Kẻ thù giết ta, mỗi nấm mộ chôn ta, giấu một kho súng và một niềm hy vọng!
Ngồi ở hàng ghế cuối cùng, Phi cảm thấy lờ mờ mái đầu của thầy rũ xuống. Giọng thầy buồn bã, có lúc nghẹn ngào. Phi ngó sang ba đứa bạn cùng bàn.
Thằng Sanh chăm chú đã đành, nó vốn nhu mì, nhút nhát như con gái. Thằng Công vẫn giữ bộ mặt khinh khỉnh thường lệ, hai tay khoanh trước ngực, mắt nheo nheo nhìn lên phía bảng đen như chế giễu vẻ thiểu não của thầy.
Lạ nhất, Kiếm tự dưng trầm ngâm suốt giờ Việt văn. Thằng này quỷ sứ rách trời lọt xuống, không lúc nào chịu ngồi yên một chỗ, ghét văn chương như ghét bệnh cùi, sao bỗng dưng thay đổi khác thường? Hẳn nó cũng như mình, thương thầy phải mượn chuyện “Từ Hải chết đứng” để thổ lộ tâm sự với đám học trò đệ thất.
Hầu hết học trò trường tư thục Diên Hồng đều biết hoàn cảnh éo le của thầy. Riêng Phi, từ thời kháng chiến đã từng học em ruột thầy Lưu, nên càng thấm thía mỗi lời tâm sự của thầy bây giờ.
Quê thầy ngoài Bắc, đến thời ông nội thầy mới vào xứ Quảng làm ăn, rồi chọn luôn đất này làm quê hương thứ hai. Thầy có mười ba anh chị em, người sống ở ngoại quốc, người lấy chồng xa, còn lại thầy cùng ba người em trai và cô em út, sống chung với cha mẹ.
Kháng chiến bùng nổ, Pháp gây hấn tái chiếm Đà Nẵng. Năm anh em thầy đi theo Việt Minh trong lúc cha thầy dẫn bà vợ kế, rời đồn điền phía tây Huế hạ sơn và nhận chức tỉnh trưởng cho Pháp. Hai anh em Lưu, Vi viết thư ngỏ đăng trên báo kháng chiến, kêu gọi cha bỏ giặc về với hàng ngũ yêu nước.
Có một dạo người ta bàn tán xôn xao: Giận cha mù quáng không biết tỉnh ngộ, chính anh em Lưu dẫn quân về bắt cha.
Sự thật không phải thế. Theo lệnh trên, công an xung phong Việt Minh đã đột nhập tỉnh đường, bắt tỉnh trưởng Hoàng đưa ra vùng kháng chiến. Mấy anh em thầy đến tận nơi giam giữ, muốn cha thành thật nhận lỗi, ý thức cho rõ cái gọi là “chủ nghĩa quốc gia” bịp bợm của tụi thực dân. Nhưng cựu tỉnh trưởng Hoàng khăng khăng cự tuyệt mọi lời khuyên ngăn thiện chí của các con.
Bữa cách mạng mở phiên tòa xét xử, chỉ có mình thầy Vi tới dự từ đầu đến cuối. Chánh án lại là Trần Thủ, bạn cũ của bị cáo. Thời chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim, khi bị cáo giữ chức tỉnh trưởng Ninh Thuận thì Trần Thủ là tỉnh trưởng Bình Định.
Tan phiên tòa, Vi thuật lại với anh:
“Vì thái độ của cậu không thành thật, lại còn mập mờ chuyện quốc gia với kháng chiến, nên phải án nặng mười năm tù ngồi!”
Vi cũng chê anh Lưu quá cứng rắn.
Tuy vậy, xét công trạng của mấy người con tham gia kháng chiến, chính quyền cách mạng phóng thích cựu tỉnh trưởng Hoàng tại Đồng Dài, trước hạn bảy năm. Trong số các con, lại cũng chỉ có mình thầy Vi thường lui tới thăm cha…
Rồi theo nhịp điệu phát triển của cuộc kháng chiến, mỗi người về một nơi khác nhau. Vi được điều về dạy tại trường kháng chiến Phan Châu Trinh – Tam Kỳ.
Thầy Lưu xin ra ngoài biên chế, về nuôi mẹ đẻ tại Cà Tang. Một thời cuốc đất trồng rau, một thời ra làm anh thông tin văn hóa địa phương. Vợ thầy Lưu sinh con đầu lòng, được ít bữa hơi lại sức, làm nghề may ở Đại Bường…
Sau Giơ-ne-vơ, cả năm em thầy Lưu không người nào đi tập kết. Thầy Lưu cùng vợ gánh con qua đèo Le, trở về Đà Nẵng. Cũng như bao người cựu kháng chiến hồi hương về thành, thầy Lưu phải chịu rất nhiều nghi kị của tân chế độ. Do đó thầy không được cấp căn cước. Thầy Lưu đành nhẫn nhục vào Hội An, tìm cha. Khi ấy, cựu tỉnh trưởng Hoàng đang được chính quyền Diệm o bế, cho truy lĩnh tiền lương mấy năm bị Việt Minh giam giữ. Ông này dư tiền tậu nhà ở với người vợ kế và cái án mười năm tù thời Việt Minh, đâm ra có lợi cho ông ta khai thác, nâng cao cái giá của mình trước mắt tân chế độ.
Thấy con trai cả phải tới năn nỉ ỉ ôi, nhờ cha can thiệp xin giúp căn cước và việc làm, cựu tỉnh trưởng Hoàng càng đắc chí.
Bấy giờ, cựu hoàng Bảo Đại, đấng “hiền vương” giỏi săn bắn, hành lạc, chèo thuyền hơn là biết cách thắng phiếu thủ tướng Diệm trong một cuộc trưng cầu dân ý, đã bỏ sang bãi biển Can-nơ, sống nốt quãng ngày tàn của một ông vua bị phế truất với thứ phi Mộng Điệp.
Tổng thống Diệm bắt tay tạo dựng nền móng cho đệ nhất cộng hòa.
Không muốn giẫm vào vết xe đổ của Pháp, những chiến lược gia bự nhất xứ Huê Kì, quyết định chơi “con bài Diệm” một cách khôn ngoan, kín đáo, tinh vi hơn. Họ giúp họ Ngô giữ gìn bộ mặt “quốc gia” sạch sẽ, thuần khiết hơn, dưới con mắt dân chúng Nam Việt Nam.
Và trên sức tưởng của thầy Lưu, người ta sốt sắng vượt quá yêu cầu của cựu tỉnh trưởng Hoàng. Không những thầy được cấp căn cước, mà còn được mời ra giữ chức tỉnh trưởng Quảng Nam, cái chức mà mười năm trước, thân phụ thầy đã giữ.
Một mũi tên bắn rớt hai con nhạn!
Tân chế độ có thêm dịp xiển dương chánh nghĩa quốc gia, dân chủ và tỏ rõ sự đại lượng với những kẻ từng cộng tác với kháng chiến. Và, còn cách gì diệt cộng hữu hiệu hơn là sử dụng ngay những người thuộc nằm lòng bài bản cộng sản, trong công tác này?
Cũng may, trong bước đường cùng, thầy còn đủ tỉnh táo để tránh khỏi cái bẫy tinh vi ấy. Mượn cớ bệnh khớp tái phát, từ chối tham chính và để vợ con tại Đà Nẵng, thầy tấp vào trường tư thục này, ẩn nhẫn gõ đầu trẻ…
Dĩ nhiên, thầy biết rõ, nếu thầy chịu muối mặt về ở chung với cha và dì kế, những nhân viên mật vụ sẽ bớt theo dõi mình hơn. Nhưng lòng tự trọng chưa chết hẳn trong trí não, thầy quyết định tá túc trên căn gác lửng nhỏ xíu như hộp diêm, từ chỗ ấy, chỉ cần tụt vài nấc thang là thầy có thể giảng Việt văn cho lớp đệ nhất của Phi.
Thầy Lưu thương học trò lạ lùng, biết rõ từng đứa, nhất là đứa nào con nhà nghèo, sáng sáng ôm bụng đói vào lớp. Mỗi lần thầy mặc quần tây vàng, áo sơ-mi cộc tay ra chợ mua đồ ăn, mấy bà bán hàng lại kính cẩn chào và bán rẻ cho thầy.
Thầy hiểu, những cử chỉ đó cho thấy: kỉ niệm chín năm chưa tắt trong tâm tưởng người dân phố Hội…
Hiệu trưởng Nguyễn Đình Hướng, phần tử “quần dài đen”[1], em trai đương kim quận trưởng Đại Lộc Nguyễn Đình Quy, lạ chi gan ruột giáo sư Lưu. Nhưng trường mới mở, cần dựa hơi những giáo sư có mác kháng chiến để câu học trò!
Tan học, trong lúc Phi và Kiếm lầm lũi dắt xe đạp ra khỏi sân trường lát đá, Sanh đã kịp phóng theo con đường hẹp, rồi quẹo xuống cái hẻm sâu hút mang tên hãng rượu Sica. Nhà Sanh nằm phía cuối hẻm, khuất sau một bức tường gạch lỗ chỗ những vết đạn đã cũ, ngay dưới chân bức tường ấy có cái giếng công cộng, nơi cung cấp nước sinh hoạt cho cả mấy nhà trong hẻm.
Ông nội Sanh có bảy người con trai. Hai người là liệt sĩ chống Pháp, bốn người tập kết. Còn một mình cha Sanh không mấy thiện cảm với kháng chiến, ở lại Hội An, buôn bán nuôi gia đình và lũ cháu mồ côi.
Về tới nhà, quăng cặp sách vào góc giường, ăn nhếu nháo dăm chén cơm nguội ngắt, Sanh lại phải tất tưởi ra bến Bạch Đằng, giúp mẹ cậu thu tiền bán cá.
Thị xã cổ lỗ, gió đu đưa những tàu dừa lạnh lẽo. Những dãy nhà thấp lè tè, mái lợp ngói vảy cá, cửa đóng sùm sụp. Tuồng như bên trong mỗi ngôi nhà ấy, chứa một người đang hấp hối. Không khí tỉnh lị u buồn như đang chờ báo tang.
Nương con đường đá dăm lởm chởm, Kiếm và Phi làm thinh, đạp xe. Mưa giội bùn, ngược gió. Phi gò lưng đạp, thở hút hơi. Đói run cả người, cắn chặt hai hàm răng khiến quai hàm mỏi nhừ.
Tới cổng nhà Kiếm, một ngôi nhà khá bề thế nằm ngay trên bến Đá, xế chân cầu Vĩnh Điện, Kiếm hỏi đột ngột:
- Mi đói phải không?
Phi uể oải lắc đầu, Kiếm nhăn mặt:
- Mi làm chi chướng rứa? Răng mi không chịu vô nhà tau, ăn với anh em tau chén cơm? Ông già tau than miết, thằng Phi khái tính kì cục, tau có thương có trọng mới có ý nhận nó làm con nuôi. Nó không chịu thì đành vậy, mắc mớ chi phải lánh mặt tau? Nói thiệt, bặm trợn như tau cũng phải ớn cái bộ mặt lì của mi!
Phi cúi gằm mặt, lẳng lặng đạp xe tiếp.
Vĩnh Điện – Phong Thử, mười cây số. Từ Phong Thử, phải vác xe lên vai, lội bùn ba cây số nữa mới về thấu Giáng La. Chiều, xách đồ nghề theo cha lên Hồ Vực, xẻ gỗ thuê. Tối về, mang sách vở ra học dưới ánh sáng cây đèn hột vịt tù mù. Chập chờn trong ổ rơm, chờ gà gáy lần thứ hai, lần mò tới Cồn Mả, gặp chú Quyên. Kiếm giận, cam chịu để nó đay nghiến, chì chiết. Không thể kể cho nó nghe những chuyện như vậy được. Ông già nó từng là công nhân xưởng quân giới hồi kháng chiến thiệt, nhưng dinh tê giữa chừng và bây giờ đang phất to nhờ buôn gỗ và vật liệu xây cất nhà cửa. Biết bụng dạ người ta ra răng mà tin?
Phi bấm ngón chân cái đau điếng trên con đường sống trâu lầy bùn, dọc sông Bình Phước. Đó là một nhánh của sông Thu Bồn, chảy quanh chân núi đất Bồ Bồ, bồi đắp cho vùng trồng lúa Ba Châu. Dân đây vốn là con cháu những người Nghệ An đi mở đất Đàng Trong, từ vài ba thế kỉ trước. Kiếp người càng cay cực, càng thích đặt tên làng xóm thơ mộng: Giáng La – Ái Mĩ – Xuân Diệm – Sùng Công – Chu Bái…
Một anh thợ mộc Giáng La mù chữ lại cưới con gái một gia đình nho giáo nề nếp. Phi ra đời sau cuộc hôn nhân khác thường đó.
