Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dự Cảm
Dự Cảm

❊ ❊ ❊

Gió và lửa. Gió thổi tắt những đóm lửa li ti, nhưng lại làm bùng lên những đám cháy lớn. Biển được sinh ra để giết chết những kẻ hèn nhát và để biểu dương sức mạnh của những ngư phủ dũng cảm, thông minh!

Vẫn dốc Ô-ray, ông già áo xanh mỉm cười xốc cái túi vải đeo bên vai:

- Chào đồng chí Phi!

Ông gọi thẳng tên anh, chứ không kêu bí danh Phương Mai.

Kiêu hãnh lạ lùng, được làm đồng chí với ông già áo xanh. Thực tất cả, từ giọng nói, nụ cười, cái bắt tay, sao vẫn phảng phất một huyền thoại? Ông đưa Phi vào lán, một người đàn ông chờ sẵn, bảo Phi:

- Phi cứ gọi tôi là anh Tư, nào, báo cáo đi, tổ chức lực lượng đến mô rồi?

Hai người vừa theo dõi báo cáo, vừa thỉnh thoảng nhìn nhau. Mừng, lứa trẻ trưởng thành từ máu lửa khốc liệt, bớt ấu trĩ hơn cánh mình hồi nhập cuộc. Trong óc Tư Hòa hiện rõ mồn một từng dòng của nghị quyết Hội nghị lần thứ 15, Trung ương Đảng tháng 5 năm 1959.

“Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam Việt Nam là dùng bạo lực, theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là: Lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực lượng vũ trang hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng nhân dân…”

Chính ông đã đi thẳng từ hội nghị, mang Nghị quyết Thép ấy vào Khu uỷ 5. Quê hương yêu dấu và đau thương của ông đã đứng lên với thân hình chằng chịt lỗ đạn bắn và vết dao đâm bầm giập. Bắt đầu từ khởi nghĩa Trà Bồng, một trong những cuộc khởi nghĩa từng phần tiêu biểu đầu tiên trong bước chuyển mình của cách mạng miền Nam. Và bây giờ, đã đến lúc tung lực lượng xung kích trẻ đánh từ trong lòng địch đánh ra. Dòng tư tưởng đậm đặc những ý nghĩ quyết liệt và sắc bén của ông, quyện vào cái hăm hở của tuổi trẻ trong báo cáo của Phi.

Nghe xong, Tư Hòa mỉm cười khen:

- Bước đầu như vậy là tốt. Đã đến lúc phải thành lập Hội liên hiệp Thanh niên – Sinh viên – Học sinh Giải phóng miền Trung, dựng lá cờ yêu nước, hiệu triệu tuổi trẻ miền Trung tham gia cách mạng. Từ đó hình thành các hội liên hiệp địa phương, từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Tín, Đà Nẵng, Quảng Ngãi đến Bình Định. Phi chuẩn bị phương án tổ chức, nghe?

Nhận chỉ thị xốn xang cả người. Lâu nay cứ móc nối người này, người khác nhưng chưa biết để làm gì? Bây giờ có hướng hoạt động rồi. Ngồi suốt hai ngày, cặm cụi, phác họa chương trình hành động. Đi các tỉnh tổ chức cụ thể: Cánh Bắc lấy trạm Như Lý làm nơi tập trung, cánh Nam do Cẩm Lệ và Sơn đón tiếp. Tập kết tại cửa Thuận An, mùa hè tới nhiều người tắm biển tại đó, dưới dạng pic-nic, các đại biểu đến dự đại hội sẽ không bị chú ý. Sẽ bầu ban chấp hành khoảng 9 người, đại biểu khoảng 31 người…

Ông Tư và ông già áo xanh nghiên cứu tỉ mỉ, thẩm tra lại từng chi tiết trong kế hoạch. Cuối cùng, ông Tư duyệt y và dặn:

- Làm gọn nhẹ, tinh, có chất lượng, tránh khoa trương, lộ lực lượng và phương thức hoạt động!

Thật bất ngờ, ông Tư tặng Phi một khẩu Walter. Nhưng trước khi tiễn Phi xuống dốc Ô-ray, ông bảo Phi gởi lại khẩu súng đó cho Ba Xuân. Phi buồn xo, nhưng buộc phải làm theo.

Tư Hòa nghiêm nét mặt nói:

- Bây giờ vũ khí tốt nhất dành cho Phi là trí tuệ và khả năng mẫn cảm chính trị!

