả giàn tới ba giờ chiều. Vẫn im khô, bà Đội Năm nhà giàu, chồng bị Việt Minh giết, tụi ác ôn Kì Minh tin tưởng bà dữ lắm, nên không nghi ngờ gì.

Xảy chuyện Ba Đoát hục hặc với tay tiểu đội trưởng tăng cường. Cơ quan Kì Minh đóng tại nhà một thầu khoán, lão này đã bỏ ra Đà Nẵng từ lâu. Thế nhà đẹp, nền đắp cao, tường dày. Ba Đoát đề nghị chia làm hai mũi. Một mũi bọc sẵn phía sau trụ sở. Khi mũi kia nổ súng đánh vỗ mặt qua cổng chính, thể nào tụi nó cũng tuôn ra cổng sau, trúng bẫy phục của mình. Tiểu đội trưởng gạt phắt. Dứt khoát không là không. Nguyên tắc chiến thuật bộ binh không cho phép dàn trận kiểu đó, quân ta sẽ bắn vào quân mình!

Ba Đoát tức như bò đá nhưng không cãi nổi. Anh ta có bài bản chính quy. Ba Đoát toàn áng chừng với đại khái.

Quả nhiên, quân ta vừa nổ súng, hô xung phong lao qua cổng chính, ba thằng đầu sỏ bứt rào đằng sau chạy… để mặc tụi đàn em lớp chết, lớp bị bắt sống. May sao Thám lẹ chân, đuổi miết tới tận thôn Trung, mới tóm được thằng Nhung. Giận điên, không thèm nói nửa lời với tay tiểu đội trưởng “bài bản, máy móc”. Nếu lão Thám không bắt được thằng Nhung, mít-tinh tối nay dở ẹc!

Nhưng tới khi tay kia biết lỗi, lân la tới gần, Ba Đoát lại cười xòa.

Đêm đó, hơn ba ngàn dân tập trung. Đèn măng-sông thắp sáng đến độ, ai lỡ tay đánh rớt cây kim cũng nhìn thấy ngay. Mỗi người đến dự còn mang theo một cây đèn gió hoặc đuốc. Dân Giáng La, Đông Hòa, Thi Hòa cũng kéo đến. Anh Đồng, chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Giải phóng huyện, ra nói chuyện. Dứt lời, Thám dõng dạc đọc cáo trạng kể tội Nhung và hỏi:

- Mặt trận tuyên án tử hình tên Nhung, bà con có đồng ý không?

Cả mấy trăm con người nhao nhao:

- Giết, giết!

Nội tiếng hét cũng đủ làm Nhung sảng đớm, lãn đùng xuống đất như nắm giẻ. Ba Đoát xốc cổ áo Nhung, lôi tới sát bờ đất, bắt quỳ. Nó lại đổ xuống. Ba Đoát sốt ruột, tay trái xách cổ áo Nhung, tay phải dí họng súng vào màng tai nó và bóp cò.

Tan mít-tinh, buồn ngủ khờ mắt, Ba Đoát lăn ra nền nhà bà Đội Năm giấc liền.

Sáng sớm, luỹ tre còn lờ mờ trong làn sương, cơ sở chạy về báo. Đại đội của trung uý Sáu từ Phong Thử lên, bố trí dọc mả Bà Am, giữa Thủy Bồ – La Huân. Ba Đoát ngửi mùi thuốc súng bỗng tỉnh rụi. Địch nống ra, huyện hạ lệnh trụ lại. Giằng co một ngày. Trung uý Sáu chẳng biết lực lượng Giải phóng ra sao, nhiều hay ít, cứ cho lính từ xa bắn vào Kì Minh. Súng tay, ăn nhằm chi, càng tổ khiến Ba Đoát thêm buồn ngủ…

Chủ trương mở ra, đánh sâu xuống tận Thanh Phong. Trụ sở Thanh Phong đóng sát lộ 1. Căng đây. Anh Chi, thường vụ huyện ủy, trực tiếp về chỉ đạo. Bài binh bố trận khác kiểu mới chắc ăn. Rút nòng cốt Kì Minh tăng cường cho đội công tác Thanh Phong. Cơ sở tại chỗ còn yếu, vũ trang tuyên truyền phải vòng qua quán Ba Lê, thọc xuống Châu Lâu, vào từng nhà phát truyền đơn, xé ảnh Diệm, xé cờ ba sọc…

Nhân đó Ba Đoát móc nối lại với chị Hai Ngạc, cơ sở cũ từ thời ở tù và thành lập một tổ du kích mật, gồm ba thanh niên, lấy bí danh Quyết – Chiến – Đấu.

