Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ấn Tượng Hoàng Hôn
Ấn Tượng Hoàng Hôn

❊ ❊ ❊

Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão!

TỐ HỮU

Sài Gòn mưa dông. Cơn gió cụt đầu quay lông lốc qua các phố khi trời hửng nắng trở lại. Ga, không ai tiễn một người đi vào cõi lạ lùng. Cố đô xa vòi vợi. Thành phố với hai trăm ngôi chùa và năm mươi tổ đình. Tiếng chuông chùa bàng bạc. Không dè Phương Mai nói: “Một ngày kia anh sẽ tới Huế” lại thành lời tiên tri cho chuyến đi ngày hôm nay. Đi ngược chiều với loài chim di trú.

Đúng hai giờ chiều hôm sau, tàu tới ga Tam Kì. Trước kia, Tam Kì chính là điểm giữa của đường sắt xuyên Việt. Nhưng vào mùa hè năm 60, vĩ tuyến 17 đã chia đôi quốc gia này và Tam Kì thành ga gần cuối tuyến Sài Gòn – Huế. Chế độ miền Nam vừa trải qua những cuộc khủng hoảng xã hội, chính trị trầm trọng, dường như đã gượng lại được để bước vào những năm 60 với vẻ ngoài cực thịnh. Bằng vào việc quan sát riêng chuyến tàu này, ta cũng phần nào hình dung được bối cảnh của một trật tự hiện hữu.

Sau nhiều năm gián đoạn hoạt động, đường sắt đã được khôi phục. Những đầu máy đi-ê-den tối tân của Hoa Kì, Ca-na-đa, Giéc-ma-ni…, thay thế cho những đầu máy hơi nước già nua, bụi bặm của người Pháp. Chương trình chạy tàu cũng khá chính xác hơn…

Có thể tìm thấy đủ mặt mọi tầng lớp trong đám hành khách đi tàu. Loại toa có giường nằm sang trọng lắp kính che cửa sổ màu xanh và loại toa lắp kính trắng dành cho những viên chức cao cấp của chế độ, những doanh chủ giàu có nhờ các hợp đồng đấu thầu và khai thác dinh điền, những viên sĩ quan quân phục thẳng thớm, ga-lông bóng lộn, óng ánh những bông mai bạc, những thành viên cỡ bự của Cần lao hoặc Phong trào Cách mạng Quốc gia, nét mặt cau có, khắc khổ và con cái những gia đình giàu có. Toa hạng nhất dành cho những công chức, tư chức “thường thường bậc trung”, những giáo sư, bác sĩ mang kính trắng. Hạ sĩ quan, giáo chức hàng tỉnh, những tiểu chủ giữ bộ mặt nhũn nhặn phải đạo, hơi khó hiểu, ngồi ở toa hạng hai. Còn lại, cái “đa số thầm lặng” chen chúc trên những ghế băng cứng, đặt dọc theo những toa tàu hạng chót, được móc liền ngay sau đầu máy. Mắt thường cúi xuống, nhưng đám hành khách này không bao giờ bỏ sót một cử động nào của các nhân viên công lực và hỏa xa. Và mỗi khi tàu dừng, họ cố nhoài người ra hai đầu toa hóng gió.

Người đàn bà lạ lùng đã mua sẵn cho Phi vé toa hạng nhất, nhưng anh thấy lạc lõng, quyết định bỏ xuống trong toa hạng chót, ngồi lẫn với “đồng loại” của mình.

Miền Trung hè chói chang. Gió nóng rát mặt. Thờ ơ với đám người chen chúc, cãi vã chung quanh, Phi nheo mắt nhìn những lũy tre phía xa đang đỏ rực dưới quầng lửa trời. Ngược lên chút nữa, Phi nhớ đến những giông núi trơ trọi ở Tam Phước và ngôi trường kháng chiến thơ mộng. Không biết có ai tiếp tục vun xới hai sào khoai đất sỏi hay là cỏ và cây dại đã chen vào?

“Về miền Trung, miền thùy dương, bóng dừa ngàn thông…”

Chua xót mỉm cười nhớ lại ca từ của một bài hát đang thịnh hành. Quê hương anh kia, máu lửa, đói khát và điêu tàn. Tự dưng Phi thấy cô đơn da diết. Đằng trước không ai chờ đón anh ngoài tiếng chuông chùa. Đằng sau một mối tình vừa giãy chết cùng với tiếng còi tàu thê thảm giã biệt ga Sài Gòn.

Không thấy anh về dự tiệc, Linh Vân có buồn không? Chung quanh anh, dòng quá khứ không ngưng đọng lại thành kỉ niệm mà hiện diện nhức nhối mỗi khoảnh khắc tức thời. Hiện tại sôi sục quá vãng, bánh xe thép nghiến ken két trên đường ray. Gió mỗi lúc một đặc quánh lại, anh có cảm giác đang nhìn thấy nó chảy tràn ra từ miệng một lò nấu thép…

Hà Lam kia, Nam Phước kia, Vĩnh Điện kia và cả nẻo đường rẽ xuống phố Hội nép mình bên cửa Đại Chiêm. Cái nhìn nóng bỏng của anh xuyên qua những ngôi nhà thị trấn để thấu tới Giáng La – Gò Mả.