Phi ngậm ngùi chia tay Tư Hòa, Hồ Xuân và khẩu Walter – một món quà đặc biệt.

Anh vào Đức Phổ, Quảng Ngãi trước. Tỉnh uỷ Quảng Ngãi giúp anh bắt liên lạc với Đại, Quới và Mai. Ba người này là cơ sở bí mật của tỉnh ủy, đang hoạt động hợp pháp trong các trường thị xã Quảng Ngãi. Hoàng Mai được phân công thay Phi vào Quy Nhơn tổ chức tiếp.

Mất đúng hai tháng, mùa mưa 61 sắp kết thúc. Phi về Hội An dạy trường Trần Quý Cáp, vừa kiếm tiền sống, vừa gây dựng phong trào cho Quảng Nam (hồi này địch chia lại ranh giới của tỉnh Quảng Nam).

Nguyễn ra trường, về Hội An làm hiệu trưởng trường tiểu học Cẩm Kim. Nguyễn thường qua lại gặp gỡ thầy Lưu. Con nhà giàu, thân hình lực sĩ, áo blu-dông may vừa khít, phóng mô-tô Bê-can mỗi chiều thứ bảy về Vĩnh Điện. Các cô gái Hội An kháo nhau về Nguyễn nhiều chuyện ly kỳ, quanh mối tình của anh và Bạch Vân. Công an Hội An khỏi lo con người may mắn đó làm cộng sản. Nguyễn tổ chức được Đợi, hình thành cơ sở tuyến Vĩnh Điện – Hội An.

Phi vừa bước vào lớp B.3, bỗng sững lại. Trời ơi, Út Hà ngồi ngay bàn đầu. Suýt nữa anh bật kêu lên: Út Hà. Nhưng chú bé đó thản nhiên ngó anh, khiến anh phải kìm mình lại…

Hoá ra anh nhìn lầm. Phi giở tấm bản đồ lớp B.3, đối chiếu với vị trí chú bé đang ngồi, biết chú tên Cường.

Kỷ niệm trại ông Ba Thư sống lại trong khoảnh khắc. Giảng toán, nhưng hồn vía bay về vùng đông Thăng Bình.

Cả lớp ngơ ngác, ai cũng đồn về thầy Phi dạy toán mê li lắm, răng bữa ni, thầy giảng như người mất hồn vậy?

Còn Phi chỉ mong chuông điện reo, báo hết giờ học…

Cường sợ hãi, khép nép bước vào phòng riêng thầy Phi. Thầy ra khép cửa và ôm chầm lấy Cường, nghẹn ngào khóc. Cường chưa hiểu thế nào cả, thầy Phi đặt Cường ngồi xuống ghế:

- Cường, em quên anh rồi sao? Anh là Phi, anh ruột Út Hà.

- Cha bị giết, tụi Võ Trắc, Cửu Khả vây kín bưng. Cả nhà nhận xác cha về chôn. Sau đó cực lắm, anh Phi ơi. – Cường mếu máo. – Bọn hội đồng hương chính, công an, nghĩa quân lồng lộn xô đến tịch thu toàn bộ tài sản. Trước đó, mẹ đã đào hầm chôn bớt một số đồ dùng đáng tiền. Cửu Ca, chú rể Cường ở sát bên hè, đánh hơi chuyện mẹ chôn của. Hồi kháng chiến, cha làm công tác truy tô, truy thuế nông nghiệp. Cửu Ca là địa chủ, cha thẳng tay, pháp bất vị thân mà. Lão căm cha từ đó, giờ có dịp trả thù… Cửu Ca dò hỏi Cường, chú nhóc khai hết trơn, Cửu Ca chỉ chỗ cho tụi nó đào hết…

Hết kế sống. Dắt trâu, gánh lúa, đào nhà, tụi nó còn thường xuyên qua lại đòi ăn như cú dòm người ốm. Ông ngoại cũng sa sút, không giúp được các cháu. Ba anh em nhẫn nhục theo học trường làng. Võ Trắc đe dọa bóng gió làm cỏ nhà Ba Thư. May có cậu Sáu Lung (cựu quận trưởng Lung, Phi nhớ lại), đang ở ẩn, Diệm kêu lên, bắt làm quận trưởng Điện Bàn. Trước khi nhậm chức, cậu Sáu nói với chị gái:

- Thiệt tôi không muốn cộng tác với chế độ này, vì như vậy là tôi đứng về phía đối lập với anh Ba Thư và những người kháng chiến. Nay tôi cắn răng chịu nhục, khuất thân để cứu cháu Lệnh và giúp chị nuôi các em nó! Lũ Võ Trắc, Cửu Khả thấy Diệm dùng tôi, cũng không dám làm quá tay với gia đình chị. Mai mốt kháng chiến về, chỉ xin chị nói một tiếng cho tấm lòng thành thực của tôi!