Nhưng tới cầu Cổ Cò thì bị chặn đứng lại. Tổng đoàn dân vệ chốt, bọn Quốc dân đảng đóng “tổ kén” tại đây. Không triển khai được nữa…

Dầm mưa lâu, người Ba Đoát lạnh bợt da. Nước sông Cổ Cò lên cao chóc ngóc. Quay lại nhìn, bảy chiến sĩ mang K-44, đứng xúm vào nhau trong làn mưa quất rát mặt. Ba Đoát xót ruột quá. Anh đành dẫn họ tránh cầu Cổ Cò xuống mé Đông Hồ – La Thọ. Nổ súng đánh bọn gác cầu thì tụi cu-dê-đê thấy động lủi mất. Mà mục tiêu anh Chi giao, phải diệt gọn mâm cu-dê-đê Thanh Phong, mới mở ra được phong trào tại chỗ.

Trước mặt, dòng nước cuồn cuộn, đục ngầu, Ba Đoát hỏi:

- Vậy chớ không anh nào mang theo túi ni-lông hả?

Lạnh tê hàm, răng cắn chặt, bảy chiến sĩ lắc đầu. Ba Đoát quyết định:

- Lội!

Bảy chiến sĩ ngần ngại nhìn con sông. Ba Đoát cau mày lao xuống trước. Các chiến sĩ làm theo. Nước chảy xiết, Ba Đoát vừa bơi, vừa ngoái cổ lại, thành ra cổ mỏi nhừ. Trời ơi, răng lại ngớp ngớp rứa? Vội vã bơi quay lại, rước người lính trẻ nhất. Khẩu K-44 mỗi lúc một nặng trĩu, người lính trẻ đuối sức, uống nước ừng ực. Ba Đoát đưa tay kéo người lính lại gần mình, nhưng chính Ba Đoát cũng uống phải vài ngụm nước sông nhạt thếch. Tha lôi nhau trở lại bờ Đông Hồ, Ba Đoát ân hận ngó bảy chiến sĩ thở không ra hơi. Họ đâu quen lội nước như dân Điện Bàn mình, mỗi năm mươi cây lụt kinh người?

Thua keo này, bày keo khác. Ba Đoát nhếch mép cười gằn:

- Theo tôi!

Bảy chiến sĩ thở phào, quần áo ướt sũng, nặng nhọc lê bước theo Ba Đoát. Gửi quân vào xóm xong xuôi, Ba Đoát trở ra bờ sông, suy nghĩ một mình. Thỉnh thoảng đưa tay vuốt gương mặt mưa ướt đầm. Ba Đoát ngước nhìn cầu Cổ Cò đang chìm vào bóng xám. Làn mưa ngày càng đặc xỉn, dìm tất cả, từ cây cầu, luỹ tre, cánh đồng…, vào hoàng hôn nước lũ.

Ba Đoát ngồi bệt xuống đám cỏ lệt xệt bùn, tính châm một điếu thuốc Cẩm Lệ cho ấm người. Anh cáu kỉnh đứng dậy, móc nắm lá thuốc ướt mèm trong người, ném xuống sông và lẩm bẩm chửi thề một mình.

Đêm sập xuống, Ba Đoát trở lại xóm gửi quân hồi chiều. Mưa kiểu yêu này, vài bữa nữa lụt đây. Không mở ra kịp, lợi dụng cơn lụt, ta nằm im, tụi cu-dê-đê sẽ hoàn hồn, phản kích.

Con lụt rút đi để lại những nẻo đường đầy phù sa và bẫy chết của kẻ thù. Thím chủ nhà cũng chưa ngủ, lại gần đống lửa, nơi Ba Đoát ngồi xổm, cau có suy nghĩ.

- Nè chú Ba, hồi chiều mắc nước không qua sông được phải không?

- Phải!

Biết còn hỏi chi, Ba Đoát bực bội nghĩ thầm, bộ thím giỏi tính hơn tụi này chắc? Thím vấn tóc gọn lên, cho thêm gộc tre khô vào đống lửa đang heo heo, hỏi nhỏ:

- Chú Ba biết anh Sáu Kì chớ?