Hai mươi năm, cuốn phim một đời người dằng dặc hiện ra qua khung cửa sổ con tàu, toàn những màu nóng đến nghẹt thở…

Năm giờ chiều, tàu tới ga Đà Nẵng. Trời xáng cơn mưa, thành phố – trại lính ngập chìm mưa xám, ánh đèn trên sân ga vàng úa, mệt mỏi như mắt kẻ đợi tàu. Chưa có gì khác lắm so với ngày anh và Ba Đoát bước chân xuống bến đá Thanh Bồ. Anh ao ước được đặt chân xuống thành phố, dù chỉ là giây phút ngắn ngủi men theo đại lộ dọc sông Hàn, nơi anh nói với thầy Lưu một lời tạ lỗi và một câu từ biệt thầy… Nhưng mệnh lệnh nghiệt ngã, anh không được phép đặt chân xuống Đà Nẵng chừng nào chưa có phép…

Mười giờ đêm tới Huế. Cố đô bí hiểm hiện hình trong cơn mưa đêm. Ngay từ lúc lên tàu, anh đã hỏi thăm biết rằng, xế cổng nhà ga có khách sạn Hòa Bình, giá cả phải chăng, thích hợp với những du khách nghèo…

Dừng bước lên bờ sông đào An Cựu, dòng nước hẹp và tuyệt nhiên âm thầm. Anh bước tiếp với chiếc va-li xuềnh xoàng, chứa dăm ba cuốn sách được thưởng qua các kì thi, vài bộ quần áo, một thẻ học sinh, một căn cước, một văn bằng tú tài toàn phần “măng-xi-ông biêng”[1] và hai ngàn đồng tiền ăn đường do người đàn bà chu cấp.

Phòng trọ ẩm thấp, hôi hôi mùi dầu hỏa và gỗ mục. Cái gì đang đợi anh ngày mai, ngày kia?… Phi đang ngồi giữa hai cô gái tươi trẻ bên bàn tiệc. Linh Vân dạo đàn, có vẻ như cô đang chơi một hành khúc tang lễ và gục xuống hàng phím trắng muốt mà nức nở…

Bỗng nhiên tiếng còi tàu hỏa từ ga vọng tới làm anh bừng tỉnh. Con tàu lại quay về nơi ban đầu nó đã xuất phát và để lại mình anh thao thức trong buồng trọ…

Anh không ngờ được rằng, một chàng trai vừa trạc tuổi anh đã thế chân anh trên con tàu khứ hồi ấy… Anh tìm đến Huế theo một mệnh lệnh, người đó rời khỏi Huế vì những ám tượng hoàng hôn.

Phan Trịnh, vâng, người ấy tên là Phan Trịnh, được coi là một “hiện tượng” tại Huế và miền Trung, những năm sáu mươi này, nhờ một loạt những thi phẩm mang đầy màu sắc suy tưởng phiêu hốt và quằn quại. Huế trầm tư và quá vãng đọng lại thành lời, lời của một đứa con u uất và hào sảng của linh hồn Huế. Người ta biết về anh, thi sĩ trẻ, nhiệt huyết, người ta đồn đại vô số giai thoại về cuộc đời cay cực, thương yêu và cô độc lạ lùng của anh. Sinh viên truyền tay nhau những bản chép thơ của anh…

Ví như bài thơ sau đây đã từng đăng tải trên tập san Văn nghệ học sinh, sau đó tờ Bông lúa in lại:

Trong buổi chiều gió lốc

Mây vần vũ trên đầu

Trời đen nhìn chóng mặt

Bấy giờ người ở đâu?

Đêm trăng nào đã khuất

Con đường nào đã qua

Dấu môi yêu đã nhòa

Xa vời và gào thét

Mang mang sóng mang mang

Những mảnh buồn trôi dạt

Còn y nguyên trên cát

Những bàn chân, bàn chân

Và những thủy triều dâng

Cồn cào trên ngực biển

Như hẹn giờ bão đến

Từ mỗi dấu chân son…

Người ta còn nói rằng, bài thơ “Niềm phượng” là hậu quả mối tình của thi sĩ mười sáu tuổi dành cho cô giáo dạy Việt văn. Không hiểu Viễn Miên Trường, tên cô giáo, giảng “Bích Câu kì ngộ” hay thế nào, chỉ thấy chú bé Phan Trịnh, con trai người gác ba-ri-e xe lửa tại chợ Tam Giác – Đà Nẵng, đem lòng say đắm cô giáo.

Mỗi tối, chú bé trèo tường vào vườn nhà bác sĩ Thái Phong, hái trộm một bông hồng còn ướt đẫm sương đêm, rồi hộc tốc chạy lên Ngã Năm, rướn người qua cửa sổ, ném bông hồng vào phòng cô giáo.

Năm chú mười sáu tuổi, cô giáo đi lấy chồng. Chú “đi cọp” xe lửa vào tận Nha Trang, ăn cưới cô. Cô giáo cảm động, giở cuốn an-bum cho chú coi, trang nhất có hình đôi tân hôn, trang sau dán ảnh chú bé học trò.

Chú lột bức hình ra khỏi an-bum, lật mặt sau, viết hai câu:

Nha Trang còn chút nắng chiều

Thắp lên tôi đón người yêu tôi về…

Cô giáo Viễn Miên Trường ở lại Nha Trang. Chú trở về thành Thái Phiên, vẫn chưa nguôi niềm đam mê và xót xa:

Mở tay ra gặp trăng vầng

Tôi hôn nỗi nhớ, dịu dàng người đi…

Chú vẫn chưa yên tâm. Trái tim u buồn nặng trĩu không lẽ bắt một mình chú gồng người lên mà gánh. Chú đâu phải là Át-lát để vác trên lưng cả một vòm trời tình ái? Chú quyết định chia sẻ với bàn dân thiên hạ, bằng cách, gửi “Niềm phượng” cho tờ “Bông lúa”.

Những độc giả trẻ tuổi khoái Phan Trịnh có lẽ do khía cạnh thơ mộng của mối tình nổi loạn, phảng phất hơi hướng hiện sinh…

Nhưng nếu họ được hân hạnh quan sát thi sĩ hai mươi tuổi này, trên toa tàu hạng chót rời Huế đêm ấy, họ sẽ còn kinh ngạc hơn.

