Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thân Phận
Thân Phận

❊ ❊ ❊

Có người sống cho một mối tình, có người sống cho một mối thù, có người sống cho một mối nhục!

TÂM SỰ CỦA PHƯƠNG MAI

- Bữa nay thầy mời Phi qua bên Cẩm Nam ăn mì ghe!

Hai thầy trò rời căn gác lửng bước xuống đường. Chốc lát họ đã tới bờ sông. Chợ Hội An nhộn nhịp khác thường. Mấy dãy lều chợ chật ních, người xúm đông xúm đỏ quanh những rổ cá, tôm, mực, cua tươi rói. Rạp xi-nê Hòa Bình nằm cạnh chợ cũng đông đúc không kém. Tấm biển quảng cáo to tướng, màu sắc lòe loẹt, nét vẽ vụng về. Phi đọc thấy tên phim “Tìm về sanh lộ”. Lại một bộ phim chống cộng do Bộ Thông tin đỡ đầu cho một nhóm làm phim thuê. Cốt truyện đại loại một thanh niên miền Bắc, bố là địa chủ bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, tìm cách vượt tuyến vào Nam với thế giới tự do. Đó chính là sinh lộ của anh ta. Dưới tên phim có mấy hàng chữ in đậm:

“Nếu muốn hiểu sự thật tàn khốc bên trong bức màn tre của cộng sản khát máu, mời bạn coi phim Tìm Về Sanh Lộ!”

Cảm giác khó chịu của Phi tiêu tan khi thầy trò anh xuống đò qua Cẩm Nam. Hình như thầy gặp Phi lần này trong tâm trạng phấn chấn, muốn nói nhiều chuyện.

Con sông không rộng cũng đủ ngăn Hội An thành hai khung cảnh trái ngược. Một phía là chợ ồn ào, chen chúc, nơi Phi còn nhận ra Hoàng Phương thương cục, cơ sở kinh doanh của cha thằng Công, bạn học cùng lớp với anh sáu năm trước, bây giờ chắc nó càng hãnh tiến, vênh váo. Hình như nó lên Blao học Nông-lâm-súc. Còn em gái Công, cô Băng Sương, nổi tiếng đẹp nhất Hội An, đang học Đồng Khánh ngoài Huế. Bất chợt anh mỉm cười nhớ lại, Kiếm kể với mình một hoa khôi mới nổi trên phố Hội, Kim Trí, nữ sinh Trần Quý Cáp, hình như nàng cũng ở trong khu chợ kia.

Và phía kia, Cẩm Nam thôn dã, bình thản. Thầy trò lựa một chỗ trên bãi cát sạch sẽ ngồi dưới mấy bóng dừa. Khung cảnh quen thuộc và ấm cúng quá. Chợt thầy reo khẽ, giọng thật vui:

- Phi coi kìa! Thầy cứ ao ước, nếu cuộc đời cứ yên lành với những chiếc ghe bán mì dạo kia?

Những nông dân nghèo Cẩm Nam thường làm mì và dùng ghe chở qua bán cho khách Hội An. Dấu hiệu để nhận ra những chiếc ghe bán mì thật dễ dàng. Phía mũi ghe, trên một lò than đỏ lựng, nồi nhân bốc hơi nghi ngút. Khách chỉ cần vẫy tay, chiếc ghe sẽ chèo vào sát bờ, một người đàn bà chất phác, xởi lởi sẽ lấy những chiếc tô màu trắng ngà sạch sẽ, lót xuống đáy tô một ít rau sống Trà Quế (thứ rau sống chỉ ở làng Trà Quế trồng mới ngon), bắp chuối hột xanh xắt mỏng quấn với nhau và đủ mùi vị cay the của các loại rau thơm, cộng với vị chua của khế. Những sợi mì vàng ươm phủ lên trên trước khi chan nước nhân, một thứ nước lèo nấu bằng tôm bạc đã lột vỏ cùng với thịt heo. Xong xuôi, bà sẽ rắc những mấy muỗng đậu phụng rang giã nhỏ, cùng mấy miếng sứa xắt mỏng rải lên trên. Một lát chanh và những miếng bánh tráng mè chiên nổi phồng đã để sẵn cạnh thẩu tương ớt. Khách sẽ dùng đũa xáo từ đáy tô lên và bắt đầu thưởng thức mì Quảng…

Phi nhận tô mì từ tay người đàn bà trên ghe và liếc nhìn thầy Lưu. Thầy thực hiện cái nghi thức ăn mì chăm chút và trịnh trọng như vừa mô tả. Hình như thầy đã lấy lại thăng bằng sau bao nhiêu biến cố, lo âu…

Chiếc ghe mì đã sang đến bờ Hội An, thầy rút gói thuốc mời Phi và bắt đầu nói:

- Bữa nay thầy không muốn giấu con, những tủi nhục mà một thời thầy đã đinh ninh sống để dạ chết mang theo. Nhất là sau những gì con kể về thầy Huyễn, về nhóm thanh niên trong “Nhà thờ họ” và những kinh nghiệm đau thương thầy nếm trải gần bảy năm dưới chế độ khủng khiếp này. Như Bai-rơn đã viết, con người là quả lắc đu đưa giữa nước mắt và nụ cười. Và cuối cùng, thầy đã tìm lại nụ cười trong khốc liệt. Chính lứa trẻ hai mươi tuổi quê mình đã cứu vớt linh hồn thầy. Xin con đừng nghĩ thầy đang giảng văn, thầy tự thú một hạnh phúc!

Thầy mỉm cười, không dễ có buổi chiều đẹp và yên tĩnh như chiều nay bên bờ con sông mà chỉ khoảng nửa giờ giong buồm, người ta đã ra tới cửa Đại và biển.

- Chứng kiến hàng loạt cái chết rợn người của bạn bè, con người trí thức yếu đuối trong thầy run lên, nó xin được sống dù là sống nhục nhã. Thầy đang tấp vô Phật giáo, khoác cái áo hữu thần đặng an toàn trước làn sóng diệt cộng. Chính nhờ thế, những người cộng sản bạc nhược như thầy đã vô tình làm Phật giáo mạnh lên. Cả chính quyền lẫn Phật giáo đều ý thức được điều đó và họ nghĩ tới việc thủ lợi. Đối với chính quyền Diệm, những kẻ bạc nhược, chối bỏ lý tưởng chiến đấu của mình (dù chỉ là sách lược tạm thời), rất có lợi cho chúng. Chúng sẽ rảnh tay tập trung củng cố thế và lực của chúng. Còn Phật giáo lại mưu toan thành một lực lượng chính trị. Họ không chỉ nhằm mục tiêu hôm nay mà còn chuẩn bị đương đầu với cộng sản sau này. Càng ở sâu trong lòng Phật giáo, thầy càng cảm thấy, mình chỉ là vật hiến sinh cho những kẻ khoác áo tu hành nhưng chứa đầy tham vọng chính trị và chống cộng dưới nhiều hình thức biến tướng khác nhau. Thầy trổ sang lối thoát khác. Lý thuyết hiện sinh hình như có khả năng hội đủ tác dụng: vừa an toàn, vừa không phá vỡ nhân cách của một trí thức đã từng đứng trong hàng ngũ cộng sản như thầy. Dĩ nhiên, đó không phải là thứ hiện sinh người ta gán ghép bừa bãi cho bọn vô luân, đầu bù tóc rối, mặc quần bó chặt lấy ống chân như ống thổi lửa, hoặc bi quan, thất bại, kỳ quặc, viết lách văn chương bí hiểm, khiêu dâm. Mà là thứ hiện sinh đích thực của nhóm “Thời hiện đại”[1] do Xác-tơ-rơ khởi xướng, cho rằng, những người theo chủ nghĩa Mác trong khi nghiên cứu một cách khoa học, chính xác, biện chứng, quy luật phát triển của xã hội, đã bỏ quên thân phận con người. Và Xác-tơ-rơ hy vọng bù lấp khoảng trống đó bằng thuyết hiện sinh của mình với tư cách là nhân loại học, một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác hiện đại. Nhưng nói thật với con, thầy không quan tâm đến những luận cứ của họ, thầy chỉ chăm chú tìm nơi họ một lời biện hộ cho mặc cảm phản bội kháng chiến, phản bội Đảng của mình. Nhưng cũng ở chính điều này, thầy càng băn khoăn hơn. Vấn đề trung thành, phản bội hay chống lại cộng sản ở quê mình, hoàn toàn không có tính cách lý thuyết trừu tượng, mà đã thấm vào máu thịt những con người yêu nước. Những mối liên hệ anh em, gia đình, bạn bè, dân tộc, quá vãng, tương lai tùy thuộc vào mức độ triển khai sâu sắc, nhiệt thành và sáng tạo, cái khả năng cải tạo thế giới của chủ nghĩa ấy. Cũng ở quê mình, lịch sử không còn là kỷ niệm mà là một đòi hỏi, một yêu sách bắt buộc con người tiến lên trong tương lai huy hoàng của dân tộc. Con nên nhớ rằng, thầy cũng như giáo sư Huyễn thuộc lứa trí thức cuối cùng nửa dơi nửa chuột, chao đảo giữa Nho học và Tây học. Vừa có thể ngâm nga nguyên văn chữ Hán thơ Lý Bạch, vừa có thể thuộc lòng bản tiếng Pháp những tác phẩm của La-mác-tin. Như các quan lại trước kia, vài nghìn trí thức (trong đó có thầy và giáo sư Huyễn) được đào tạo trong cái nôi thuộc địa và sống xa dân chúng. Họ là những tiểu tư sản tân học thành thị giữa lúc chín mươi lăm phần trăm dân chúng là nông dân. Họ chết đuối, không có hướng trong lòng đất nước. Họ biết dăm ba tri thức khoa học, lải nhải những khái niệm tự do, dân chủ nhưng tâm hồn trống rỗng, không tin vào tương lai đất nước, lại càng muốn quên đi quá khứ hào hùng của dân tộc này. Họ dễ thỏa hiệp, hèn nhát và ưa hưởng thụ, nhưng lại mong được an toàn. Nhưng các chiến sĩ Mác-xít đã đưa cuộc chiến đấu của nông dân lên thành cao trào cách mạng và mở ra triển vọng hoàn toàn mới mẻ cho đất nước. Và lãnh tụ tối cao của Mác-xít Việt Nam lại là Cụ Hồ Chí Minh, một biểu tượng tuyệt vời của trí tuệ – đạo đức và là hiện thân của lý tưởng, của cách mạng. Những người như thầy và giáo sư Huyễn đã được khai sinh từ mùa thu ấy. Nhưng đến khúc quanh 54-55, lóa mắt vì ánh thép lạnh toát của lưỡi dao máy chém, một lần nữa, thầy mất phương hướng. Lý thuyết Phật giáo mơ hồ bàng bạc, trong khi đó máy chém lại quá gần kề. Kiếc-cơ-ga kêu gào phục hồi Thiên Chúa của Tân ước để tìm lại con người theo hình ảnh của một đức Ki-tô ôn hòa, ban phép lạ chữa bệnh cho kẻ khó. Nhưng ở quê mình, một tên độc tài đeo thánh giá trước ngực lại cam kết với bọn Mỹ và Hồng y giáo chủ Spen-man rằng: Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17. Và, sẽ biến miền Nam thành bang thứ 51 của Mỹ. Rồi những giám mục địa phận Quy Nhơn lại chủ trì lễ kết nạp đảng viên cần lao, những tên đao phủ cỡ Trần Quốc Thái. Nít-sơ bảo rằng, lịch sử là lịch sử của những anh hùng, thiên tài, siêu nhân mang tâm hồn Chúa Ki-tô. Trời đất ơi, Diệm có thể níu lấy đó mà yên tâm phê chuẩn luật 10/59. Nhưng tiếp tục theo đuổi lý tưởng kháng chiến, hành động với tư cách đảng viên cộng sản, một Prô-mê-tê, thì nguy hiểm quá. Con nghĩ coi, trong cái mớ bùng nhùng đó, nếu thầy tự vẫn thì có gì đáng ngạc nhiên không? Giáo sư Huyễn đánh cờ một mình. Còn thầy lại lôi cuốn con cùng núp vào chùa để đỡ cô đơn. Vô hình trung thầy quên mất rằng, Diệm cho lê máy chém khắp mọi nơi để chặt đứt cái đầu này, đốn ngã cái đầu khác. Mỗi cái đầu bị chặt đứt sẽ mọc lên một mối thù với chúng. Nghĩa là chúng giết, nhưng lại biết rằng, mỗi lần giết người, chúng lại chuốc thêm một nguy cơ nổi dậy. Nhưng mỗi cái đầu bị đốn ngã, đầu vẫn còn nằm nguyên trên cổ, mắt vẫn mở, miệng vẫn há ra nhai đồ ăn, mũi vẫn thở, tai vẫn nghe, sẽ đẻ thêm ra một tên phản bội kháng chiến tùy mức độ khác nhau: an phận trùm chăn, cộng tác ra nhận việc, khai báo, viết sách ca tụng chế độ… Trong số những cái đầu bị đốn ngã ấy, có cái đầu của thầy!

Phi quay mặt qua chỗ khác, anh không nỡ nhìn thấy thầy khóc buổi chiều nay. Một bản sám hối đau xót đến tận cùng, xoáy vào vết thương tâm hồn người nói lẫn người nghe.

- Nhưng chính lứa tuổi hai mươi quê mình đã cứu vớt linh hồn thầy. Các con sinh cùng năm với Nam Kỳ khởi nghĩa, các con học hai mươi bốn chữ cái khi những người như thầy lột xác lần thứ nhất để bước vào cuộc kháng chiến. Các con không có mặc cảm nô lệ. Các con lớn lên cùng dân tộc cầm súng. Các con sống giữa thôn xóm những năm tố cộng. Cha anh, bà con, cô bác các con chết ngạt trong bao tời trôi sông, chết cháy trong lửa thiêu, chết mất đầu trên máy chém. Mặt kẻ thù hiện ra rõ mồn một, các con căm hờn – một lòng căm hờn không gợn một chút suy tư biện hộ quanh co, hèn nhát và các con không bao giờ băn khoăn khi lựa chọn. Sống thì phải chiến đấu. Các con không bị giày vò. Lịch sử với các con là cuộc chiến đấu trực diện!