- Biết, sao hả?

Ba Đoát lơ đãng trả lời, khi không hỏi chuyện thằng cha giỏi võ nhất vùng này chi? Thím chủ nhà vẫn rành rẽ:

- Bữa trước anh Sáu qua đây nói chuyện với chồng tôi. Anh Sáu biểu, thằng Quyến, cảnh sát trưởng Thanh Phong, thường qua lại nhà ảnh chơi bời nhậu nhẹt. Hồi chiều thấy chú Ba kẹt nước, chồng tôi tính bàn với chú Ba chuyện này. Rủi gần tối, ổng có công chuyện phải vô La Thọ, nên ổng biểu tôi…

Chợt một ý nghĩ vô lí và ghê gớm lóe lên trong óc Ba Đoát. Quyến là tên ác ôn khét tiếng, đứng hàng thứ tư trong danh sách phải diệt lần này. Nó ác ôn thiệt, nhưng càng ác ôn càng sợ chết. Như thằng Nhung Kì Minh đó? Ba Đoát nhớ như in hình ảnh thằng Nhung, người mềm nhũn như nắm giẻ khi anh lôi ra bờ đất để thi hành án. Phải đột nhập bất ngờ, trấn áp nó, khống chế nó. Càng nghiền ngẫm, vẻ vô lí càng mờ nhạt.

Lẳng lặng mần thôi, ông Chi vốn là người quá thận trọng, nghe mình trình bày kế hoạch táo tợn này, nhất định bác cái một.

Đứng phắt dậy, nghĩ sao làm liền. Thím chủ nhà ngơ ngác:

- Chừ còn tính đi mô, chú Ba?

- Tôi qua xóm chơi với mấy người bạn!

Ba Đoát nói dối vụng về. Nhờ thím coi dùm mấy anh em bộ đội. Thím chủ nhà bắt tức cười, bộ chú Ba tưởng mấy anh em Giải phóng như đàn gà con hả?

Nhưng thím không ngờ, Ba Đoát lại thực hiện ý định của mình quá mau lẹ như vậy.

Anh khoác súng lên vai và rời khỏi đống lửa.

Mưa không ngớt, anh bước rảo theo bờ ruộng. Bấm chân trên bùn, người chúi về phía trước. Chớp loè, cánh đồng hiện ra trong khoảnh khắc và tiếng sấm nổ khép chặt bóng đêm trở lại. Lúp xúp trong mưa, Ba Đoát tới sát bờ sông. Anh hít hà, thở căng lồng ngực rồi lội ào xuống nước…

Gió to, mưa lặng đi một lúc. Ba Đoát dừng lại trước nhà Sáu Kì, giơ tay gõ vào phên liếp.

Sáu Kì tỉnh ngủ thật, hỏi ngay:

- Ai ngoài đó?

- Tôi, Ba Đoát đây!

Sáu Kì giật nẩy mình. Trời đất, thằng cha ngán sống rồi hả? Cảnh sát trưởng ở xế ngay ngõ nhà mình, mà chả cứ ngời ngời xưng tên Ba Đoát, cái tên mà bất cứ chú lính quèn mô của Diệm cũng thuộc. Hé liếp đón Ba Đoát, Sáu Kì nói khẽ:

- Chuyện chi nôn rứa, anh Ba?

- Anh Sáu giúp tôi nói chuyện phải quấy với thằng Quyến!

Ba Đoát cứ đứng ngoài cửa nói trổng như vậy. Sáu Kì thiếu nước lạy “sư phụ” Ba Đoát. Cố trấn tĩnh lắm, Sáu Kì mới lắp bắp được mấy tiếng:

- Ngay chừ à?

- Không, chuyện người lớn đàng hoàng, mắc chi phải nói đêm hôm?

Sáu Kì không dám tin vào tai mình. Vốn là dân võ nghệ, gan đâu có nhỏ, chuyện sống chết không lạ, nhưng Sáu Kì chưa thấy ai ngang ngược như Ba Đoát. Việt cộng chính hiệu trình tòa dám đòi nói chuyện với cảnh sát trưởng quốc gia, ngay giữa thanh thiên bạch nhựt? Không khí chết lặng, ngôi nhà chìm lỉm vào tiếng mưa đêm.