Từ nhỏ tới năm tuổi, Phi sống với bên ngoại. Phi yêu nhất cậu Chín, em trai út của mẹ, dù chưa một lần biết mặt cậu. Chỉ nghe mọi người kể lại, cậu Chín bỏ nhà từ sau đận Mặt trận bình dân đổ…
Hình như trót mang dòng máu lang bạt của tổ tiên xa xưa truyền lại, người Ba Châu lại lớp lớp tha phương cầu thực. Hết mộ phu Nam Kì, lại kí công-ta bán mình tận Tân Thế Giới. Cha Phi cũng từng cạo mủ cao-su mấy năm tại Mi Mốt, lúc hồi hương chỉ mang theo về bệnh sâu quảng và một tấm mền cũ màu đỏ, tặng bà nội Phi đắp đổi mùa lạnh.
Mùa xuân năm Đinh Hợi – 1947, Pháp tái chiếm Đà Nẵng, chiến sự lan ra vùng Điện Bàn. Nhà Phi tản cư vào Tam Kì. Đói, tháng tám cùng năm phải hồi cư. Trở về Giáng La, Ủy ban hành chánh kháng chiến kêu dân công lên phục vụ chiến trường cao nguyên. Cha Phi cùng nhiều người đàn ông Giáng La hăm hở ra đi.
Chập tối, toán dân công vượt qua làng Trường Giang – Đông Bàn, vấp ổ phục kích của lính Tây, chết một mớ, số còn lại vẫn gom nhau lên đường theo tiếng gọi chiến trường.
Cha đi khỏi, gánh nặng đặt lên vai mẹ, nuôi mẹ chồng chín mươi tuổi và năm đứa con. Chị Hai tám tuổi, Phi lên sáu và ba đứa em lít nhít theo sau. Mẹ dẫn hai đứa lớn đi mót lúa và đào khoai sót.
Mùa mưa, lạnh và bùn lầy. Bà nội co ro trong góc nhà, khoác tấm mền đỏ cha Phi để lại. Đói quá, mí mắt sụp xuống, đầu lắc lư như người ngủ gật, nước miếng nhểu ra bên mép… Tây càn vào làng, có thằng da đen gạch mặt thấy bà già trùm mền đỏ, xô tới giằng lấy và hét lên:
“Việt Minh!”
Bà nội ngơ ngác chồm dậy, rị lại. Nó vớ ngay khúc cây xáng lên đầu bà cụ, bà cụ chết tươi. Chiều u ám, giặc càn qua làng khác. Phi với chị Hai một đầu đòn gánh, giúp mẹ khiêng xác bà nội chôn trong vườn mít hoang, chủ vườn tản cư chưa về.
Khóc không nổi, mẹ lịm dần, chân tay lạnh toát, kêu hai đứa lại gần trăng trối:
“Má chết rồi, các con chia nhau ra mà sống, đừng tấp một chỗ, chết tuyệt giống!”
Mẹ không chết một mình, em kề Phi chết đói cùng đêm hôm ấy. Để y nguyên chưa chôn, bốn chị em khóc no, rồi lăn ra ngủ ngay bên cạnh mấy cái xác. Sớm mai, chị Hai lượm đâu được trái mít non bằng cổ tay, chạy về gọi các em dậy ăn. Chỉ có Phi và Út Hà tỉnh lại. Thằng áp út chết lúc nào không hay.
Bên ngoại cũng tan tác, không ai cứu nổi lũ cháu mồ côi mẹ. Chiều thu rét căm căm, trời xỉn như trát bùn sa. Chị Hai dẫn các em vượt đàng cái Phong Thử qua Cồn Biên. Tây bắn ca-nông cành cành, cây cối ngã rạp chung quanh, bùn đất tung toé. Ba chị em núp vào một đám mía ven đường một ngày. Ngớt pháo, thay nhau cõng Út Hà vào tuốt An Thành.
Nước Cấm Nhọn độc có tiếng. Dân An Thành mặt bủng, môi thâm như người nghiện thuốc phiện, bụng phưỡn ra đằng trước. Chị Hai đi ở cho nhà bà Chài chuyên tráng bánh. Phi giữ trâu cho địa chủ Ba Ngang. Thằng Bích, con trai lão, mập hơn ông địa, suốt ngày đòi ăn.
Tối lại, ba chị em quây quần trong chuồng trâu.
Năm sau, độ cuối đông, tiểu đoàn 49 của anh Triêm qua An Thành. Phi nằn nì xin chị cho theo Vệ quốc quân. Mê nhất chuyện anh Sói, một chiến sĩ người Bắc, tham gia Nam tiến từ thời Kí Con. Anh Sói ít nói, hay cười hềnh hệch, trán có một cái bướu nhô ra trông thiệt ngộ. Hồi Pháp mới đánh ra Hải Vân, một mình Sói chốt trên đèo, dùng dao găm chọc thủng một lỗ trên thùng đạn, đút cây Xten vào đấy. Lúc bóp cò, đạn nổ râm ran không khác gì hỏa lực súng máy. Lính Pháp sảng đớm, không dám xông lên.
Mỗi lần giáp trận, Sói vừa xông pha vừa hét toáng lên:
“Sói đây, Sói đây!”
Địch hết hồn mà đồng đội Sói vững dạ như thể có hàng trung đội sau lưng. Bây giờ Sói làm vệ binh cho anh Triêm…
Chị Hai mới chín tuổi, đã biết nghĩ: Út Hà đã đủ sức dắt trâu kiếm cơm. Thằng Ba ở đây miết, ngã nước chắc chết. Má dặn phải chia nhau ra, kẻo tuyệt giống!
Để em đi, chị khóc vùi mặt vào đống rơm…
Phi làm liên lạc cho anh Triêm. Đêm đêm, anh chong đèn bão, viết lách chi đó. Phi thức lo nấu nước, Sói chế trà rồi trầm ngâm ngó thằng bé.
Con nhà nghèo, mồ côi sớm, thằng bé ngoan, mặt mũi lúc nào cũng buồn rười rượi, lại không quẩn chân người lớn. Lúc ngủ, Sói ôm riết Phi vào lòng, thì thầm kể lể, chưa kết câu chuyện, nước mắt anh đã ướt cả má Phi.
Bỗng nhiên, Phi dại dột hỏi:
- Anh Sói ơi, người ta biểu, anh lấy vàng của kháng chiến đi đổi rượu, suýt nữa bị ngồi tù. Anh Triêm phải xin cho anh, có đúng không?
Sói ngồi bật dậy, lay mạnh vai Phi, nói như quát:
- Không phải chuyện của chú! Câm miệng, ngủ đi!
Anh Triêm mỗi lúc rảnh rỗi, tranh thủ dạy Phi học chữ. Còn anh Sói bảo:
“Ông Triêm dạy chú học chữ, tôi sẽ dạy chú học võ. Người nghèo thì phải mạnh, chú ạ!”
Không biết thầy Sói dạy những môn võ gì, chỉ thấy mình mẩy cậu học trò thâm tím, sưng vù. Anh Triêm biết chuyện, ra lệnh đình chỉ lối dạy võ “phản khoa học” này. Nhưng Phi vẫn cắn răng chịu đòn, xin Sói dạy bí mật.
Tiểu đoàn xuyên qua vùng địch hậu, tới tháng 9 năm 48, dừng lại dưỡng quân tại Sơn Tịnh. Đột ngột có trát Tòa án binh đòi Sói về Quân khu. Bữa chia tay, Sói cho Phi một cái ống nhòm và dặn:
- Bao giờ có kẻ bắt nạt em, em cứ chĩa ống nhòm về phía tây kia kìa, xoay xoay mấy cái, anh sẽ hiện ra: bênh vực và trả thù cho em!
Chú nhóc đang còn mừng rỡ với món quà lạ lùng, Sói đã quay đi: Cũng may, nó chưa biết mình phải ra tòa án binh! Sói thầm nghĩ, chua xót.
Tiếp đó, anh Triêm được lệnh dẫn tiểu đoàn vòng lại sau lưng địch. Không thể đưa thằng bé theo cuộc hành quân mạo hiểm này, anh gửi Phi cho một gia đình khá giả nơi đóng quân, hẹn sớm trở về đón.
Ngươi lính Vệ quốc cuối cùng vừa khuất bóng sau lũy tre làng, nhà chủ đã kêu lên hỏi:
- Mày mấy tuổi?
- Dạ, chín tuổi!
Phi khoanh tay, cúi đầu trả lời.
- A, thằng này tuổi rắn, Tân Tỵ. Muốn ăn giữ sáu con trâu cho nhà tau.
Anh Triêm và Sói đi rồi, vô lẽ khóc với cái ống nhòm? Sáu con trâu vừa dữ vừa phàm ăn. Mùa đông, phong phanh một manh áo mỏng dính, dẫn trâu lên những sườn đồi sương giá. Cha biết hồi mô về? Chắc chi ổng còn sống mà về? Cậu Chín đi miết, sao không về cứu cháu? Giơ ống nhòm quay lên hướng tây, vấp phải những ngọn núi sừng sững, mù mịt từng đám mây đục như nước vo gạo. Xoay hoài xoay hủy, vẫn không thấy Sói hiện ra!
Trúng mùa gặt, nhà chủ bảo Phi coi mấy chục nong lúa phơi ngoài sân. Ngày nắng đẹp, Phi lôi ống nhòm ra cố tìm phép lạ… Đàn gà loạng quạng xông tới mấy nong lúa. Phi giận dữ, lượm cục gạch liệng đại. Ngon trớn, cục gạch trúng hũ dầu đậu phụng phơi kề đó. Hũ bể, dầu chảy tràn ra đất. Chủ nhà đánh u đầu, phạt cơm không ức bằng họ giằng lấy cái ống nhòm của anh Sói, quật xuống sân, vỡ tan tành.
Nửa đêm, lồm cồm bò dậy, chạy một mạch ra tận Châu Ổ, sát lộ 1. Sáng bửng, con nhà chủ đạp xe xuống, bắt về. Thằng bé sắt người lại, mắt càng hụp xuống, không ngó ai lâu bao giờ.
Cuối 51, một chiều mưa tầm tã chuyển mùa. Bỏ mặc đàn trâu tha thẩn gặm cỏ giữa trời, Phi rúc vào bụi duối cho đỡ lạnh. Vừa hay cha Phi cùng tốp dân công từ cao nguyên xuống, cũng về tới đó.
Mừng sảng, cha con ôm nhau khóc trong bụi duối. Nhiều người cùng đi nghe thằng bé kể chuyện, nổi khùng, muốn kéo đến nhà ông chủ bất nhân của Phi, trị cho hắn một mẻ. Cha cười thiểu não:
- Họ đối xử tàn tệ thật, nhưng nếu không có cơm gạo nhà họ, chắc con tôi chết đói rục xương. Thôi, có chi để trời!
Cha dẫn Phi tới quán cơm ven lộ. Ngắm con trai nhai miếng thịt trâu dai nhách, cha ứa nước mắt.
Đáp xe goòng về An Thành. Chị Hai đã dẫn Út Hà vào Hà Lam, ở cho một bà cũng dân Giáng La tản cư. Lại vào Hà Lam. Cha con, chị em xum họp, khóc mệt nghỉ. Cha sắm dụng cụ, sửa đồ mộc quanh vùng. Chị em Phi vào trại ông Ba Thư, giữ bò cho Ban Kinh tế huyện Thăng Bình.
Nguyên ông Ba Thư gốc Mã Châu – Trung Lương, phủ Thang (huyện Duy Xuyên bây giờ). Dòng họ ông toàn người to lớn, sống thọ tới tám, chín mươi là thường. Cha ông Ba Thư là cụ Hương Thự. Cụ Hương Thự nổi tiếng trồng dâu, nuôi tằm giỏi, dệt vải cũng khéo. Nhưng có lẽ cụ lừng lẫy tiếng tăm chính là nhờ cái máu điên kì dị. Chín mươi ba tuổi, cụ Hương Thự vẫn gánh lúa đi phăm phăm. Thuở còn trai, cụ giỏi chữ nho, nhưng khoa bảng lận đận, bỏ về làng cuốc đất và đọc sách Thánh hiền. Mỗi lần trở trời, nổi cơn điên, cụ phá phách tan hoang mọi thứ đồ vật lọt vào tay cụ. Có lần, trong một cơn điên như thế, cụ hì hục suốt đêm, đào trốc gốc cả một bụi tre, chỉ nhằm kiếm cho được một cái ngoéo để làm gậy chống.