Thầy kêu lên:

- Các con sẽ đi hết cuộc trường kỳ kháng chiến này và các con sẽ thắng. Toàn thắng!

Thầy mỉm cười, hai bàn tay nhăn nheo của thầy chùi những giọt nước mắt đọng lại trên má. Tự nhiên thầy đổi cách xưng hô.

- Thầy nói với các em, vào những năm này, chế độ nhà họ Ngô có vẻ như đại trị. Nhưng chính vẻ bề ngoài đó đang chứa mầm cáo chung. Từ chiêu bài độc lập, tự do và chủ nghĩa chống cộng, Diệm đã đưa cuộc chiến tranh về nông thôn. Chính cuộc chiến tranh hai phía ấy sẽ chôn vùi chế độ này. Trên quê hương Điện Bàn của em, cuộc chiến tranh hai phía đã cho thầy hy vọng sống. Thầy trẻ lại như tuổi hai mươi quê mình! Em còn nhớ Sanh không? Cậu học trò nhút nhát nhất Diên Hồng hồi đó.

- Dạ, nhớ!

- Có một lần, Sanh cùng Hồ Ngọc, cũng hai mươi tuổi, học kém Sanh vài lớp, vào khoảng mười giờ tối, phóng xe máy nhãn hiệu I-si-a từ Đà Nẵng vào tìm thầy. Chắc em chưa rõ chuyện, sau một thời gian buôn bán ở Hội An, cha Sanh đưa cả gia đình ra Đà Nẵng. Không hiểu phép lạ nào biến ông thành một tay cự phú, giám đốc Đại lý vận tải miền Trung. Sanh học đệ nhị Phan Châu Trinh ngoài đó. Em biết Sanh gặp thầy để làm gì không? Sanh kể rằng, Sanh có một cô em họ hiện đang sống ở Hà Thanh (Phi sực nhớ, chị Xuân Hòa cũng ở Hà Thanh). Cô này lại yêu tên Phán, chi trưởng công an – một tên ác ôn khét tiếng. Bao nhiêu lần du kích tại đó muốn diệt hắn mà không được. Hắn khôn ngoan vô cùng, đi lại, ăn ở không theo một quy luật nào cả, đi một đằng, về một nẻo, lúc nào cũng mang hai cây súng, một cây cạc-bin, một cây côn-12 lận trong người mà hắn bắn nhanh ghê gớm. Hắn còn sống ngày nào, dân Hà Thanh còn điêu đứng ngày đó, Sanh không ở tổ chức nào cả, cũng không ai giao nhiệm vụ cho Sanh, nhưng Sanh biết rằng, chính Sanh là người thuận lợi nhất để giết thằng Phán. Vũ khí sẽ do Hồ Ngọc lo. Kế hoạch thật giản dị nhưng chắc ăn. Sanh và Ngọc sẽ về thăm ông chú, cô em gái sẽ mời thằng Phán đến nhậu. Hắn sẽ không cảnh giác hai anh chàng bạch diện thư sinh lại là anh người tình của hắn. Nhưng Sanh chỉ băn khoăn về mặt đạo lý, giết một người sắp làm em rể mình có phải là tội ác không? Sanh hỏi thầy:

- Tất cả chuyện con đã kể hết với thầy, chỉ cần thầy trả lời con một câu thôi: Hành động như vậy có phải là tội ác không? Dù sao hắn cũng sắp làm em rể con. Nhưng kẹt một nỗi, ngoài con ra, không còn ai khác có thể đến gần mà giết được cả. Xin thầy trả lời con, con sẽ hành động theo ý thầy. Đó có phải là tội ác không?

Thầy ngồi chết trân. Lấy lý mà trả lời thì dễ lắm. Giết một kẻ sát nhân để cứu mạng bao nhiêu người vô tội khác, có gì là phạm tội. Nhưng về mặt đạo lý và tình ruột thịt? Thầy ngồi im lặng thật lâu, không biết trả lời sao. Sanh rốt ruột đứng dậy, nhìn thầy:

- Xin lỗi thầy, con đã bắt thầy làm một việc quá sức thầy. Chiều mai con và Hồ Ngọc, học trò đệ tứ của thầy, sẽ giết thằng Phán, vẫn còn dư thời gian cho thầy báo với chính quyền, ngăn chặn một cuộc giết nhân viên của họ. Xin chào thầy!

Rồi Sanh quả quyết bước đi. Thầy suốt đêm thao thức. Tất nhiên triết lý của Rax-côn-nhi-cốp, một nhân vật của Đốt-xtôi-ép-xki không ám ảnh thầy lắm. Nếu tin vào những suy nghiệm thần bí, con người sinh ra được chia làm hai loại. Một loại tầm thường được sinh ra để làm nguyên liệu cho loại siêu việt tạo ra lịch sử. Và những con người siêu việt ấy, hoặc chỉ hơi trên mức trung bình một chút thôi, có thiên mệnh phá hủy hiện tại bằng bất cứ phương cách nào (kể cả tội ác sát nhân), để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Rằng loại người thứ nhất bảo tồn và phát triển thế giới về mặt số lượng, còn loại người thứ hai dẫn dắt thế giới tiến lên. Không, những khắc khoải suy tư về thân phận con người, về sự hiện hữu, về cái phi lý, về những vấn nạn siêu hình khác thực ra không ăn nhập gì đến câu hỏi của Sanh đặt ra cho thầy. Trên quê mình, vấn đề cốt lõi cho mỗi con người là phải vượt thắng cõi chết trong nô lệ, là thống nhất hay vĩnh viễn chia đôi đất nước, là tồn tại một Việt Nam con Rồng cháu Tiên đường hoàng trước mắt thế giới, hay là dân bang thứ 51 của Hoa Kỳ? Các em xuất thân từ nông dân, công ơn của cách mạng đối với gia đình các em cụ thể, trực tiếp, từ mảnh ruộng giành lại từ tay bọn chủ đất, đến quyền sống của con người và ngay những bài học khai tâm cũng bắt đầu từ cách mạng. Các em ý thức được thù và bạn giản dị hơn những người như thầy và đạo lý đối với các em đồng nhất với khả năng hoạt động cách mạng…

Qua mấy bữa, tan giờ học, Ngọc ra sau nhưng ráng vượt lên bắt kịp thầy:

- Thưa thầy, con có chuyện muốn thưa với thầy.

Thầy dừng lại hồi hộp như thể Ngọc sắp truy bài mình. Ngọc giống như em hồi đó, ngó qua biết ngay gốc dân Quảng chay.

- Thưa thầy, Sanh nhờ con báo lại thầy rõ, bữa đó chúng con giết thằng Phán như thế nào.

Thầy cười gượng. Ngay trên đường phố Hội An đầy rẫy mật vụ Diệm và Quốc dân đảng, Ngọc thản nhiên sóng vai thầy, kể lại chuyện tày trời. Chính thầy lại run lên, nhớn nhác ngó quanh.

Thầy ngưng kể lấy thêm hơi:

- Ngọc nói. Tụi con phóng xe I-si-a về Hà Thanh vô thẳng nhà ông chú Sanh. Hên quá, chỉ có mình cô em họ Sanh ở nhà. Sanh biểu cô em họ kêu Phán tới chơi. Hắn rất khoái tán chuyện với những thằng học sinh thành phố, nghe gọi tới ngay. Tụi con thấy hắn đeo một chuỗi hột lạ lùng trên cổ, gồm những hột màu trắng hoặc đen xỉn kết lại, Sanh hỏi:

- Anh có chuỗi hột gì đó?

- Hai anh đoán coi?

Thằng Phán tháo chuỗi hột ra khỏi cổ đưa cho Sanh. Sanh tái mặt. Trời ơi, chuỗi hột gồm toàn những chiếc răng người được đục thủng lỗ, xâu bằng dây bạc.

- Răng cộng sản đó, hai anh thích cứ lấy mà đeo, tôi làm chuỗi khác. Dễ ợt!

Em gái Sanh làm đồ ăn ở sau bếp nên không nghe rõ câu chuyện khủng khiếp này, nếu không, con nhỏ chắc đứng tim luôn. Sanh bảo hắn:

- Anh cho tôi mượn cây súng ra bắn xoài ăn chơi!

Thằng Phán vui vẻ móc cây côn-12 đưa cho Sanh và dặn:

- Tôi lên đạn sẵn rồi đó.

Con hiểu ý, Sanh muốn tước bớt vũ khí của hắn để con đỡ nguy hiểm lúc ra tay vì thằng Phán nổi tiếng bắn nhanh. Cô em họ pha trà, thằng Phán nhõng nhẽo bắt cô ta nhổ tóc ngứa cho hắn. Con mừng quá. Thằng Phán ngồi, đầu ngửa ra thành ghế, khẩu các-bin gác bên người. Sanh trở vào. Con quay ra cửa rồi vòng ra sau lưng thằng Phán. Hắn đang nằm ngửa đầu, nên không thấy con rút súng chĩa vào đầu hắn bóp cò. Hắn giật nẩy người, choàng dậy, Sanh lượm khẩu cạc-bin bồi luôn ba phát vào ngực hắn. Phán ngã vật xuống nhà, máu phun ra um sùm. Con nhỏ định la, Sanh nói:

- Mi la, tau cho theo hắn. Bình tĩnh nghe tau nói đây. Hắn là ác ôn, dân xã ni ai cũng muốn giết hắn. Mi đừng sợ. Người khác nghe tiếng súng nổ chỉ tưởng là tụi lính bắn chim cu. Chừ tau kéo xác hắn ra bờ tre, tấp rạ lên. Mi gánh nước rửa sạch vết máu trên nền nhà. Tau sẽ báo du kích, tối họ rao loa là cách mạng về diệt ác ôn. Còn nếu lộ chuyện ni, không riêng mi, cả chú thím cũng chết, hiểu chưa?

Con nhỏ run lập cập nhưng phải nghe ông anh… Thưa thầy, câu chuyện có vậy thôi. Sanh nhờ con trình lại với thầy điều này: Nhà trường dạy Sanh học chữ, cuộc đời dạy Sanh học làm người. Xin thầy tha thứ cho Sanh!

Thầy đột ngột chấm dứt câu chuyện. Ngồi đò trở về. Hội An đã lên đèn. Thoáng im lặng. Cái kết thúc bản sám hối của thầy quá bất ngờ và nặng trĩu. Chợt Phi hỏi:

- Thầy có biết ông nghè Đăng không ạ?

- Con hỏi nghè Đăng làm gì?

Thầy ngạc nhiên nhìn Phi. Anh từ tốn đáp:

- Dạ, nhân thầy nhắc đến Hà Thanh, con sực hỏi vậy thôi, ông nghè Đăng cũng dân Hà Thanh!

Thầy Lưu thở dài thườn thợt:

- Thằng ác ôn mà Sanh và Ngọc bắn chết, chính là con trai út của nghè Đăng!

Phi giật bắn mình, kêu lên:

- Trời đất…

- Sao, hả con?

- Dạ, không có gì, xin thầy cho con nghe tiếp ạ.

- Thầy còn nhớ, trước năm 40 gì đó, trong lúc Diệm làm thượng thơ Bộ Lại ngoài Huế thì trong Quảng Nam, tổng đốc Ngô Đình Khôi, anh ruột Diệm khét tiếng tàn bạo. Nhưng thực ra bao nhiêu trò tai quái, sách nhiễu của Khôi do một mưu sĩ nham hiểm, độc ác bày vẽ. Đó là nghè Đăng, dân Hà Thanh. Bề ngoài, nghè Đăng hết sức nho nhã, khiêm nhường, nhưng bên trong chứa đầy một bụng xảo trá, mưu mô tàn nhẫn, lại làm sui gia với Khôi để kết thêm vây cánh. Con gái lớn của Đăng lấy con nuôi của Khôi. Bảo Đại về nước nước tin dùng Phạm Quỳnh, thải hồi một lúc sáu vị thượng thư, trong đó có thượng thơ Bộ Lại. Lúc ấy dân có câu ca:

Sáu cụ khi không rớt cái ình

Trong Nam ngoài Bắc thẩy đều kinh…

“Cụ Thượng em” Ngô Đình Diệm thất thế, về ở với “cụ Thượng anh” Ngô Đình Khôi gần cầu Vĩnh Điện. Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền, kết án nghè Đăng tử hình, sau giảm xuống còn hai mươi năm tù…

Nói đến đây thầy bỗng cười khan:

- Đại thể nhà nghè Đăng cũng như nhà thầy, cha đi đàng cha, các con đi đàng các con. Hai con trai nghè Đăng đều thoát ly theo kháng chiến. Một anh hy sinh ở Bình Thuận thời Nam tiến. Một anh hy sinh trong chiến dịch Điện Biên. Còn con rể thứ hai của nghè Đăng thì khét tiếng chống cộng, đại uý Phóng. Con trai út bị giết, giờ nghe nói con gái áp út của nghè Đăng…

Thầy dừng lại húng hắng lo. Phi hồi hộp nhìn thầy không chớp. Đây mới là chuyện anh quan tâm nhất.

- Cô này đoạn tuyệt gia đình ra Huế, tự kiếm kế sinh nhai và học y khoa. Tuy vậy, tiếp xúc với những người trong nhà nghè Đăng thì phải cẩn thận. Hình như Diệm có ý định vời nghè Đăng ra làm việc?

Không còn thằng Sanh nhút nhát, hai tay khoanh trên mặt bàn học thẫn thờ nghe thầy giảng bài nữa. Cũng không còn thằng Sanh mặc áo vá, quần ngắn cũn cỡn, sau mỗi giờ học, hộc tốc chạy ra chợ Hội An giúp mẹ bán cá. Một thằng Sanh khác hẳn, trong một tòa nhà sang trọng và kiên cố, hai ba lần cửa, đèn nê-ông sáng choang, phòng khách quý phái, trong tủ buýp-phê chất đủ các loại ly chén, đồ sứ Nhật Bản, đồ pha-lê Pháp, đồ gốm cổ Trung Hoa. Đủ loại rượu ngoại quốc sắp thành hàng trên quầy gỗ.