Cha Kì đang run. Ba Đoát cười gằn, nói tiếp:

- Mai anh giết chó, kêu nó qua nhậu. Tôi chờ sẵn, còn mọi chuyện kệ tôi với nó!

Sáu Kì mỗi lúc một cuống. Ba Đoát có một thân, mình còn một đống vợ con, nhà cửa phải lo. Sáu Kì run run, nói ngắt quãng:

- Rủi nó la làng hoặc bọn khác kéo đến bất ngờ, thì răng anh Ba?

- Không, sẽ chỉ có mình nó và nó sẽ không la làng!

Cứ nói khơi khơi, lấy chi dám chắc nó không la? Ba Đoát không buồn giải thích lôi thôi. Cứ để việc xảy ra khắc hiểu. Bỗng nhiên, cung cách ngang tàng và tự tin của Ba Đoát khiến Sáu Kì đỡ lo. Hẳn Ba Đoát đã ém quân sẵn, dư sức đè bẹp mọi sự chống cự của tụi thằng Quyến nên mới mạnh miệng như vậy.

Sáu Kì đưa tay trong bóng tối, chạm nhẹ vào tay Ba Đoát, hai bàn tay siết lại. Sáu Kì đã hoàn hồn, máu giang hồ trỗi dậy. Sắp có một võ đài mở ra, độc nhất vô nhị đây!

Trưa hôm sau, Quyết dẫn bốn, năm thằng đàn em vừa tới cổng, Sáu Kì đon đả:

- Biểu tụi nó qua bển chơi. Tụi mình nói chuyện tay đôi, vui hơn!

Quyến búng tay, mẩu thuốc Cô-táp cháy dở rớt xuống bùn. Bọn đàn em hiểu ý tản đi. Quyến sánh vai Sáu Kì bước vào nhà. Đồ ăn bày sẵn trên chiếc bàn kê giữa. Một người lạ mặt ngồi sẵn trên ghế, điềm nhiên nói:

- Anh ngồi xuống đây. Tôi là Ba Đoát, cán bộ Mặt trận!

Quyến há hốc miệng, trời sập còn đỡ sợ hơn khi nghe người lạ mặt tự giới thiệu.

- Đứng im!

Một mũi súng lạnh ngắt đã đun vào bụng hắn cồm cộm. Như cái máy, Quyến ngồi xuống, Sáu Kì đứng kè lưng hắn. Ba Đoát hất hàm hỏi:

- Biết tui chớ?

Quyến hoa mắt, hung thần đang ngồi trước mặt hắn. Hắn quay lại định hỏi gì, Sáu Kì mỉm cười:

- Anh Ba giết tay Nhung Kì Minh đó!

Ba Đoát bồi luôn:

- Anh có muốn đi theo thằng Nhẫn Bát Nhị, thằng Yến Kì Quang, thằng Nhung Kì Minh không?

- Dạ, không!

Như hụt hơi, Quyến đưa chân quờ quạng trên nền nhà, không có một mô đất, một hang hốc nào có thể núp được nữa. Mí mắt giật cục, tóc xoã xuống trán, hắn không dám cụ cựa hất tóc lên. Ba Đoát đanh giọng:

- Thu súng!

Quyến đờ người, giơ tay run rẩy để mặc Sáu Kì lục lọi thắt lưng, móc ra khẩu col-12 và ba trái lựu đạn. Tự nhiên hắn ứa nước mắt:

- Mất súng, họ giết tôi mất!

- Khỏi lo, để súng vướng víu, khó nói chuyện. Xong, tôi trả lại. Chuyện ri, đêm nay anh phải ra lệnh cho lính của anh, chỉ được gác quanh trụ sở, không được lội bậy vô xóm. Tụi tôi vô, vấp phục kích, anh sẽ chết đầu nước. Mai, anh tập trung từ thôn trưởng trở lên, tới trụ sở hội đồng. Chúng tôi đánh, anh cứ việc chạy qua tay mặt tôi, sẽ thoát chết. Còn chuyện cuối cùng, mật khẩu đêm nay thế nào?

- Dạ, người hỏi: quốc gia, người trả lời: sát cộng!