Dưới ánh đèn nhập nhoạng trong toa tàu lắc lư, gương mặt Phan Trịnh hiện ra nhăn nhúm, co rút như một người sắp lên cơn kinh giật. Quần áo anh nhàu nát và vạt trước chiếc áo sơ-mi của anh có một lỗ thủng bằng bàn tay, do lúc mải mê đọc sách, vô ý làm rơi tàn thuốc xuống áo. Toàn thân anh toát ra một mùi oi khói trộn lẫn mùi mồ hôi dầu. Nghĩa là lúc đó, Phan Trịnh giống một người đạp xích-lô hơn là một thi sĩ. Thỉnh thoảng anh húng hắng ho và người anh gập xuống…

Con tàu càng lao vào bóng tối ghê gợn của những ngọn núi chập chùng, anh càng trơ trọi và đau thắt ngực, ít nhất Phi còn có một cái va-li để xách đến Huế, Phan Trịnh trốn khỏi Huế với hai bàn tay trắng và một chuỗi kí ức được tô đậm bởi những ám tượng hoàng hôn…

Viên chủ sự hỏa xa trịnh trọng đặt cuốn từ điển Việt Nam xuống mặt bàn học, vuốt tóc chú bé Phan Trịnh, dịu dàng hỏi:

- Em con nhà ai mà học giỏi vậy?

Chú bé đứng phắt dậy, tay cầm chiếc thước kẻ bằng nhôm cha chú mới làm cho chú. Ước gì được quất thẳng cây thước vô mặt nó. Một cái mặt trơ tráo và tàn nhẫn. Đôi mắt kính cận thị sẽ vỡ tan, những mảnh thủy tinh bể vụn sẽ cắm lút vô mặt nó. Ta sẽ có đủ thời giờ để kể tội nó, trước khi cảnh sát ập vô, còng tay ta. Sáng nay, cha ta mở cổng hơi trễ. Tên khốn kiếp này đã tát cha ta mạnh đến nỗi, ông già xính vính ngã chúi xuống đường mương. Nó nhổ nước miếng xuống mặt ổng và khinh bỉ bỏ đi.

Ta sẽ không bao giờ quên “cái tát” ấy.

Khi ta chạy ra đỡ cha ta ngồi dậy, ông chống tay, mặt mũi bê bết bùn nước hôi thúi, câm lặng bước vô nhà…

Nhưng nếu ta đánh nó, chị gái và cha ta sẽ bị đuổi việc. Mẹ ta sẽ khóc ngó thằng em trai của ta bại liệt bẩm sinh nằm chết đói trong góc nhà. Và em gái út của ta sẽ mếu máo đòi ăn.

Tự nhiên tay chú buông thõng, những ngón tay rời rã, chú im lặng đau đớn. Toàn bộ diễn biến tâm lí trên diễn ra quá nhanh. Viên chủ sự không ngờ được rằng, suýt nữa ông phải trả giá quá đắt cho cái tát của mình. Nhưng một chút mẫn cảm khiến ông rợn người, bước xéo qua bên. Tuy vậy, ông ta vẫn phải cố trấn tĩnh, hoàn tất nốt vai diễn của mình: Thay mặt sở hỏa xa thăm và phát phần thưởng cho những học trò giỏi nhất trường tiểu học miễn phí của Sở…

Từ đó tới lúc tan học, không lúc nào chú ngó tới cuốn sách phần thưởng. Chú hộc tốc chạy về nhà.

Nhà chú nằm trên một rẻo đất hoang trên đường ray. Đám cu-li hỏa xa giúp cha chú dựng một túp lều nhỏ. Mẹ chú dùng đám đất đó, trồng ít dây lang và vài bụi chuối…

Chị Hai chú làm lao công trong văn phòng chủ sự. Sở bắt cha chú phải gác hai cái rào chắn xe lửa, nhưng chỉ cho lãnh một lương. Cha hậm hực, vẫn cắn răng chịu. Mẹ chú và chú phải phụ cha, gác một ba-ri-e.

Cha bề ngoài cục cằn, ít nói, nhưng thực ra ông rất dịu dàng với con và biết điều với láng giềng. Có đêm đang ngủ, thấy lạnh, chú giật mình tỉnh giấc. Cha bê thau nước đặt trên ghế đẩu rửa chân cho chú…

Nhác thấy bóng Trịnh, mẹ chú la to:

- Mau lên con, tàu tới rồi đó!

Chú quẳng vội cặp sách xuống đất và lao vội qua ba-ri-e, nơi cha chú vẫn gác, đẩy hàng rào sắt chắn đường. Xe cộ, khách bộ hành ùn lại hai bên. Đoàn tàu hồng hộc chạy qua, rú còi và kéo theo những goòng chở đá.

Cha vắng mặt vào thời điểm này khiến chú linh cảm điều không hay sắp xảy ra. Xế chiều, chú đang học bài, cha xô liếp, bước vào. Mặt ông tái nhợt, miệng sặc hơi rượu, tay lăm lăm cây roi. Vừa quất roi túi bụi vào mặt con, vừa khóc, miệng ông méo xệch:

- Ráng mà học, đừng thèm làm một thằng cu-li như cha, nghe Trịnh?

Mỗi lần roi xiết không đau bằng từng tiếng nấc của cha. Trịnh như sờ thấy nỗi tuyệt vọng của cha. Mẹ cũng khóc, chìa lưng đỡ đòn cho con. Cha liệng cây roi, bước ra sân. Trịnh lại giở sách ra học. Cha quay vào, leo lên cái chõng tre hư nát, xây mặt vào vách, những giọt lệ rớt xuống nan chõng. Bên ngoài hoàng hôn nhuộm vàng đám bụi bốc lên trong khu chợ.