Phi bấm chuông điện, có tiếng chó sủa ran phía trong, rồi một chị giúp việc chạy ra đon đả:

- Thưa, cậu muốn gặp ai?

- Dạ, tôi muốn gặp anh Sanh!

- Cậu đợi chút xíu, cậu Hai ra chừ!

Đúng điệu một gia đình hãnh tiến, vậy cái gì xui khiến hắn giết một thằng em rể ác ôn? Một thằng Sanh a-la-mốt[2] từ đầu đến chân! Giày Si-ca-gô mõm nhọn đen, đóng đỉa sắt nghiến ken két trên nền đá hoa. Quần gin chẽn ống, áo sơ mi trắng tinh, cổ tay măng-sét xắn lên hờ hững, thoang thoảng mùi nước hoa Sa-nen.

- Đồ quỷ, bà già tau có hỏi chuyên học hành của mi, mi chớ khai đang học đại học nghe chưa? Bả cứ la tau hoài, chỉ chờ tau học xong tú tài 2 để chạy cho tau qua Ý học kiến trúc sư. Tại Đà Nẵng mà có bằng kiến trúc thì hốt bạc. Mi rảnh không?

Thật khó mường tượng đây là thằng Sanh của sáu, bảy năm trước.

- Nè, qua Ý làm chi, ra Huế học với tụi tau cho vui!

Sanh cười vỗ vai Phi:

- Thôi, hạ hồi phân giải, suất ba giờ chiều chiếu phim Pháp “Em có yêu Brams không?” tại xi-nê Độc Lập, Ê-đen hồi Pháp đó. Sau đó vô tiệm kem Diệp Hải Dung, cũng ngay đó. A, thằng mô chưa đặt chân vô Diệp Hải Dung chưa đáng mặt dân chơi Đà Nẵng!

Phi lẳng lặng leo lên yên sau chiếc xe Prô-muya. Sanh rú ga, phóng ào ào trên đường phố. Chợt Sanh quay lại hỏi:

- Coi bộ vó tau ni, có thằng mô dám nghi tau hoạt động không?

Phi mỉm cười. Ngay cả khi màn ảnh hiện ra chữ hết, khán giả lục đục xô ghế đứng dậy, Phi vẫn cố tìm hiểu bạn mình. Sanh thọc hai tay vào túi quần, đầu nghênh nghênh, dẫn Phi vào tiệm kem Diệp Hải Dung, có lẽ đây là nhà hàng ca nhạc đầu tiên theo lối phương Tây, có mặt tại thành phố này.

Đủ loại khách, từ sĩ quan đến dân chơi và con cái các gia đình giàu có. Sanh ung dung, tự tin lượn quanh mấy dãy bàn tìm ghế trống. Chắc nó thường lui tới đây?

Lựa được chỗ ưng ý, Sanh hất hàm bảo Phi:

- Việc ai nấy lo nghe, mi thấy chi cũng đừng ngạc nhiên. Luật lệ của Diệp Hải Dung là như vậy, thằng nào đánh lộn, thanh toán nhau vì tình thì cứ tự nhiên, còn người khác vẫn tỉnh queo. Muốn nói chuyện lật đổ chính quyền cũng được, tụi công an không hơi mô bám riết đám người rửng mỡ đốt bạc trong tiệm này! Mi xài chi, bia, cốc-tay hay kem?

Máy quay đĩa đang phát bài “Cầu sông Quai”, một bản nhạc đang thịnh hành trong giới mộ điệu trẻ. Ồn ào và phù phiếm. Phi khó chịu ngó quanh.

- Tau biết mi đang nhìn tau bằng con mắt dò xét. Thằng Sanh – Diên Hồng chết rồi, mi đang đối diện với một thằng Sanh khác, dữ dằn và đủ sức làm bất cứ việc gì nó muốn. Cũng ngay tại chỗ ni, tau đã mai táng thằng Sanh – Diên Hồng.

Sanh nói, môi nở nụ cười khinh bạc:

- Ông già tau làm giàu, lúc đầu tau khinh ổng. Nhưng lần đầu tiên theo tụi bạn con nhà giàu vô đây, tau hiểu, có tiền là có tất cả, từ li kem ngon nhất đến nụ cười tươi nhất của mấy nàng xẹc-via. Rồi, bữa sau tau vô một mình. Ông già tau cho tiền xài thả giàn để bù cho quãng đời chó chết ở Hội An. Tau nhìn thấy một thằng biệt kích dị hợm hết mức. Mỗi gò má ba vết rạch. Một bên tai đeo vòng đồng to tướng, cổ đeo một vòng dây tai người phơi khô. Tau cười, nó bước đến bên tau, xáng một bạt tai và chửi: Đù má, mày cười cái gì? Đau điếng và nhục, tao muốn kiếm lỗ nẻ chui xuống đất. Nó chưa tha, đổ li kem xuống nền nhà, ra lệnh:

- Đồ chó đẻ, mầy phải liếm sạch bãi kem kia!

Dao găm gí một bên hông tau, nó lạnh lùng chờ đợi. Khách khứa xúm quanh tau cười khoái trá. Tau ngoan ngoãn cúi xuống liếm như một con chó và thằng Sanh – Diên Hồng đã chết ngay lúc đó. Tau thành thằng Sanh khác, thằng Sanh này giác ngộ một điều: Tiền và sức mạnh, chỉ có hai thứ đó làm cho con người trở thành con người. Tau giết thằng em rể khốn kiếp của tau cũng vì hai lí do: tau muốn thử gân ngay chính mình và thử gân thế hệ cha anh. Nói tóm lại, thế hệ cha anh chúng ta đã chết, chết như thằng Sanh – Diên Hồng. Mi lo sẵn là vừa, gánh nặng chuyển sang thế hệ hai mươi rồi. Lịch sử sẽ làm chứng cho tau. Tau không tin có Chúa, nhưng tau tin có một sự khải thị đang lên tiếng và thò tay xuống lái cuộc đời tau!

Thầy Lưu đã nhận lầm Sanh! Phi nghĩ bụng. Thêm nhiều tốp khách bước vào, toàn thanh niên ăn mặc lối như Sanh, mặt mũi nhâng nháo. Tiếng cãi lộn và tiếng vỏ chai bia quật xuống sàn nhà nổ đôm đốp. Sanh trầm ngâm:

- Mi ngó xéo qua bên, cái bàn sát cửa sổ kia. Đó, hai người đó…

Một người đàn ông khoảng năm mươi, chải chuốt, nhưng không giấu nổi sự mệt mỏi trên khuôn mặt của kẻ quen sống về đêm. Cạnh ông, một cô gái khá xinh, chừng mười tám. Có lẽ hai cha con?

- Mi không nhận ra ai phải không?

Phi lắc đầu, Sanh cười khinh miệt:

- Sáu Lung, cựu quận trưởng Điện Bàn, kẻ đã kí lệnh phóng thích mi, hiện đang làm trưởng ty quan thuế Đà Nẵng, nổi tiếng cờ bạc và bồ bịch, thường ngồi ngay giữa sòng bạc mà kí công văn, giấy tờ do thuộc cấp đem tới. Cũng một lối chết. Còn thầy Lưu của mi thì chết bằng cách giả làm một con rùa!

Tiếng cười ngạo nghễ và khinh mạn của Sanh trong tiệm kem Diệp Hải Dung, ám ảnh Phi suốt quãng ngồi xe đò quay ra Huế.

Xuân Trọng ngồi ngay sau lưng anh trên xe đò, vỗ vai Phi kêu:

- Phi, mi quên tau rồi hả?

Ngơ ngác một lúc mới nhớ ra thằng bạn học cùng lớp kháng chiến ở Duy Mỹ, Phi vui vẻ:

- Trọng ra Huế làm chi?

- Ra thăm một cô bạn học văn khoa Huế.

Trọng cười hề hề:

- Nhờ vậy tình cờ tau biết chuyện mi về phe giáo sư Huyễn chống lại nhóm “Nhà thờ họ”. Mi biết tụi nó đặt cho mi cái mĩ danh gì không?

Phi nghệt mặt nghe Trọng kể:

- Tụi nó giễu tau, Quảng Nam gởi ra Huế hai tên khùng, một là bà Xuân Hòa chuyên mặc áo dài trắng vá mụn xanh và một tên tu sĩ thuộc dòng tu cù lần, ngang nhiên đi dép Bình Trị Thiên khói lửa giữa Huế!

- Nghĩa là mi cũng ở trong nhóm tụi nó?

Phi nhếch mép cười, hỏi lại. Trọng chua kịp nhận ra thái độ khó chịu của Phi, vẫn hồ hởi kể tiếp:

- Cô bạn gái tau nhận xét, tụi nó có tâm huyết nhưng đang bế tắc…

- Tốt nhất mi nói về bà Hòa khùng còn hơn!

- Thằng Phán, em trai bả, ác ôn khét tiếng mới bị du kích nằm vùng khử rồi!

Phi rùng mình nhớ lại chuyện Sanh thử gân.

- Còn bả vốn là cựu học sinh Lê Khiết, giờ đang học ngoài Huế…

Một chi tiết quan trọng, cần tìm các bạn học cũ của chị Hòa ở Lê Khiết để hỏi thêm về chị.

Chia tay tại bến xe An Cựu, Trọng nằn nì:

- Có dịp để tau giới thiệu mi làm quen với cô bạn “dân mệ” của tau, nàng sẽ khai sáng cho mi bớt quê đi.

Phi ậm ờ qua chuyện.

Giận thầy bỏ về Đà Nẵng ba ngày, Ngọc Trà mắt đỏ hoe, mở cổng cho anh. Phi làm lành:

- Ngày xưa thần dân xứ Quảng phải kiếm trái Nam Trân – loòng boong tiến vua, bữa nay anh “cống” loòng boong cho Trà, chịu không?

Trà vẫn giữ vẻ mặt lành lạnh. Phi nói thêm:

- Ngọc Trà không nhận cống phẩm thì anh nộp cho “Nhà thờ họ”!

Trà nhoẻn miệng cười, hết hờn.

- Ba em trông anh từng ngày. Hình như ba có chuyện quan trọng muốn nói với anh.

Giáo sư Huyễn đang ngồi đọc sách ngoài vườn. Thấy Phi, ông không giấu được mừng rỡ. Ngọc Trà biết ý, lên nhà chế trà.

- Hai đêm nay bác nằm mơ gặp toàn bạn cũ, vừa mừng vừa sợ. Giáo sư Lưu có nhắc gì đến bác và anh em Huế không?

Phi kể lại tường tận những gì thầy Lưu tâm sự với anh bên bờ sông Cẩm Nam. Ông nghe, thỉnh thoảng thở dài. Phi chỉ giấu ông chuyện Sanh với Hồ Ngọc. Ông buồn buồn:

- Giáo sư Lưu đã nói giùm bác rồi, nhưng…

Ông đột ngột nín lặng.

- Thưa bác, bác có biết có học sinh Lê Khiết nào về Huế học đại học không ạ?

- Có cậu Lữ, con trai một ông bạn của bác.

Ông đưa hai tay ôm ngực, mặt nhăn lại.

- Cháu kêu Ngọc Trà giùm bác. Bác thấy hơi khó thở.

Lần đầu tiên kể từ ngày về dạy kèm Trà, Phi không thấy giáo sư Huyễn ra vườn đọc sách vào những buổi chiều đẹp trời.

Ông ngồi trong phòng, trên chiếc ghế dựa ngó ra vườn. Ông cũng không cho gọi bác sĩ:

- Bọn lang băm làm sao chữa nổi bệnh của bác!

Ông hết ca cẩm, như có ai thọc tay vào ngực bác bóp nghẹt tim, lại mỉm cười thiểu não. Căn phòng hơi tối, gương mặt ông trắng bệch khiến Phi rùng mình.

- Dù sao bác cũng sẽ đưa Phi đến gặp ông bạn bác, cháu hãy làm quen với Lữ. Bác biết Lữ, Lữ không như hai thằng con bất hiếu của bác.

Ngọc Trà đã báo cho hai anh biết tình trạng nguy ngập của cha. Anh em Ngọc Phương vội đến thăm. Nghe tiếng bước chân của hai cậu con trai đang đến gần, ông cau có bảo Phi:

- Đừng cho hai thằng nớ đặt chân vô đây. Tôi không muốn nhìn thấy mặt chúng.

Phi đành bước ra thềm. Lần đầu tiên, Phi chính thức giáp mặt anh em Ngọc Phương. Tóc họ đều để dài chấm vai. Phi không nỡ nhắc nguyên văn mệnh lệnh của cha họ, nói trống không:

- Bác vừa ngủ sau một liều thuốc an thần!

Ngọc Cương sa sầm nét mặt:

- Nói láo, tôi vừa thoáng thấy cha tôi ngồi bên cửa sổ. Nếu ổng không muốn gặp mặt chúng tôi thì… cứ biểu thẳng!

Phi im lặng. Ngọc Phương thở dài bảo em:

- Thôi, để khi khác cha tỉnh táo hơn!

Rồi cả hai lủi thủi trở về phần đất dành cho mình, phía bên kia…

Anh quay lại chỗ giáo sư Huyễn.

- Ngồi xuống đây, Phi. – Giọng ông yếu hẳn. – Sớm mai bác đưa cháu tới nhà Lữ!

- Cháu sợ tình trạng sức khỏe của bác…?

- Không, bác hiểu bác hơn cháu. Nằm hoài trong này ngột ngạt lắm. Bác muốn đi thăm một lượt các bạn bè của mình, trước khi quá trễ. Chỉ tiếc, có một nơi rất gần, nhưng bác lại không thể đến được…

Ngọc Trà vừa bưng chén thuốc bắc lên, nghe cha nói, run run đặt tô thuốc lên bàn:

- Ba, con van ba, ba đừng bỏ con!

Giáo sư vuốt mái tóc của con gái đang gục xuống vai mình nức nở:

- Ai không một lần chết hả con? Nhưng riêng ba của con chết hai lần.