Người nhà cắt thuốc bắc của thầy thuốc Cửu Phương cho uống, cụ lại hiền như Phật. Cô Năm Nhã, em gái ông Ba Thư, cũng có máu điên như cha. Nhưng cô Năm khi lên cơn, không phá phách mà chỉ nói bằng hết những ý nghĩ của mình về mọi người chung quanh. Mà những ý nghĩ ấy thường đúng một cách đáng sợ, khiến mọi người ngại gần. Bởi không ai muốn kẻ khác nói vanh vách tim đen của mình. Vì vậy mỗi lần cô Năm lên cơn, mọi người trốn dạt vào những chỗ kín. Cũng chính vì thế, có những kẻ cầu trời khấn Phật cho cô Năm chết bất đắc kì tử, để họ có thể yên tâm mà sống với những mờ ám, uẩn khúc, ti tiện bên trong con người họ.
Còn ông Ba Thư, học dở dang chữ nho, nhảy sang quốc ngữ. Bỏ trường phủ, xuống Hội An học tiếp, đỗ bằng đíp-lôm, lấy con gái quan phủ Thang. Bà này đẹp có tiếng, đám cưới rất to.
Năm 30 tuổi, Ba Thư vào Đảng Cộng sản Đông Dương, Bí thư lâm thời đầu tiên của Đảng bộ Duy Xuyên.
Bị lộ, Pháp bắt nhốt tù Hội An ba năm. Ra tù, vợ bỏ theo lệnh quan phủ Thang, lấy một anh chủ đất vùng đông Thăng Bình. Các em Ba Thư quyết tìm cho anh trai người vợ khác, tài đức, nhan sắc phải trội hơn hẳn con gái phủ Thang. Thăm dò, mối manh, biết cô Hai bán hàng xén ở chợ Hương Mĩ, con gái thầy thuốc Cửu Phương, có thể hội đủ những điều ấy. Theo các em vào Hà Lam xem mặt cô Hai Hương Mĩ, Ba Thư ưng quá. Thầy Cửu Phương cũng trọng Ba Thư có nhân cách, chịu gả con cho.
Đám cưới cô Hai Hương Mĩ thành giai thoại một thời ở vùng cát ven biển Quảng Nam. Thuở đó, ai có xe đạp cũng hách như bây giờ tậu được xe hơi riêng. Thế mà sáu em trai Ba Thư huy động mấy chục thanh niên Mã Châu – Trung Lương, đi toàn xe đạp xuống tận chợ Hương Mĩ, đón dâu.
Năm 38, sắp sửa đại chiến hai, Ba Thư dời vợ con vào Tiên Đỏa (cách nhà ông già vợ mươi cây số), mua lại sở đất của Trợ Sang, rộng hàng trăm héc-ta toàn cát trắng!
Trại Ba Thư bắt đầu trang sử thứ nhất của mình như vậy. Số phận trớ trêu, trại này lại mọc ngay trước mũi giang sơn của Võ Trắc, người chồng sau con gái phủ Thang.
Dân tứ chiếng giang hồ, đói khát, bị chính quyền tầm nã, tấp hết vào trại Ba Thư, làm ăn sinh sống và tị nạn. Ông Ba Thư có sức khỏe, coi công việc lao động là quý, lại có đầu óc tổ chức, giỏi quản lí công chuyện khai thác đất đai, trại của ông ngày càng phát đạt, trù phú.
Thực ra, ông cố làm ra vẻ chúi mũi chúi lái lo làm giàu để tụi Pháp và Nam triều đỡ chú ý. Bên trong, ông ngấm ngầm tìm bắt liên lạc với Đảng. Theo quyết định của Tỉnh ủy Quảng Nam bấy giờ, ông được bổ sung vào huyện ủy Thăng Bình. Ông và trại đất mang tên ông đóng góp một phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Thăng Bình.
Thăng Bình thành vùng tự do suốt thời chống Pháp. Ông phụ trách kinh tế huyện, trại Ba Thư thành cơ sở sản xuất của kháng chiến. Dân tản cư vào đó, cày cấy thành tập đoàn, ăn công của Ban Kinh tế huyện.
Ba chị em Phi vào đội giữ bò. Ba Thư đến thăm đội, thấy Út Hà vừa bằng tuổi con trai út của mình, mặt mũi thông minh, sáng sủa, yêu lắm. Ông xin cha Phi cho nhận Út Hà làm con nuôi. Con ai chả là con kháng chiến. Cha Phi cùng mừng. Mình nghèo lại dốt chữ, nay ông Ba là người có học, lại làm cách mạng, chắc không để Út Hà lêu lổng, dốt nát.
Trại mở rộng thêm xưởng dệt vải xi-ta tự túc. Chị Hai chuyển sang xưởng học quay sợi…
Bỗng cậu Chín, lâu nay vẫn sống trong lòng ngưỡng mộ của mấy chị em Phi, hiện về từ Đắc Lắc. Tỏ mặt cậu, Phi cứ ngỡ ngàng. Cậu hiền khô, nói năng dịu dàng, hay cười mỉm. Ai dám tin con người như vậy lại nắm chức Phó Ban Công an Quảng Nam?
Cậu Chín bảo anh rể:
- Anh cho ông Ba Thư nuôi dạy Út Hà, thế là tốt. Chừ tôi đưa thằng Phi vô Tam Kỳ, học trường kháng chiến.
Mừng hơn cả lúc anh Sói cho cái ống nhòm. Le te cắp gói đồ theo cậu lên ngã tư Hà Lam. Luyến tiếc quãng đời thanh bình nơi trại Ba Thư, làm sao quên nổi cây đa dù kia mỗi chiều ngả bóng, để mặc bò gặm cỏ, mấy đứa trong đội xúm xít quanh gốc cây, đánh tam cúc ăn bắp rang và khoai chà Tiên Đỏa. Giữa bãi cát mênh mông, bên cạnh bầu sen mát mẻ, cây đa tỏa lá sum suê như tán dù. Cuối hè đầu thu, khí trời thoáng đãng, mây xanh rờn chói nắng. Phóng mắt qua nhấp nhô trảng cát, thấy ngực biển vồng lên xanh biếc. Gió thổi ào ào đến nỗi, hình như mấy chú tốt trên cỗ bài tam cúc cũng phải đưa tay lên giữ cái nón dứa đang đội trên đầu, cho nón khỏi bay đi mất.
Bỗng nhiên, hai con quái vật đen ngòm từ biển ngóc đầu lên quá khỏi ngọn dương, bay vào.
Phi còn đang ngơ ngác, hếch mắt lên coi, cậu Chín giật mạnh cánh tay Phi rị xuống:
“Nằm xuống, nó ném bom chừ!”
Lần đầu tiên, chú bé Giáng La thấy tàu bay. Chú phải miễn cưỡng nằm rạp trên cát, nhưng vẫn ngỏng cổ lên coi. Rồi những trái bom trùi trũi từ bụng con quái vật, lả tả rơi xuống. Tiếng nổ ầm ầm và lửa khói mù mịt phủ kín cả trại Ba Thư. Hai chiếc oanh tạc cơ lồng lộn chán lại bổ nhào, thả bằng hết số bom mang theo, rồi mới chịu biến mất vào những đám mây trắng phía bắc.
Xưởng dệt cháy nghi ngút khi hai cậu cháu chạy trở lại. Cậu Chín lo chỉ huy dập tắt các đám cháy. Phi chạy đi tìm chị Hai. Người chết bom la liệt dọc đường mương, xác nát bấy hoặc cháy đen. Tối ấy, du kích vây nhà Võ Trắc, bắt con trai lão dẫn lên huyện. Người ta nói, chính thằng này chỉ điểm cho máy bay ném bom, phá xưởng dệt.
Phi hỏi cậu Chín, cậu chỉ thở dài đáp:
“Con ráng học thiệt giỏi, lớn lên con sẽ hiểu, ai là thù, ai là bạn!”
Đến Tam Kì, cậu Chín gửi Phi vào nhà bà Hương Châu. Hồi ở với anh Triêm, Phi đã biết đọc biết viết, sau lại theo lớp bình dân học vụ trong lúc giữ bò ở trại. Phi xin thi vào lớp năm ở trường Phan Châu Trinh, đỗ đầu.
Cậu Chín thưởng cho cây viết Pác-ke, chiến lợi phẩm của cậu. Mỗi tháng chính phủ kháng chiến cấp cho cán bộ như cậu vài chục lon gạo. Cậu san đôi, một nửa đưa bà Hương Châu nuôi cháu.
Trường đóng tại Tam Phước, một vùng núi thơ mộng, phong cảnh mộc mạc nhưng hào tráng. Cậu Chín nhận lệnh ra cánh bắc Hòa Vang, xây dựng cơ sở an ninh nội thành Đà Nẵng. Đã mất nguồn gạo viện trợ lại gặp đúng cái eo…
Năm 1952, đại hạn hán. Vùng tự do Quảng Nam lâm vào nạn đói không tiền khoáng hậu. Người chết đói kể hàng ngàn. Dân vùng đông Thăng Bình kéo nhau lên núi, hái trái sơn ăn trừ bữa, có người mặt mũi sưng phù, nước vàng rỉ ra rồi chết. Dân chài Tam Giang đổi cả chục rổ cá không được một trái mít non. Chính quyền kháng chiến phải huy động bộ đội địa phương, cấp tốc chuyển cám xuống vùng đông cứu đói. Con trai bà Hương Châu, học cùng lớp với Phi, nhịn đói không nổi, ăn tầm bậy mấy trái sơn, chết dấp bên bờ sông Tam Kì.
Lắm bữa đang học, nhiều học trò xây xẩm, ngã quỵ giữa lớp. Thầy Vi dạy văn hay có tiếng, chỉ biết thở dài. Thầy cũng đói, phần lớn gạo tiêu chuẩn của mình, thầy đem chia cho những đứa đói nhất, yếu sức nhất. Mặt thầy xanh bủng, giọng khàn khàn hụt hơi, nhưng hễ cứ đọc bài “Đập đá ở Côn Lôn” của cụ Phan Châu Trinh, mắt thầy lại sáng lên.
Gia cảnh thầy bi đát, kháng chiến gặp khó khăn to, nhưng chưa bao giờ thầy Vi hé môi than vãn. Giọng thầy sang sảng, ấm áp, mỗi lần kể về những người con đất Quảng. Phi nhớ nhất chuyện thầy kể về cái chết của cụ Thái Phiên.
Năm 1916, Thái Phiên khi ấy ba mươi tư tuổi, cùng Trần Cao Vân mưu nghiệp lớn Duy Tân. Việc bại lộ do có kẻ làm phản báo cho Pháp, hai người bị bắt, giặc khép vào tội chết. Thời ấy, phạm nhân bị giải ra pháp trường, phải mở mắt nhìn cảnh giết mình. Thật khủng khiếp khi phải nhìn đao phủ thủ vừa múa cây đao, vừa hát lảm nhảm và bất thần chém xuống một nhát. Bởi vậy, thân nhân người tử tù thường đút lót lễ vật cho đao phủ để hắn chịu mài đao cho thật sắc, múa đao cho thật mạnh, lấy đà chém một nhát đứt ngay đầu phạm nhân, tránh lối chém cù cưa, kéo dài nỗi đau đớn cực độ cho phạm nhân.
Thái Phiên cấm người nhà mình làm như vậy. Trước ngày ra pháp trường thọ hình, Thái Phiên dành toàn bộ thời gian để tập luyện tư thế… Tên đao phủ chém hai người tên là Ngáo. Nó chém đầu Trần Cao Vân xong, quay sang hát và múa trước mặt Thái Phiên. Ông đã tập dượt từ trước, sửa soạn sẵn tư thế. Khi Ngáo vừa vung đao chém xuống, hai tay Thái Phiên đã hườm sẵn, đỡ lấy đầu mình. Thành ra đầu Thái Phiên nằm gọn trong tay Thái Phiên, không rớt xuống đất. Sống anh hùng đã đành, mà chết còn lo giữ tư thế cho đẹp, cho mạnh, làm tin cho mai sau. Đó, người Quảng là vậy!