Bao giờ cảnh tượng hoàng hôn cũng làm Trịnh vừa háo hức chiêm bái, vừa hãi sợ như cách thức những người phong cùi chờ đón vầng trăng. Căn nguyên tình trạng đó bắt nguồn từ những hồi ức bất an và kinh nghiệm hoàng hôn mà Trịnh vừa trải qua.

Mỗi lần mẹ ngơ ngác mỉm cười, kể lại cho mấy chị em Trịnh nghe, chuyện cha mẹ gặp nhau, thương nhau mà thành vợ, thành chồng, cha thường im lặng, mắt chợt ánh lên cái nhìn rạng rỡ rồi vụt tắt như chút nắng tàn cuối thu. Có lẽ chính người cũng đang thả hồn về ngôi làng cố hương, cách Huế hơn hai chục cây số, nơi cha nếm mùi cuộc đời từ thân phận đứa trẻ mồ côi, ở với một bà cô không chồng, không con.

Đó là bà cô nghèo nhất trong họ, nhưng yêu thương đứa cháu mồ côi còn hơn chính con đẻ của bà, nếu bà được hưởng cái quyền có chồng và đẻ con như mọi người đàn bà bình thường khác. Vì vậy bà lặn lội theo cháu trong một kíp thợ sửa chữa cầu đường. Cho đến ngày, bà cô bắt gặp thằng cháu trai đứng ngẩn người, ngắm một cô thôn nữ gánh lúa qua cầu theo hướng mặt trời ngả bóng, nơi chiếc va-gông của kíp thợ đậu lơ lửng.

Bà cô gạn hỏi mãi, đứa cháu trai đành thú nhận cảm tình của mình với cô thôn nữ ấy. Nhưng lại bấm bụng thở dài: liệu người ta có khứng làm vợ một anh thợ nghèo hèn không?

Bà cô thương cháu, lặn lội vào làng, tìm đến tận nhà cô thôn nữ ấy. Cả hai cô cháu không dám tin là gia đình cô gái ấy nhận lời, chuyện tưởng như chỉ xảy ra trong cổ tích “Sọ dừa”.

Kíp thợ hay tin cuộc hôn nhân lạ lùng, cũng mừng rỡ, giúp anh thợ trẻ sửa soạn lễ cưới. Thầy đội trưởng vào phường Ngũ Xã, thuê khăn đóng, áo dài, dẫn các bạn thợ khác sắm vai nhà trai, rước dâu về đoàn va-gông của mình. Đám cưới do bà cô nghèo và đám thợ áo xanh lam lũ lo liệu, tuy đạm bạc nhưng đầm ấm tình cảm.

Rồi từ đó, lại một cuộc rước dâu rình rang về ga Quảng Trị. Sau đó, đôi vợ chồng trẻ về bên này Phước Mĩ. Bà già độc thân cô quả về ở với họ.

Kíp thợ xúm nhau, dựng giúp họ túp lều giữa đồng. Chị gái Trịnh, rồi Trịnh ra đời ở đấy.

Cha kể, ngày mẹ chuyển dạ đẻ Trịnh, ba người trong kíp thợ cùng cha khiêng mẹ vào nhà thương làm phúc, cách nhà mười cây số. Mưa lạnh tháng mười. Trùm tơi lá đỏ trên võng (võng bao bố, cha ràng thêm dây thép cho chắc ăn), lắt lẻo khiêng qua cầu An Đôn, men theo quốc lộ vào thành cổ. Mừng con trai chào đời, cha ra chợ Quảng Trị mua nải chuối về cúng tạ trời đất và mười hai bà mụ. Khi thắp hương, cha cười chảy nước mắt, anh em thợ cũng khóc theo…

Sau đảo chính, Nhật bắt nhổ lúa, trồng đay. Đồng minh ném bom phá cầu đường. Trong túp lều chơ vơ giữa đồng, xây mặt hướng Tây (hướng đường xe lửa), mẹ sinh con thứ ba. Một bé trai, mặt mũi kháu khỉnh, trán rộng, tai lớn, da trắng bóc, nhưng toàn thân mềm nhũn, tay chân rũ liệt như không xương…

Gió Lào ngùn ngụt thổi tốc mái. Nhà thấp, đường rầy cao hơn một cấp, rồi núi cao chất ngất mây mờ. Có chiều mưa vừa tạnh, cha mang tơi, đội nón đi từ chân núi theo hướng mặt trời lặn, trở về. Tay cha xách chiếc ăng-gô móp méo đựng nhúm gạo, vài cọng rau rừng hái vội dọc đường…

Bà cô già đã chết. Mẹ gầy xanh, chiều chiều đứng trên chái bếp, bồng đứa con bại liệt, còn chị em Trịnh chờ nơi góc sân, cùng ngóng cha về từ chỗ mặt trời đang tắt. Sáng sớm cha đi làm, vài ba ngày về một lần…

Những dấu ấn hoàng hôn hằn sâu vào trí não non nớt của chú, từ những rãnh hằn đó, nhân cách chú bé trồi lên…

Người cha, cánh đồng lúa chín, mẹ mót lúa, máy bay ném bom, chiếc ăng-gô móp méo, phía Tây vàng khè, rặng núi tím hoàng hôn và vượt lên trên tất cả, là hình ảnh người mẹ bồng con đứng ngóng chồng nơi chái bếp…

Bỗng dưng cha vui, không ai hỏi vì sao cha vui? Chỉ biết, có lần chú bé Trịnh chạy ra ôm cha, cha xoa đầu chú mỉm cười:

- Thôi, hồi hương quê nội!