Sáng chủ nhật, ông bảo con gái lấy cho ông bộ đồ vét. Ngọc Trà vừa khóc vừa giúp ba cô sửa soạn cho cuộc đi chơi. Mấy lần ông xây xẩm mặt mày, phải vịn vào vai con. Ngọc Trà van vỉ:

- Hay để bữa khác ba hãy đến thăm bác Lân?

- Việc hôm nay chớ để đến ngày mai!

Ông mỉm cười, nhắc lại cái câu quen thuộc trong giáo khoa thư từ thời ông còn học lớp đồng ấu.

- Phi kêu xích-lô chưa?

- Dạ, họ đang đợi ngoài cổng.

Phi tránh nhìn ông, anh linh cảm có một điều gì đó không lành sẽ xảy ra sáng nay.

- Cổng nào?

Ông nheo mắt hỏi.

- Dạ, cổng…

Phi luống cuống chưa kịp hiểu hết ý ông, nhà chỉ có một cổng!

- Không, biểu họ quàng lối sau. Bữa nay ta thử đi qua lối mà bọn vô luân vẫn thậm thụt ra vô ngồi nhà này.

Dường như ông muốn tự giày xéo thêm nữa trái tim bệnh hoạn, yếu đuối của mình, bằng cuộc diễu hành chậm chạp, ê chề ngang qua mặt ngôi “Nhà thờ họ”.

Phi thương xót đi bên ông. Ngọc Trà ngồi lại trong phòng ăn với mẹ, nhìn theo lo âu.

Trước khi phát hiện ra việc giáo sư Huyễn đi sang “lãnh thổ” của mình, nhóm thanh niên trong “Nhà thờ họ” đang ồn ào tranh luận.

Bỗng nhiên, một không khí chết lặng bao trùm lên tất cả. Họ cố thu nhỏ người lại, ẩn sau những bức vách để khỏi bị ánh mắt ông rọi tới. Anh em Ngọc Phương tái mặt.

Nhưng giáo sư Huyễn chỉ đi lướt qua họ, rất lạnh lùng như không thèm bận tâm mảy may.

Lạ thật, nhà mấy người kháng chiến cũ về sống với quốc gia sao giống nhau đến thế? Nhỏ bé và khiêm nhường, nép vào một góc phố, như muốn lẫn đi để không ai thấy mình. Một khoảng vườn nhỏ trồng cây kiểng, còn đồ đạc trong nhà thưa thớt giản dị như mấy nhà thầy đồ ngày xưa.

Ông Lân đang đánh cờ tướng với một người bạn ngoài vườn. Thấy ông Huyễn, ông Lân vội xin lỗi bạn, xóa ngang ván cờ dở dang.

Ba người ngồi uống trà ướp lài ngoài vườn, nói chuyện thời tiết và các loại hoa.

Ông Huyễn hỏi:

- Lữ mô?

Một thanh niên khỏe mạnh, rắn chắc, miệng cười hiền lành thật dễ thương, dễ tin, nói đặc giọng Quảng, từ trong bước ra. Phi đoán, chắc Lữ lớn tuổi hơn mình?

Ông Huyễn giới thiệu hai người với nhau. Lữ rủ ngay:

- Vô đây ông, chỗ tụi mình ở trỏng!

Anh theo vào nhà, Lữ vẻ băn khoăn:

- Kẹt có chuyện thằng bạn nhờ, tôi phải đi bây giờ. Chú Huyễn nói chuyện ông hoài, tôi trông gặp ông lắm. Xế chiều mai, gặp nhau ở quán cà-phê cô Dung nghe? Trong thành nội, bàn kê dưới gốc vú sữa, thơ mộng lại kín đáo, mặc sức đấu láo!

Ra Huế đến giờ, lần đầu tiên Phi tới cà-phê Dung – nơi hẹn hò của sinh viên. Vú sữa sum suê, hai lần yên tĩnh giữa một xứ yên tĩnh. Thành nội bao ngoài kia, bóng cây che khuất từng mặt người. Cô Dung, chủ tiệm khéo giữ khách. Cà-phê pha kỹ, có hương vị riêng, say say nồng nàn. Hình như trong mỗi ly cà-phê, cô chủ cho thêm vài giọt rượu.

Đang nói chuyện, Lữ tự nhiên bần thần:

- Quê mình có con sông Bồ dễ thương lạ lùng, bên này Thanh Lương, Thanh Trà, bên kia là Phù Lai – Quảng Điền, quê ngoại của thi sĩ Tố Hữu đó! Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão. Mình ri, chỉ ngồi nhâm nhi cà-phê. Gió bão mô đến lượt mình mà quay cuồng!

Lữ chuyển sang giọng Huế. Phi dịu giọng:

- Anh Lữ có nhớ kỷ niệm Lê Khiết không?

Lữ mím môi, nụ cười tắt ngay:

- Pháp ném bom trúng trường, chết bao nhiêu học sinh. Thầy trò vẫn bu cứng đó, chôn những người chết, lại dựng trường, tiếp tục dạy và học. Răng hình ảnh nớ đẹp rứa, ông?

- Bây giờ ta làm kỉ niệm Lê Khiết sống lại đi.

Phi gạt li cà-phê sang bên, dường như anh không muốn để bất cứ thứ gì ngăn trở, vướng víu giữa anh và Lữ, dù chỉ là một chiếc li sứ. Lữ hơi rướn người lên:

- Cách mô?

- Như kinh thánh, linh điểu chết trong lửa, hồi sinh từ tro tàn!

Giáng La chẳng từ tro lửa đứng dậy đó sao? Liệng mảnh sành khỏi cứa dương vật tự sát và cầm lấy súng như Ba Đoát!

- Nghĩa là răng?

Lữ không chớp mắt, hỏi.

- Tiếp tục làm cách mạng!

Lữ sững sờ, tì mạnh tay xuống khiến cái bàn xô đi, nắp phin cà-phê bằng nhôm rơi xuống đất, kêu lên một tiếng khô khan.

- Đúng là niềm vui lớn, nhưng… cách mạng còn ai? Bao lăm người hỉ?

Lữ cố ghìm cơn sôi nổi lại. Phi tính nhẩm trong bụng.

Đông biết mấy. Bao người từng học, từng dạy Lê Khiết còn sống. Bao nhiêu thân nhân những người chết ở chợ Được, Vĩnh Trinh! Bao nhiêu người không chịu quy hàng sám hối trước hàng nến trắng! Bao nhiêu Ba Đoát, bao nhiêu chị Hai, anh Tám, ông Vinh, bao nhiêu thầy Lưu, thầy Huyễn, bao nhiêu Thanh Trà, Phù Lai, Giáng La, bao nhiêu sông Bồ, Bình Phước!

Mắt Phi rừng rực, vắn tắt:

- Liên lạc được với đàng mình rồi!

- Cho tôi gặp ngay đàng mình đi!

Lữ hăm hở.

- Sẽ gặp, nhưng bây giờ phải lo xây dựng lực lượng đã. Anh Lữ ơi, hồi Lê Khiết, biết chị Xuân Hòa không?

- Biết!

Lữ đáp chắc nịch.

- Tốt không?

- Très bien![3]

Lữ hào hứng, vung tay bật lên tiếng Pháp.

- Được đó, chị Hòa đang học y khoa, dạy kèm ở nhà một tay thầu khoán trên đường đi Nam Giao, gần chùa Từ Đàm. Tôi đưa ông lên gặp nghe?

Đêm ấy, Phi nghe bản tin chót trong ngày, đài Sài Gòn, mới hay, đại tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh hụt, trốn qua Căm-bốt xin tị nạn. Có cớ để nói chuyện với chị Hòa rồi.

Đêm sau, Phi gọi cổng nhà ông thầu khoán, nơi chị Hòa dạy kèm cho mấy đứa con gia chủ. Xuân Hòa ra mở cổng. Mới gặp lần đầu, nhưng chị rất tự nhiên, khác hẳn những cô gái nhõng nhẽo, điệu đàng khác. Lữ đã cho chị biết trước về cuộc viếng thăm này, bây giờ gặp nhau, nghe Phi kể lể gốc gác quê quán, chị Hòa reo lên:

- Trời đất, tụi mình chỉ cách nhau con sông Bình Phước chớ mấy!

- Chị có hay về thăm quê không?

- Ớn lắm, ngó mặt thằng khu trưởng Thanh Quýt phải ráng mới khỏi phun nước miếng.

- Nhà chị có thế, ớn chi tụi nớ?

- Thế chi thì thế, hễ biết mình có bụng khác, tụi nó vẫn trị mình trắng máu!

- Thi đảo chánh hụt, chị nghĩ sao?

- Thi rủi, không thì chết mẹ Diệm rồi. Xin lỗi, tôi hơi lỗ mãng.

- Tôi có chuyện quan trọng muốn nói với chị.

- Chuyện chi?

Chị Hòa nhìn Phi chằm chằm, vẻ chờ đợi.

- Nôn chi. Hẹn chị lần sau.

Phi nghĩ, để bả đoán già đoán non càng hay. Rồi tạm biệt.

Anh trở về nhà ông Huyễn, thấy Lữ đang ngồi tán chuyện với Ngọc Trà. Ngó Lữ nhấp nhổm. Ngọc Trà đoán, chắc anh Lữ có chuyện muốn nói riêng với anh Phi. Cô vui vẻ đứng dậy:

- Hai anh nói chuyện tự nhiên, em đi chế trà!

Trà vừa đi khỏi, Lữ nhịn hết nổi:

- Tôi móc nối được Nguyễn Đức, sinh viên MPG[4]. Ông gặp cho Đức tin tưởng!

Phi ngẫm nghĩ một lúc, rồi hẹn thời điểm gặp Đức. Cô bé bưng ra hai li trà mời khách, thích thú nghe hai người nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.

“Con nhỏ ni hám chuyện hạ lùng…”

Lữ cười, khỏ nhẹ ngón tay lên trán Trà.

Hai ngày sau, Phi tới quán cà-phê Đập Đá. Đức sốt sắng hỏi liền:

- Tổ chức của chúng ta có mấy người?

Phi nghiêm mặt:

- Cách mạng miền Nam, ai làm nấy biết. Tôi có kể hết danh sách tổ chức cho anh, anh cũng không nhớ nổi.

Thấy Đức tiu nghỉu, Phi cố nén cười nói thêm:

- Từ từ rồi biết, nôn nóng chi mau già?

Gặp lại chị Xuân Hòa, Phi vắn vỏi:

- Làm cách mạng, chị thấy răng?

- Sẵn sàng, bắt đầu từ mô?

- Chị biết Nguyễn Minh chớ?

- Biết, dân Điện Bàn, vừa đỗ cử nhân khoa học. Con nhà giàu, đẹp trai học giỏi, dư sức kiếm vợ hoa khôi!

- Bắt đầu từ Minh được không?

- Được, nhưng yêu cầu gì ở Minh?

- Nói Minh ra trường đừng đi dạy vội. Ghi tên học tiếp y khoa, bỏ được năm dự bị. Nhà Minh giàu, học tiếp có lý, không ai dị nghị.

- Như vậy có lợi chi?

- Bu cứng lấy sinh viên Huế, gây dựng phong trào. Lực lượng mình quá mỏng.

Chị Hòa tìm Minh nói chuyện. Không hiểu chị thuyết phục thế nào, Minh hứng chí phác họa ra cả một chương trình vĩ đại:

- Được, mình sẽ ghi danh Y khoa. Nhưng các bạn phải để yên cho mình học thiệt giỏi. Ra đốc-tơ, mình sẽ vô vùng Giải phóng, rồi từ đó đi khắp nước, tuyên truyền cho chính nghĩa cách mạng Việt Nam. Mình có mác đốc-tơ lại trung lập, ăn nói thế giới dễ nghe hơn mấy ông cách mạng cù lần.

Xuân Hòa thuật lại tỉ mỉ cuộc đối thoại với Minh, kèm nhận xét: Tay này thông minh nhưng bốc đồng lắm lận! Liệu cách mà thắng cương Xích Thố!

Hẹn gặp Minh tại cà-phê Dung. Đang trò chuyện, có bàn tay nặng trịch đặt lên vai, Phi quay ngoắt lại. Trời đất, Nguyễn, thằng bạn học cũ trường kháng chiến Duy Mỹ cùng Xuân Trọng. Hồi thầy trò đấu tranh bảo vệ trường, lính tây lên đàn áp, hai thằng chạy thí xác, rúc vô đám lá hôi.

Nguyễn to con, nặng trên bảy chục ký, cao hơn mét bảy mươi lăm. Phi ngó ông bạn của mình mà ngán, cha này võ sĩ ju-đô là cái chắc. Kêu thêm một ly cà-phê, ba thằng tranh nhau nói và nói…

Nguyễn nhắc lại, sau vụ đó Nguyễn về Vĩnh Điện. Ông già Nguyễn thạo nghề máy, bao thầu đặt máy bơm nước cho Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, mỗi vụ thu hàng trăm tấn lúa. Giàu mau quá, Nguyễn tiếp tục học lên. Giờ ra Huế học cao đẳng sư phạm, sang năm ra trường.

Phi hỏi:

- Ra trường mi tính về mô dạy?

- Hội An! Tau sẽ xoay một chiếc xe máy, dạy xong vù. Về Đà Nẵng hay Vĩnh Điện! Nè, mi cần chi ở trỏng, cứ vô hỏi ông già tau, Tám Đàn ai cũng biết!

Lối nói chuyện loảng xoảng của Nguyễn khiến Minh ít ưa. Anh chàng này làm giáo sư, học trò có đứa chết, bàn tay hộ pháp kia xáng một cái đủ bể hàm!

Nguyễn rủ hai bạn đi ăn tiệm. Được một bữa khoái khẩu, phởn lên, Minh đề nghị đặt tên cho tổ chức cách mạng trẻ Huế bằng cái tên theo kiểu “Đảng báo đen”, hay “Tháng Chín đen tối” của những người Pa-lex-tin.

Chia tay, Phi đạp xe về nhà ông Huyễn thơ thới. Gió sông Hương bữa nay có vẻ bay mau hơn mọi khi. Chưa kịp rẽ ngoặt qua ngã tư, một gã đằng trước kêu lên:

- Phi, cố nội mi làm cực tau!