Cậu gởi tiền về nuôi các cháu, thỉnh thoảng còn đích thân đi chiếc Pơ-giô 403 về thăm làng, ý muốn dằn mặt lũ Trắc, Cửu Khả. Nhờ vậy, anh Lệnh thoát chết, lại được lên Hà Lam học trường Tiểu La Nguyễn Thành, sau ảnh ra Hội An học với ông ngoại. Chị Thơm nối gót ảnh, lên học tại Hà Lam, rồi đến lượt em… Bây giờ, anh Lệnh đang học đệ nhất ngoài Đà Nẵng, ở nhà cậu Lung. Chị Thơm đang học đệ tam tại Thăng Bình, em ở đây với ngoại. Ngó bề ngoài cảnh nhà tạm ổn, nhưng anh Phi ơi, chán lắm… Ông ngoại lấy thêm bà nhỏ, bả không muốn chứa em tốn cơm. Cậu Lung ăn chơi, trai gái phóng đãng. Cậu đánh bạc đến nỗi nằm nghiêng trên sòng bạc ký giấy tờ. Quan thuế liên quan đến tàu bè ra vô, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng như điên. Anh Lệnh về kể cho mẹ nghe tình hình cậu Lung, mẹ lo lắm.

Phi lấy xe đạp chở Cường về ông ngoại ở đường Lê Lợi. Dãy nhà trong kiệt xây từ thời Pháp, tối tăm và chật hẹp, kiệt Si-ca. Phi chua xót nhớ lại những kỷ niệm với Sanh một thời học Diên Hồng. Cường chia tay với thầy bùi ngùi. Ngó cái bóng của nó lủi thủi cúi đầu mà thương như thương chính Út Hà.

Qua bữa sau, Phi rủ Cường đến ở cùng trường với mình và Cường trở thành liên lạc viên của Phi. Dù sao, đó cũng là những ngày hạnh phúc của nó. Lệnh về Hội An thăm em, gặp Phi, mừng quá. Kể chuyện, trong lớp Lệnh có thằng bạn thân là Nguyễn Rong, thằng này con nhà thầu khoán, mấy chú ruột đi tập kết hết trơn. Nhưng nó biếng học dễ sợ, ham chơi. Đặc biệt thương Lệnh, hai thằng thề sống chết có nhau… Phi nghe Lệnh kể xong bảo:

- Lệnh nhớ ra Huế học đại học, mình sẽ gặp Lệnh ở đấy!

Cường chen vào câu chuyện của hai người anh:

- Nè, anh Phi nhớ chú ý. Trong lớp B.3 của em có thằng Hồ Ngọc, vừa bằng tuổi anh. Hình như nó là Quốc dân đảng, mỗi lần đụng chuyện cộng sản với quốc gia, thằng Ngọc biểu: Tau chống ráo trơn ráo trọi!

Ba anh em nói chuyện vui vẻ. Kiếm phóng xe máy từ Vĩnh Điện xuống tìm Phi. Bước vào, Kiếm nói luôn, tay gạt mồ hôi trên trán:

- Đồ đạc, sách vở chi mô?

Phi ngơ ngác, Kiếm xách ngay va-li của Phi trong góc nhà lên, hấp tấp ra cửa. Phi ngăn lại:

- Khoan đã, chuyện gì mới được chứ?

- Về Vĩnh Điện, lệnh ông già tau. Quân lệnh như sơn, đi!

Phi chợt hiểu. Thằng đâu nóng như lửa, ít nhất cũng phải kể đầu cua tai nheo trước khi bắt người ta dọn nhà.

- Biết tin mi về Hội An dạy Trần Quý Cáp, nhưng mi không ghé qua nhà, ông già tau giận lắm, ra lệnh: Mi xuống Hội An, biểu thằng Phi về đây, tau biểu. Con Hoan xui tau: Anh cứ chở hết đồ đạc của ảnh về đây là xong. Tau thấy con nhỏ nói có lý. Nè, thiệt đó, nó mê mi rồi, suốt ngày ăn rồi trách tau, chắc anh làm chi, anh Phi giận mới không tới nhà mình. Bữa ni mi không về, tau cũng không dám vác mặt về Vĩnh Điện!