Phi xin hai sào đất xấu trên Tiên Hồ, giáp làng cụ Phan Châu Trinh, trồng lang. Nước hiếm như vàng, mót từng gầu tưới khoai. Đói lả đi, bưng mặt khóc trên núi, khóc chán lại nhìn xuống đồng bằng, nơi những dòng sông kiệt sức khô cong, quằn quại trườn ra biển. Biển cũng chết, vài đám mây ố vàng và ngọn gió nam nhuộm đỏ lừ những bụi tre xơ xác…
Đột nhiên, có người đàn ông trạc tuổi cậu Chín từ Giáng La vào Tam Kì, tìm Phi. Người ấy tự xưng tên là Tám Hơn và kể rằng: Giáng La tuy nằm gọn trong lòng địch nhưng tụi chúng không kiểm soát nổi. Cha Phi đã về làng, cưới một người vợ kế. Tám Hơn là em ruột dì kế của Phi. Dì nghe tin Tam Kì đói to, nhờ cậu Tám vào rước Phi về làng, no đói có nhau.
Buổi học cuối cùng chỉ khóc, không dám thưa thiệt với thầy Vi. Nhưng thầy đoán ra, cũng chỉ biết im lặng ngậm ngùi, chia tay trò.
Xa thầy Vi, xa trường kháng chiến từ đó. Còn chị Hai và Út Hà nhờ ông Ba Thư, cũng sống qua ngày ở vùng đông.
Phi về Giáng La khỏi lo chết đói, nhưng lại nhớ ngẩn, nhớ ngơ ngôi trường kháng chiến và thầy Vi, như con chim lẻ bầy. Tám Hơn đoán biết, bàn với chị và anh rể cho Phi đi học tiếp. Thế là cậu đưa cháu vượt Bến Giàu qua Giao Thủy, học trường Duy Mĩ bên Đại Lộc.
Trường mới bạn mới. Phi thân nhất hai thằng: Đồng Nguyễn và Xuân Trọng. Nguyễn, dân Vĩnh Điện, vai gù gù như gấu, cười hề hề, không biết học chữ Hán từ bao giờ mà giỏi thơ phú, truyện Tàu. Trái ngược với thằng Nguyễn, Xuân Trọng, dân Quá Giáng, mới mười bốn tuổi đã mắt la mày lém, ăn rồi lo tán gái.
Được hơn năm, hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết. Thầy trò rủ nhau giữ trường. Trùm Quốc dân đảng Đại Lộc Nguyễn Đình Quy điên tiết dẫn lính Tây từ Núi Lở kéo xuống, đánh mọi người chạy xơ rơ. Ba thằng phải rúc vào đám lá hôi tránh đòn. Tình thế tuyệt vọng, tụi nó đánh phá, o ép dữ quá, cuối cùng, các thầy đành ngậm ngùi bàn giao trường cho tân quận trưởng.
Ba thằng chia tay nhau từ đó, không biết hồi mô mới có dịp sum vầy một mái trường trở lại?
Về Giáng La, Ba Đoát, du kích xã, hơn Phi ba tuổi, tập hợp gần hai chục đứa trẻ mở “khoáng đại hội nghị” (Ba Đoát học lóm chữ nghĩa từ hồi làm chấp ủy thanh niên xã), tại Cồn Mả. Ba Đoát hỏi thẳng thừng:
- Tụi bây có muốn đi tập kết không?
- Ra nớ làm chi anh Ba?
Một thằng rụt rè hỏi. Ba Đoát nộ liền:
- Hỏi dật dờ, ra nớ xin Cụ Hồ cho cầm súng tiếp tục đánh giặc. Hay mi ưng mình tay không để tụi nó ví bắt hả?
Thằng nhỏ chết run chết rét, im khe. Cả lũ nhao nhao đòi đi. Ba Đoát vốn thiệt thà, đến lúc này mới la hoảng:
- Nhưng tau không biết đàng. Chỉ nghe hóng hớt, phải vô thấu Quy Nhơn mới có tàu Ba Lan rước!
Nãy giờ im lặng, bây giờ Phi mới hãnh diện lên tiếng:
- Tôi biết vùng nớ từ hồi tôi đi với tiểu đoàn anh Thiêm, vô trỏng dễ ợt!
Ba Đoát và cả lũ tin ngay, chia nhau về chuẩn bị “đi tập kết”. Phi thì thầm với dì kế:
“Cấp trên ra lệnh cho con đi tập kết. Dì rang cho con chừng mươi lon nếp ăn dọc đàng. Còn từ Quy Nhơn, có nước bạn Ba Lan lo!”
Dì chẳng hiểu mô tê gì, nghe nói Phi được đi tập kết, mừng quá. Cha đi xẻ gỗ về, thấy dì báo tin, cũng mừng húm. Dì hí húi rang mười lon nếp, cho vào mấy cái túi vải, thắt dây buộc chặt miệng, khỏi lo ẩm mốc.
Tờ mờ sáng bữa sau, Ba Đoát dẫn lũ trẻ Giáng La lên đường.
Hai ngày đi bộ tới Tam Kì, chớm đặt chân vào địa phận Tam Xuân, đụng ngay cậu Chín. Phi mừng quá, lao tới ôm lấy cậu. Cậu hỏi chuyện nhà cửa, làng xóm, họ hàng, sau mới hỏi chuyện cả lũ định dẫn nhau đi đâu?
Phi thú thật hết, cậu gọi Ba Đoát lại la như cắt họng:
- Chú là du kích, lại là chấp ủy thanh niên xã thì phải có kỉ luật. Ai cho phép chú xử bậy ri?
Cậu Chín bèn xua cả lũ quay lại. Vừa tức cậu Chín phá đám, vừa sĩ diện với lũ trẻ, bao nhiêu giận dỗi, Ba Đoát trút hết lên đầu Phi trên đường trở về. Nhưng Phi còn đang mải nghĩ đến gương mặt lo âu của cậu Chín. Mình thắng to ở Điện Biên Phủ, cả thế giới phải họp lại bàn chuyện nước mình, phải vui chớ, sao mặt mũi cậu lại nhăn nhó dữ vậy?
Dĩ nhiên, Phi không hề biết đến sự kiện đẫm máu mới diễn ra tại Đà Nẵng…
Mười một ngày sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, Đảng bộ Sông Đà và thành ủy Đà Nẵng đã lãnh đạo dân chúng mà đa phần là phụ nữ, kéo đến đồn Võ Tánh trên đường Clê-măng-xô, đòi trả chồng con họ đang phải đi lính đánh thuê. Nhà cầm quyền ra lệnh nổ súng vào đám người tay không, giết chết một chị và làm nhiều người khác bị thương.
Đó là vụ thảm sát đầu tiên, tân chế độ gây ra tại miền Nam, mở đầu cho cuộc chiến tranh một phía, chống lại những người khao khát hòa bình và thống nhất.
Cơn bão máu chỉ ngưng có mười một ngày, trên một đất nước mấy chục năm chiến tranh liên miên, chỉ rặt tàn phá và thù hận. Bây giờ máu lại tiếp tục đổ ra tưới đẫm mặt đất. Đám tang lớn nhất từ trước tới nay tại miền Trung, thu hút hàng vạn người Đà Nẵng xuống đường, theo sau chiếc quan tài của người con gái thành Thái Phiên.
Kẻ thù muốn giành thế chủ động tấn công và cuộc đấu tranh ngày 1 tháng 8 năm 1954, báo trước bão táp đô thị sẽ bùng nổ sau này.
Không còn gì phải nghi ngờ nữa, cuộc chín năm thứ hai đã khởi sự!
Mùa đông bi đát 1955 ập đến, không lạnh hơn những mùa đông trước. Nhưng Bình Phước bỗng hóa thành con sông oan hồn. Sáng nào ra sông, cũng thấy những bao tải đựng xác người trôi lềnh bềnh từ ngã Đại Lộc xuống. Đó là kết quả của lòng thù hận không đội trời chung với cộng sản, của những phần tử quốc dân đảng điên cuồng, mới tụ tập lại dưới trướng Nguyễn Đình Quy, tân quận trưởng Đại Lộc.
Thường đêm, Phi rúc trong đống rơm cạnh cửa bếp, dì dặn:
- Con chớ ăn cơm hông sót lại trong nồi. Cơm nớ độc, ăn vô dễ sình bụng!
Nhưng sáng nào dậy dòm nồi, cũng thấy hết trơn. Phi biết có chuyện uẩn khúc bên trong, nhưng không dám hỏi dì.
Một đêm sau gà gáy thứ hai, Phi giật mình choàng dậy, có người đụng phải chân cậu. Chưa kịp hỏi, người trong bóng tối vội bịt miệng cậu:
- Đừng la, chú đây!
Ngồi hẳn dậy. Trời đất, đúng chú Bổn, bí thơ tỉnh ủy Quảng Nam, chồng cô Mười Lúa. Sao chú không về với cô Mười mà lại mò vô bếp nhà mình, ăn cơm hông?
Chú Bổn nắm chặt tay Phi một lúc, rồi dặn khẽ:
- Cháu đừng kể với ai chuyện ni nghe. Chú tiếc là không thể nói với cháu được nhiều. Ráng học thiệt giỏi và đừng quên truyền thống quê hương. Có gặp em Phương… thì thơm nó giùm chú. Thôi, chú đi!
Chú đi rồi, Phi bồi hồi thương chú… Chú Bổn quê vùng biển Quảng Nam trong, nhưng thuộc từng con đường, từng mái nhà và số phận mỗi con người dưới chân núi Bồ Bồ này. Mọi người ở đây thường kiêu hãnh pha lẫn tình cảm thân thương, kể cho con cháu nghe, về tài ông Bổn đánh giặc trong trận Bồ Bồ vang lừng thời kháng Pháp.
Một tháng sau, Giáng La bàng hoàng đón nhận một tai họa khủng khiếp: Lính Diệm lùng sục lên ranh núi, phát hiện chỗ ông Bổn ẩn tạm. Ông phóng theo con suối cạn, mong thoát khỏi vòng vây, không may trượt chân trên tảng đá đầy rêu, bị thương nặng ở đầu và lọt vào tay giặc.
Tụi nó đánh đập, tra khảo ông ngay tại chỗ, hy vọng ông sẽ khai ra kho giấu vũ khí hoặc nơi tránh trớ của những đồng chí khác. Ông Bổn khinh bỉ im lặng. Giặc sai thằng Đinh bắn chết ông, rồi lén chôn ông úp mặt xuống huyệt. Tụi Diệm mở đại tiệc ăn mừng đã sát hại được bí thư tỉnh uỷ Quảng Nam.
Ba Đoát mắt đỏ ngầu, tới ngay nhà Mười Lúa, giận như điên.
“Chết lãng nhách, bà đừng dư nước mắt khóc ổng. Mất cảnh giác rứa là cùng. Mà những người đi theo bảo vệ ổng, răng không đánh tưới, mở đường máu, phá vây cho bí thư tỉnh ủy chạy thoát?”
Mười Lúa khóc chết lặng…
Chị yêu anh một, tình nghĩa đồng chí nhân tình yêu ấy lên gấp mười lần. Cưới nhau xong, sum vầy được đúng trăm ngày, chị có thai, anh nhận lệnh ra Việt Bắc học thêm về công tác Đảng. Tổ chức bố trí chị về Tây Viên sinh hoạt trong chi bộ Đèo Le. Chị sinh thằng Phương ở đó. Lại có lệnh điều động, chị bồng con vào Thăng Lâm làm hội phó phụ nữ xã.
Đình chiến, dắt đứa con trai ba tuổi về Giáng La, khấp khởi chờ ngày được gặp chồng.
Còn anh, nhân danh thành viên của Uỷ ban Liên hợp đình chiến, leo lên một chiếc máy bay vận tải của Pháp, bay vào Nha Trang. Rồi cũng với tư cách đó, anh lần lượt theo các trạm đình chiến về lại Quảng Nam. Anh cùng với Mười Khuê, thường vụ tỉnh uỷ, về chợ Phong Thử giữa ban ngày. Chị đang hái dâu ở bến Hục, người nhà chạy qua báo tin. Mừng quắn quýu, vợ chồng gặp nhau tại nhà chị dâu anh Bổn. Thằng Phương thấy người đàn ông lạ hoắc, cạ cạ hàm râu vào má mình, khóc thét lên.
Anh Bổn cười thiệt vui, hết dỗ dành con chịu để mình nựng nọt, lại kể cho chị nghe về chuyến bay kì khôi trên phi cơ Pháp. Thực ra Uỷ ban liên hợp đình chiến chỉ có vài đồng chí tham gia. Nhưng Trung ương cần điều số cán bộ về miền Trung gấp, đường bộ xa xôi, mất nhiều ngày giờ quá. Đành dùng mẹo, cả đoàn kéo đến sân bay Gia Lâm lũ lượt. Ai cũng xưng là cán bộ đình chiến. Có cái máy chữ cũng tháo rời ra. Người xách ruột, người xách vỏ, đóng kịch với tụi Pháp. Lúc máy bay ở trên mây, tự nhiên nước nhỏ long tong từ trên trần xuống. Hóa ra máy bay dột do lủng lỗ chỗ vì đạn Việt Minh bắn trước đó. Mấy tên sĩ quan Pháp ngượng ngùng, quay mặt ngó lơ chỗ khác, làm như điếc trước lời qua tiếng lại của anh em mình:
“Ô hô! Máy bay dột các ông ơi, ai có áo tơi cho tôi mượn, kẻo ướt hết trơn quần áo chừ!”
