Cá mè một lứa?
Điểm qua danh mục những quyển sách Ngọc Trà đã đọc, Phi cũng hiểu loáng thoáng. Cô học trò nhỏ của anh đang đắm đuối trong giáo lý Phật giáo. Từ cuốn “Điều cần thiết của người Phật tử” do Khuôn hội Tân Ninh ấn hành, hoặc “Phật giáo trong mạch sống dân tộc” đến cuốn “Tại sao ta ăn chay?” và một loạt tác phẩm của Võ Đình Cường: “Ánh đạo vàng”, “Thử hòa điệu sống”, “Đây, gia đình”, “Mùa gặt ác” và “Suối từ” (kịch tôn giáo đã một thời được nhiều tốp kịch nghiệp dư tập dượt và công diễn), rồi “Huyền Trang” mà có lần Phi buồn buồn giở ra coi lời giới thiệu của nhà xuất bản Hướng Đạo.
“Tác giả Võ Đình Cường cũng vì cảm phục cuộc sống cao đẹp của thầy Huyền Trang và muốn giới thiệu một người lý tưởng của đạo Phật, rất xứng đáng là kẻ theo dấu chân Phật, nên mới dựa vào lịch sử mà soạn cuốn sách này. Qua tập sách, quý độc giả sẽ thấy nổi bật ba đức tính của đạo phật Bi – Trí – Dũng…”
Ngọc Trà còn tha về một mớ báo chí, tập san Y học, đặc biệt là những bài khảo cứu liên quan đến chứng bệnh thần kinh. Nhờ vậy, Phi được đọc một mẩu báo Ngọc Trà cắt ra từ tập san “Lành mạnh”.
- Anh đọc coi bệnh của ba em nằm trong loại tâm thần nào?
Anh chăm chú đọc, có nhiều chữ nghĩa mới mẻ khiến anh chú ý:
“Thể bệnh được nhiều người quen thuộc là động kinh cơn lớn. Người bệnh đang sinh hoạt bình thường bỗng ngã ra bất tỉnh và lên cơn co giật khoảng hơn một phút, sau đó đi vào hôn mê. Động kinh còn có nhiều cơn khác – ít được biết đến hơn – thay thế các cơn co giật toàn thân là các cơn co giật cục bộ, hay một trạng thái hoàng hôn: Đang bình thường, tự nhiên bệnh nhân rơi vào trạng thái mất ý thức tạm thời, ý thức như bị thu hẹp lại, bệnh nhân sống trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Hết cơn, bệnh nhân không nhớ những gì đã xảy ra trước đó. Hai là các cơn tâm thần vận động. Phần lớn là các cơn xung động, đột nhiên xuất hiện với tính chất cưỡng bức, thúc đẩy người bệnh làm những động tác nguy hiểm như: ăn cướp, giết người, tự sát. Có khi chỉ là những cơn hài hước lố bịch. Hoặc bỏ nhà ra đi lang thang… Ba là, cơn loạn khí sắc. Cảm xúc không ổn định, thay đổi đột ngột từ cực này sang cực khác, bùng nổ, dễ phản ứng tấn công người xung quanh… Từ vài giờ đến vài ngày, cơn loạn khí sắc khiến người bệnh tâm thần lâm vào trạng thái phức hợp, cảm xúc lẫn lộn các sắc thái khác nhau: buồn rầu, giận dữ, bất mãn hằn học…”
Hai thầy trò Ngọc Trà khi thì quả quyết, giáo sư Huyễn hội đủ các triệu chứng của trạng thái hoàng hôn, khi thì cam đoan, bệnh nhân của họ rơi vào trạng thái loạn khí sắc hoặc cơn tâm thần vận động. Rồi khi nhớ lại mọi chi tiết mỗi lần giáo sư Huyễn lên cơn, họ lại thấy cả ba cơn của chứng động kinh chẳng liên quan gì đến ông hết. Nói tóm lại, thầy trò Ngọc Trà đã quá ngây thơ, hy vọng cắt nghĩa được hiện tượng ưu tư phẫn uất vì bị phản bội của giáo sư Huyễn bằng những bài khảo cứu chung chung về chứng tâm thần chỉ xảy ra với những con bệnh ở lứa tuổi Oanh Vũ và kịch phát vào tuổi dậy thì!