Nghe bạn nói vừa cảm động, vừa bực mình. Chuyện Hoan đâu phải thứ kể ồn ào vậy. Chưa xong, Kiếm móc túi lấy ra chiếc đồng hồ đưa cho Phi:

- Quà tặng của con Hoan đó. Nó hỏi miết mới biết loại Pen-ta-ny-a này chạy chính xác. Có thư đây nè!

Phi ngượng chín cả người. Anh em Lệnh ngẩn người theo dõi câu chuyện. Phi đọc mảnh thư ngắn ngủi:

“Anh Phi, em tặng anh chiếc đồng hồ để anh theo dõi thời gian. Và anh đừng quên đứa em gái Vĩnh Điện của anh.”

Kiếm chép miệng:

- Con nhỏ mới mười bảy tuổi nhưng lãng mạn lắm. Nó mê mi vì mi đã trở thành huyền thoại trong mắt nó, thần đồng nè, học giỏi nè, xuất quỷ nhập thần nè, dũng cảm nè, nhất là sau vụ mi giáp mặt thằng Thái. Trước kia nó sùng bái thần tượng Phan Trịnh bao nhiêu, bây chừ nó mê mi bấy nhiêu!

Cứ để thằng yêu này thao thao bất tuyệt, không biết còn phun ra những gì nữa?

- Nếu mi không chịu tốp lại, tau sẽ không về Vĩnh Điện!

- Nghĩa là mi chịu theo tau về? – Kiếm khoái trá reo lên.

- Ờ, nhưng tau phải thu xếp công việc ở đây xong đã. Mi về trước đi!

- Không, mi thề đi! Thề là mi nhất định về Vĩnh Điện. Không, tau cứ chở đồ về trước cho chắc ăn!

Nói xong, Kiếm đặt va-li của Phi lên sau xe máy, phóng vù đi luôn… Phi ngao ngán lắc đầu. Thực lòng, đã từ lâu Phi muốn dọn về Vĩnh Điện trọ nhà Kiếm. Từ đó về Giáng La cũng gần, có chi liên lạc với ông già áo xanh mau hơn, nhất là giai đoạn cuối chuẩn bị đại hội thành lập Hội liên hiệp miền Trung. Còn một lý do nữa, Phi không dám thú nhận với mình, anh bắt đầu nhớ cô bé Hoan mười bảy tuổi.

Một buổi chiều thứ bảy. Nguyễn phóng chiếc Bê-can đưa Phi về Vĩnh Điện với số sách vở còn lại. Phòng ở, Phi giao cho Cường, coi đó là trạm liên lạc dự phòng. Số tiền dạy học, sau khi hai anh em ăn uống tiêu xài, còn dư vài nghìn mỗi tháng. Phi đưa cho Cường một ít, còn lại thủ trong túi, dự định mua một máy quay rô-nê-ô xách tay.

Kiếm đợi hai người tại tiệm cà-phê cuối thị trấn như hẹn trước. Nguyễn và Kiếm quen nhau từ lâu, nay bắt đầu hoạt động trong cùng nhóm bí mật, lại càng gắn bó lạ lùng. Như vậy, đã thiết lập xong đường dây liên lạc: Giáng La – Vĩnh Điện – Hội An. Trong khi Kiếm và Nguyễn trò chuyện vui vẻ, Phi cho phép mình thả hồn đôi chút.

Phi tưởng tượng ra niềm vui ngỡ ngàng của Hoan khi ra cửa đón anh. Không hiểu nàng có liệt mình vào loại tráng sĩ Kinh Kha không? Không, mình nhỏ thó, cò con đâu có sắm nổi vai Kinh Kha. Hè này phải giúp Kiếm học bù những lỗ hổng trong kiến thức đệ nhị cấp của Kiếm. Bây giờ Kiếm lao vào công tác, chắc chắn kỳ thi tới lại càng khó khăn. Dù sao cũng phải giúp Kiếm xong tú tài.

Nguyễn quay lại Hội An. Anh và Kiếm về nhà Kiếm. Người ra đón anh, không phải là Hoan như anh tưởng tượng, mà là ông Hào. Ông ngắm nghía Phi như lần đầu tiên gặp anh:

- Mi giận tau hả, Phi?