Nói chuyện tới xế, anh với Mười Khuê có việc phải đi Bích Trâm. Hẹn vợ bồng con tới túp lều mẹ Cộng bên bờ sông Chu Bái vào buổi tối. Mẹ Cộng thác cớ ra coi đò, nhường túp lều cho vợ chồng bí thơ tỉnh ủy hàn huyên trắng đêm.
Mười Lúa chờ thằng bé ngủ say mới xây mặt qua phía chồng. Nhà mẹ Cộng có mỗi cái chõng tre hẹp xíu xíu. Hai người ôm nhau thật chặt, dành chỗ cho con ngủ thẳng thớm. Xa nhau ba năm trời, đêm ấy là đêm thứ một trăm lẻ một, vợ chồng gần gũi nhau. Nhưng chưa kịp âu yếm cho bõ thời gian diệu vợi xa cách, anh đã ngồi dậy, vấn thuốc rê, châm lửa rít từng hơi dài, bàn chuyện đưa vợ con đi tập kết. Anh tin tưởng bảo vợ:
“Hai năm nữa chúng ta sẽ gặp nhau. Em đừng buồn, coi như một chuyến đi công tác xa!”
Hai tháng sau, vẫn dùng dằng chưa bố trí đi được. Cơ quan tỉnh uỷ đóng tại Sùng Công, gần kề Giáng La, nhưng anh bận công tác túi bụi, ít về thăm nhà.
Tỉnh uỷ thấy để càng lâu càng khó, bèn phân công bà Bát Lâm, liên lạc viên của Thường vụ, dẫn mẹ con Mười Lúa xuống vùng cát Điện Nam, tính từ đó ra Bắc, theo lối biển.
Vượt lộ 1 xuống Cẩm Sa hai lần, liên lạc dưới biển không lên, đành quay lại. Tháng 1 năm 1955 tới rồi, kế hoạch hầu như không thể thực hiện được nữa.
Một đêm, anh quay lại Giáng La, gặp vợ:
“Chừ em ở lại, trước sau gì cũng bị bắt bớ. Em là đảng viên, phải tuân thủ nguyên tắc Đảng. Không được khai báo hoặc manh động!”
Chị buồn và lo, không dám khuyên chồng điều gì. Dù sao ảnh cũng là bí thư tỉnh uỷ, ảnh phải rõ đường đi nước bước của đấu tranh cách mạng hơn mình. Ảnh đã khuyên phải đấu tranh hợp pháp, dựa vào tinh thần Giơ-ne-vơ để tồn tại, thì có nghĩa, Đảng đã trù liệu trước mọi điều và chắc chắn địch không dám làm bậy!
Nghĩ vậy, chị yên tâm qua bến Hục mua sợi về dệt, rồi mang xuống chợ Thanh Quýt bán. Vất vả quá sức, vẫn không đủ tiền sinh sống, chị chuyển sang buôn đường bát. Mua gốc tại Trảng Nhật, lên xe đò ra bán ngoài Đà Nẵng. Anh biết chuyện, nhắn qua bà Bát Lâm: Chú Bổn không ưa thím Mười buôn bán!
Chị hiểu ý chồng. Tiền nong lời lãi dễ làm con người ta hoa mắt. Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói láo. Chị tủm tỉm cười, nhờ bà Bát Lâm báo cáo với bí thư tỉnh ủy: Đảng viên Mười Lúa xin tuân lệnh.
Chị sắm lại đồ nghề làm hộ sinh viên, vừa dễ đi lại hoạt động hợp pháp, bám dân, bám địa bàn, vừa có thể kiếm tiền nuôi con. Anh rút vào bí mật. Từ đó vợ chồng bặt tin nhau.
Tháng 5, địch tổ chức hội đồng hương chánh và tổ chức trưng cầu dân ý với khẩu hiệu “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì” nhằm hợp thức hóa việc Diệm lên nắm toàn bộ chính quyền miền Nam.
Chi bộ bí mật lấy tên Hoàng Cẩn, một liệt sĩ chống Pháp quê Điện Tiến, họp hội nghị bất thường. Bí thư chi bộ Phan Quyên cùng sáu đảng viên Mười Lúa, Bát Lâm, Phan Li, Trần Vấn, Lê Hồng và Ba Đào, nhất trí đưa Lê Vân – một cơ sở của ta, bà con họ xa của Mười Lúa, ra làm đại diện cho Giáng La trong hội đồng hương chánh Điện Tiến. Hội nghị nhận định, trong hội đồng này còn vài người tốt, có thể tin cậy và trước sau gì, ta cũng phải biến hội đồng của địch thành hội đồng hai mặt. Chưa kịp báo cáo với bí thư tỉnh ủy về việc này thì…
Khuếch trương chiến quả hạ sát bí thư tỉnh ủy cộng sản, Quốc dân đảng kéo về mấy thôn dưới chân núi đất Bồ Bồ, phách lối với dân:
“Thằng Bổn chết rồi, đứa mô có gan làm cộng phỉ, biểu, tụi tau khen!”
Chúng còn dẫn theo Năm Thương. Dân nhòm thấy, ai nấy xanh mắt. Năm Thương nguyên là cán bộ văn phòng tỉnh ủy, mới bị bắt. Dĩ nhiên, ai cũng sợ Năm Thương khai bậy làm nhiều người liên lụy, nhưng sợ nhất là việc bọn “quần dài đen” bắt Năm Thương chửi Đảng. Biết đâu, vì sợ chết, Năm Thương sẽ nhắm mắt làm theo lệnh chúng?
Năm Thương cười thật tươi nhìn bà con:
“Thân tôi do cha mẹ sinh ra, hồn tôi do Đảng tạo nên. Nay tôi xin gởi lại cái lưỡi này để bà con tin: Năm Thương không bao giờ có hành động hay nói một lời mô, làm hại đồng chí, bà con cô bác và bôi nhọ thanh danh của Đảng!”
Nói dứt câu, Năm Thương cắn đứt lưỡi, phun máu thành vòi rồi ngã vật xuống đất. Bọn lính Quốc dân đảng giận dữ, lấy lưỡi lê xăm nát ngực Năm Thương.
Chứng kiến cảnh Năm Thương cắn lưỡi, về nhà, cha Phi run quá, bảo con:
“Cha chỉ còn mình con, dì không sanh nở được nữa. Thôi, con ra Đà Nẵng kiếm đại việc chi làm qua quýt, chờ thời!”
Phi chần chờ không chịu. Cha đành bỏ việc, tự mình dẫn con ra Đà Nẵng, nhờ một người họ hàng xa kiếm chỗ làm. Bực bội vì tính nhu nhược, suốt đời co ro như con sâu cái kiến của cha, Phi muốn gắt lên:
“Cha làm chi kì thế, cả làng sống được, vô lẽ mình con sợ chết?”
Nhưng thấy ánh mắt cha nhìn mình như van nài, Phi lại mủi lòng, lẳng lặng lên xe đò ngồi cạnh cha.
Vài ngày sau, cha mừng rỡ nghe tin: đã có nơi chịu nhận Phi vào làm. Phi lại phải hứa hẹn đủ điều, cha mới yên tâm trở về Giáng La. Còn lưa mấy đồng bạc trong túi, cha đưa hết cho Phi, dặn dò trước khi ra bến xe Ngã Năm:
“Cực ráng chịu nghe Ba. Về làng chắc chết!”
Những ngày sau Giơ-ne-vơ, đời sống ở các đô thị miền Trung, đặc biệt Đà Nẵng, bị xáo trộn mãnh liệt bởi những đợt sóng di dân.
Một là đợt sóng những người kháng chiến, từ vùng tự do tràn về. Họ thường mặc đồ bà ba hoặc áo sơ-mi vải xi-ta. Nhưng dấu hiệu dễ phân biệt họ với những người thành phố là cử chỉ phóng khoáng, tự tin và hàng loạt ngôn từ mới mẻ của họ. Chính họ đã mang tới những đô thị này một không khí sôi nổi, trẻ trung và ẩn chứa mầm mống chống đối, khiến nhà cầm quyền hết sức dè chừng và thù địch.
Còn những người vào đây theo đợt sóng di cư từ miền Bắc luôn giữ cái vẻ ngơ ngác và bị dân bản địa đón nhận với khá nhiều ác cảm. Đã lác đác xảy ra những cuộc xung đột dữ dội, tranh chấp quyền lợi, công ăn việc làm, chỗ định cư và những vụ mạ lị, chế giễu phong tục tập quán lẫn nhau, giữa họ với dân địa phương. Thường trong những trường hợp ấy, chính quyền thiên vị đám di cư, nhất là những người Thiên Chúa giáo…
Sở dĩ tình hình diễn ra như vậy, là do những mệnh lệnh đặc biệt được phát đi từ Phủ Tổng thống, tại Sài Gòn. Điều đó cho một chỉ dẫn khá chính xác: Anh em Diệm chưa có một chỗ dựa vững vàng trên đất miền Nam.
Ngoài cộng sản đã sâu rễ, bền gốc trong lòng đa số dân chúng, còn biết bao nhiêu phe phái, tôn giáo hằm hè, muốn tranh quyền đoạt lợi với tân chế độ. Chân ướt chân ráo về nước tham chính, anh em Diệm chỉ còn biết dựa dẫm vào đội quân di cư này!
Chính vì vậy, lão chủ của Phi có thớ lắm. Lão nguyên là một tay thầu khoán hạng bét của Công ty than Hòn Gay, nơi các ông chủ Tây chỉ cho lão đấu thầu những khu vực mỏ xơ xác, khó nhằn nhất. Nhưng bỗng dưng, từ khi dẫn vợ con đặt chân lên đất Đà Nẵng, công cuộc làm ăn của lão trúng liên tiếp. Lúc đầu quanh quẩn vài khế ước nho nhỏ, chừng một hai trăm nghìn bạc, sau lão được cánh nhà binh cho nhận thầu tạo tác các công thự và các dịch vụ không kém béo bở. Hiện lão đang xoay xở để được nhận thêm việc thầu thuế chợ Hàn. Bằng chứng cho thấy lão đang lên cơ, lão đã mai táng chiếc xô-lếch tàn phế còn nửa mạng mang từ ngoài Bắc vào, bây giờ chễm chệ ngồi sau chiếc xi-troay-en hai ngựa, chạy lạch xạch khắp phố như một con cóc chửa. Lão cũng đã từ biệt ngôi nhà lụp xụp trong khu Thanh Bình – Nội Hà, vốn dành riêng cho dân di cư tá túc, để dọn đến khu biệt thự Phơ-re Mô-ranh trên đường Gia Long.
Và thế là Phi được người bà con dẫn đến biệt thự này để trình diện lão chủ. Bước vào văn phòng của lão, điều khiến cậu ngạc nhiên nhất, lão ta gầy quắt queo, đầu nhọn hoắt như cây viết chì, lấy sức đâu mà nói to và vang như vậy? A, toàn bộ sự oai vệ của lão nhờ giọng nói mà thôi. Phi được biết thêm, trước khi nhận Phi, lão chủ chỉ nuôi một tên đầy tớ duy nhất: Hải, cháu gọi lão bằng cậu ruột. Mẹ Hải chết ngay khi ở cữ Hải, còn cha Hải, một vệ sĩ chống cộng thời Bùi Chu – Phát Diệm còn là khu Thiên Chúa giáo tự trị, đã chết trong một trận càn vào vùng du kích dọc sông Đáy.
Giờ đây, sáng sáng Phi và Hải khiêng bốn cái bàn máy may từ nhà lão ra tiệm tại chợ Hàn, rồi phụ giúp một người đàn ông chột mắt đi thu thuế chợ, tối lại khiêng bốn cái bàn máy may về biệt thự, đổ rác, giặt giũ quần áo cho cả nhà lão.
Chỉ cần hăm bốn giờ sau lễ trình diện, Phi đã nhận ra rằng, vợ lão còn oai vệ hơn lão nhiều và chính mụ mới nắm quyền sinh sát trong biệt thự Phơ-re Mô-ranh. Mụ điều hành mọi việc bằng cách chửi lảm nhảm luôn miệng. Chửi có vân, có vi, có tuồng có tích đàng hoàng. Mụ đã chửi ai thì dù có vô tội đi nữa, sau khi nghe bài chửi của mụ, người ấy cũng phải nhận mình có tội.