Lại đến lượt giáo sư Huyễn ngộ nhận cân bệnh của hai con trai ông và bạn bè của họ. Ông khăng khăng quy con trai lớn của ông – giáo sư Ngọc Phương – tội vô luân, chỉ vì anh đã công khai tỏ lộ tình yêu của mình với cô em họ. Ngay cả khi anh đủ sức chứng minh rằng, tình yêu ấy không phải là một sự đòi hỏi hiến dâng thông thường, mà thuần túy là sự giao thoa giữa hai vùng sóng tâm hồn thì cha anh vẫn không chịu giảm khinh bản cáo trạng dành cho con. Trước thái độ cố chấp của cha, giáo sư Ngọc Phương từ đau khổ, bức bối đến coi bản án ấy là vô nghĩa. Anh cũng không phải là một ca ngoại lệ trong những hiện tượng xã hội, chính trị, tâm lý thời ấy, nếu ta muốn tái hiện khách quan diện mạo đích thực của đời sống tinh thần Huế những năm sáu mươi, quãng thời gian được coi là đại trị của chế độ nhà Ngô.
Câu chuyện tình của Ngọc Phương không hẳn bệnh hoạn theo kiểu Jê-rôm và A-li-xa trong tiểu thuyết “Khung cửa hẹp” của An-đrê Gi-đơ. Anh tưởng rằng, cách trả lời tốt nhất là cứ im lặng làm đẹp đời mình. Anh ngang nhiên coi thường lệnh cấm của hai gia đình, chiều chiều tay xách dù cặp cô em họ mình đi dạo qua những phố đông người. Những ông cha bà mẹ, những kẻ đạo cao đức trọng hậm hực nhìn họ, nhổ nước miếng khinh bỉ, quay mặt không dám ngó hoặc thở than: thời buổi lố lăng, đồi bại phong tục đến thế là cùng! Còn giới trẻ hăm hở đón nhận luồng gió hiện sinh đầu mùa tràn vào miền Nam với một niềm hoan hỷ và coi cặp tình nhân đó như là sự khiêu chiến với xứ Huế cổ lỗ. Rồi đột nhiên, anh cùng hai người bạn thân nhất của mình biến mất khỏi Huế ít ngày. Đó là nhạc sĩ Hoàng Gia, người được giới hâm mộ âm nhạc chú ý với những ca khúc đầu tay khang khác ca khúc truyền thống, nhưng phải đợi đến khi những ca khúc đó được một nữ ca sĩ thời danh trình bày, Hoàng Gia mới làm khán giả thực sự xao xuyến con tim vì nỗi lo âu bàng bạc, vì sự hoài nghi và hy vọng mơ hồ… Người thứ hai là họa sĩ Tự Ngàn, theo đuổi chủ nghĩa trừu tượng, nhưng nổi tiếng không nhờ những bức tranh lạ mắt, mà lại do mối tình với một cô An nào đó…
Không ai, trừ họ, biết họ chui vào đâu. Đó là những chuyến đổi gió, có thể họ ngồi thơ thẩn bên nhau dưới tán thông Đà Lạt; hoặc ngất ngưởng trên chuyến xe thổ mộ cuối cùng trong ngày, lóc cóc vượt qua những rặng dừa ven biển Bến Tre… Lương giáo sư, tiền bán tranh, nhạc phẩm đủ cho họ tung tẩy đi mưa về gió trên những chuyến bay của Air France hoặc yên tâm thuê phòng khách sạn, mà không phải lén lút mở bóp tiền ra đếm từng đồng…
Lợi dụng những chuyến đi đó, họ tìm cảm hứng vẽ tranh, làm thơ, viết nhạc và suy nghĩ về ý nghĩa hiện sinh của con người. Và khi trở về Huế, họ tụ tập một số bạn bè tâm đắc lập thành nhóm “Nhà thờ họ”.
Nguyên trong khuôn viên nhà giáo sư Huyễn có một ngôi nhà thờ họ sắp đổ nát, hoang phế. Anh em Ngọc Phương tu sửa đôi chút, biến thành nơi họp bạn, trưng bày tranh, đọc thơ, nghe hát… Đó cũng chính là hình thức sơ khởi của thứ câu lạc bộ vị lai của Huế.
Càng ngày, giáo sư Ngọc Phương càng đinh ninh, đã là con người không muốn giống đồng loại thì chắc chắn phải chuốc lấy hàm oan và thù hận. Anh không bao giờ tìm cách áp dụng các tiêu chuẩn bình thường để minh định cái gọi là chính hay tà. Cũng theo anh, chính nghĩa nơi anh và nhóm “Nhà thờ họ” không phải do một bầy sơn ca cất thành âm điệu dịu dàng uyển chuyển, mà có thể là sự bốc cháy của thân xác một khi sức mạnh tâm linh giao cảm với sự hiện sinh. Nghĩa là, bằng kinh nghiệm riêng tư nhất, mỗi người sờ mó thấy, nắm bắt được cái phi lý của đời sống. Chừng ấy thứ là nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến tranh lạnh giữa anh và cha anh, giáo sư Huyễn. Sự im lặng của cuộc chiến này lạnh lẽo như cái chết…
Nhà thờ họ chỉ cách ngôi nhà giáo sư Huyễn đang ở một quãng đường phủ đầy bóng hoàng lan. Nhưng tại đấy đã hình thành một chiến tuyến giữa hai thế giới, mới và cũ. Một lứa trẻ có học, lớn lên trong vòng tay sắt máu của một chế độ tưởng như bất khả thay đổi và một lứa già đánh cờ một mình cho hai phía!