Từ cầu An Đôn, mọi người dắt díu, bồng bế nhau đi bộ dọc sông Thạch Hãn. Tới Cửa Việt, bắt đầu xuống thuyền. Mươi ngày sông, dập dờn biển. Đem theo mươi chén bát cũ, cái rương gỗ nhỏ và ba đứa con, mẹ theo cha về quê chồng. Rẽ vào Ngã Ba Sình rồi trảy Hương Giang…

Lần đầu tiên, chú bé nhìn thấy cầu Tràng Tiền trứ danh và những ngọn đèn điện treo ngược dọc thành cầu. Gần tháng, chuyến khứ hồi kết thúc, chú về tới La Sơn.

Phan Trịnh còn nhớ, nhà chú ven quốc lộ. Cha xách dao phay theo dân làng đi mít-tinh và trên đầu nhà, treo cao một lá cờ đỏ sao vàng. Những người đàn bà quê mùa lam lũ (trong đó có mẹ chú), cũng tụ tập, họp hành…

Tây trở lại. Cả nhà tản cư lên Khe Sâu. Chị gái Trịnh đeo cái bồng nhỏ đựng khoai khô. Mẹ gánh hai đứa con trai. Phía thúng đựng đứa em bại liệt phải chèn thêm chén bát, nồi niêu cho cân. Chú bíu gióng, thấy mẹ gánh trèo dốc nặng nhọc quá, nhảy tót xuống cho mẹ đỡ ê vai thì cái gánh lại bồng bênh…

Súng nổ chiu chíu phía sau. Máy bay Pháp rượt theo, ném bom xuống đám tản cư.

Nhớ mãi, một chiều cháy rừng sau trận bom, cha mẹ nhỏ to trong hầm. Mẹ khóc, chỉ vào ba đứa con. Cha đứng dậy gắt gỏng:

- Thôi, về!

Về lại nhà cũ. Cha buồn rũ rượi như người mất máu. Làng hoang tàn, người thưa thớt. Tây bắt cha nhốt tại Nong một tháng. Mẹ xách gióng giỏ, đưa cơm nuôi cha. Cơm độn sắn, hai chén úp một, dăm hạt muối mè khô rang. Lúc được thả, người cha còm nhom, quần áo tơi tả, chấy rận như sung.

Cha xin trở lại kíp sửa cầu đường. Vẫn kíp thợ cũ, nhưng nhiều người theo kháng chiến luôn không trở về nữa. Trong kíp thợ có người biết chữ, dạy chú bé học. Chú quanh quẩn những hoàng hôn, lên đồi chơi cùng chúng bạn.

Mỗi ngày, vùng chú ở súng nổ nhiều hơn. Đêm đêm, có nhiều người lạ mặt ghé qua nhà chú thì thào với cha, dốc gạo trong ruột tượng nhờ mẹ nấu cơm. Năm 49, cha bị thuyên chuyển vào cầu Hai (gần Nước Ngọt). Được đâu một tuần, cha về bảo mẹ:

- Phải vô Đà Nẵng!

- Đà Nẵng chi chi mô?

Mẹ rầu rầu, nhưng không dám cãi ý chồng.

Hè ấy, cả nhà lên xe lửa làm một cuộc thiên di. Cha trở thành người gác ba-ri-e chỗ đường Khải Định, cắt ngang chợ Tam Giác. Chú thành dân Đà Nẵng từ đó và tiếp tục học trong trường miễn phí của sở Hỏa xa.

Đám cu-li quây quần thành xóm, hè nhau mua sách truyện về nhờ chú bé Phan Trịnh đọc cho nghe, những Tam Quốc, Thủy Hử, Tàn Đường, Nhị Độ Mai… Chú bé được coi như thần đồng và trở thành niềm kiêu hãnh của họ, những người cu-li thất học, trung hậu và tự trọng.

Thòi đó, tại Đà Nẵng có thư viện “Bảo trợ nhi đồng” với dăm trăm cuốn sách, chú đọc hết không sót một trang nào trong số sách đó. Đám cu-li hỏa xa yêu mến chú bé vì chú thông minh, trí nhớ tốt, giọng đọc truyền cảm và còn khoái cái tính khí khái của chú. Họ thích thú kể cho nhau nghe chuyện chú bé xé toang mấy đoạn trong “Tam Quốc” và “Hán Sở tranh hùng”. Đó là đoạn Viên Thiệu sai danh sĩ Trần Lâm viết hịch kể tội Tào Tháo, trước khi dàn trận sống mái với Tào A Man. Lúc ấy, Tào Tháo đang ốm trong quân. Khi tả hữu dâng cho Tào Tháo coi lời hịch Trần Lâm, Tháo xuất hạn (đổ mồ hôi) cùng mình. Tháo tỉnh hẳn và hỏi:

- Trần Lâm là thằng nào?

- Là danh sĩ Hà Bắc!

Tả hữu thưa. Tháo im lặng, rồi nói:

- Cũng may cho bọn ta, võ Viên Thiệu không hay như văn Trần Lâm, nếu không, bọn ta chết không có đất chôn!

Trận đại chiến Hà Bắc kết thúc, trăm vạn quân Viên Thiệu tan tác, Trần Lâm bị Tào Tháo bắt sống. Tháo gọi Trần Lâm ra hỏi tội:

- Mày ghét tau thì chửi mình tau, mắc chi chửi cả ông bà tổ tiên họ Tào, bằng những lời cay độc đến thế?

Giáp sĩ hai bên gươm giáo sáng loè, mạng Trần Lâm treo trên sợi tóc. Danh sĩ Hà Bắc thưa:

- Bẩm chúa công, kẻ hèn mọn này như mũi tên nằm trên dây cung, bắn vào hướng nào đâu phải quyền của nó!

Tháo nghe xong thương hại, tha tội chết cho Lâm.