Vợ chồng mụ đẻ ra một lũ con bảy, tám đứa liu chiu.
Thằng con cả mười sáu tuổi, học trò đệ tứ ở một trường tư, ốm yếu như một loài cây cớm nắng. Nó say mê chơi ảnh và nghe nhạc. Nó phân biệt chính xác qua máy thu thanh, từng giọng hát của các nữ ca sỹ. Nó mơ làm Phạm Duy, hoặc tệ nhất, cũng là một Hoàng Thi Thơ. Nó không đến nỗi độc ác, lỗ mãng như mẹ nó, nhưng lười chảy thây, lại đỏm dáng, ngày thay mấy bộ đồ như không. Quần áo bẩn nó quăng vào xó nhà. Và lý đương nhiên, Hải có bổn phận thu gom, giặt ủi đàng hoàng cho nó thay. Dù sao, nó cũng là người tử tế nhất trong biệt thự Phơ-re Mô-ranh. Nó chán ghét bố nó keo kiệt khắc khổ. Nó khinh mẹ nó lắm điều, chanh chua. Đối với lũ em, nó thù địch và cảnh giác ra mặt.
Tụi nhóc này nghịch ngợm và phá phách không chịu nổi. Chúng học trường Tây, ngang nhiên “tuy tuy toa toa”[2] với tất cả mọi người, trừ bố chúng.
Người phải chịu đựng những trò tai ác nhất của bọn chúng lại chính là Hải, ông anh con cô con cậu của chúng.
Đêm đêm, khi mọi thứ tạp dịch trong nhà tạm lắng xuống, mụ chủ đột nhiên nhẹ nhàng nhắc nhở các con cầu kinh tối, Hải len lén chui vào nằm cạnh Phi. Hai thằng chong mắt nhìn lên đình màn thủng lỗ chỗ, Hải hỏi nhỏ:
- Lớn lên mày làm gì?
- Không biết, còn mày?
Phi thẫn thờ hỏi lại. Hải nhếch mép cười gằn:
- Xung vào com-măng-đô và việc đầu tiên của tau là xách lựu đạn về đây, hỏi tội cả cái lò khốn nạn này!
Vào một buổi sáng mùa xuân, sau Tết âm lịch, trời lành lạnh, mùi xác pháo còn thơm khét ngoài đường, một thanh niên bẽn lẽn, thập thò tới trình diện lão chủ tại biệt thự Phơ-re Mô-ranh. Có lẽ anh mới từ nhà quê ra, co ro trong chiếc áo sơ-mi mỏng, ngượng ngùng nhìn mọi thứ bài trí trong văn phòng. Anh lối chừng hai mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng.
Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các thầy cai, theo lão chủ đến các nơi nhận thầu, anh còn có trách nhiệm mỗi tối, sáng, đóng cửa, mở cửa, quét dọn văn phòng. Anh tìm cách lánh mặt tất cả mọi người và Phi chỉ biết anh tên Li, quê Quán Rường.
Có một buổi sáng, bảnh mắt dậy, mụ chủ đã cất mồm chửi. Và bỗng dưng mụ réo:
“Thằng Hải đâu, dẫn cậu thư kí đến hàng bánh tây. Từ nay, cậu Li hàng sáng chở bánh tây về nhà. Còn thằng Hải lo giặt hết đống quần áo của các em thay ra hôm trước!”
Ngậm tăm não nề, anh Li lẳng lặng leo lên chiếc xe đạp cà khổ, theo Hải ra tiệm bánh. Và từ đấy, sáng sáng, người ta thấy trên đường Gia Long, một chàng trai cúi gằm mặt, đạp xe chở đằng sau một bao tải bánh mì về biệt thự Phơ-re Mô-ranh. Đó chính là “cậu kí bánh mì” Nguyễn Li!
Một tối, Phi đang mải gánh nước tưới mấy chậu cây cảnh, Hải hì hục bưng nồi cám xuống chuồng lợn. Bất đồ ngang cửa bếp, Hải vấp phải một sợi dây chăng ngang (trò nghịch của lũ ôn vật, em họ Hải). Hải mất đà, nồi cám đổ ụp xuống đất, cám bỏng dây vào chân Hải. Hải nhảy cẫng lên kêu trời. Bà mợ lao từ nhà trên xuống, hai tay chống nạnh, cằm bạnh ra. Hải vẫn xuýt xoa. “Cậu kí bánh mì” hấp tấp mở tủ thuốc tính lấy thuốc mỡ thoa cho Hải.
Mụ gạt bắn cậu kí sang bên, rồi hét:
- Thằng khốn nạn kia, mày làm bẹp rúm cái nồi đồng bà mang từ Hòn Gay vào đây. Bà chưa hỏi tội mày thì thôi, mày còn ăn vạ ai hử?
Hải lừ lừ đứng dậy. Anh Li chưa kịp định thần, Hải đã giang thẳng tay tát vào mặt bà mợ, chửi:
“Tiên sư mày!”
Rồi Hải phóng ra đường.
Chẳng bao giờ người ta còn thấy đứa bé mồ côi khốn khổ ấy trở về biệt thự Phơ-re Mô-ranh!
Hải bỏ đi, anh Li tự nhiên thân với Phi hơn. Một đôi lần, vào những lúc rảnh rỗi, anh Li dẫn Phi đến tiệm sách “Ngày mai” trên đường Trần Hưng Đạo.
Tại đây, anh Li mua tạp chí “Ngày mai” của nhóm trí thức Huế: Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kị, Thân Trọng Phước, Lê Khắc Quyến. Hầu hết những người này đều tham gia Phong trào Hòa Bình nổi tiếng.
Đặc biệt mỗi buổi chiều thứ hai, từ bốn rưỡi đến năm rưỡi, hai anh em lại có mặt cùng dân lao động, phu đạp xích-lô, ba-gác, đứng dọc đường Lê Lợi – Nguyễn Hoàng, chờ nghe chương trình phát thanh của hiệu đoàn trường Phan Châu Trinh. Ở đấy, người ta hát cả những bài hát kháng chiến, đem bài thơ “Phá đường” của Tố Hữu làm thành hoạt cảnh. Phi thích thú nghe các vở kịch thơ “Trai thế hệ”, “Lam Sơn cờ lên”, “Tiếng trống Mê Linh” và lẩm nhẩm học theo câu thơ:
Gió cách mệnh đã bừng tung non nước!
Rồi dần dà, trong các tập san văn nghệ của học sinh phát hành, không biết từ lúc nào, Phi thuộc làu những bài thơ của tác giả Phan Trịnh nào đó, nhất là bài “Những dấu chân”. Phi hỏi anh Li về tác giả này, anh cười buồn:
“Cuộc đời của thi sĩ này là cả một cuốn tiểu thuyết… Vắn tắt thế thôi. Phan Trịnh cũng vừa bằng tuổi Phi đó!”
Phi càng háo hức, nằn nì anh Li giúp cho mình làm quen với thi sĩ, một đề nghị mà chẳng bao giờ anh Li kịp thực hiện.
Đột nhiên, lão chủ xưa nay chỉ quan tâm đến mỗi chuyện làm ăn, lỗ lãi, bỗng cho phép anh Li và Phi nghỉ hẳn một buổi chiều để cùng lão ra sân vận động Chi Lăng, dự một cuộc mít-tinh long trọng.
Anh Li có vẻ ngần ngừ, nhưng không dám chống lệnh lão. Khi Phi lẽo đẽo theo ông chủ bước vào sân vận động, đã thấy khá đông người bị lùa đến và trên khán đài, một bọn đang hò hét chửi cộng sản. Sau đó đến tiết mục xé cờ đỏ, li khai với Đảng…
Phi ngơ ngác chưa hiểu gì, anh Li ghé tai Phi nói nhỏ:
- Hầu hết những người ở hàng ghế danh dự, đều là bọn trở cờ, chửi kháng chiến hoặc bị tân chế độ hăm dọa tính mạng… Đó là Võ Thu Tịnh, Võ Phiến, Đỗ Tân, Lai Sinh, Ngô Găng làm báo “Mùa lúa mới”, bợ đỡ chính quyền và họp đại hội văn hóa miền Trung, nhằm yểm trợ cho chủ thuyết Nhân vị – Duy linh của cố vấn Nhu!
Tất cả những điều anh Li nói đều lạ tai với cậu học trò kháng chiến quê Giáng La. Nhưng cậu không ngờ, cậu đang chứng kiến cảnh mở màn cho những làn sóng chống cộng trên quê hương đen tối của cậu…
Những buổi phát thanh sáng thứ hai thường lệ của trường Phan Châu Trinh bỗng nhiên chấm dứt. Một buổi chiều tà, hai anh em đi thơ thẩn dọc bờ sông Hàn, Nguyễn Li buồn rầu nói:
- Sớm mai anh sẽ từ giã Đà Nẵng, ở đây ngột ngạt quá rồi. Còn em, theo anh, nên về Giáng La xin cha cho đi học. Học và chờ thời. Có lẽ đó là khả năng duy nhất giúp chúng ta không đến nỗi phải tự sát vì bế tắc?
Thế là anh Li lên tàu lửa vào Nam, còn Phi về Giáng La, từ giã những kỉ niệm u ám ở biệt thự Phơ-re Mô-ranh.
Nghe con đòi đi học, cha thở hắt ra dễ nản:
- Học làm chi cái chữ của chế độ này hả con? Ráng đợi hai năm nữa, thống nhất hãy học!
Lại xách đồ theo cha lội khắp đất Hồ Vực xẻ gỗ thuê, Phi giao hẹn:
“Sáu tháng đầu, con làm được bao nhiêu tiền, cha phải cho con để dành mua xe đạp, xuống Hội An học trường tư!”
Tám tháng sau, mua lại chiếc xe đã cũ của anh thợ sửa xe đạp ở chợ Phong Thử, Phi xuống Hội An thi vào lớp đệ nhất Trường tư thục Diên Hồng và trở thành học trò của thầy Lưu, anh ruột thầy Vi, ông thầy đầu tiên đã dạy Phi trong trường kháng chiến.
Mỗi lần thấy Nguyễn Đình Quy lò dò xuống Hội An, thăm hiệu trưởng Nguyễn Đình Hướng, em trai hắn, tụi học trò Điện Bàn chỉ mơ ước bẻ nốt cái giò còn lành của hắn. Đám học trò ấy biết quá rõ, những xác người trong bao tải trôi lềnh bềnh trên các nhánh sông Thu Bồn xuống biển, chính là “tác phẩm” của thằng thọt sát nhân này!
Bạn nhiều nhưng Phi chỉ thân với hai thằng Sanh, Kiếm. Và niềm an ủi duy nhất trong những tháng ngày ngột ngạt, u ám và đầy tử khí này: những kỉ niệm kháng chiến được thầy Lưu nhắc tới một cách bóng gió.
Không biết giờ này thằng Hải đã xung lính com-măng-đô chưa? Còn anh Li sống ra sao nơi phương Nam xa xôi?
Miên man hồi tưởng, Phi tạm quên cái đói đang hành hạ và sức nặng chiếc xe đạp cũ kĩ đè nghiến trên vai. Đột nhiên, có người chặn trước mặt:
- Về trễ rứa?
Phi giật mình ngước lên. Ba Đoát!
Tóc Ba Đoát ướt sũng nước mưa, mắt đỏ ngầu trên gương mặt trắng bệch vì lạnh. Ba Đoát nói trổng:
- Chiều ni vác cào cỏ ra Cồn Mả!
Cụt lủn ra lệnh rồi đi liền. Phi ngoái lại nhìn theo, bóng anh đã nhòa vào làn mưa rây bột.
Thấy con nhai cơm như nhai cỏ, cha Phi hỏi:
- Răng rứa?
Phi không trả lời, đăm đăm ngó ra ngoài trời. Làng xóm im lìm như chết, thỉnh thoảng một cơn gió xộc tới mang theo tiếng mưa rào rào rồi tắt ngấm. Dường như thiên nhiên và con người đang lả đi, mềm oặt và ẩm mốc.
Cha Phi thở dài nói nhỏ:
- Ba Đoát vừa tới tìm mi. Có chuyện chi nôn rứa? Cả khu Kì Lam ai lạ chi Ba Đoát là du kích chín năm. Răng hắn cứ đi ngời ngời ngoài đàng, có bữa mang họa cho người khác?
Vô lẽ cha muốn mọi người bắt chước cha, ra đường cúi đầu như con nợ tránh mặt chủ nợ? Phi buông chén đũa, nói không nhìn mặt cha:
- Bữa ni bài vở nhiều, sợ tối không làm hết. Cha đi một mình nghe?