Có ba loại người thường lai vãng đến “Nhà thờ họ”. Một loại do hiếu kỳ. Một loại thèm khát lặn ngụp vào không khí hiện sinh. Một loại muốn gắn lên ngực một cái mác thời trang. Số thành viên cơ hữu của nhóm cũng đủ mặt các số phận. Trần Quang, một thi sĩ cuồng phóng, tín đồ Tin Lành, có hai anh rể làm tỉnh trưởng. Vương Trân vừa tốt nghiệp Quốc gia hành chính được bổ nhiệm chức phó tỉnh trưởng Quảng Nam. Ngô Khang, con em một dòng họ khoa bảng mà mục tiêu sống chỉ là miệt mài đèn sách, đi thi giật mảnh bằng làm bậc thang leo lên và chỉ dành một khoản lãng mạn ít ỏi trong đời sống của mình cho việc chinh phục trái tim em gái nhạc sĩ Hoàng Gia. Cô em này cũng hư vô và bất cần đời không thua sút anh trai bao nhiêu. Hoặc Nguyễn Căn, một tay khật khùng, nguyên vô địch cờ tướng Việt Nam Cộng hòa, giỏi nhiều ngoại ngữ nhưng cũng chính là người gây ra nhiều trò oái oăm nhất trong nhóm. Có lần Căn cùng nhóm bạn tới khách sạn Hương Giang uống bia. Cả tốp say tuý luý càn khôn, Căn lấy một vỏ chai không cho xuống dưới gầm bàn, đái vào đấy rồi rót ra li đưa cho thằng bạn hợm hĩnh nhất bọn. Tên này không biết, nốc cạn rồi la lên:
- Ủa, bia chi có mùi lạ?
- Tại mi uống nhiều quá, mũi mất thiêng đó. Chừ mi ăn một nhánh hành sống và uống tợp bia coi!
Tên bợm biết ra, đòi lùng giết Căn. Chính thói ngông ấy làm cho ít người muốn gây với Căn.
Rồi Vĩnh Thọ gốc Huế, nhưng cha mẹ lại vào Đà Nẵng lập nghiệp. Thọ chất phác, mộ đạo và sớm trở thành tâm phúc của mấy thầy chùa – chính khách ở Huế. Thọ yêu Thái Hoàng Sa, Hoàng Sa lại đem lòng mến mộ giáo sư Ngọc Phương, Ngọc Phương lơ đãng trước mối tình ấy để theo đuổi cô em họ của mình.
Dằng dịt như vậy khiến cho bàn dân thiên hạ tha hồ đàm tiếu dị nghị, còn đám ”Nhà thờ họ” lại coi đó như biểu hiện sinh động của thuyết phi lý, giữa cái gọi là người được chọn và người bị chọn!
Rồi Ngọc Cương, em trai linh hồn của nhóm, với gương mặt quỷ khốc thần sầu đen đúa, mắt sáng như điện, lầm lì ít nói, mê chưởng Kim Dung như điên, thường tự ví mình với Tạ Tốn, một nhân vật võ lâm khét tiếng nhờ phép Sư tử hống và một tiểu sử bi thương: thầy của Tạ Tốn lại cưỡng bức vợ người đệ tử yêu nhất của mình. Tạ Tốn thành kẻ căm thù đồng loại và hiếu sát!
Hoặc chú lính mới Xuân Trọng được cô bạn gái của mình tiến dẫn, gia nhập nhóm. Trọng chủ trương một cuộc cách mạng do những người đàn bà đẹp chủ trì. Một cuộc cách mạng không đổ máu, những mĩ nhơn đủ sức kéo những kẻ thù vào cuộc truy hoan mê mẩn mà rã rời tứ chi, buông vũ khí khi giờ N của những người cách mạng đã điểm! Không biết có phải vì lý thuyết ấy, Xuân Trọng đã rải những mối tình của mình dọc quốc lộ 1 từ Huế vào Đà Nẵng không?