Chú bé Phan Trịnh khinh bỉ tư cách kẻ sĩ của Trần Lâm mà xé trang này. Gan làm gan chịu, đã dám viết văn chửi kẻ thoán nghịch thì cũng phải có dũng khí chịu chết vì chính những lời văn ấy của mình. Lẽ nào hèn nhát, tự hạ mình xuống hạng viết thuê, bồi bút?

Còn chuyện Khoái Triệt xui Hàn Tín nổi dậy chống Lưu Bang (Hán Cao Tổ). Tín không nghe, sau Lưu Bang lập mưu bắt Tín mà giết. Trước khi chết, Tín ngửa mặt lên trời than:

- Chỉ tiếc ta không biết nghe lời Khoái Triệt!

Khoái Triệt giả điên, hát múa lảm nhảm trong các chợ. Nhưng khi bị bắt, Triệt tỉnh táo hẳn. Lưu Bang hỏi tội:

- Ừ, thì mày theo Hàn Tín. Tại sao mày xui Hàn Tín chống tau?

Triệt trả lời:

- Xưa chó của người Đạo Chích cắn vua Thuấn đâu phải vì vua Thuấn không hiền, mà vì con chó ấy chỉ biết chủ của nó là người Đạo Chích!

Lưu Bang nghe vậy, hả hê mà tha tội chết…

Khoái Triệt thật đáng khinh. Vì sợ chết mà tự ví mình là chó và đưa Hàn Tín xuống hàng kẻ cắp (Đạo Chích)!

Đại loại như vậy, chú đâm ra khinh nhờn đám học thức hữu danh vô thực. Sau được chuyển sang học trường Phan Châu Trinh, chú bắt đầu làm thơ và thành học trò cưng của thầy Vi.

Ngay lúc bọn phản bội, trở cờ, chửi kháng chiến ra rả giữa sân Chi Lăng và chính anh ruột của thầy Vi cũng đầu thú vì tội theo cộng sản, tại hội trường Trưng Vương (mỉa mai thay, chính Lệ Xuân bỏ tiền ra xây hội trường này và đặt tên người nữ anh hùng dân tộc cho nó, Trần Lệ Xuân ám chỉ mình sẽ nối gót Hai Bà?), thầy Vi lại giao cho Phan Trịnh phổ biến thơ của Tố Hữu trong học sinh và biên tập báo tường của lớp, hoặc thuyết trình về cuộc kháng chiến mười năm với chiến thắng Điện Biên Phủ…

Cái chết oan khuất của thầy Vi làm Phan Trịnh chới với, mất phương hướng. Nhất là thái độ xu nịnh đê tiện của cựu tỉnh trưởng Hoàng càng làm cho Phan Trịnh chán ghét thói đời. Ông này từ Sài Gòn trở về, la lối om sòm, đòi kiện tụng, làm sáng tỏ cái chết của con trai. Nhưng khi ra Huế, không hiểu tụi công an hứa hẹn, dọa dẫm sao đó, ông ta sợ mất chức dân biểu quốc hội và bổng lộc của chế độ, tuyên bố với báo chí: Con trai ông sợ tội nên thắt cổ tự sát!

Phan Trịnh vùi đầu vào đọc sách, mong kiếm một lối thoát cho cuộc sống u ám, nghẹt thở. Chú đọc vô tội vạ, đủ mọi thứ sách vở, triết thuyết… Từ “Biện chứng pháp” của Trần Văn Giàu (quả trứng nở ra gà con, gà con quay lại phủ định quả trứng…), đến “Văn minh luận” của Đào Duy Anh và “Phi Lạp sang Tàu” của Hồ Hữu Tường… Rồi kinh sách đạo Phật, Kinh Thánh, Kinh Coran, sách Thông Thiên Học và nhất là tiểu thuyết chống cộng, nhan nhản trên các quầy sách lúc ấy…

Người ta bắt đầu chú ý đến thi sĩ trẻ Phan Trịnh. Dù lúc ấy, những “dấu chân” của cuộc trường kì chưa phai mờ trong tâm tưởng nhà thơ, nhưng chân trời hư vô đang hút anh lao đến với nó bằng tất cả nỗi hăm hở của tuổi trẻ và sự mê muội đến bướng bỉnh của một linh hồn bệnh tật…

Hà Như Chi, giáo viên kháng chiến dinh tê từ khu Tư, tác giả cuốn “Việt Nam thi văn giảng luận”, vào tận ngã ba chùa Non Nước, vận động tranh cử dân biểu quốc hội. Chi hùng hồn ca tụng “chương trình quốc kế dân sinh” của tổng thống Diệm. Phan Trịnh cùng một anh bạn, đạp xe tới dự.

Đến mục cử tri chất vấn, anh đứng dậy hỏi:

- Xin hỏi ứng cử viên Hà Như Chi. Ông nói rằng, trừ cộng sản ra, còn thì những người kháng chiến là yêu nước. Nhưng tôi thấy trong chính phủ hiện nay có mặt nhiều người đã từng đi lính cho Tây như: Lê Văn Tỵ, Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh… Xin ông giải thích điều đó như thế nào?

Hà Như Chi và bọn cò mồi nháo nhác, còn công chúng vỗ tay reo hò. Phan Trịnh hả hê vì đòn trúng đích, hỏi tiếp:

- Xin hỏi, theo ông, chính phủ chủ trương đồng tiến xã hội và công bằng. Nhưng thử hỏi, chính phủ đã làm những gì để trợ giúp những người nông dân, những người làm nghề cá nghèo khổ, những người chịu thiệt thòi nhất trong xã hội?

Hà Như Chi cứng họng, kêu cảnh sát còng tay Phan Trịnh, giải về Ty Gia Long. Không hiểu sao, anh được thả. Phan Trịnh lại càng tự tin rằng, chế độ Diệm không dám làm căng với anh. Anh có thế lắm!