Dừng lại, châu đầu xe vào nhau, ngồi trên yên ngó sửng. Y chóc Tuấn Anh. Chính mình mượn địa chỉ hắn để đăng trong mục “sinh viên tìm việc”.

- Tau đang ngồi trong nhà, bỗng nhiên có người lái xe Huê Kỳ đến rước tau. Tau ngạc nhiên, hỏi đi hỏi lại, thiệt đúng tau không? Lão sốp-phơ giở cả tờ Công dân, chìa cho tau coi. Sinh viên có tú tài toán, nhận dạy kèm từ đệ thất tới đệ tứ, cơm đủ ăn. Địa chỉ: hỏi Tuấn Anh, 180 Phan Bội Châu. Tau đoán ngay ra mi, vì tau biết mi ra Huế học. Tau đành đi phứa, giữ uy tín cho mi. Thôi, đi với tau!

Tuấn Anh dẫn Phi qua bên Gia Hội. Hai đứa đứng lại trước một vi-la sang trọng và kín đáo. Đợi người ra mở cổng, Tuấn Anh bảo:

- Mi hên quá trời, đích thân giám đốc công an Trung nguyên Trung phần mời mi tới dạy kèm cho con ổng. Nhà có hai đứa nhóc, con Phương Nhi, đệ nhị, Lê Khắc Tín, đệ tam. Bà vợ ổng, Phật tử cuồng tín dễ sợ!

Nổi cả da gà. Đương nguyên đương lành rúc vô nhà giám đốc công an của Diệm. Thối lui đều dở, đành chịu trận, liệu bài sau vậy. Một người đàn bà phúc hậu ra đón. Tuấn Anh giẫm nhẹ lên chân bạn. Phi hiểu. Đó chính là “giám đốc công an phu nhân”.

“Lệnh bà” ăn vận khá giản dị. Khắp nơi trong nhà nghi ngút hương khói. Trên kệ toàn kinh sách Phật giáo, từ Lăng Nghiêm tới Pháp Hoa.

Nếu tính chuyện tới lui đây, phải ráng mà nhai số kinh kệ dày cộm kia. Bà chủ kín đáo quan sát hai thanh niên. Khi biết rõ nội vụ, bà chủ thấy vui. Cậu sau nghèo, nhưng có vẻ chất phác hơn cậu trước. Chính ông Dự cũng thất vọng, không muốn để cậu Tuấn Anh dạy lũ trẻ. Cậu ta hơi lông bông. Nghĩ, nhưng bà chủ vẫn mỉm cười, đon đả mời hai chàng uống trà.

Phi thấy bà chủ dễ mến, không biết tâm địa ra sao, nhưng có vẻ sùng Phật thứ thiệt. Bà chủ nói:

- Như cậu Tuấn Anh biết đó, mỗi tháng chúng tôi xin gởi thầy một ngàn.

Phi sửng sốt, công dạy kèm quá cao!

- Và xin mời thầy nghỉ tại phòng riêng và dùng cơm rau dưa với gia đình.

Một anh gia sư kiết xác không dám mong một chỗ dạy lý tưởng hơn, nhất là với Phi. Anh đang cần một vỏ bọc thật kín đáo. Phải cân nhắc lợi hại trước đã. Anh lễ phép đứng dậy chào bà chủ, ra về. Tuấn Anh bấm Phi, có ý bảo nhận ngay đi, rủi mai mốt người ta đổi ý thì tiếc hùi hụi!

Bà chủ tiễn hai người ra tận ngõ, nhắc đi nhắc lại, cậu đừng ngại, gia đình tôi sống theo tinh thần Phật giáo, từ bi hỉ xả!

Tới ngoài đường, Tuấn Anh thành thật chúc mừng.

- Tau mừng cho mi, chuột sa chĩnh gạo. Khéo tán lệnh ái của ngài giám đốc công an, gởi rể luôn, đời mi lên hương cái một, tương lai xán lạn lắm.

Phi cười, làm rể hay làm nạn nhân của giám đốc công an? Chia tay Tuấn Anh, đến thẳng nhà Lữ.

Lữ chăm chú lắng nghe, không hỏi hay ngắt lời. Ra trước một giờ cũng là anh, huống chi Lữ hơn Phi bốn tuổi. Nghe xong, Lữ chậm rãi khuyên:

- Rứa mà hay. Ông vô đó tụi cẩm ít nghi ngờ. Tôi nghe ba tôi kể chuyện me-xừ giám đốc công an ni. Cựu đại đội trưởng Vệ quốc đoàn, sau đó chuyển sang phụ trách công tác bình dân học vụ. Rất có thể Cẩn dùng ông như con dao hai lưỡi, vừa mị dân vừa thọc sâu vô hàng ngũ kháng chiến cũ. Ông cứ bắt đầu gây thiện cảm từ bà vợ và hai đứa con, rài rài tiếp cận me-xừ Dự sau!

Nguyên tắc thế là xong, còn trở ngại cuối cùng, chuyện quyến luyến giữa anh và gia đình giáo sư Huyễn. Dĩ nhiên, không thể nói thật với giáo sư Huyễn về ý định xây dựng một cái “vỏ kén”, nhưng biết giải thích thế nào để ông Huyễn và Ngọc Trà thông cảm?

Suốt chiều tới bữa ăn tối, Phi cứ loanh quanh nói gần nói xa. Ngọc Trà cảm nhận được ở Phi một nỗi day dứt nào đó khó nói. Hồi này, sức khỏe giáo sư Huyễn đỡ hơn, ông đã có thể trở lại chiếc ghế ngoài vườn vào những chiều tạnh mưa, đọc sách hoặc đánh cờ với Phi.

Cuối cùng, anh quyết định nói thật với ông. Giáo sư chỉ ngạc nhiên lúc đầu, nhưng khi biết thân chủ mới của Phi là Lê Khắc Dự, mặt ông chợt biến sắc.

Từ đó, mặc Phi thanh minh thanh nga, ông mắt nhắm lại, giọng lạnh lùng:

- Đất lành chim đậu, tùy anh!

Chữ “anh” giáo sư thốt ra làm Phi muốn kêu lên:

- Không, thưa bác, con sẽ không đi mô hết trơn, con ở lại với bác và Ngọc Trà!

Nhưng anh chỉ cắn môi ngồi yên. Anh không ngờ, anh đã tình cờ khơi trúng vết thương trong lòng giáo sư Huyễn.

Ngay cả một chú bé dễ thương như Phi, nàng cũng tước đoạt của ông sau khi đã phản bội, đã giày xéo ê chề tấm tình khốn khổ của ông. Ông bực bội nghĩ thầm.

- Anh cứ thu xếp đồ đạc sang bên đó với thân chủ mới của anh, chúc anh may mắn!

Mặt mũi Phi tê điếng, anh bần thần ngồi trong khu vườn đã bắt đầu nhá nhem.

Có một thời, Phi quen sống với cảnh tiêu điều của Giáng La nghèo khó, bụi tre gai quanh Cồn Mả um tùm, mặt đất trơ trọi, lầy bùn và những thân cây khẳng khiu màu xám sau cơn lụt thường năm tràn qua. Có một thời khác, đại đô thành Sài Gòn đuổi thiên nhiên ra khỏi những khu phố và dấu vết cuối cùng của thiên nhiên chỉ còn lại trong thời tiết, mưa nắng, nóng lạnh…

Phút này, chậm rãi vượt qua cầu Gia Hội bắc ngang sông đào Đông Ba trổ ra Hương Giang, Phi bỗng nảy ra ý định kỳ quặc, tìm thử trên con đường lát đá nằm giữa hai dãy nhà những dấu cũ của một thời còn hoang sơ!

Giáo sư Huyễn có lần kể, vào đầu thế kỷ này, voi và nhiều loài thú rừng xanh còn về quẩn quanh vùng chùa Từ Đàm bây giờ. Nhưng chắc gì, dãy phố hẹp cổ kính và im lìm kìa còn lưu lại trong lòng nó những dấu xe ngựa cũ? Vốn là người cân đối giữa lý tính và trực giác, Phi không sùng bái thiên nhiên đến mê mẩn như Ngọc Phương.

Anh nghĩ. Trong khi những kẻ viễn mơ Sài Gòn ưa thích sự cuồng nhiệt, đại cảnh núi lửa phun sau dấu chân ngựa của những chàng cao bồi đi tìm vàng ở miền Tây nước Mỹ, thì những kẻ viễn mơ Huế chìm đắm trong giấc mộng hoa trái, vườn tược và chùa chiền. Họ, dân cư của một đô thị bị dòng sông Hương gây mê, hy vọng rằng, duy nhất nơi họ, thiên nhiên có thể che chở và giữ gìn an toàn cho những đứa con chạy trốn thời cuộc.

Chính định kiến này sẽ cản trở Phi rất nhiều trong quá trình anh hoạt động ở Huế.

Một thiên nhiên được tỉa tót và sắp xếp cố ý theo lớp lang, bài bản giống nhau, trong hầu hết những khu vườn ở đây. Vừa liếc nhìn những khu vườn hai bên dãy phố, Phi càu nhàu nhận xét. Bước qua cái cổng có mái cong lợp ngói, men theo con đường hai bên trồng mai trắng, Phi tiếp tục suy nghĩ.

Bạc nhược và thiếu máu vì ẩn quá lâu dưới những tán lá kia, bỗng nhiên bị Diệm đánh bật ra khỏi nơi cư trú cố hữu đó, họ nháo nhác như ong vỡ tổ. Một phần tấp vào chùa chiền. Một phần trốn ngay vào giữa lòng chế độ như chủ nhân ngôi biệt thự này. Một ngôi biệt thự lúc đầu có lẽ được xây dựng theo tinh thần Phật giáo, với những mái uốn cong. Nhưng những người thừa kế đã tân trang nó, biến nó thành chứng tích cho khả năng thích nghi của lớp người trung gian, chao đảo giữa bao biến cố thăng trầm. Một ngày kia, biết đâu chẳng mọc lên một nhà thờ Thiên Chúa giáo với cây thánh giá nhọn hoắt trên chóp đối diện với am thờ Phật nhỏ nhắn ẩn hiện trong góc vườn. Và thay vì suy tưởng trong thiên nhiên, những người trong ngôi nhà này sẽ bí mật học thuộc Tân ước?

Anh ném một cái nhìn qua quýt thì sao có thể thấu đáo được sự quy củ của bao nhiêu loại hoa chen chúc trong khu vườn.

Nếu là Ngọc Phương, chàng sẽ giải nghĩa đến ngọn ngành mê cung thực vật ấy… Cũng chính Ngọc Phương, đứa con của Huế, cũng phải chờ ba mươi năm sau, nhờ một nhà văn cắt nghĩa, mới thấm thía được thiên nhiên Huế đã đóng vai trò như thế nào trong cuộc đời mình, quê hương mình.

Xét vậy, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được thái độ không công bằng của Phi khi bước vào lối mòn rải sỏi, đột ngột giữa khoảng âm u của lá, một khoảng trống lộ ra, những cây cọ châu Phi cao vút mọc thành vòng tròn làm rào chắn tự nhiên, nơi người ta bày bộ bàn ghế mây dành cho gia đình ngồi quây quần uống trà, thưởng ngoạn trăng hoa.

Thỉnh thoảng ông Dự mới có mặt trong bữa cơm gia đình. Ông đi sớm về muộn thất thường và cũng không có ai, không một chương trình sinh hoạt nào trong biệt thự bị hủy bỏ hay thay đổi, khi có ông hoặc khi ông vắng mặt.

Giáp mặt ông Dự một vài lần, Phi ngạc nhiên tự hỏi: Quả thật ông ta làm giám đốc công an hay ông chỉ đóng một vai tuồng kéo dài? Ông ăn mặc như một giáo chức an phận, nói năng dè dặt và có dịp quây quần bên vợ con, ông thường im lặng theo dõi câu chuyện không đầu không cuối của họ. Và hầu như, mỗi lần chuyện ngả sang màu chính trị, ông lại bối rối đứng dậy, trở về buồng riêng của mình.

Còn bà Dự, bao giờ cũng thức giấc vào lúc bốn giờ sáng, nghe bằng hết 180 tiếng chuông u minh vọng tới từ chùa Diệu Đế, chờ rạng đông tới. Sau đó, bà ngồi trong am, tụng kinh gõ mõ hàng giờ, vào những ngày ăn chay.

Căn phòng bà Dự sắp xếp cho Phi quay mặt về phía am. Vì vậy, đêm đêm, đứng sát bên khuôn cửa căn phòng, Phi có thể nghe thấy tiếng bước chân sẽ sàng của bà trên lối mòn nhỏ tới am.

Còn phòng học của Phương Nhi và Tín nằm kề phòng riêng của ông bà Dự. Sau vài bữa học hành bình thường, bỗng nhiên Phương Nhi yêu cầu:

- Bữa ni tụi em không muốn học nữa!

- Sao thế?

Phi ngạc nhiên hỏi lại, thoáng lo ngại, hay mình đã thất thố gì?

- Tụi em thấy anh có vẻ bí hiểm thế nào ấy!

Phương Nhi mỉm cười dịu dàng.

- Giá anh kể đời anh cho tụi em nghe!

Phi chưa hiểu ý tứ của đề nghị đột ngột này. Họ nghi ngờ lai lịch của anh chăng, muốn dò xét hay chỉ là sự tò mò của tuổi học sinh?

- Trời đất, nếu Phương Nhi định tìm hiểu đời tôi để viết thuyết thì sẽ thất vọng đó. Chẳng có chi là kỳ bí, toàn chuyện đói chuyện khát!

- Không, – Phương Nhi nghiêm trang lắc đầu, vầng trán nhỏ nhắn mịn màng của cô nhăn lại. – Thiệt tụi em thấy anh có một cái gì đó rất đặc biệt, đôi khi anh cười, nhưng ánh mắt của anh lại buồn rười rượi. Răng anh không chia sẻ cùng tụi em những nỗi buồn riêng tư của anh? Biết mô tụi em có thể giúp anh thanh thoả bớt!