Và cuối cùng chàng Gia Li, người có tiểu sử lạ lùng nhất trong nhóm. Một gia đình thuộc loại thế phiệt trâm anh ở Triệu Sơn, Thanh Hóa đang hồi sa sút. Ông nghè Tân, chủ gia đình nằm xuống. Giấy rách phải giữ lấy lề. Nợ miệng thiên hạ quá nhiều, phải làm ma long trọng cho đúng với danh phận người quá cố, mọi người trong nhà nhắm mắt mũi vay nợ lãi. Ông Nghè mồ yên mả đẹp, còn cô Liên, con gái út ông, được dẫn lên bán cho viên tri huyện Triệu Sơn làm nàng hầu để gán nợ… Nhưng quan thì già, người đành dùng nàng vào việc múa bông. Xuân thu nhị kỳ cúng tế, nàng cùng đội múa bông làm trò hí lộng quỷ thần… Sau, nàng với máu nghệ sĩ, bỏ trốn vào Huế hát rong ở các chợ cố đô. Nhan sắc mặn mà, giọng ca mượt như lụa Hàng Châu, nàng liền hớp hồn viên quản ca của triều đình. Hai người lẹo tẹo, nàng vừa sinh Gia Li, vợ lớn người quản ca từ Kim Long chạy lên, xách dao rượt chồng và cô tình nhân xứ Thanh của ông ta. Hận đời đen bạc, nàng bồng bé Gia Li ăn xin dọc đường, lần mò lên tận cao nguyên Di Linh. Nàng phó thác đời sống mót của mẹ con nàng cho một bác tiều phu góa vợ. Gia Li lớn lên trong rừng rậm, khí hạo nhiên hoang sơ và đời sống lao lung hun đúc trong chú bé chí quật cường rừng rú. Túp lều bác tiều phu gần trường học của Thần học viện Dòng Tên. Nhờ những sư huynh, Gia Li biết rành lịch sử Thiên Chúa giáo trước khi rành bốn phép tính cộng trừ nhân chia. Cha bề trên tại đó đem lòng thương thằng nhỏ nghèo hèn nhưng mặt mũi sáng sủa, tính đưa Gia Li vào trường… Cậu mới hay rằng, ở La Mã có một giáo hoàng mặc áo trắng công khai nhưng quyền hành thực sự lại trong tay giáo hoàng áo đen giữ chức tổng quyền Dòng Tên. Không biết do không khí Phúc âm hay do sự hấp dẫn của những bữa ăn no mà Gia Li mê Thiên Chúa như điếu đổ? Cũng không biết cơn cớ gì khiến người quản ca bị đuổi việc. Ông này lần mò, tìm được mẹ con Gia Li. Lần đầu tiên, Gia Li biết mình có một người cha đẻ. Cha đẻ vẫn mạnh hơn cha Dòng Tên. Người mẹ ở lại với bác tiều phu. Gia Li theo cha về Đà Nẵng đi học. Nghịch phá hoang đàng và máu rừng rú khiến Gia Li thích cầm đầu chúng bạn đánh lộn với lớp trên. Có lần đào bới được những lưỡi giáo và nòng súng hỏa mai han gỉ dưới đất trong khu vườn cạnh trường, Gia Li tự coi mình được khải thị thay trời hành đạo. Cậu đâu biết rằng, đó là dấu vết của thời ông Nguyễn Tri Phương cầm cự với giặc Phú-lãng-xa đóng bên kia bán đảo Sơn Trà.
Rồi mẹ lớn nghĩ lại, vốn không có con trai, bà cho phép chồng đưa thằng con riêng của ông ra Huế học trường Khải Định. Gia Li làm kịch thơ, đêm nào cũng nằm mơ thấy mình cầm đầu một cuộc bạo loạn. Tết âm lịch năm 57, theo lệ thường, học sinh Khải Định biểu diễn văn nghệ tưởng niệm ngày giỗ cụ cố Ngô Đình Khả. Và bao giờ cậu Cẩn cũng bỏm bẻm nhai trầu, chủ trì đêm diễn. Gia Li viết và dựng kịch thơ “Tráng sĩ Kinh Kha”. Ngọc Cương thủ vai tráng sỹ nhất khứ hề bất phục hoàn, chỉ thẳng đám quan khách ngồi dưới và cậu Cẩn, vung gươm mà hét:
Hỡi bạo chúa giờ tận cùng đã điểm
Lưỡi gươm ta mài vẹt cả ánh trăng
Ngươi phải chết, lửa hờn ngời sắc kiếm
Linh hồn ngươi đày đọa mãi nghìn năm!
Cậu Cẩn giận đỏ mặt, đứng dậy bỏ về. Buổi diễn tan. Mạng sống của kịch tác gia và diễn viên coi như đã được quyết định: bón xác cho những gốc cam nổi tiếng trong vườn riêng của cậu.
Gia Li run bắn người khi bạo chúa chưa chết mà cậu sắp thành người thiên cổ.
Cậu Cẩn nhai trầu bỏm bẻm hỏi Gia Li đang quỳ dưới thềm:
- Răng, mi bao nhiêu tuổi?
- Dạ, con mười lăm!
Thực ra Gia Li mười bảy nhưng ăn gian tuổi, may ra cậu tha cho con nít.
- Răng, mi ngán sống rồi hỉ?