Thật ra, chính quyền chỉ coi những hành động đó của anh như một thứ trò chơi ngông cuồng của con nít, độ lượng với anh chỉ có lợi cho cái màu “dân chủ tự do” của chế độ!

Niềm kiêu hãnh tội nghiệp của người cha càng làm anh nuôi ảo tưởng về sức mạnh của mình. Thấy anh học giỏi, viên chủ sự (kẻ đã có lần tát cha anh một bạt tai trời giáng) ngỏ ý mời anh dạy kèm cho mấy đứa con của ông ta. Anh tính nhận lời (từ ngày vào Đà Nẵng, nhà anh thêm hai miệng ăn, đứa em trai và cô gái út). Nhưng cha anh ngăn cản:

- Chết đói rã họng cũng không được dạy cho tụi chó ấy một chữ!

Có lẽ danh vọng hão huyền về tài thơ, tài học giỏi và hùng biện giúp thi sĩ nuốt trọn chén đời đắng cay và gây men cho anh chút hi vọng mơ hồ vào một giải pháp tâm linh. Nhưng khi rượu đã cạn, trở lại những cặn cáu đắng chát nhất, tởm lợm nhất, xít lại trên đầu lưỡi và xé rách cổ họng, thi sĩ rớt từ đỉnh Pác-nát-xơ xuống vũng bùn của đời sống…

Em trai áp út mắc chứng thương hàn. Cả nhà lục lọi còn vừa đủ tiền thuê xích-lô cho Phan Trịnh bồng em đến một bác sĩ tư cấp cứu. Cô y tá bơm sẵn một liều thuốc thương hàn vào xơ-ranh. Bác sĩ hỏi:

- Tiền đâu?

Phan Trịnh lắc đầu, ngắc ngứ không thành tiếng. Bác sĩ đưa mắt, cô y tá thay vào bằng nước cất. Nửa đêm thằng bé chết. Anh đi bộ, bồng xác em về nhà, mẹ ngất đi.

Nhưng phải đến cú chót, cuộc đời mới thẳng tay ra đòn với thi sĩ mộng du…

Chị gái Trịnh xinh xắn, dễ thương và sắp làm vợ một anh thợ điện hiền lành. Một lần kia, cô lao công vào dọn dẹp, lau chùi li chén, gạt tàn… trong phòng làm việc của viên chủ sự. Thấy tóc cô gái đẹp quá, mượt mà như lụa, viên chủ sự ngứa tay vuốt chơi. Cô gái né được và từ đó luôn lảng tránh, đề phòng viên sếp. Chuyện có vậy thôi, không ngờ vợ viên chủ sự biết và ghen. Chị ta bỏ tiền mướn du đãng…

Buổi chiều hôm ấy, chị gái Trịnh về trễ giờ. Cả nhà lo cuống cuồng, chia nhau đi tìm. Trịnh tìm thấy chị gái thất thểu trên đường Trần Cao Vân, trong nắng chiều thiêu đốt. Mắt chị sưng mọng, một bàn tay ôm mũi, một tay xách giỏ tre. Trông bộ dạng của chị kì cục quá. Trịnh không dám mở miệng trách móc. Về tới nhà, chị gái Trịnh buông tay ra, máu đọng ướt sũng lòng bàn tay người thiếu nữ. Cha hét lên:

- Trời, răng vậy con?

Chị òa lên khóc, để mặc máu chảy lênh láng trên mặt. Trịnh vội vàng bịt chiếc khăn mặt vào mũi chị. Hoá ra, bọn du đãng được vợ sếp thuê, chờ chị gái Trịnh ra khỏi văn phòng, mới xô vào, lấy lưỡi lam hớt chót mũi cô gái. Chỗ đó rất hiểm, máu chảy không cách nào cầm được và mãi mãi không ăn da non…

Cha chết lặng, nhục nhã ê chề, sống răng con ơi? Mẹ gào lên, tức tưởi:

“Oan con tôi lắm, oan lắm, bà con ơi!”

Chị lẳng lặng vào nhà, nằm vật lên chõng…

Gần sáng, mọi người vừa thiếp đi, chị trở dậy, múc nước đầy ang như thường lệ, giặt hết trơn đồ dơ của mấy đứa em, rồi chải đầu gọn gàng, thay quần áo, bước ra ngoài…

Bốn giờ sáng có chuyến tàu tốc hành ra Huế. Cha gọi Trịnh dậy, giúp ông gác ba-ri-e. Không thấy chị gái đâu, Trịnh đã run, nhưng tàu đã nổi còi. Trịnh vội vã kéo rào chắn đường. Đoàn tàu lao đến từ đêm tối, một bóng người lao ra. Trịnh hét lên:

- Cha ơi, có người…

Tiếng động dữ dội của đoàn tàu che lấp tất cả. Khi yên vắng trở lại, Trịnh cùng cha chạy tới chỗ có bóng người vừa lao vào đoàn tàu…

Thân thể chị gái Trịnh bị bánh tàu hỏa cắt làm hai khúc. Mẹ lăn lộn bên cái xác nát bấy của con mà kêu gào, rồi tự xé toang quần áo, chạy đến nhà vợ chồng viên chủ sự đang ngủ say, mà đập cửa…

Cũng từ đó, hoàng hôn nắng thiêu đốt với hình ảnh người chị bưng mũi thất thểu trên đường, trở thành ám tượng trong tâm hồn và thơ ca của Phan Trịnh.