- Dạ, bác đừng nghĩ oan cho con. Thiệt con mắc công chuyện.

Phi bối rối thanh minh.

- Mi đừng ngó bề ngoài đã vội đánh giá ruột gan con người. Tiền bạc, nhà cửa của tau thiệt, nhưng khi mô cần, mi nói một tiếng, tau hiến hết!

Phi biết ông không nói đãi bôi, ngay cả khi bảo Kiếm đón anh về nhà ở, ông đã ngầm chấp nhận tình trạng nguy hiểm. Ông dư biết, Phi là ai, đang toan tính chuyện gì. Nhưng ông thương Phi, ông muốn Phi và con gái ông thành đôi lứa. Ông sẽ làm giàu, thiệt giàu, để nếu Phi và con gái ông lâm nạn, ông sẽ tung tiền ra chạy chọt. Ông lạ gì thói tham nhũng, ăn hối lộ của chế độ thối nát này. Có tiền là xong hết. Chính vì vậy, ông nảy ra ảo tưởng, có thể che chở được cho những đứa con của ông, kể cả Phi.

Hoan tránh mặt dưới bếp. Từ bữa Phi chịu nhận chiếc đồng hồ cô tặng, Hoan tự coi mình đã cam kết tình cảm với Phi. Tuy nhiên, trái tim thiếu nữ chưa cho phép cô hình dung, những gì bất trắc sẽ đến với một con người như Phi. Cô chỉ cần biết, mỗi tuần sẽ có hai ngày, cô được săn sóc cơm nước, sửa soạn mùng mền và ủi đồ cho Phi.

Bữa cơm chiều thứ bảy, cả nhà quây quần bên bàn ăn, chuyện trò rôm rả. Hoan luôn tay tiếp đồ ăn cho Phi. Cha cô và Kiếm làm như không hay biết những cử chỉ âu yếm lộ liễu đó của cô. Nhưng Phi đỏ nhừ mặt. Sống thiếu thốn tình cảm gia đình từ nhỏ, Phi đặc biệt nhạy cảm trước mỗi biểu hiện, dù nhỏ nhặt nhất của những người quý mến anh… Thỉnh thoảng, lợi dụng lúc đưa chén cho cô bới cơm, Phi liếc nhìn cô. Hoan xinh quá. Không khí sum vầy hạnh phúc càng làm bộ mặt của cô trở nên sống động hơn, đáng yêu hơn. Phi chợt xót xa, nếu giữa chúng ta chẳng có gì cả, anh sẽ đỡ day dứt hơn đối với số phận của em. Những kỷ niệm về Luyến lâu nay chìm lắng giữa dòng sự kiện dồn dập, bỗng nhiên trỗi dậy trong buổi tối đầu tiên Phi trọ ở nhà Hoan.

Trung tâm văn hóa Pháp vắng người, Phi lựa đó làm địa điểm hẹn gặp chị Xuân Hòa từ Huế vào, báo cáo tình hình chuẩn bị của cánh Bắc. Chị Mây và tiệm may Như Lý sẽ chịu trách nhiệm nuôi giấu đại biểu cánh Bắc. Riêng năm Trường đại học Huế có năm đại biểu: chị Xuân Hòa – đại biểu Y khoa, Lữ – đại biểu Khoa học, Tính – đại biểu Văn khoa, Chiến – đại biểu Phân khoa Toán và Đức – đại biểu chung cho giới sinh viên. Tất cả đại biểu không được thông báo trước địa điểm, thời gian triệu tập đại hội. Chỉ có ban trù bị được biết. Phi dặn chị Xuân Hòa thông báo cho Lữ biết kế hoạch họp trù bị.

Chia tay chị Xuân Hòa, Phi lững thững đạp xe sang bãi biển Mỹ Khê, ở đó Sơn và Cẩm Lệ đang đợi anh.

Mùa hè bắt đầu, người tắm biển trên bãi khá đông, các loại dù đủ màu sắc rực rỡ, gió vừa phải, đúng là thời tiết tắm biển lý tưởng… Không vất vả lắm, Phi tìm được cặp Sơn, Cẩm Lệ. Đẹp đôi thiệt, Phi đứng lặng ngắm hai người đang rì rầm trò chuyện bên nhau. Cẩm Lệ vốc cát xây dựng một lâu đài trên cát. Sóng xô xóa đi, cô mỉm cười xây lại. Sơn nằm lăn ra chắn sóng, sóng trào qua người anh, cuốn trôi thành ốc của Cẩm Lệ. Cô gái bắt thường anh:

- Tại anh đó, thường em đi!