- Dạ, trăm lạy cậu thương… Hồi trước, con ở với mấy cha bề trên tại Thần học viện Dòng Tên trên Đà Lạt. Mấy cha bày cho con vở ni. Con nhớ lại, diễn trình cậu coi.
Cậu bán tín bán nghi:
- Cha bề trên nào bày cho mi?
Gia Li mừng quớ, chết đuối vớ phải bọt, khai luôn.
- Dạ, trình cậu, chính cha Bình dạy con!
Cậu Cẩn vốn ngoan đạo lại phải tội hơi kém thông minh nên không nhận ra mánh lới chạy tội của Gia Li. Cha cố đời nào lại dạy cho đệ tử diễn tuồng Tàu? Nhờ vậy, cậu hơi nguôi, tha tội và còn bảo Gia Li ở lại ăn cơm với cậu. Vừa ăn, cậu vừa khuyến khích Gia Li kể chuyện về đức cha Bình. Trí nhớ dai và tài bịa chuyện, Gia Li kể lâm li đến nỗi, nhiều chỗ cậu rơm rớm nước mắt. Gia Li không ngờ, những lục đục trong nội bộ giáo phái miền Nam đã cứu mạng cậu.
Nguyên toàn cõi Đông Dương chia ra ba giáo tỉnh. Giáo tỉnh Hà Nội bao gồm địa phận Bắc Việt Nam và Vạn Tượng. Giáo tỉnh Huế bao gồm miền Trung và cao nguyên trung phần. Giáo tỉnh Sài Gòn bao gồm Nam Bộ và Cam-bốt. Đức cha Ngô Đình Thục đang làm giám mục địa phận Vĩnh Long, đã từ lâu thèm khát được Giáo hoàng phong chức Hồng y giáo chủ và làm Tổng giám mục giáo tỉnh Sài Gòn thay thế đức cha Bình. Mặc dù dựa thế em là tổng thống Diệm, đức cha Thục cũng liệu bề chưa thực hiện nổi mưu đồ này, bèn trở về nắm giáo phận Huế. Đức cha Thục hy vọng sẽ cắt Đà Nẵng, giáo phận quan trọng nhất miền Trung, ra khỏi địa phận cai quản của Phê-rô Ma-ri-a Phạm Ngọc Chi. Nhưng Chi phản đối quyết liệt, dựa vào cái gọi là bản quyền địa phận do tòa thánh quy định. Chi không thèm đến dự lễ nhậm chức của cha Thục tại giáo tỉnh Huế. Không những thế, Chi còn làm kỳ đà cản mũi đức cha Thục bành trướng thế lực. Cẩn là em nhưng lại ghét ông anh lắm tham vọng, bèn ngấm ngầm câu kết với cha Chi và đương nhiên, có thiện cảm đối với những người kình chống cha Thục…
Cuộc đời vốn ưa thích những dích dắc. Thuở thiếu thời, Gia Li từng được các cha Dòng Tên dạy dỗ, khi thành niên, Gia Li lại được học các giờ cổ văn do đích thân thầy Quang Minh giảng. Thầy Quang Minh đang có ý ngấm ngầm chiêu binh mãi mã cho công cuộc quật khởi lâu dài. Gia Li lọt vào mắt xanh của thầy nhờ sự thông minh, ý chí quật cường và cái tự ý thức thế thiên hành đạo. Thế là Gia Li trở thành cánh tay mặt của thầy cùng với Vĩnh Thọ. Đồng thời Gia Li thành cây bút có giá của tạp chí Phật giáo, Hải triều âm.
Thầy Quang Minh thích phát biểu u u minh minh, ai hiểu sao cũng được. Gia Li mặc nhiên nhận lãnh nhiệm vụ “dịch” những lời thầy Quang Minh nói thành ngôn ngữ thế tục dễ hiểu. Nghĩa là Gia Li trở thành phát ngôn viên bán chính thức của Phật giáo Huế. Nhưng đôi khi “bản dịch” của Gia Li gây ra phản ứng bất lợi, thầy Quang Minh thản nhiên tuyên bố:
- Đó là ý kiến cá nhân. Không nên lẫn lộn với đường lối chính thức của Phật giáo!
Ta vừa thử làm toát yếu lý lịch của các thành viên “Nhà thờ họ”. Rõ ràng không nên xếp họ cá mè một lứa như giáo sư Huyễn đã làm. Xuất thân, địa vị hiện thời, khuynh hướng nhập thế (kể cả xuất thế) của họ chia rẽ nghiêm trọng. Vậy cái gì đã liên kết họ thành nhóm? Tính ưa đàn đúm của tuổi trẻ? Sự hiếu kỳ? Hay cái gì khác nữa, bản chất hơn?
Điều này Phi chưa trả lời được ngay.