Quyến trả lời mà không nghe nổi tiếng của chính hắn vừa thoát ra khỏi miệng. Dường như hắn đã bị thôi miên hoàn toàn bởi nỗi khiếp sợ vô bờ bến và cái chết dữ dằn, ma quái hiện ra trong quầng mắt hắn.

- Các ông tha chết lần này, nhưng lần sau?

Mãi sau, Quyến mới chợt nhớ tới câu hỏi sinh tử với hắn.

- Tội anh đáng chết. Anh phải hối cải, lập công chuộc tội. Mặt trận sẽ xét tha tội cho anh!

- Dạ!

Quyến gục mặt xuống mép bàn. Sáu Kì là một trong hai người chủ động bày ra trò chơi này, vậy mà trước những gì vừa diễn ra, cũng còn bàng hoàng, toàn thân sởn da gà, huống chi gã cảnh sát trưởng kia?

Ba Đoát đưa mắt ra hiệu cho Sáu Kì tháo đạn, trước khi trả súng cho Quyến.

- Anh cứ ngồi đây nhậu với anh Sáu. Trước sau gì chúng ta cũng có dịp tái ngộ. Tái ngộ răng tùy anh!

Sáu Kì rùng mình, gớm thiệt, gan thiệt, lại ràng buộc con người ta đã ghê!

Đêm, Ba Đoát đưa hai chiến sĩ theo mình. Đàng hoàng đặt chân lên cầu Cổ Cò. Một thằng gác thò cổ ra quát:

- Quốc gia!

- Sát cộng!

Ba Đoát còn quát to hơn kẻ hỏi và sấn ngay vào vọng gác. Hai chiến sĩ tước súng trên tay tên gác. Thấy một người đàn ông đứng tuổi mặc áo trắng, Ba Đoát hỏi:

- Thằng mô?

- Dạ, dân trong xóm ra chơi!

Một trong hai tên gác líu lưỡi đáp, chính vì vậy nó lừa được Ba Đoát. Anh bỏ qua không lục vấn người áo trắng. Người này tỏ vẻ khúm núm và lủi nhanh ra ngoài.

Ba Đoát không ngờ, người vừa thoát khỏi tay anh chính là Bang Tha, một trong bốn đối tượng phải diệt trong đêm nay.

Người du kích mật với bí danh Quyết, đã đợi sẵn bên kia cầu. Theo kế hoạch, Quyết sẽ đưa hai chiến sĩ đến nhà Nguyễn Đăng Đàn, còn anh, một mình đến nhà Dương Tu. Phải bắt sống cả mấy tên, xử tử một lúc và ghim lên xác chúng bản cáo trạng viết sẵn.

Quyết đưa hai chiến sĩ đến nhà Đàn, gọi cửa theo đúng mật khẩu, Đàn cảnh giác sẵn, bước ra. Thấy ba người khách lúng túng, Đàn giật mình, vung chân đá liền. Hắn to con, hai chiến sĩ bị đá văng ra. Quyết xông tới vung dao chẻ nan, chém sả vai Đàn. Xác nó rớt bịch, vắt ngang bậu cửa.

Cùng lúc, Ba Đoát lẻn vào tận giường ngủ vợ chồng Dương Tu, giữa khi hai đứa đang hú hí với nhau. Ba Đoát cáu tiết túm lấy thằng chồng đang trần truồng, kéo ra thềm. Người vợ la làng kêu cứu. Bọn dân vệ đang gác quanh đấy, rầm rập chạy xuống. Ba Đoát đành phải siết cò, nhả một băng, cắt đôi người Dương Tu. Con vợ nó ôm lấy tay anh cắn xé. Ba Đoát hét:

- Buông ra, giết chừ!

Người đàn bà vẫn bu cứng lấy anh. Ngoài ngõ, bọn dân vệ lên đạn, nghe lớp cớp. Ba Đoát thúc cùi chỏ vào mặt người đàn bà, người này đau quá, rời tay ra. Ba Đoát chưa chịu chạy ngay. Anh nép vào bóng tối cánh cửa, chờ bọn dân vệ vào tới sân, quất thêm một loạt đạn rồi mới chịu lao về hướng cầu Cổ Cò.

Đêm náo loạn, tiếng súng nổ ran một góc trời. Đành để Võ Trấu và Bang Tha sống thêm ít bữa nữa. Đạt năm mươi phần trăm cũng đủ làm Thanh Phong rung động rồi!