- Vô lý, anh dùng cả thân mình chắn, tại sóng mạnh quá!

- Không, lỗi tại Cẩm Lệ, đừng bao giờ xây lâu đài trên cát!

Phi bước tới, tham gia vào câu chuyện của họ một cách tự nhiên. Cẩm Lệ reo lên:

- Người ta làm không được thì em phải làm được. Như vậy gọi là, từ cái không thể, biến thành có thể. – Giọng Cẩm Lệ hoàn toàn xa lạ với không khí hờn dỗi của câu chuyện họ đang nói tới. – Em nghĩ rứa đúng không, anh?

Bụng dạ đâu tranh luận về cái có thể và cái không thể vào lúc này. Lo chết cha chết ông cho công việc tổ chức đại hội, nhưng cần biết rõ, hai đứa đang có chuyện gì bên trong. Biết đâu chỉ vì những hờn dỗi con nít làm hư chuyện lớn?

- Có chuyện chi phải không?

Sơn cúi đầu, lưỡi sóng tràn qua, liếm trên bãi cát và để lại những ngấn nước sủi bọt. Cẩm Lệ thảng thốt nhìn ra ngoài khơi:

- Có lẽ… chuyện hai đứa tụi em không thành mất, anh Phi ơi!

- Sao vậy, mẹ em hối lấy chồng à? – Phi lo lắng hỏi.

- Không, bữa trước má em tính gả em cho một viên đại uý quân trấn. Suốt đời bả long đong, bả cũng muốn kiếm chỗ nương tựa. Nhưng em biểu má em: Mai mốt ba con về, má con mình ăn nói răng với ba? Biết mô, chính ba đã về trên núi. Má gả con cho thằng nớ, nó dẫn lính đi càn, bắn chết ông già vợ thì oan gia lắm, má ơi. Bả nghe ra, không ép. Nhưng chuyện ni, anh phải hỏi “người ta”.

Sơn lẳng lặng đúng dậy đi dọc triền sóng. Lệ thở dài:

- Em biết đàn ông càng thương càng ghen hung. Nhưng ảnh ghen vô lý quá, em nói răng cũng không chịu hiểu cho tấm lòng em. Sơn chỉ sợ mình anh, em kể ráo cho anh, rồi anh lựa lời khuyên ảnh giùm em!

Lúc đầu, Phi lơ đãng nghe chuyện Cẩm Lệ, ghen tuông, hờn giận, chín mươi chín phẩy chín phần trăm những đôi lứa yêu nhau, đều qua cái đận ấy. Nhưng khi câu chuyện liên quan đến một vài tên người, anh bỗng chú ý theo dõi:

- Anh tính ri mà ổng ghen được. Lương giáo viên tiểu học làm răng đủ sống, em lại mắc chuyện hoạt động, chứng hen của bà già cứ mùa lạnh lại tái phát. Nội lo tiền mua thuốc đủ ớn. Có người mách em đến chỗ nhà ông trưởng ga Đà Nẵng, dạy kèm Pháp văn cho thằng con ổng. Hên quá, bà vợ ông trưởng ga mừng quýu, bả sợ thằng nhỏ hư thân mất nết. Ông trưởng ga ăn rồi lo đánh bạc, bồ bịch. Chừ Đà Nẵng có hai người nhiều tai tiếng nhất về chuyện đó, là ông Lung, trưởng ty quan thuế và ông trưởng ga Đà Nẵng. Bả lại là chị ruột thiếu tá cảnh sát Bửu Chủ, cánh tay mặt của Võ Lương, giám đốc công an Trung nguyên Trung phần. Mình vô đó có chi dễ dò la tin tức mà tụi công an cũng ít để ý. Thằng con trai bả mười lăm tuổi, thông minh, nhưng lãng mạn, ăn rồi ngồi ca tụng Phan Trịnh làm thơ tình, em mới dám nhận lời bả. Nhà bả trong khu mười sáu gian của công chức hỏa xa Đà Nẵng. Dạy riết, ông nhỏ đỡ hoang nhiều so với hồi đầu và có vẻ chịu nghe lời. Lúc nớ em mới hay, Phúc (tên chú bé em dạy kèm) tham gia nhóm thơ “Người đất Hàn”. Ông khoe với em tập thơ in rô-nê-ô của nhóm và hỏi:

- Chị coi tụi em làm thơ sắp bằng nhóm “Sao trên rừng” Huế chưa?