Thở ra, chắc ông Dự không định sai con gái ông dò xét mình. Nhưng lại khó xử, chuyện đời tư của mình nên kể gì, không nên kể gì cho họ? Thôi, tốt nhất kể đoạn đời từ nhỏ đến khi mình lên sáu, mùa đông năm 47 khủng khiếp. Ngộ giám đốc công an bắt bẻ, còn có chỗ thối lui, tôi chỉ kể chuyện thời Pháp…

Phi kể đến đoạn mẹ anh hấp hối, dặn các con đừng chụm vô một chỗ chết tuyệt giống, cha anh đi dân công cao nguyên biệt tin, chị Hai dẫn các em chạy vượt đàng cái Phong Thử, gặp ca-nông Pháp bắn phải rúc vô ruộng mía Cồn Biên. Rồi nước Cấm Nhọn độc có tiếng. Chị Hai đi ở, dẫn Út Hà theo mình dắt trâu kiếm cơm. Tối về ba chị em xúm xít dưới mái chuồng trâu địa chủ Ba Ngang…

Tự dưng căn phòng chết lặng. Nhi nói nhỏ, giọng nghèn nghẹn:

- Thôi, đừng kể nữa anh, buồn quá!

- Không, Phi kể tiếp đi, không qua trần ai làm sao tới cõi niết bàn? Các con nghe chuyện đời anh Phi rồi phân biệt, miếng cơm nhọc nhằn của đứa bé dắt trâu trên Cấm Nhọn kiếm được, vinh hay nhục hơn miếng cơm của người học thức có mắt giả mù, có tai giả điếc, mặc xã hội đổ nát, đồng loại rên xiết? Chủ trả công giả mù, giả điếc… Mỗi lần gõ mõ, tiếng mõ đều nổi lên trầm đục, muốn khoan qua óc kẻ mù, kẻ điếc ấy. Đặng nghe cho hết…

Phi và hai học trò của anh ngơ ngác, bà Dự ngồi nghe tự lúc nào…

Người Phi nhỏ thó, cổ gầy ngẳng. Học trò Phương Nhi hay cười, còn Tín thương thầy, lúc đùa, âu yếm gọi thầy là Cò Con…

- Cò Con đọc thơ Tố Hữu đi, học ớn lắm!

- Cò Con biết không, mạ thường nói chuyện Cò Con với ba, ba biểu, bữa mô rảnh mời Cò Con đàm đạo. Ba hùng biện lắm đó, Cò Con thua là cái chắc!

- Cò Con dân Quảng mà dân Quảng thì mười người hết chín theo cộng sản.

- Cò Con biết không, tụi em có hai ông chú ruột tập kết. Không biết mai mốt thống nhất, hai chú về, cha tính răng với họ?

Một chiều thứ bảy, bà Dự từ chiếc am nhỏ nơi góc vườn, bước tới phòng riêng của Phi:

- Bữa ni, hai trò Phương Nhi và Tín nhờ xin phép thầy nghỉ học đi coi chớp bóng, thầy Phi cho phép không?

- Dạ, cũng nên để hai em giải trí đôi chút đỡ căng thẳng đầu óc!

Phi lễ phép trả lời, bà Dự nói nhỏ:

- Tối ni, chú Dự muốn nói chuyện riêng với Phi, Phi đừng đi mô nghe!

Căng thẳng suốt chiều, đợi tối. Bữa cơm chiều, ông Dự không về ăn. Không biết ông lấy tư cách nào nói chuyện với mình? Giám đốc công an Trung phần? Chủ nhà có con gởi Phi dạy kèm? Hay cựu kháng chiến?

Tối đến, bà Dự buồn rầu vào phòng Phi:

- Chú mới về, nhưng bữa ni không thể nói chuyện với Phi được. Chú vừa bị ông Cẩn kêu lên khiển trách, chú nương tay quá, không chịu tra tấn một người mô đó! Mỉa mai thiệt, vợ ăn chay thờ Phật, chồng làm công an!

Im lặng một lúc, bà Dự thở dài:

- A, dì nghe mấy em kể. Trước khi đến đây, Phi đã tới Nguyễn Văn Hai xin dạy bán công phải không?

- Dạ, nhưng ổng không nhận!

Biết bà Dự tâm trạng đang u uất, Phi cũng không muốn kể làm bà nặng nề thêm. Nguyễn Văn Hai, giám đốc Nha học chánh Trung phần ném đơn xin việc của anh xuống đất mà không buồn coi. Phi giận lắm, bỏ về luôn không vật nài.

- Ông Khắc Tú, hiệu trưởng trường bán công Nguyễn Tri Phương là em họ chú Dự đó. Mai chú Dự sẽ đưa Phi tới đó! Thôi đi cho sớm, Cò Con ốm teo rứa, đấu tranh lâu dài răng được?

Bà nói giỡn, gương mặt càng âm u…

Đêm nằm nghe tiếng mõ lốc cốc từ am vọng lại, Phi suy nghĩ. Phải phân tích trường hợp này thế nào? Cẩn đưa ông Dự nắm công an, nhưng ông Dự không cúc cung tận tụy phục vụ Cẩn. Vì lý do gì? Bản tính lương thiện mang màu sắc Phật giáo? Thái độ chính trị thân cộng? Mị dân? Chán đời vì lý do riêng? Bất hòa trong gia đình?

Ngay bây giờ, trả lời vội quá, nhưng trả lời chính xác càng sớm càng tốt, sẽ đưa ông nhập cuộc theo cách nào đó tiện nhất. Bà vợ và hai đứa con đã rõ. Phải hỏi thêm về hai người con lớn của họ trong Sài Gòn, hình như cũng một trai một gái?

Cho tài xế nghỉ việc, ông Dự tự lái chiếc xe Huê Kỳ, đưa Phi tới thăm nhà em họ ông. Phi ngồi cùng băng trước với ông. Ông im lặng lái xe, hai tay như víu lấy vô-lăng. Vẫn nhìn phía trước, bất thần ông hỏi:

- Phi còn nhớ Phương Mai chớ?

Phi giật mình, chưa biết trả lời sao.

- Các em Mai viết thơ vô Sài Gòn khoe với chị Hai chúng chuyện thầy giáo Phi. Lẩn quẩn thế nào, Phương Mai biết Phi từ chuyến tàu gặp bão năm nào phải không?

- Dạ.

Phi bồi hồi gật đầu.

- Cháu giở cốp xe, thư Mai gởi cho cháu trong đó!

Đòn cân não nghề nghiệp? Không phải, những chuyện anh kể cho bà vợ và hai con bà nghe đã dư bằng chứng cho công an bắt anh hạ ngục rồi, cần chi vờn thế này. Hồi hộp đọc thư Phương Mai:

“Rất mừng lại là anh. Hè tới, tha thiết mong anh chờ Phương Mai ở Huế. Nhiều chuyện lắm. Hãy nhớ mùa hè sẽ đến! PM”.

Vắn tắt như một bức điện tín nhưng đầy cảm xúc!

Ông Dự giới thiệu chưa đến năm phút, em họ ông đã bằng lòng nhận Phi vào dạy đệ tứ ở bán công Nguyễn Tri Phương. Trên đường về, ông Dự mới nói nhiều:

- Moa như Từ Hải, chỉ tiếc chưa chết đứng, áo xiêm ràng buộc lấy nhau… Nhưng thời thế này, toa hiểu cho moa. Miếng cơm manh áo và sự an bình cho một gia đình. Moa chờ đến lúc con Phương Nhi và thằng Tín khôn lớn, có nơi chốn tử tế, sẽ lui về… gõ mõ!

Giọng yếm thế, vẻ như ông muốn thanh minh. Chắc chắn Phương Mai và giáo sư Tuân phải kể cho ông hay: thực ra Phi là ai, hướng tới cái gì? Phi đáng tuổi con ông, nhưng Phi lại hiện diện trong nhà ông như một nhắc nhở của quá khứ và những kỷ niệm kháng chiến. Ông có mặc cảm tội lỗi đối với Phi, với cả Xuân Hòa, Lữ, Minh, những người thường lui tới nhà ông gặp Phi.

Bốn năm hành nghề công an cũng cho ông kinh nghiệm để hiểu rằng, những cuộc gặp gỡ của nhóm sinh viên trẻ này hẳn có một điều gì đó không bình thường. Và dường như đất đang rậm rịch chuyển động dưới chân ông. Ông lạ gì, hàng ngày cơ quan của ông thu nhận bao nhiêu tin tức đáng ngại về những cuộc nổi dậy hiện còn đang lẻ tẻ, nhưng bao lâu nữa những ngọn gió sẽ góp thành cơn bão lớn?

Cố đô vẫn giữ một vẻ yên tĩnh, trễ nải và vô chính trị, nhưng bên trong nó đang âm ỉ một thùng thuốc súng. Còn ngay cạnh ông, chàng trai hai mươi tuổi này đang dự tính những gì? Chắc chắn không phải lo học bổng xuất ngoại, càng không mong tham chính trong bộ máy hiện thời. Họ đang tập hợp và chờ đợi!

- Ít nhất toa hãy giúp hai đứa con moa đi theo hướng khác, đừng để nó rơi vô cái vòng xoáy ni. Còn moa, moa sẽ… – Chợt ông nói qua chuyện khác. – Khi tấn công dinh Độc Lập, Nguyễn Chánh Thi thực lòng muốn giết ông Diệm, nhưng người cho phép Thi hành động lại chỉ nhằm mục đích: cảnh cáo ông Diệm, bắt ổng nhận thức được thực trạng nguy hiểm của chế độ này, đó là nỗi bất mãn của các tầng lớp dân chúng. Tổng thống vẫn không chịu nhận ra tín hiệu đó mà cảnh tỉnh. Toa hiểu ý moa không?

Thăm dò chính kiến ư? Không, ông đang lo ngại, cái bộ máy mà ông là một cái đinh ốc bất đắc dĩ, đang có nguy cơ sụp đổ. Ông ở trong ruột nó nên nhận thấy sự thật ấy dễ hơn mọi người. Mỗi lúc các dữ kiện dồn dập, nóng bỏng lại càng thúc hối ông ý thức được rõ ràng hơn, nguy cơ đắm tàu là không tránh khỏi! Nhưng cái quan trọng nhất, ông sẽ phản ứng thế nào trước nguy cơ này?

- Ban ngày làm hình nộm giữa đám người hung bạo, đêm về làm người tù bị tiếng mõ tra tấn. Mệt rã toàn thân, thần kinh căng như sợi dây đàn. Nơm nớp sợ cả hai phía, đứng giữa hai làn đạn, không trúng viên này thì cũng trúng viên khác. Làm cụm lục bình trôi vật vờ trên sông Hương lại hay. Bao giờ ra tới cửa Thuận An, cuốn vô sóng nước đại dương, mặc, bèo bọt thôi mà!

Chiếc xe bóng lộn lướt qua dưới cổng biệt thự, nét mặt ông Dự trầm hẳn xuống. Ông thở dài để động cơ nổ thêm một lúc nữa…

Dạy kèm, dạy giờ ở Nguyễn Tri Phương, liên lạc thường xuyên với các cơ sở đầu tiên, đêm lại thức trắng bài, Phi lo lấy các chứng chỉ. Thi xoàng, ăn nói khó lắm. Sinh viên thi phải học giỏi mới có uy tín, thầy có giỏi, trò mới nể.

Nhận được điện tín từ Sài Gòn, ba thầy trò ra sân bay Phú Bài đón chị em Phương Mai và Lê Khắc Trí về Huế nghỉ hè. Phương Mai thay đổi hẳn, thành một người phụ nữ chín chắn và đậm đà. Trí bằng tuổi Phi, mới gặp đã thấy mến Cò Con:

- Cậu Tuân tiếc mãi, hè ni không về Huế được, cậu biểu tôi thay mặt cậu… bắt tay Cò Con!

Siết chặt tay nhau tại sân bay. Cứ như bạn cố tri.

Năm người, bốn chị em Phương Mai và Phi quấn quýt với nhau một tháng hè. Bơi thuyền trên sông Hương. Phương Mai ngồi riêng với Phi:

- Phi đưa mình chèo, coi cái này đi, hay lắm!

Mai đưa cho Phi một ổ bánh mì cặp thịt, gói trong tờ báo. Phi mở ra, thấy ngay tờ giấy mỏng để sẵn bên trong. Ngạc nhiên nhìn Phương Mai. Cương lĩnh của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam!

- Mình biết Phi không thiếu thứ ni, nhưng muốn dùng nó để nói với Phi rằng, mình đã quyết định dấn thân!

- Ai đưa cái này cho chị Phương Mai?

Phương Mai kiêu hãnh:

- Đoán thử coi!

- Ai không biết, nhưng chắc chắn là không phải ông giám đốc Công an Trung nguyên Trung phần?

- Dĩ nhiên. – Phương Mai chợt buồn. – Mình về lần ni chỉ mong thuyết phục cha mình từ chức!

Phi giật mình, không ngờ gia đình ông Dự lại quyết liệt với ông như vậy.

- Vì sao?

Phi hỏi. Phương Mai cúi đầu, đưa tay vớt nước dưới mạn thuyền.

- Đóng kịch trên sân khấu thì được. Nhưng giữa cuộc đời, đóng kịch nguy hiểm lắm, nhất là lại đóng vai giám đốc đồ tể! Hãy ngừng trò chơi phiêu lưu này trước khi thực sự nhúng tay vô máu!

Phương Mai ngẩng lên:

- Thôi, mình nói chuyện khác đi. Mình có cô bạn gái tên là Quê Hương, sinh viên Văn khoa Sài Gòn. Cô tặng mình cuốn Cương lĩnh để trả ơn mình kể chuyện Phi với cổ. Cô rất thân với thầy Nhất Hạnh, cả hai người đều muốn gặp Phi. Còn từ mô có cuốn ni, mình chưa rõ.

Khắc Trí chèo thuyền đến bên la lên:

- Chị Mai nhường Cò Con cho em chút xíu!

Phương Mai chuyển sang thuyền Phương Nhi. Tín lên bờ uống cà-phê với ba má trong tiệm. Trí bước qua ngồi vào chiếc pê-rít-xoa, bảo Phi:

- Chèo thiệt xa giữa dòng ấy!

Phi đưa mái chèo, gập người lại, bánh xe trượt đẩy anh về phía sau, chiếc pê-rít-xoa lao tới trước.