Về tới Đồng Hồ, thím chủ nhà nấu sẵn nồi cháo gà. Húp chén cháo nóng hổi, mắt Ba Đoát híp lại. Buông chén, anh quay ra ngủ liền.

Thím chủ nhà lay mỏi tay, Ba Đoát mới khật khừ ngồi dậy.

Sáng bửng, Chiến, người thứ hai trong tổ du kích mật Thanh Phong tới, định báo cáo lại tình hình hồi hôm. Ba Đoát gạt đi:

- Chuyện nớ cũ rồi, lo chuyện chừ. Chú đạp xe tới trụ sở, coi thằng Quyến đã tập trung tụi nó chưa, rồi quay lại cầu đón tôi!

Chiến nhanh nhẹn phóng đi. Ba Đoát giục ba trong số bảy chiến sĩ thay đồ. Giờ thì anh nào cũng ham đánh giặc với Ba Đoát. Nhưng đi cả không lợi. Ba Đoát chọn ba chàng lính có dáng vẻ thành thị nhất.

Phút chốc, Ba Đoát và ba chiến sĩ đã biến thành bốn học sinh thị trấn, chân dận săng-đan, súng cho vào cặp da, thủng thẳng đạp xe qua cầu…

Chiến quay lại. Theo ám hiệu, Ba Đoát biết, Quyến không dám trái lệnh anh. Cũng may cho Quyến, hắn vừa nhận được lệnh chuẩn bị thay căn cước cho dân.

Mấy “cậu” vừa đạp tới chân cầu Giáp Mười, dân vệ ngăn lại, “cậu” Ba Đoát chửi thề:

- Đ… mẹ! Tụi bay gác xách như cứt để Việt Cộng vô làng giết tùm lum, chừ còn cản chi. Biết tau là ai mà dám cản?

Bọn chúng dạt sang bên, ngơ ngác. Phóng xe tới chợ, người đi lại đã đông đúc, hàng quán bày ra san sát, Ba Đoát thản nhiên vào quán, xế trụ sở, kêu tô mì Quảng, nhưng mắt không rời mục tiêu…

Anh nghe rõ tiếng Quyến xỉ vả, chửi rủa bọn thôn trưởng, công an bất lực, lại hăm dọa làm tờ trình lên quận, bắt cả bọn đi tù…

Ba Đoát đứng dậy, ba chiến sĩ nhanh nhẹn đi theo. Gần đến cổng chính, bốn người kín đáo móc súng khỏi cặp da, lao như tên bắn, lên bậc thềm.

Cả đám đứng im. Bốn hung thần trên trời rớt xuống, chĩa súng quây bốn góc. Không biết thằng nào với thằng nào. Ba Đoát vồ ngay một lão già, tát hai bạt tay nảy đom đóm mắt, rồi quát:

- Khai ngay tên từng thằng. Khai bậy, tau giết!

Trúng phóc Cửu Mười, nhát tổ sư. Cửu Mười run run chỉ mặt từng “chiến hữu” của lão. Thằng nào trúng diện thanh toán, bắn ngay tại chỗ. Tiếng súng gằn từng phát một. Bọn chức việc, hội đồng xám ngoét, không còn bụng dạ chi mà phản ứng:

- A, thằng Nông tín cuộc tỉnh!

Ba Đoát lẩy cò, nó giãy đành đạch, đạp đổ cả cái ghế đẩu.

- A, chủ tịch hội đồng?

Bóp cò!

- Uỷ viên hội đồng phụ trách thanh niên cộng hòa!

Mũi súng giật ngược, tiếng nổ đanh. Thằng này trẻ, đạn phá tan lồng ngực, còn bấu vào mép bàn trước khi gục xuống, sấp mặt trên nền gạch.

- A, phụ trách bình định tố cộng!

Ba Đoát liếc thật nhanh vào mặt nó, cái nhìn lạnh lẽo, sắc nhọn. Răng mặt nó dài ngoẵng như mặt thằng Đàm rứa? Anh nghiến răng, viên đạn cày tung cái mặt nó, óc nó phọt ra, văng trúng mặt Cửu Mười. Lão loạng choạng, bưng mặt, khóc òa…

Siết cò tê cả tay, càng tức điên lên. Trời ơi Lê Văn Biên đâu? Dương Cạnh đâu? Ức quá, tụi chó ấy có tài đánh hơi thấy nguy hiểm ư?