Cha nhẫn nhục, soạn đồ nghề cho vào đôi bồ, chiếc lưỡi cưa dài bó dọc theo đòn gánh. Nhìn cha lủi thủi quẩy gánh đi dưới mưa, Phi ân hận nghĩ thầm:
“Nhất định phải nói thiệt với cha, lỡ có chuyện chi cha không quá bất ngờ. Tội cha!”
Cồn Mả chiếm một vạt đất khá rộng cuối làng. Một bên dựa vực sông Bình Phước, một bên tiếp giáp cánh đồng. Lớp tre gai bao bọc um tùm che chắn chung quanh những nấm đất cao thấp, lổng chổng. Đủ các loại mồ mả, có những nấm mồ chỉ có một thanh tre cắm đầu mộ ghi tên người chết, có ngôi trồng bia xi-măng, có ngôi được xây thành miếu có lát đá bông. Nhưng tuyệt nhiên không có một nấm mộ nào mang dấu thánh giá. Nơi này vốn ít người lui tới, ngoại trừ trẻ chăn trâu và những người tảo mộ vào tiết thanh minh hàng niên.
Giờ đây, trong chiều tà mưa lâm râm, không khí bãi tha ma hoang vắng đến lạ lùng. Tự nhiên Phi rùng mình ớn lạnh khi đặt chân lên đám cỏ ngập bùn nước. Nhiều ngôi mộ còn mới rợi, cỏ vẫn còn vàng úa trên lớp đất đắp vội. Hàng tre gai rũ rượi rạp xuống mỗi lần gió từ cánh đồng ào ào lướt tới, như có kẻ vô hình đạp chân lên ngọn tre vít xuống.
Phi sững sờ nhìn Ba Đoát ngồi chờ sẵn trong tư thế kì dị. Anh tựa lưng vào bức tường gắn mộ chí bằng đá, hai đầu gối quỳ lết trên đá. Vẫn mái tóc ướt sũng lòa xòa trước mặt, Ba Đoát ngó không chớp mắt về phía trước. Cái nhìn ấy như cái nhìn của kẻ trong đội hành quyết, đang chú mục ngắm bắn tử tù.
Phi run run kêu khẽ:
- Anh Ba!
Ba Đoát giật mình xây mặt lại. Phải giây lát sau Ba Đoát mới thoát khỏi luồng suy nghĩ nào đó, chắc là ghê gớm lắm, để nhận ra Phi. Giọng khàn đục, Ba Đoát hất hàm:
- Ngồi xuống!
Phi luống cuống ngồi xổm, lấm lét nhìn. Giọng Ba Đoát lại càng âm thầm:
- Tối nay thằng Đàm tập trung dân Giáng La tại hội xá để học tài liệu tố cộng. Phải giết nó!
- Lấy cái chi giết được nó?
Phi bật hỏi liền, một phản ứng chỉ để trấn áp nỗi sợ hãi hoang mang đang đè nghẹt lên ngực cậu.
- Khỏi lo, tau trù sẵn rồi!
Mắt Ba Đoát sáng rực. Phi kinh ngạc nhìn trái lựu đạn sáng loáng xuất hiện trong tay Ba Đoát như một trò ảo thuật. Không biết Ba Đoát giấu sẵn nó ở đâu, trong con người trần trụi của ảnh?
- Ông Bổn ra lệnh cho tau về đấu tranh hợp pháp và liệng súng xuống sông. Chừ ông chết rồi, tau không muốn đay lại. Nhưng tau tức ói máu, lựu đạn trong tay mắc mớ chi để nó bắt sống hả? Trước đó ít bữa, thấy tau moi lựu đạn lên định đánh nát bọn hội đồng, ổng la như cắt họng: “Đồng chí không được manh động, phải tôn trọng tinh thần hiệp định!” Ổng dật dờ thiệt, nhưng ổng chết rồi, phải trả thù cho ổng. Ổng sống khôn chết thiêng, sẽ phù hộ cho tau và mi!
- Rủi tụi thằng Đàm đứng sát dân quá, miểng lựu đạn đụng nhằm họ thì sao, anh Ba?
Phi cố trấn tĩnh hỏi lại. Ba Đoát giật nảy người, ngẩn ra, khẽ à một tiếng:
- Ờ, mi không nói, tau quên khuấy. Chừ răng, mi?
Giọng Ba Đoát thiết tha quá. Phi đâm ra thương con người bộc trực, yêu ghét, vui buồn lộ ngay ra từ mỗi cử chỉ, giọng nói. Ba Đoát khoát tay reo lên như nghĩ ra điều gì thần kỳ lắm:
- Thôi, lo chi đồ yêu nớ. Mi giữ trái lựu đạn ni, núp sẵn ngoài ngõ. Tau vô trong gây sự để tụi nó bắt tau. Tức nhiên tụi nó phải khám người tau. Rờ không có chi, tụi nó yên tâm giải tau về khu. Mi ở ngoải, khi mô nghe tau la to: “Răng các ông bắt người vô cớ rứa,” thì đôi lựu đạn liền, tau chủ động nhào xuống tránh. Cha con cố nội tụi nó lãnh đủ!
Phi rùng mình, như vậy đâu phải là kế hoạch. Chỉ cần mình đôi lựu đạn chậm hay mau một chút xíu, cả anh Ba cũng tan xác. Cậu liều mạng lắc đầu:
- Không được đâu, anh Ba!
Ba Đoát quắc mắt:
- Không có lùi, cứ rứa mà làm. Rủi tau có tan xác cũng lời, một đổi năm sáu!
Đưa trái lựu đạn cho Phi, Ba Đoát quả quyết đứng dậy:
- Tau đã nhắm địa thế con đường vô hội xá. Mấy bụi keo kín bưng. Mi tấp trong nớ, cha thằng Đàm cũng không đánh hơi nổi. Sâm sẩm tối hãy vô núp, nghe chưa Phi?
Trái lựu đạn láng trơn còn ấm hơi tay Ba Đoát. Phi luống cuống lận nó vào cạp quần. Chợt Ba Đoát mỉm cười ngây ngô:
- Ủa, tau quên chưa hỏi, mi đã liệng lựu đạn hồi mô chưa?
Phi sợ hãi lắc đầu. Ba Đoát dắt Phi lại sau cái mả vôi, hướng dẫn cách mở chốt và ném lựu đạn. Ba Đoát dẽ dọt giảng bài như thầy dạy trò:
- Mi có thể quên tên, nhưng mi không được quên bài học ông Bổn nghe chưa? Rạch đầu rạch óc, nhét cái nớ vô cho sâu, nghe Phi. Xáp mặt kẻ thù thì đừng có nghĩ trời trăng nó sẽ tha chết cho mình. Rù rờ nó chụp đầu mình ngay. Cách mạng là súng chớ chi? Mi học hành nhiều, mi hiểu điều đó chớ? Lâu ni, tau chỉ ghim guốc chuyện làm chi để trả thù cho ông Bổn. Nói rứa chớ, đồng chí mình chết một, mình phải giết nó mười. Nhớ kĩ chưa, Phi?
Chưa bao giờ Phi phải trải qua giây phút chờ đợi khủng khiếp như lúc này. Ánh đèn măng-sông từ hội xá hắt ra, phản chiếu lấp lánh trong làn mưa đêm mỗi lúc một nặng hạt. Tóc Phi ướt đầm đìa. Đã nằm dán mình xuống mặt đất, Phi vẫn run lên bần bật. Lạnh, nhưng cái chính do Phi phải chờ đợi trong hồi hộp. Bàn tay cậu nắm chặt lấy trái lựu đạn đến nỗi những ngón tay mỏi nhừ, tê cóng. Phi đành phải đặt tạm trái lựu đạn xuống đất, hai bàn tay xoa xoa vào nhau.
Bao trùm lên tất cả là bóng tối âm u, tiếng dế thỉnh thoảng rộ lên từng hồi, rồi tất cả chết lặng…
Đàm đưa mắt nhìn suốt mấy hàng người quỳ dưới ánh đèn hừng hực. Nó thuộc hạng người khô chân gân mặt, cặp mắt sâu hoay hoáy choán gần hết cái trán hẹp và thấp của nó. Thoạt nhìn, người ta có cảm giác hàng lông mày đậm đen sắp chạm vào chân tóc trước trán nó. Hồi chín năm, Đàm bị nhốt trên trại giam Tiên Hội vì tội mưu sát cán bộ kháng chiến. Cuộc mưu sát bại lộ, hai tên Quốc dân đảng bị xử tử, Đàm lãnh án mười tám năm tù. Năm 52, Đàm giết người gác, trốn về vùng Pháp. Bây giờ tân chế độ chia vùng Điện Bàn thành bốn khu: Thanh Quýt, Vĩnh Điện, Kì Lam, Phù Kì. Trong bốn tên khu trưởng hung thần diệt cộng, Đàm đứng đầu.
- Giáng La xưa nay vẫn hãnh diện cộng sản nòi. Những tên cộng phỉ dữ dằn nhất đều là dân Giáng La. Thằng Đàm này sẽ đập nát Giáng La cộng sản, biến thành Giáng La quốc gia. Bao nhiêu ác ôn, côn đồ, cộng phỉ sẽ đốn ngã bằng hết. Chừ, bà con hãy nghe một nạn nhân của cộng sản tố cáo tội ác ôn, thú vật của những “lãnh tụ đỏ”.
Một thanh niên chừng hăm bốn, hăm lăm, mặt mày rỏng rớt bước ra trước ánh đèn. Sau khi tự giới thiệu, Nguyễn Việt Dũng, chi phó chi thông tin Điện Bàn, chậm rãi nói. Hai hàm răng anh ta sít lại như không phải những chiếc răng rời ken sát nhau mà được đúc nguyên khối, có xẻ những cái rãnh lởm chởm trên bề mặt:
- Bà con sống trong vùng cộng sản quá lâu, nhưng ít có dịp hiểu tim đen của họ. Hẳn bà con biết tiếng Trần Phóng, một lãnh tụ đỏ chóp bu của Khu 5, một lí thuyết gia có hạng của phía bên kia. Hồi nớ, tôi theo làm cần vụ cho Phóng. Có bữa công tác qua Sơn Long, dừng chân nghỉ ăn trưa dưới chân đèo Le, nhân thấy Phóng có vẻ nhởn nhơ, tôi đánh liều hỏi: “Thời kì cách mạng còn trứng nước, sao mấy anh nói hay thế? Càng ngày, giữa lời nói và việc làm của các anh càng một trời một vực. Gia đình em là một thí dụ đau xót cho tính cả tin của dân chúng theo cách mạng. Cha em là nhân sĩ kháng chiến, mấy anh em đều thoát li theo cách mạng. Tại sao mấy anh lại khuyến khích bần cố nông đấu tố, truy tô gắt máu đến nỗi, ông già em phải thắt cổ trong chuồng trâu. Phải chăng muốn cách mạng thành công thì phải lừa mị và tàn bạo, hả anh? Nếu biết thế ngay từ đầu thì đã không có ai theo lí tưởng của các anh?” Phóng xoa đầu tôi, giọng tỉnh rụi: “Cậu còn ngây thơ lắm! (Có lẽ, tôi cũng ngây thơ như bà con Giáng La mình đây). Đã gọi là cách mạng thì phải sắt máu. Không sắt máu thì sao gọi là cách mạng? Nói sao cho cậu dễ quán triệt bây giờ?” Phóng trầm ngâm giây lát, rồi nói tiếp. “Ví như tôi giáo dục, động viên, tập hợp quần chúng làm cách mạng theo kiểu vực trâu cày. Hồi đầu, con nghé còn non, tôi phải dỗ dành cho nó mang ách, rồi mới đưa nó bước xuống ruộng, cày chập chững. Khi đã quen rồi, ruộng mỗi lúc một sâu, trời một lúc một nắng gắt, ngon ngọt riết thì trâu bứt mất. Bấy giờ phải quất roi vào lưng nó, bắt nó kéo cày… Cách mạng đã chuyển sang giai đoạn phản công, thử thách khốc liệt, không cứng rắn, sắt máu làm sao huy động được quần chúng xông pha sống chết? Nhưng đừng quên, với con trâu cần gánh cỏ non để đầu bờ kia, trâu mới hăng hái cày cho hết xá cày để mau tới đó mà ăn cỏ. Với người nông dân cũng vậy, cần phải có những bó cỏ nhử mồi làm phần thưởng cho họ. Như vậy, cha cậu có thắt cổ trong chuồng trâu cũng đã gián tiếp lập công với cách mạng!”