- Chị Mai lại nói chuyện đòi cha tôi từ chức phải không?

Phi không trả lời chỉ hỏi:

- Trí nghĩ sao?

- Nếu ba tôi có bản lĩnh, để ông ở chức vụ hiện nay có lợi hơn cho mọi người. Nhưng chúng tôi hiểu ba tôi, ông không sắm nổi vai trò của một người hai mặt. Vậy thì tốt nhất để ổng tự hạ màn. Ba tôi có cây côn-12, anh muốn thì tôi lấy cho anh, giữ lấy mà hộ thân!

Phi bỗng thấy thân thiết với Trí quá chừng.

- Tôi lấy súng làm gì, Trí?

- Cách mạng là bắn giết mà?

Trí thành thực đáp, Phi cắn môi. Không thể một lúc hình dung ra tất cả những gì khốc liệt trong cuộc chiến anh đang dấn thân, nhưng không phải hoàn toàn như Trí mường tượng.

- Sẽ phải cầm súng, nhưng súng không phải là niềm say mê của chúng ta. Cái vũ khí chúng ta cần nhất là trung thành với lý tưởng!

- Anh dẫn tôi lên chiến khu được không, tôi đã chán ngấy sự chờ đợi rồi!

Trí vo viên gói thuốc lá rỗng ném xuống sông. Mãi lúc sau, vỏ bao diêm ngấm nước mới chịu chìm.

- Tại sao không biến Sài Gòn thành chiến khu của chúng ta?

Đêm cuối cùng, không khí cuộc chia tay trở nên uể oải. Phương Mai, Trí và Phi ngồi ngoài vườn. Ba người lặng im. Họ biết, trong căn nhà kia ông Dự đang trằn trọc trước yêu cầu gay gắt của cả gia đình. Ông lánh mặt mọi người ba ngày nay. Sau lúc tư lự, Phương Mai phá vỡ niềm tĩnh lặng của đêm tối:

- Mình sẽ viết thư cho chồng mình bên Úc, kể những chuyện xảy ra trong tháng hè đáng ghi nhớ ni. Cò Con đã có địa chỉ Linh Vân ở Pa-ri chưa?

Không hiểu sao Phi lại kể chuyện “loài chim di trú” cho Phương Mai nghe. Trí cũng biết chuyện này, lẳng lặng rít thuốc lá. Phi nói nhỏ, nhưng cương quyết:

- Hãy để cho Linh Vân yên tâm làm loài chim di trú!

Lại tiếng chuông nhà thờ Phú Cam bất ngờ dội lên, Phương Mai đứng dậy trước:

- Trễ quá rồi, nghỉ cho Phi đỡ mệt!

Phi trở về phòng riêng, không sao nhắm mắt được…

Tiễn hai người lên chiếc máy bay của hãng Air France, trở về nhà đã chín giờ sáng. Bà Dự đón anh ngoài cổng:

- Vô đi, chú Dự đang chờ cháu!

Phi theo bà vào trong. Anh kinh ngạc, mặt ông tái nhợt, mắt thất thần. Ông ngẩng lên nhưng toàn thân bất động trên ghế:

- Hạ màn rồi, một coup rideau[5] tầm thường. Đọc đơn xin từ chức của tôi xong, Cẩn vớ cây viết, phê nguệch ngoạc vô góc: Chấp nhận. Chuyển ông Dự qua làm tổng thư ký Đại học Y khoa Huế. Nghĩa là từ lâu, họ sốt ruột đợi cái đơn ni. Đã đến lúc họ không cần tấm lá nho che nữa. Chiều ni, tôi bay đi Sài Gòn, tạm biệt anh! Dù sao tôi cũng biết ơn anh!

Phi sửng sốt, quyết định của ông khá bất ngờ và anh là người đầu tiên trong nhà được ông thông báo.

- Tôi đã giới thiệu anh với bác sỹ Lê, em ruột tôi. Lê cũng từ kháng chiến trở về. Sau 54, Lê cùng các bạn tổ chức nhóm Hòa Bình. Lê sẵn sàng giúp anh khi anh yêu cầu!

Ông nói một hơi, có lẽ ông sợ, nếu ông ngừng lại sẽ quên mất dòng ngôn từ ông muốn thổ lộ.

- Còn điều ni nữa, tôi muốn nói để anh rõ trước khi chia tay. Người kế nhiệm tôi là Võ Lương. Một thằng khét tiếng chống cộng và nham hiểm, mong anh giữ mình cẩn thận. Thôi, chào anh!

Ông trở lại im lặng, hai tay bưng mặt. Phi bước ra khỏi phòng. Hai học trò của anh lo âu nhìn anh. Phương Nhi rơm rớm nước mắt:

- Ba nói gì, hả anh?

- Chú Dự bay đi Sài Gòn chiều nay!

Phương Nhi im lặng. Tín nói nhỏ, giọng tự nhiên xa vắng:

- Số phận gia đình em éo le thiệt. Anh ruột má em là một viên tướng Việt Nam Cộng hòa, trong khi em ruột má em lại là tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Cậu Tuân em là em út của hai người đó!

Phương Nhi ngước mắt nhìn Phi như van lơn:

- Cò Con đừng bỏ tụi em!

Nếu Phương Nhi là trai, chắc Phi sẽ ôm em vào lòng và kêu lên:

- Không, không bao giờ chúng ta xa nhau!

Bà Dự bước đến bảo Phi:

- Phi có người nhà đến tìm.

Phi lật đật chạy lên phòng khách. Trời, anh đứng sững. Luyến cũng ngây người nhìn anh.

- Luyến… về hồi nào?

- Dạ.

Luyến cúi đầu, mân mê chiếc quai nón trong tay.

- Anh Ba, trưởng họ, mời anh về có chuyện gấp.

Phi mừng rỡ, chân cứ run lên. Thế là gần giáp năm, kể từ ngày anh về Giáng La gặp Chín Chữ… Bây giờ Luyến không còn là cô bé La Huân quê mùa nữa, ăn mặc hệt con gái Sài Gòn, nhưng vẫn giữ giọng Quảng thân quen. Hai người đỏ mặt, thầm đoán những ý nghĩ bên trong của nhau. Luyến đưa thư cho anh.

“Trong họ có công chuyện cần bàn bạc, chú về ngay! Tộc trưởng – Anh Ba”

Phi rạo rực đọc đi đọc lại mấy chữ ngắn ngủi. Luyến quả quyết:

- Hộp quẹt đây, anh Ba đốt đi.

Để mặc tờ giấy cháy lem lém trong tay, Phi cố mường tượng ra gương mặt người viết thư gọi anh về Giáng La. Bất chợt quay lại, anh nhận ra Luyến đang âu yếm nhìn anh…

Cô bối rối, còn Phi ngượng ngùng nhìn bức thư đã cháy thành than. Chợt Luyến nói nhỏ:

- Trước khi qua Pháp, Linh Vân có sang chỗ dì Hai Chạy từ biệt và nhờ chuyển cho anh gói quà ni.

Cô đặt gói quà xuống bàn. Phi cúi gằm mặt khi Luyến chào và đi ra. Mãi sau anh mới dám mở gói quà, một chiếc áo len và một mẩu giấy nhỏ.

“Tôi không bao giờ ân hận. Vĩnh biệt!”

Có một lần, ít phút trước bữa ăn tối, từ phòng học ngó tới, Phi thấy bà Dự rời khỏi am, cùng một nhà sư đến chỗ đặt bộ bàn ghế mây giữa vườn. Anh chưa dàn mặt nhà sư này bao giờ, nhưng anh biết qua lời kể của Tín. Đó là nhà sư chủ bút tờ báo Liên Hoa, lý thuyết gia chủ yếu của Phật giáo miền Vạn Hạnh, người hướng đạo tinh thần của gia đình này.

Mỗi lần có chuyện phải qua chùa Từ Đàm, bao giờ thầy cũng ghé lại thăm bà Dự trước khi trở về chùa trụ trì…

Ông Dự lật đật rời khỏi phòng khách, tới chỗ bà Dự vừa đưa nhà sư đến. Hiện tượng khác lạ. Xưa nay, hầu như ông Dự không bao giờ đặt chân tới am thờ của vợ và cũng không ưa tiếp xúc với thầy chùa. Thêm một chuyện trái lệ, bà Dự không kêu con gái mà tự tay bưng ấm trà ra vườn, sau đó bà trở vào phòng ăn. Mọi người lặng lẽ quanh mâm cơm, nét mặt bà có vẻ căng thẳng.

Xong bữa, Phi và hai chị em Phương Nhi trở về phòng riêng, bà Dự ngồi lại một mình. Chị giúp việc lúi húi thu dọn. Phi giở sách toán giải tích, nhưng tâm trí anh còn để đâu đâu.

Hiển nhiên không phải vì hiếu kỳ, anh thèm được nghe cuộc đối thoại này. Nhưng anh không có cách nào đến gần họ, để có thể theo dõi được cuộc đàm đạo kỳ dị giữa một nhà sư và viên giám đốc công an trong khu vườn lạnh lẽo, le lói trăng non.

Cả hai, nhà sư và ông Dự, chỉ thấy ánh mắt nhau nhờ nhờ dưới ánh trăng. Họ cũng không mong muốn gì hơn, họ thích lộn trái tâm địa nhau trong bóng tối. Giọng nhà sư lạnh lùng nhưng đầy uy lực, còn giọng ông Dự run run và đứt quãng:

- Hẳn ông biết giáo sư Huyễn đang đau nặng?

Ông Dự im lặng xác nhận.

- Giáo sư Huyễn không cho người nhà chữa chạy thuốc men hoặc kêu bác sĩ. Có lẽ ổng đang tìm cách tự sát. Ông giám đốc biết lý do của hành vi này không?

- Tôi biết, giáo sư Huyễn căm hận vợ chồng tôi.

- Theo ông giám đốc ước lượng, tại Huế có bao nhiêu người như giáo sư Huyễn?

- Nhiều lắm! Và không phải ai cũng tìm cách chết… im lặng như giáo sư Huyễn.

- Hình như có hai sinh viên Hà Nội vừa vượt tuyến vào Nam?

- Phải, họ đang ở chỗ tôi.

- Ông có tin những điều họ tố cáo miền Bắc qua các sự kiện Nhân văn – Giai phẩm và cải cách ruộng đất không?

Ông im lặng, nhà sư lại lên tiếng:

- Ông vừa muốn tin vừa không dám tin. Ông muốn tin để biện minh cho việc ông có mặt trong guồng máy độc tài, gia đình trị của họ Ngô. Ông không dám tin, vì nếu ông tin, nghĩa là ông thừa nhận cả thời thanh xuân tốt đẹp nhất của ông đã bị lừa gạt và phung phí!

- Tôi không nghĩ những nhà tu hành lại thích nhào vô chuyện chính trị?

- Chính trị là một thứ tôn giáo. Niết bàn hay thiên đường đối với những môn đồ của tôn giáo chính trị là quyền lực. Nghĩa là, chúng ta đang đối thoại với tư cách các tín đồ của Phật giáo và chính trị giáo! Tôi thờ Thích-ca Mâu-ni, ông sùng bái Ma-ki-a-ven và Na-pô-lê-ông!

- Thầy lầm, tôi sùng bái sự thanh thản tâm hồn.

- Nhưng tâm hồn ông đang khắc khoải. Chắc ông đã coi cuốn tiểu thuyết “Thánh tử đạo” của Ri-sớt Kim. Mục sư Sin đã phải thốt lên: Tuyệt vọng là căn bệnh của những kẻ mệt mỏi vì cuộc sống. Cuộc sống đầy rẫy những đau khổ vô nghĩa. Chúng ta phải chiến đấu chống lại tuyệt vọng, chúng ta phải hủy diệt chúng và không để căn bệnh tuyệt vọng này làm hư hỏng cuộc sống con người, khiến con người chỉ là hình nộm. Chúng ta hy vọng chống lại sự tuyệt vọng, bởi vì chúng ta là người!

- Những điều thầy vừa nói, hoàn toàn đúng và trước hết đúng với thảm trạng sắp xảy ra với chính tôn giáo của thầy!

- Chúng tôi sờ thấy tai họa đó. Họ Ngô đặt người cộng sản và kháng chiến ra khỏi vòng pháp luật song song với việc đặt Phật giáo, trở lực đáng kể cho lộ trình tàn bạo của hắn vươn tới mục tiêu độc tài, vào cửa tử. Nhưng đó là một ảo tưởng đáng thương hại. Chín mươi phần trăm dân chúng miền Nam là Phật tử. Phật giáo đã từng cắm sâu rễ vào đời sống tinh thần, văn hóa vật chất của họ từ cả nghìn năm nay, nhất là tại Huế. Sau một thời phát triển rực rỡ dưới triều đại Lý – Trần, Phật giáo miền Bắc đang tàn lụi, nhường chỗ cho Phật giáo miền Trung phục hưng và trẻ trung từ thời các chúa Nguyễn đi mở đất. Chính chúa Nguyễn Phúc Hoàng đã xây chùa Thiên Mụ theo lời tiên báo về một quốc gia hưng thịnh ra đời ở phía nam, vào năm 1601. Hãy nhớ lại quá vãng, hành trình tư tưởng Việt Nam xây dựng trên Tam Giáo. Nếu nho giáo cho ta cái hình nhi hạ, thì Phật giáo cung cấp một thứ hình nhi thượng, hay nói cách khác, Phật giáo, và ở một khía cạnh nào đó, cả Lão giáo, mang lại màu sắc thơ mộng, thi vị cho cuộc sống khốc liệt, đầy thử thách cam go của những người tiên phong xuống phía nam. Cái ảo tưởng tiêu diệt được Phật giáo sẽ dẫn nhà Ngô đến sụp đổ. Nhưng ngay cả khi nhà Ngô đè bẹp được Phật giáo đi nữa, chúng tôi, những kẻ tu hành, vẫn còn có thể thối lui về những ngôi chùa tụng kinh gõ mõ. Nhưng ông giám đốc về nơi nào trên mặt đất này?

- Tôi chết!

- Ông giám đốc không bao giờ chạy trốn nổi cái não trạng phản phúc và linh hồn hư ngụy của mình!