Lợi dụng lúc Ba Đoát dừng tay bóp cò, Quyến lao về phía tay mặt anh. Một chiến sĩ giương súng định bắn. Ba Đoát sực nhớ tới lời hứa, vội đẩy nhanh mũi súng lên cao. Người lính ngơ ngác, viên đạn vọt lên trần nhà nổ đanh, vôi vữa rụng lả tả…

Quyến chạy thục mạng. Lấy cớ đuổi theo, Ba Đoát quát cả lũ còn lại:

- Chừ tau lo diệt thằng Quyến. Đứa mô khôn ngoan thì đừng gây tội ác nữa. Mặt trận không tha đâu. Nhớ chưa?

- Dạ!

Cả lũ chực hờ Ba Đoát cho phép là co giò ù té, chạy thục mạng. Bốn hung thần vừa lao ra, vọt lên xe, cả bọn xô đạp nhau túi bụi, lạch bạch như vịt trên thềm, để lại căn phòng sũng máu và mấy cái xác nát bấy…

Ba Đoát la:

- Đạp mau tới cầu!

Thấy một người đàn ông hấp tấp đạp xe ngược lại, Ba Đoát rút súng hườm sẵn, hét áp đảo ngay:

- Tên chi, tên chi, nói mau?

Trước uy lực khủng khiếp của giọng Ba Đoát, người đàn ông không kịp suy nghĩ, trả lời ngay:

- Dạ, Dương Cạnh!

Ba Đoát mừng sảng. Tự mi dẫn xác đến trước họng súng tau nghen. Siết cò, khói xanh lam tỏa nhẹ, tiếng nổ chát chúa hất Dương Cạnh khỏi yên xe, xác lăn lông lốc xuống vệ cỏ ven đường. Chiếc xe đổ lăn kềnh bên hắn…

Lao đi tiếp. Gặp một người dân đang dắt bò, Ba Đoát hỏi:

- Bác tê, nhà thằng Biên mô?

Người đó nháo nhác nhìn quanh, lẳng lặng chỉ vào ngôi nhà xây ngay chân dốc cầu, rồi vội vã dắt bò qua lối khác. Đúng lúc Biên vừa dắt xe lên dốc. Ba Đoát nhảy xuống, rút đại mảnh giấy trong túi ngực, huơ huơ lên hỏi:

- Có lệnh kêu Lê Văn Biên!

Biên lật đật đứng lại:

- Dạ, chính tôi!

- Răng không tới hội đồng?

Muốn thật chắc, sợ bắn lầm người trùng tên Biên, Ba Đoát chậm rãi hỏi, tay phải kẹp súng sẵn sàng.

- Dạ, không biết chuyện chi nổ súng rầm trời, tôi tính tìm ông Quyến hỏi!

Ba Đoát cười khẩy, trở báng súng đập mạnh vào đầu Biên. Biên giơ tay đỡ, nhưng đà tới mạnh quá, chiếc báng súng bẻ đôi xương tay và phang trúng vai hắn, Biên ngã vập xuống đường, mặt mũi bê bết cát pha máu. Anh chồm tới, gí súng vào đầu Biên và lẩy cò…

Giờ thì Ba Đoát phải ngủ bù, mệt bã người, hai vai mỏi nhừ…

Cũng đêm ấy, đêm đầu tiên trong một lữ điếm ở Huế, Phi đang trằn trọc chờ sáng với tâm trạng luyến tiếc xót xa.

Và Phan Trịnh, thi sĩ hai mươi tuổi, tự vò xé tâm tưởng mình bằng những ám tượng hoàng hôn. Con tàu đưa chàng xuống phương Nam mù mịt, trườn theo những vách đá dựng đứng trập trùng ven biển, đèo dốc, trồi lên, trụt xuống, những đường hầm luồn trong đá hầm hập và tăm tối.

Những câu thơ hiện ra như tiếng la hoảng của người đang ngủ bỗng gặp cơn ác mộng, thấy mình bị ném vào vực thẳm không đáy…

Phương Nam ẩm ướt và xa vời

Xe thổ mộ và vầng trăng đen đúa

Ta chui xuống hầm sâu, vách đá

Cánh tay mù sờ soạng vẫy tương lai…

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.