Viên chủ sự cho phép cha đưa gia đình về lại Huế. Ông ta cũng khiếp hãi không kém. Mỗi lần có việc phải qua ba-ri-e Tam Giác, ông ta lại như nhìn thấy xác cô gái chết oan bị cắt thành hai khúc…

Cha về gác ba-ri-e trên cầu Bạch Hổ giữa lòng cố đô. Mẹ đưa ba em Trịnh về túp lều La Sơn. Trịnh thi vào quốc học. Thành một thứ học trò ngoại cỡ, bướng bỉnh, sẵn sàng cay độc với những kẻ sang trọng, bằng cấp. Giáo sư dạy sử giảng bài “Phong trào Tây Sơn”, không thấy học trò Phan Trịnh ghi bài, gọi lên truy. Phan Trịnh trả lời: ông Trần Trọng Kim giảng như thế này, Phan Văn Hòa giảng thế này, thầy giảng thế này… Nên tin thầy hay tin những học giả kia?

Nữ giáo sư Hà Thanh giảng thơ Lê Thánh Tôn, học trò Phan Trịnh xin phát biểu. Ý kiến ngông nghênh chọc vào tai người nghe:

- Lê Thánh Tôn làm thơ với khẩu khí ra vẻ chân mệnh đế vương, chỉ nhằm tô son trát phấn cho một lai lịch mờ ám…

Các giáo sư coi Phan Trịnh như một thứ học trò không dạy được. Nhưng bạn bè trong lớp lại kính nể anh. Hơn nữa, Phan Trịnh lại hay làm bài giúp họ.

Mỗi lần mẹ lên cơn điên, lại chạy bộ từ La Sơn về Huế. Cha con Trịnh bao phen ê chề mới lôi được bà vào nhà thương tâm thần.

Bao nhiêu dịu dàng, yêu thương, Trịnh dành hết cho đứa em gái út mười một tuổi. Một cô em gái ngoan, xinh tươi, biết đi chợ, nấu cơm và săn sóc mẹ với người anh bại liệt.

Thấy học vô vị quá, Trịnh bỏ về La Sơn, mở lớp dạy các em nhỏ trong làng. Lâu lâu đạp xe về Huế thăm mấy người bạn thân…

Nhưng bắt đầu thời quốc sách ấp chiến lược, bọn hội đồng bắt thi sĩ đi phu, rào ấp. Càng mờ mịt tương lai, càng ngán ngẩm nhìn ngôi nhà mỗi lúc một đổ nát. Dành dụm được ít tiền dạy tư, tính đi Nam một chuyến và ra Huế mua cho cô em gái út một bộ đồ mới… May có anh bạn ở Sài Gòn gửi thư, kèm món tiền nhỏ, yêu cầu dịch cuốn “Thân phận con người” của Ăng-đrê Man-rô cho một nhà xuất bản. Xách nguyên bản Pháp văn về La Sơn, mắc võng giữa hai cây cau, ngồi đung đưa chân, tra từ điển, tìm nghĩa chính xác cho mỗi từ…

Mẹ lăng xăng nổi lửa, nấu nước chế trà cho con trai. Bà vụng về làm lửa bén vào vách phên. Hoảng hốt, bà vung cây gậy, khua vào đám cháy. Đám cháy loang nhanh. Trong nhà có đứa em bại liệt đang nằm trên chõng. Bọn hội đồng ghét Phan Trịnh hỗn láo, coi thường các chức sắc trong làng, đứng khoanh tay đố nhau:

- Túp lều của con mẹ điên cháy bao lâu thì xong?

Trịnh quăng “Thân phận con người” xuống đất, xông tới người mẹ đang lao đầu chữa lửa. Anh đỡ mẹ xuống đất, lấy dây võng trói bà vào thân cau. Cô út la khóc, không biết anh Ba định làm gì mẹ? Trói mẹ xong, Phan Trịnh mới leo lên mái, vất từng tấm tranh đang cháy rồi nhảy xuống nền nhà, kéo cái chõng tre ra ngoài…

Tới sân, đứa em bại liệt cứ nằm ngửa nhìn trời, mặc ngón chân của nó đã bị cháy sém.

Đám học trò Phan Trịnh dạy trong làng, hè nhau góp tranh tre, giúp thầy dựng vội túp lều mới. Cha hay tin hỏa hoạn, cũng lật đật về.

Chiều đó, còn con gà mái cuối cùng, giết làm cơm đãi khách tới làm nhà. Trịnh bảo cô út:

- Chiều ni anh đưa Út ra Huế chơi. Mai anh đi xa rồi!

Cô Út sướng mê, ôm bộ đồ anh mới cho, ra sông tắm. Dọn cơm xong, đợi mãi không thấy em về, Phan Trịnh nóng ruột phóng ra bờ sông tìm em. Dòng sông phẳng lặng như tờ, ráng chiều đỏ thắm phía cửa biển.

Phan Trịnh chạy dọc bờ sông gọi:

“Út ơi, Út ơi…”

Không một hồi âm nhỏ nhoi. Trên bờ sông có một đám cỏ xanh rờn, bộ đồ anh mới sắm cho em gái còn nằm đó. Út chưa kịp xỏ tay vào chiếc áo mới một lần. Út ơi, sao đời chúng ta khốn nạn, cay cực thế này?

Anh khóc trên bờ sông, lệ nhòa cả hoàng hôn đứa em chết đuối…

- Vĩnh biệt Huế! Ta chạy trốn những ám tượng hoàng hôn!

Nhà thơ trẻ khóc trong toa tàu hạng chót…

Huế đã nằm lại sau lưng, nhưng ám tượng hoàng hôn lại đang chờ anh ở phía trước, nơi phương Nam xa vời và ẩm ướt. Cuốn sách “Thân phận con người” đích thực sẽ được viết bằng máu và nước mắt của những tâm hồn nổi loạn.

Ta lên đường, ta chạy trốn và ta nổi loạn. Cuộc sống chó đẻ này, ta căm thù mi!

❀ ❀ ❀

[1] Loại giỏi (phiên âm tiếng Pháp) (Caruri).

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.