- Nhưng nội bộ Phật giáo của các thầy cũng đang lục đục, người ta sẽ khoét sâu vô đó để hạ uy thế Phật giáo và loại trừ ảnh hưởng của nó đối với dân chúng.

- Chúng tôi ý thức được hiện trạng này sâu sắc. Một thứ Phật giáo của thầy Thiện Hoa quá khích, một Phật giáo của thầy Nhất Hạnh đang mưu toan hiện đại hóa đặng thích nghi với phương Tây, cụ thể là Huê Kỳ, một Phật giáo di cư của thầy Tâm Châu ngả theo chế độ này. Nhưng Phật giáo miền Vạn Hạnh sẽ đứng dậy, hoàn thành thiên mệnh của mình, trở lại cội nguồn dân tộc, bằng đường hướng bất bạo động, quy tụ những lực lượng yêu nước, tránh một thảm họa huynh đệ tương tàn, sẵn sàng đối thoại trong hòa dịu với những người cộng sản. Ngay cả khi đường hướng đó của chúng tôi sai lầm hoặc ngây thơ đi nữa, chúng tôi vẫn có một mục tiêu để hành động. Còn ông giám đốc công an, ông biết cái gì chờ đợi ông phía trước hay không?

- Cẩn sẽ hỏi tội tôi vì không chịu sốt sắng tổ chức những cuộc tuyên truyền rầm rộ cho hai sinh viên Hà Nội nói xấu miền Bắc.

- Không, ông giám đốc không thật lòng. Ông giám đốc dư biết, Cẩn có thể bắt ông giám đốc, bí mật thủ tiêu hoặc cách chức, nhưng những hình phạt này của Cẩn còn quá nhẹ nhàng so với mặc cảm phản bội giày vò lương tâm ông!

- Tôi van thầy!

- Buổi đầu chế độ Ngô tạm dùng những người như ông giám đốc vì nhiều mối lợi, giúp họ ổn định tình hình, nhân tâm và củng cố quyền lực. Đã đến lúc, họ đủ tự tin để có thể cho những con chuột bạch nghỉ việc. Nhưng ông giám đốc cũng không còn khả năng quay lại với những đồng chí cũ của mình, dù ông có trưng ra hàng trăm ngàn bằng chứng xác đáng để biện hộ cho mình, những người cộng sản vẫn sẽ không tin tưởng vào lòng trung thành của ông, người đã từng giữ trọng trách giám đốc công an cho Diệm!

- Có lẽ cũng bằng những cuộc đối thoại như thế ni, thầy đã mua đứt em trai tôi?

- Không, nói thế này mới đúng, chỉ có sức mạnh Phật pháp Đại Hùng – Đại Lực – Đại Bi mới hóa giải nổi định mệnh oan nghiệt của em trai ông.

- Phật giáo muốn gì nơi tôi?

- Xin ông giám đốc đặt ngược câu hỏi lại: ông giám đốc có thể bằng cách nào tự cứu mình?

- Cái giá phải trả?

- Dĩ nhiên, chúng tôi không dám đòi hỏi nơi ông một nhận định tổng quát về rạn nứt của chế độ và những luồng dư luận bất mãn đối với tổng thống Diệm. Hiện giờ ít có ai công khai chỉ trích chế độ một cách lớn tiếng, nhưng nhiều người thức thời đã ngượng nghịu, khó chịu khi phải nghe suy tôn công đức cụ Ngô. Và đời sống dân chúng tạm thời ổn định, khấm khá hơn trước. Những phản ứng ngấm ngầm bất lợi cho chính phủ bắt đầu trong số trí thức không được trọng dụng, hay trong số những người sáng suốt nhận ra lối cụt họ Ngô đang dấn thân. Tôi có dịp tiếp xúc với linh mục Viện trưởng Đại học Huế. Chính ông ta cũng phì cười khi nghe những lời hô hào om sòm Bắc tiến trên đài phát thanh Sài Gòn. Và cho dù, ngay từ thời tổng thống Ai-xen-hao, viện trợ kinh tế – quân sự cho Nam Việt Nam tăng lên, đã giúp nước cộng hòa non trẻ này thêm sức mạnh và niềm tin, Diệm đã vượt thắng cựu hoàng Bảo Đại vào cuối năm 55 và dường như người ta ưa nói đến một cái gì đó như là một thời kỳ thịnh vượng 56-60 của họ Ngô. Nhưng khi những vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Xô-viết được phóng lên không gian, những người cộng sản khắp nơi bắt đầu lạc quan. Người Nga tuyên bố vượt người Mỹ trong sản xuất. Mao Trạch Đông hy vọng “gió Đông thổi bạt gió Tây”. Cas-trô nắm quyền tại Cu-ba – tiền đồn cộng sản ngay trước mũi nước Mỹ. Nhưng thôi, chúng ta hãy quay về với nghị quyết 15 của cộng sản Bắc Việt. Nghị quyết này đã bật đèn xanh cho cuộc chiến đấu bằng bạo lực của họ ở miền Nam. Tình hình Nam Việt Nam nguy kịch đến nỗi, tháng 4 năm 1959, tổng thống Ai-xen-hao phải la lối tại Trường Đại học Ghét-sbua ở Pen-syn-va-nia: Do việc ở chỗ ngay sát các đội hình quân sự cộng sản to lớn ở Bắc Việt, nước Việt Nam tự do cần phải duy trì tại ngũ, số quân lính đáng kể hơn nữa. Hơn thế, trong khi chính phủ đạt được sự tiến bộ trong việc quét sạch du kích cộng sản thì những người trong số họ còn sót lại, vẫn tiếp tục gây tác hại đối với đời sống kinh tế của đất nước… Về mặt chiến lược, việc chiếm được Nam Việt Nam sẽ đưa quyền lực của họ tới mấy trăm dặm trong khu vực trước đây là tự do. Chúng ta đi tới kết luận không thể tránh khỏi là, những lợi ích sống còn của dân tộc chúng ta đòi hỏi chúng ta phải giúp đỡ cho công việc duy trì ở Việt Nam, tinh thần tự do, tiến bộ về kinh tế và sức mạnh quân sự cần thiết, để Nam Việt Nam tiếp tục sống còn trong tự do.

Điều lưu ý này của Ai-xen-hao được lặp đi lặp lại trong tâm trí của Giôn Ken-nơ-đy. Tại lễ nhậm chức, Ken-nơ-đy đã nói: Chúng ta hãy làm cho mọi nước biết rằng, chúng ta sẽ trả bằng bất cứ giá nào, gánh vác bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ khó khăn nào, ủng hộ bất cứ bạn bè nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm sự sống còn cho thắng lợi của tự do!

Loại trừ những lời lẽ rườm rà, quanh co, cả tôi lẫn ông đều biết rõ như nhau, nhất định bọn Mỹ sẽ nhảy vào đây. Từ nay đến lúc đó, những người yêu nước, thương nòi phải kịp quy tụ xung quanh Phật giáo, đặng có đủ tư thế đối thoại với cả ngoại bang lẫn cộng sản!

- Nói trắng ra, thầy dành hẳn một buổi tối cho tôi nhằm mục đích gì? Và nếu tôi không lầm, thượng tọa Quang Minh thích chơi cờ hơn là tụng kinh gõ mõ? Đến hôm nay, tôi càng thấy các ông thầy tu thích làm chính khách hơn là nghiên cứu kinh kệ!

Ông Dự cười, nụ cười run sợ lẫn mỉa mai, tan nhòa vào ánh trăng.

- Ông giám đốc hãy tổ chức thật chu đáo những buổi thuyết trình của hai sinh viên Hà Nội!

- Để làm gì?

- Để chính quyền tiếp tục tin cậy ông và ông giữ vững vị thế tốt nhất của mình, phụng sự cho sự nghiệp quy tụ những lực lượng dân tộc, chống độc tài và sự can thiệp của ngoại bang.

- Tôi chưa hiểu, việc làm đó và sự phục vụ cái công cuộc thầy vừa hào hứng phác ra, liên quan tới nhau thế nào?

- Ông giám đốc cần tiếp tục nằm trong gan ruột chế độ thù nghịch với toàn dân tộc!

Một tràng cười ghê rợn vang lên. Nhà sư đang ngơ ngác, ông Dự đã đứng dậy giọng gay gắt:

- Đủ lắm rồi, thầy đừng giấu đầu hở đuôi nữa. Đến đây, tôi càng kiểm chứng được nguồn tin mà trước đó, tôi còn nghi hoặc. Thượng tọa Thích Quang Minh đã tuyên bố trước đám thủ hạ của mình rằng: Trước sau gì chúng ta cũng phải chung sống với cộng sản. Vậy hãy làm mọi cách với điều kiện và thời gian cho phép, làm cộng sản yếu bớt đi trước khi chúng ta phải đương đầu với họ! Cũng không loại trừ khả năng thầy ghét Diệm, sợ Mỹ và muốn đặt cao giá cho Phật giáo. Nhưng đó là việc của thầy. Thầy đừng bắt tôi vượt quá làn ranh giữa con người và con vật. Làm một thằng phản bội đủ lắm rồi, tôi van thầy…

Đương nhiên, khi chia tay lặng lẽ trong đêm, cả hai đều biết rõ: chẳng bao giờ họ có đủ can đảm giáp mặt nhau một lần nữa! Và cuộc đối thoại ghê rợn của họ cũng tắt cùng ánh trăng đêm…

Suốt đêm ấy, Phi thao thức lắng nghe tiếng chân mà anh đoán chắc là của ông Dự, xao xác quanh ngôi nhà chính. Sáng hôm sau, thật sớm, ông Dự tới gõ cửa phòng anh. Phi thấy ông phờ phạc, giọng ông yếu hẳn đi:

- Lên phòng mình uống cà-phê, nghe Cò Con!

Đợi Phi ngồi vào ghế, ông đẩy ly cà-phê nóng, bốc hơi thơm nhẹ, tới trước mặt Phi và nói:

- Cò Con hãy đến ngay thăm giáo sư Huyễn và khuyên giáo sư Lưu hiện đang ở nhà giáo sư Huyễn nên trở về Hội An, dùng dằng ở đây không có lợi cho giáo sư. Công an đặt nghi vấn, giáo sư Lưu ở lại Huế ba ngày nhằm mục đích nào ngoài cái cớ thăm bạn? Và điều quan trọng nhất…

Ông ngừng nói, thở dài.

- Giáo sư Huyễn đang hấp hối… Nếu còn kịp, hãy nói với ổng, tha lỗi cho vợ chồng bác!

Phi giật thót người, mặt đần ra vì lo lắng. Anh vội vã đến ngay nhà giáo sư Huyễn. Nhưng tất cả đã quá muộn…

Cỗ xe tang chạy chậm men theo bờ Hương Giang um tùm bóng cây trước khi rẽ lên Nam Giao, nơi hai bên đường, những mái nhà lợp tôn trắng rộp dưới nắng. Phi nhìn thấy những ngọn lửa màu đen lay lắt trên dãy đèn cầy gắn quanh nắp quan tài. Anh cũng nhìn thấy gương mặt lạnh lùng của bà vợ giáo sư Huyễn, một người đàn bà cam chịu cuộc chung sống nhưng không được chồng yêu. Bây giờ chồng bà đã nằm xuống, còn lại nơi bà niềm xót xa và trống rỗng. Bà không khóc, nhưng mí mắt hơi rung…

Gần chạm phải ngọn lửa đèn cầy, mặt giáo sư Ngọc Phương bợt ra và tóc rủ xuống, phủ đầy trán. Không biết Ngọc Phương có khóc không? Phi tự hỏi. Không nghe tiếng khóc, nhưng vai Ngọc Phương gãy gập như phải chịu một gánh nặng đè xuống. Ngọc Cương lầm lì, thỉnh thoảng rút hộp quẹt, châm lại những ngọn nến bị gió thổi tắt.

Anh xót xa nhớ lại, trong thời gian giáo sư Huyễn bị bệnh nặng, hai lần anh đến. Thấy bệnh của ông mỗi lúc một trầm trọng, khó qua nổi, Phi tự ý gửi điện tín cho giáo sư Lưu. Còn Ngọc Trà đến giảng đường C tìm anh:

- Ba em muốn gặp anh! Hình như ổng muốn trối trăng điều gì trước khi…

Mắt cô sưng mọng. Anh theo Ngọc Trà vào buồng. Ông Huyễn chỉ còn đủ sức đưa tay cho anh. Và lần đầu tiên, anh thấy ông khóc khi anh rụt rè báo tin, anh đã gửi điện tín mời giáo sư Lưu ra thăm Huế!

Từ đám tang trở về bên kia Đông Ba, lòng Phi day dứt bao ý nghĩ buồn bã. Anh chưa kịp làm gì hết trong khi bao người như ông Huyễn cứ rũ xuống chết… Anh lờ mờ đoán ra những uẩn khúc trong cái chết lặng lẽ này. Nhất định phải liên quan đến vợ chồng ông Dự.

Phi kinh ngạc. Hai cánh cổng mở toang. Anh đứng sững giữa lối mòn hai bên trồng mai trắng. Trên những vòm hoa và nhành cây kiểng, chi chít những dải băng tang đen ngòm. Anh chợt nhớ, ở Huế, khi người chủ vườn qua đời, người ta đeo tang cho cả cây cối trong vườn. Vợ chồng ông Dự đang âm thầm ngồi quanh bàn mây giữa những cây cọ châu Phi cao vút. Từ đỉnh cây ấy rũ xuống một giải băng tang như con rắn trờn xuống chực quấn lấy họ.

Phải rồi, họ để tang cho con người vừa chết vì sự phản bội của chính họ. Hai lần phản bội và bị phản bội trong một kiếp người!

Phi lẳng lặng quành sang lối khác. Anh không muốn vợ chồng ông Dự biết anh vừa từ đám tang trở về.

❀ ❀ ❀

[1] Les Temps Modernes (tiếng Pháp).

[2] Ăn mặc lối thời thượng: à la mode (tiếng Pháp).

[3] Rất tốt (tiếng Pháp).

[4] Toán – Lý.

[5] Cú hạ màn (tiếng Pháp).

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.