Một ông già Giáng La, tóc bạc phơ phơ, giận quá đứng vụt dậy hét:
- Câm đi. Đồ chó!
Đàm rút súng bắn ông lão chết liền. Dân đứng hết cả dậy, đám lính lăm lăm ngón tay trong vòng cò. Không khí căng như dây đờn. Đàm hất hàm:
- Đứa mô muốn phản đối, xin mời!
Giữa đám đông chết lặng, Ba Đoát thong thả tiến đến chỗ thằng Đàm.
- Tau!
Đàm đứng sững. Việt Dũng nhếch mép cười ruồi. Lính hiểu ý xô lại, đè nghiến Ba Đoát dưới đất, trói giật cánh khuỷu liền.
Khám người Ba Đoát không thấy gì, đám lính xốc anh dậy. Đàm như nhứ mũi col-12 trước mặt anh:
- Giỏi há? Đi!
Cả bọn hiểu, nấn ná phút nào, nguy hiểm phút nấy, chỉ một tàn lửa, hội xá sẽ nổ tung.
Nghe tiếng súng nổ, Phi giật thót người tỉnh lại. Trước đó ít phút, tình trạng thần kinh căng thẳng đã làm cậu mệt rũ người. Chính tiếng súng đột ngột vang lên đã đánh thức Phi. Trong quầng sáng từ hội xá hắt ra, Phi thấy một đám người lố nhố bước xuống sân và tiếng chân rậm rịch đến gần bụi keo, nơi cậu phục sẵn.
Ánh đèn vụt tắt, cả đám người như tan biến cùng chút ánh sáng le lói cuối cùng. Phi không còn nhìn thấy, hay cảm nhận được bất cứ vật thể nào trong đêm nữa. Ngay cả những giọt mưa lạnh lẽo cũng không tác động nổi đến khả năng nhận thức của cậu trước những gì đã diễn ra và phải diễn ra. Phi hoàn toàn mất hướng, hoảng hốt như rơi vào một cơn ác mộng mà không có một cái đích nào để bấu víu trở lại với thực tại. Trái lựu đạn trở nên lạnh buốt như một cục nước đá.
Nghe tiếng la hét, chửi rủa của đám lính, Phi càng hoang mang. Chúng giải anh Ba về hướng nào, bên phải hay bên trái? Bóng tối đặc sệt thế kia, làm sao ảnh nhìn thấy trái lựu đạn được tung ra để kịp lăn nhào xuống đất tránh?
Ba Đoát hét lên:
- Răng tụi bay bắt người vô cớ rứa?
Phi ngẩn ra nghe, không nhớ nổi đó là ám hiệu hành động. Cậu cho qua tất cả. Cho đến khi cậu hơi tỉnh trí, bốn bề đã im lặng như tờ. Xa xa, phía đường cái lên chợ Phong Thử, có tiếng động cơ xe hơi rì rì. Phi căng mắt nhìn theo hút. Mình đã làm lỡ việc, chính mình giết ảnh. Phi cố nén mới không bật òa khóc…
Phi lầm lũi trở về nhà. Để nguyên quần áo ướt át, vấy bùn, cậu quờ quạng trong chái bếp để tìm chỗ giấu trái lựu đạn. Cha Phi chưa ngủ, nằm vắt tay lên trán, não nuột thở dài, nhớ lại cảnh tượng vừa xảy ra trong hội xá. Đời ông, ông cam chịu nhục nhã để sống yên phận. Nhưng tuồng như con trai ông ghét lối sống đó. Ngó nước da nó, ông biết nó thèm khát một thứ không có trong ý nghĩ của ông. Mà không biết từ chiều tối chừ, nó đi mô? Chắc Ba Đoát hò hẹn chi với nó rồi.
Bà vợ thấy chồng đột ngột vùng dậy ra sân, hoảng hốt hỏi nhỏ:
- Khuya hung rồi, ông tính đi mô chừ?
- Tôi đi tìm thằng Phi!
Ông trả lời thọn lỏn, nhưng chân ông ngập ngừng. Tìm mô? Một tiếng “choang” vang lên trong đêm vắng lặng. Ông run rẩy, môi mấp máy không thành tiếng. Có điềm chi bất tường quá. Ông rón rén bước xuống bếp với hộp quẹt trong tay.
Trong khoảnh khắc ánh lửa loè lên, Phi thấy rõ gương mặt kinh hoàng của người cha. Cả hai im lặng trong bóng tối. Chợt người cha run run, giọng khẩn thiết như sắp khóc:
- Đưa cái đó cho cha!
Bất giác Phi lùi lại, bàn tay nắm chặt trái lựu đạn hơn. Không, đây là trái lựu đạn cuối cùng anh Ba trao cho tôi, cha không có quyền đòi. Thấy con im lặng, người cha tiếp tục nài nỉ:
- Phi, mình con với Ba Đoát làm sao chọi nổi tụi thằng Đàm. Cha với dì ráng chạy tiền cho con ra Đà Nẵng. Xà quần ở đây chắc chết!
Phi chán nản không muốn nghe cha nói nữa, cậu hơi né người tránh chỗ cha đứng, để ra ngoài. Cha hoảng hốt:
- Đi mô chừ, Phi?
Phi lầm lũi bước ra hẳn trời mưa, nấn ná chút nữa, mình khóc mất. Buồn khủng khiếp. Lạy trời, mong sao chú Quyên còn ở lại Cồn Mả đợi mình! Phi biết chắc, cha sẽ không la to đâu. Mình còn ít thời giờ lắm, lỡ một phiên hẹn, chú Quyên nghĩ sao về mình?
Có thể vào buổi hoàng hôn, không khí thê lương nơi bãi tha ma làm cậu rờn rợn, còn bây giờ cậu vội vã đạp lên những nấm đất nhớp nháp. Nghĩ đến chú Quyên, Phi cảm thấy như được an ủi, xoa dịu và thoát ra khỏi những ấn tượng ghê rợn.
Phi nằm ép người sau một ngôi mộ xây, bắt chước tiếng cú rúc. Căng mắt xoáy vào bóng tối, nơi cậu đoán chú Quyên sẽ hiện ra.
Lần trước, chú Quyên bảo:
“Chú có con Luyến dễ thương lắm. Mai mốt thống nhứt, chú cho hai đứa lấy nhau!”
Không hiểu sao nghe thế, Phi không ngượng nghịu mắc cỡ mà chỉ thấy tủi. Luyến hơn Phi hai tuổi và đã có dáng một thiếu nữ nảy nở, vai tròn lẳn, tóc dài đen óng, cặp môi chúm chím lúc nào cũng như cười. Lũ con trai quanh chân núi Bồ Bồ đều phải thừa nhận: Luyến xinh nhất trong vùng trồng lúa Ba Châu.
Làng La Huân của Luyến uống chung với Giáng La của Phi, một cái giếng nước trong vắt, ngọt ngào. Mỗi lần quẩy đôi thùng thiếc ra giếng gánh nước, gặp Luyến, Phi lại nao nao nhớ lại lời hứa của chú Quyên. Luyến bẽn lẽn cúi mặt, chắc chú Quyên đã từng ướm chuyện này với con chú rồi. Những lúc vui buồn, Phi lại nhớ tới cô gái làng La Huân.
Phải thính lắm mới nghe thấy tiếng động xào xạc trên những đám cỏ ướt. Phan Quyên bò sát tới một ngôi mộ xây, rồi quờ tay như tìm một chỗ để víu lấy. Bất chợt tay hai chú cháu đụng nhau. Tay chú Quyên lạnh buốt khiến Phi hơi rùng mình. Phi thì thầm thuật lại mọi chuyện xảy ra. Chú im lặng nghe và thỉnh thoảng lại thở dài. Nghe xong, chú nói:
- Manh động là tự sát. Mai mốt, rủi chú có chuyện chi, thì con… (mí mắt của Phi cay xè, chữ “con” chú Quyên vừa thốt ra, nghe xót xa quá, mai mốt ai còn, ai mất, nói làm chi chuyện hôn nhân, hẹn ước) phải thay chú động viên em Luyến giữ vững niềm tin và niềm vui trong đấu tranh cách mạng.
Trời đất, con van chú, đang lúc đen tối thế này, con hãi những lời trối trăng, ủy thác lắm. Phan Quyên dừng lại nửa chừng, đột nhiên siết mạnh tay Phi. Chú ngập ngừng trước một quyết định hệ trọng chăng?
- Trái lựu đạn này của Ba Đoát, phải không?
- Dạ!
Phi ngần ngại xác nhận.
- Đưa cho chú! – Thoáng có tiếng cười khẽ. – Con khỏi lo, chú không xin lựu đạn để tự sát đâu. Cần chi súng đạn rườm rà, người ta có thể tự giết mình trong nỗi tuyệt vọng!
Vẫn tiếng cười khẽ khàng, bình thản một cách chua xót, day dứt, bởi một nỗi ân hận sâu xa, Phan Quyên kể tiếp.
- Cách đây năm năm, chú đã đẩy một người lẽ ra hữu dụng cho cách mạng, vào con đường tuyệt vọng, chỉ vì một câu nói hớ hênh của người ấy. Và bây giờ, người ấy đang tìm mọi cách để tự sát!
Chú dừng lại, gió rung mạnh những thân tre, khiến những giọt mưa đọng trên lá rơi xuống lộp độp.
- Bây giờ không những người ấy tự sát mà còn kéo theo những người khác vô tai hoạ. Chú có tội với Đảng!
Lần này Phan Quyên dứt hẳn mạch chuyện. Phi biết chú Quyên không thể nói đến cùng, về cái kết thúc bí ẩn lạ lùng ấy trong đêm Cồn Mả.
- Chú Bổn hi sinh rồi, tụi thằng Đàm nhất định sẽ giết em Phương, giọt máu duy nhất đồng chí bí thư tỉnh ủy gửi gắm cho chúng ta.
Phan Quyên cay đắng nghĩ trong một thoáng im lặng. Mười một ngàn đảng viên, cán bộ Điện Bàn, mà bây giờ ta phải mang chuyện quan hệ này, bàn với một chú bé mười lăm tuổi?
- Thôi, từ mai con khỏi phải tiếp tế cho chú. Chú đổi vùng. Nhưng có việc này, chú đã nghĩ hết cách, nhưng cuối cùng phải giao cho con!
Một con người như chú Quyên, đã từng là đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc, một cán bộ từng được người ta viết thành văn trong sách giáo khoa kháng chiến cho học sinh học, tưởng không bao giờ có thể bối rối, ngập ngừng hay ân hận như những diễn biến vừa được ghi nhận sau ngôi mộ xây?
- Con đã từng trong đội giữ bò của trại Ba Thư phải không?
- Dạ!
Phi ngạc nhiên, ông Ba Thư ở tận ngã ba Hà Lam liên quan gì đến việc chú Quyên định giao cho mình?
- Cần phải đưa cô Mười và em Phương vượt biển ra Bắc, càng sớm càng tốt. Nhưng các ngã vùng Điện Bàn, địch phong tỏa dữ lắm, hoàn toàn mất liên lạc. Con hãy dẫn mẹ con cô Mười vô Thăng Bình, nhờ các đồng chí ở trỏng bố trí ghe thuyền. Ông Ba Thư biết con, chú không cần viết thư để tránh nguy hiểm cho mọi người. Rồi con đi luôn ra ngoài. Nếu được gặp Bác Hồ… – Giọng chú đứt quãng, một cảm giác rạo rực, ấm nóng choán lấy Phi. – Con hãy thưa với Người rằng, dân Giáng La cũng như đồng bào miền Nam, luôn hướng về Người. Gian khổ, đen tối mấy cũng sẽ chiến thắng vẻ vang, đón Người vô Nam ngày thống nhứt!
Chú Quyên đứng lên, ôm choàng lấy Phi, những giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống cánh tay trần trụi của cậu.
- Thôi, con đi đi, chúc con thắng lợi!
Chú đột ngột xô nhẹ Phi sang bên và trong lúc Phi còn đang tần ngần, chú đã bỏ đi. Bóng chú mờ dần. Những tiếng chân bước của chú không nhẹ như khi chú trườn tới gặp Phi.
Rõ ràng chú vội vã bỏ đi, cố tránh né những cảm xúc có thể làm cuộc chia tay giữa hai chú cháu trở nên quá ngậm ngùi.
❀ ❀ ❀
[1] Dân Quảng Nam đọc chệch ba âm đầu Q-D-Đ của chữ Quốc Dân Đảng, thành Quần Dài Đen (hoặc cu-dê-đê), với ý giễu cợt.
[2] Mày mày tao tao.