Bà vợ giáo sư Huyễn bao giờ cũng dọn hai mâm cơm trong một phòng ăn. Một dành cho chồng và cậu gia sư của con gái. Một dành cho hai con trai. Còn bà và Ngọc Trà tùy hứng, có thể ăn chung với bên này hoặc bên kia.
Nhưng dường như có một thỏa ước ngầm, không bao giờ cả hai cánh đàn ông trong nhà cùng xuống phòng ăn một lượt. Và Ngọc Trà cùng mẹ đóng vai trò “khu phi quân sự”. Tuy nhiên, bà mẹ thiên về hai đứa con trai hơn, Ngọc Trà thiên về bố. Phòng ăn trở thành một thứ “Bàn môn điếm”[1] trong gia đình giáo sư. Anh em Ngọc Phương trổ một lối đi riêng để bạn bè họ có thể ra vào “Nhà thờ họ” mà không cần phải phơi mặt trước giáo sư Huyễn. Và Phi cũng mặc nhiên quay lưng lại với nhóm bạn của anh em Ngọc Phương. Anh cảm thấy xa lạ với họ, hoặc tệ hơn, anh ác cảm với lối sống mà anh cho là phù phiếm của họ…
Ngọc Trà vốn đa cảm, nước mắt đấy rồi cười đấy trước mỗi diễn biến của buổi học. Cô cũng không nhận ra điều vô lý này, hai anh cô nổi tiếng học giỏi và có bằng cấp cao, tại sao lại phải thụ giáo “anh đồ Quảng Nam” – Nguyễn Phi?
Có lần ăn cơm với Phi, giáo sư Huyễn cười:
- Có lẽ bác phải trả cháu hai lương (gần đây giáo sư thay đổi cách xưng hô). Một lương cháu dạy Ngọc Trà, một lương cháu lên dây cót tinh thần cho bác!
Sau đó giáo sư rủ anh đánh cờ. Ít nhất hiện tượng đó cũng khiến anh vui vui, giáo sư Huyễn cũng đỡ cô quạnh hơn.
Và thật bất ngờ, một bữa kia, bà vợ giáo sư Huyễn nói nhỏ với Phi:
- Cháu đọc thơ Tố Hữu cho em Trà nghe cũng được thôi, nhưng nhớ dặn em đừng chép lại. Lỡ người ngoài biết, không hay…
Đột nhiên sau bữa cơm chiều, Ngọc Trà hỏi Phi:
- Anh có biết bữa nay trong “Nhà thờ họ” có việc chi đặc biệt không?
Phi ngơ ngác lắc đầu. Trà hạ thấp giọng như sắp nói một chuyện rất hệ trọng, bí mật:
- Sau một thời gian đi hoang, thi sĩ Phan Trịnh đã trở về Huế. Nghe nói ổng định trở lại Quốc học, lo thi tú tài hai và tránh nạn quân dịch. Ông ấy là học trò anh Phương, nhưng anh Phương rất kính nể ổng. Tối ni, ổng đến “Nhà thờ họ” đọc cho mọi người nghe một số thi phẩm mới nhất của ổng. Anh qua dự coi cho vui!
Dĩ nhiên, Phi từ chối, nhưng không nỡ làm Ngọc Trà cụt hứng, anh trớ qua chuyện khác:
- Tiếc quá, tối nay anh lại hẹn gặp mấy người bạn. Ngọc Trà qua nghe rồi về thuật lại cho anh cũng hay chớ sao?
Qua bản tường thuật của Trà, Phi hiểu, đêm thơ của đứa con hoang trở về đã thành công khác thường. Từ lâu, những buổi dạ đàm văn chương trong “Nhà thờ họ” đã thu hút lớp trẻ có học thức tại Huế. Nay với Phan Trịnh, tên tuổi, thơ ca và những giai thoại về cuộc đời thi sĩ lại càng làm cho những người dự khán mê mẩn.
Phi có thể hình dung.
Ánh điện tắt ngấm nhường chỗ cho những ngọn nến lung linh. Đám thính giả may mắn mới có chỗ ngồi chen chúc trong “Nhà thờ họ”, còn thì phần lớn đứng vây quanh bên ngoài.
Thi sĩ Phan Trịnh có bộ mặt góc cạnh, vừa gân guốc vừa sầu mộng, với nước da tai tái, đội mũ cát-két, áo ca-rô, quần ka-ki bạc phếch mạng chi chít trên đầu gối, hai tay khoanh trước ngực, uể oải nhìn những kẻ hâm mộ mình… Sau vài lời phi lộ trịnh trọng của giáo sư Ngọc Phương, Phan Trịnh bắt đầu đọc thơ.
Đương nhiên, bản tường trình của Ngọc Trà còn khiếm khuyết phần căn bản nhất: những thi phẩm của Phan Trịnh đã xuất hiện trong hoàn cảnh tinh thần nào?