Phúc năn nỉ em tới dự sinh nhật của nhóm. Em hỏi, Phúc kể chuyện từng đứa trong nhóm. Gồm toàn những nhân vật ghê gớm cả. Nguyễn Nho Sa Mạc, học sinh Phan Châu Trinh, nhà ở Đò Xu, mắc bệnh ho lao thời kỳ thứ ba, yêu một cô bé giỡn đời và Sa Mạc suốt ngày chỉ làm thơ tặng người tình.

Nhân vật kỳ dị thứ hai là Dạ Cát Sầu, đau tim nặng, một lần đi đưa đám ma người bạn cùng lớp về nhà, đêm mơ thấy bạn mình hiện về hớp hồn, ré lên, chấn động, đưa vô trung tâm y tế toàn khoa thì chết. Rồi đến cô bé Nguyễn Thị Liên, nổi tiếng đẹp trong khuôn hội Long Thọ, đường Độc Lập. Nào những Lê Đình Liễu Dung, Trần Ngọc Châu, Ông Văn Thông, Huỳnh Tư, Trần Văn Khiêm, Hạ Quốc Huy, Huỳnh…

Phi giật mình, hình như Huỳnh chính là cậu bé đòi Trọng cho vào tổ chức. Tại sao một hạt giống đỏ như vậy cũng lạc vào nhóm thơ bệnh hoạn đó?

- Thơ thẩn không ngô nghê kiểu: Sợi buồn như trái mồng tơi, thì cũng than thở sầu não. Nhưng em nghĩ, nhóm đó toàn lứa mười lăm mười bảy, mười tám, trừ vài đứa nhà giàu rửng mỡ như Trần Văn Khiêm, con Trần Văn Thái, giàu nhất Đà Nẵng. Còn lại con nhà nghèo hoặc liên quan đến cách mạng, răng mình không tìm hiểu để kéo vô phong trào? Rứa là em nhận lời đến dự buổi sinh hoạt của nhóm “Người đất Hàn”. Thằng Phúc vui như mở cờ trong bụng, dẫn em đi một hồi, rồi quẹo sang đường Nguyễn Hoàng. Tới gần ngã ba Phan Châu Trinh – Nguyễn Hoàng, Phúc biểu em dừng lại:

- “Tao đàn” của tụi em đó!

Em ngơ ngác, chung quanh ngôi nhà Phúc vừa chỉ, lau sậy um tùm, tối thui, không đèn đóm gì hết. Trời ơi, em nhớ ra. Chỗ ni nguyên là nhà xác của một nhà thương làm phúc. Sau người ta chuyển nhà thương đi, nhường chỗ xây trương học bây chừ. Riêng nhà xác không ai dám rớ tới, nên bỏ hoang, ơn lạnh cả xương sống, hai chị em lui cui bước vô.

Đã có vài chú bé, cô bé thắp đèn sáp, ngồi xếp chân trên sàn xi-măng ẩm ướt, hôi hám. Căn phòng có vẻ ma quái… Lũ trẻ bắt đầu ngâm thơ, bình thơ. Em nhìn chúng vừa thương vừa lo. Đến cả chúng ta cũng bỏ rơi chúng?

Có điều khiến Phi đặc biệt áy náy: Hiện tượng Huỳnh có mặt trong nhóm thơ bệnh hoạn kia cùng nhận xét của Lệ. Quả thật, anh chưa lượng định được ảnh hưởng của thơ ca và lối sống của Phan Trịnh đối với lớp trẻ Huế – Đà Nẵng? (Anh tự hỏi: đã bao giờ mình đọc thơ của họ một cách nghiêm túc để hiểu cái gốc rễ sâu xa của nỗi buồn cô đơn hay mất hướng của họ? Hay là mình chỉ mới ngó lướt qua với thái độ chê trách và khinh thường?)