Trong chuyến tàu chạy trốn khỏi Huế, Phan Trịnh vật vã với những ám tượng hoàng hôn. Tàu dừng tại ga Sông Vệ, thi sĩ không cắc bạc trong túi, bèn rời con tàu. Tại đây, anh được một tốp thợ chuyên đặt bánh xe nước dọc đường Sông Vệ nhận vào làm hỏa đầu quân. Họ đào đất, dựng xe nước và anh nổi lửa ngay bên bờ sông, nấu ăn cho tốp thợ…
Chiều tà, tốp thợ ăn qua quýt dăm ba miếng, rồi hấp tấp thay đồ mới. Một số ra thị trấn nhậu nhẹt, một số la cà vào những làng gần đó mò gái quê. Một mình Phan Trịnh với đống nồi niêu, chén đĩa, cái bếp đã tắt lịm. Và chàng làm thơ.
Rồi lại đi xe cọp lên Đơn Dương. Tàu dừng tại ga Nha Trang nửa giờ. Muốn ghé tới thăm người tình – cô giáo Viễn Miên Trường ngày xưa. Tự nhiên thấy vô nghĩa, dớ dẩn…
Tới Đơn Dương vào ban mai. Một ban mai cao nguyên đầy sương. Bàng bạc đài nguyên như đang ở một miền băng giá. Thảm cỏ rợn xanh lấp loáng, bầy ngựa phi tung bờm bên những thác nước trắng. Chưa kịp no nê cảm xúc đã ngấm ngầm hốt hoảng. Tiền đâu ăn bữa trưa? Lần mò vào nhà một người Bắc di cư, lễ phép hỏi một người đàn bà luống tuổi mặc áo đen đã mất hết tuyết:
- Bác có việc chi cần thuê người không?
- Cậu chẻ củi được không?
Vừa nói, người đàn bà vừa chỉ tay vào đống củi gộc sau nhà. Xoay trần, vung búa chẻ củi. Được ba búa, xính vính, mắt hoa lên như Trình Giảo Kim. Một gương mặt thiếu nữ diễm lệ hiện ra trên khung cửa sổ tầng hai. Nàng bước xuống, mời chàng uống trà Blao và xem tranh Gô-ganh. Nàng học trường tây Pe-lơ-ranh trên Đà Lạt, chủ nhật về thăm mẹ. Nàng bảo chàng thôi chẻ củi, chàng bảo cần tiền đi tiếp Dầu Giây – Sài Gòn. Nàng móc túi cho 150 đồng và giữ rịt thi sĩ bên mình. Chiều u buồn quá, nàng cô đơn, nàng bảo vậy. Mắt mộng môi hiền, giọng Bắc thăm thẳm buồn, vẫn cứ phải ra đi, vô lẽ cả tuần bổ củi để chờ nàng cuối tuần về, mua vui cho nàng? Nàng cho thi sĩ một tấm khăn san, một bộ quần áo và một lời nhung nhớ nếu phải xa nhau mãi mãi. Nói cho hung, sớm mai lên trường Tây, đọc thơ La-mác-tin, chắc nàng quên ngay thi sĩ – bổ củi?
Lên Đa Kao, khu Tin Lành. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, gặp Đinh Hoàng, Linh Viên hai thằng di cư bán báo, tứ cố vô thân, nằm bẹp trên gác xép Hòa Hưng viết phơi-ơ-tông cho Thần Chung. Mỗi ngày phải són ra ba trăm chữ. Nghĩ cốt truyện xong, thằng đọc thằng chép. Mệt quá, đổi vai trò. Mỗi bài kiếm được dăm trăm. Có đêm buồn ngủ quá, nhân vật chưa đâu ra đâu, hạn chữ sắp hết. Bàn nhau:
- Cho thằng nọ giết béng thằng kia vì tình đi!
- Đâm hay đầu độc?
- Bắn cho lẹ, hết hạn ba trăm chữ rồi.
Có người mách mối, cạy cục xin bưng điếu tráp cho tiên tri gia Trần Đình Ngọ. Cha này đi bói bằng xe Ca-đi-lắc Huê Kỳ. Lên xe xuống ngựa một thời. Ngọ nuôi đầy tớ cũng khá. Mấy chú Ba Tàu – Chợ Lớn khoái coi chữ ký, tướng mạo. Lại theo thầy xuống Bến Tre, đúng lúc dưới đó lộn xộn.
Dân đồng khởi, tổng thống Diệm tuyên bố trên đài phát thanh: Tổ quốc lâm nguy!
Lần đầu tiên thấy lá cờ nửa xanh nửa đỏ, ngôi sao vàng chính giữa. Theo dõi báo chí thấy Phan Quang Đán – Nguyễn Trân đối lập, ra mặt chống Diệm. Ngồi ăn phở trong quán cùng đám dân lao động, cũng mang máng biết có gì khác lạ. Một bác xích-lô bưng tô phở lên dõng dạc hô:
- Ngô tổng thống, hoan hô tô hủ tiếu!
Ngọ cho thôi việc. Phan Trịnh ra cầu Ông Lãnh nhập bọn cùng Tư Rô và đám anh chị. Ngày, đám du đãng ngủ li bì, thi sĩ vác ổ bánh mì đến thư viện Linh-côn đọc cuốn “Để hiểu tư tưởng của Các Mác” của Hen-ry Lơ-phe-brơ, đọc cả Lê-nin lẫn Xác-tơ-rơ, Ca-muy, Xa-găng…
Về Huế, nhà cửa tan hoang. Mẹ nằm nhà thương tâm thần. Mỗi chiều thứ bảy, đứng ngoài chấn song sắt nhìn vào, thấy mẹ bị đám điên khỏe mạnh đánh dúi dụi trong góc cũi. Mẹ đưa bàn tay gầy như que tăm, vẫy con lại cứu. Con cắm mặt bỏ đi, không cứu nổi mẹ. Đưa mẹ ra khỏi nhà thương điên thì sống ở đâu, ăn ở đâu? Đành, mỗi hoàng hôn cuối tuần, đến chỗ chấn song sắt như Ki-tô chịu khổ nạn trên thập giá.
Làm công cho một linh mục cầm đầu Công giáo tiến hành, làm thợ sủa mo-rát cho báo Đức mẹ La Vang…
Trở lại ghế quốc học, cố lấy mảnh bằng tú tài hai và tị nạn quân dịch. Học cùng lớp với Băng Sương, hoa khôi Huế gốc Hội An. Nhiều cậu trồng cây si lắm. Thêm Phan Trịnh, học trò áo ka-ki xám bẩn, quần gin cũ, ngồi xổm ăn chung với du đãng bên vệ đường, vào lớp cãi lộn với các giáo sư. Đàm đạo tay đôi về triết học với giáo sư Ngọc Phương – cây hiện sinh số một của Huế. Ngày sinh nhật Băng Sương, không có thiệp mời vẫn tới. Ngang nhiên đứng lên giữa bàn tiệc, tuyên bố:
- Tôi và Băng Sương sẽ làm lễ đính hôn!
Choáng váng hơn là yêu đương, Băng Sương nhận lời. Cha Băng Sương giàu, bỏ mẹ Băng Sương vào Sài Gòn lấy vợ nhỏ. Băng Sương có lấy người cùi cũng không bận tâm. Nhưng anh trai Băng Sương, sinh viên khoa Nông-lâm-súc Blao chịu sao nổi sự sỉ nhục này. Viết thư khuyên em không xong, xông ra tận Huế tìm ông em rể tương lai tại nhà thương tâm thần vào hoàng hôn thứ bảy nào đó. Cuộc đối thoại thành trò cười cho cả Huế đang buồn chán.
- Anh không có quyền dụ dỗ em gái tôi!
- Băng Sương tự nguyện!
- Anh định làm đám cưới trong chuồng thú kia hả?
Bốp!
Ông anh vợ tương lai loạng choạng ôm mặt và chuồn. Băng Sương khoái trá nghe người tình thuật lại chuyện chàng đón tiếp ông anh vợ quá nồng nhiệt. Rồi nàng ngả vào lòng thi sĩ, mũi hít cái mùi mồ hôi dầu đặc sắc của chàng mà thổn thức:
- Anh muốn làm lãnh tụ hay làm thơ mặc anh, em sẽ nuôi con và anh.
Nàng vào Sài Gòn thăm cha. Hẹn chàng vào Nha Trang đón. Chàng đi xe lửa cọp vào đợi sẵn ở chợ xóm Mới. Ba giờ đêm, nghe tiếng còi xe lửa, hộc tốc phóng vào sân ga. Nàng khuê các, thơm phức mùi nước hòa, cười…
Tới Huế, Băng Sương xuống trước, thi sĩ lủi thủi xách va-li theo sau. Một đám công tử ra ga đón nàng. Thi sĩ định thụt lại, nhưng nàng kéo chàng dấn lên, giới thiệu:
- Đây là vị hôn phu của tôi!
Ngọc Trà đã tìm cách chép lại những bài thơ của Phan Trịnh đọc đêm ấy trong “Nhà thờ họ”. Vốn có ấn tượng nặng nề với nhóm, Phi lơ đãng dúi tập thơ Ngọc Trà đưa cho anh xuống dưới những chồng sách toán.
❀ ❀ ❀
[1] Khu phi quân sự giữa hai miền Triều Tiên (Caruri).