- Rứa mà khi em kể lại, Sơn khùng lên, ghen với thằng Phúc và ra lệnh cho em chọn lựa: một là rời nhà thằng Phúc, hai là rời ảnh? Em ức phát khóc, thương nhau mà không tin nhau thì thương làm chi cho cực nhau? Sơn kêu. Bữa ni Lệ nghe mấy đứa cô hồn đọc thơ, mai một Lệ sẽ hèn yếu, khóc mếu như tụi nớ! Anh tính nói xóc óc người ta rứa, ai chịu nổi, em cãi, ảnh lại đổ tội cho em mê thằng con ông xếp ga.

Phải người khác đã bật cười trước cử chỉ trẻ con đó của Sơn, nhưng anh hiểu, chú bé mồ côi mười chín tuổi, luôn luôn nuôi trong lòng mặc cảm nghèo hèn. Ghen vì mặc cảm hơn là ghen bóng gió. Cẩm Lệ khóc rấm rứt, Sơn lấm lét ngồi xuống bên Phi. Chính nó, nó cũng biết mình có lỗi, đối xử thô bạo với người yêu. Nhưng chưa phải lúc khoét sâu chuyện này, Phi lảng sang chuyện khác:

- Hai em đã hoàn thành công việc anh giao chưa?

Sơn đưa mắt nhìn người yêu. Lệ nói:

- Như em đã báo cáo với anh, chị Thâm bằng lòng đón số anh em từ phía Nam ra. Dĩ nhiên, em chỉ nói đó là bạn em ra Đà Nẵng nghỉ hè. Tiệm vải của chị nằm trên đường Lý Thái Tổ, nhỏ nhưng khá kín đáo, khách khứa vô ra thường xuyên, thêm số anh em mình cũng không bị để ý! Coi ổn!

Phi mừng thầm, họ không sao nhãng nhiệm vụ. Anh nói với Sơn:

- Em và Cẩm Lệ chịu trách nhiệm số anh em cánh Nam và đưa họ tới điểm hẹn ở Huế, đúng thời gian quy định. Đưa lẻ tẻ từng người và tuyệt đối không cho họ biết địa chỉ tập kết trước khi đến nơi!

Sơn thay đổi hẳn thái độ. Họ đang phải làm một công việc quan trọng, sự tin cậy của Phi khiến Sơn linh hoạt trở lại. Sơn lao ra đón một con sóng vừa ập đến… Cây sóng giội tung toé qua cơ thể rắn chắc của Sơn.

Phi nheo mắt nhìn, dòng sự kiện như con sóng ào ạt, sẽ kiểm chứng sức mạnh của chúng ta!

Lần đầu tiên, trước một cuộc ra đi, có người chuẩn bị hành lý cho anh. Hoan ủi đồ của Phi, rồi khéo léo gấp lại, cho vào trong túi xách. Cô không quên bỏ theo cây thuốc Ru-by là thứ Phi thích hút nhất (chính vì vậy Kiếm và Nguyễn đặt cho Phi biệt hiệu Phi Ru-by!).

Xong xuôi, không biết phải làm gì nữa, Hoan ngồi thừ ra suy nghĩ. Buồn, có lẽ chuyến ni ảnh đi lâu và hình như chính ảnh cũng muốn nói với mình một điều gì thiệt hệ trọng. Ước gì mình được ảnh cho đi theo, mình sẽ săn sóc ảnh và chỉ cần ở bên ảnh, mình sẽ không làm quẩn chân ảnh, mình nguyện làm một cái bóng âm thầm của ảnh… Cha Hoan thấy con gái ngồi thừ bên túi xách của Phi, thở dài. Nhưng ông không nỡ nói với Hoan những tai họa có thể xảy ra trên nẻo đường đời một con người như Phi.

Hồi hôm, Phi ngồi uống trà với ông và báo tin, anh phải xa Vĩnh Điện ít lâu. Dĩ nhiên, không bao giờ ông hỏi, Phi đi đâu, làm gì? Nhưng trong thâm tâm, ông nhận ra thái độ lưu luyến của Phi với ngôi nhà anh đã quen sống lâu nay, trước một chuyến đi khác thường. Ông hỏi:

- Bác nói thiệt, dù con không chịu cũng đừng nghĩ sai về tấm lòng thành thực của bác. Con cần bọc thêm bao nhiêu tiền?

Phi cúi đầu nói nhỏ:

- Con cảm ơn bác, tiền nong con đã tạm đủ chi dùng dọc đường. Cái quý nhất mà bác và gia đình đã cho con, con sẽ mang theo, đó là tình cảm ruột thịt. Nội chừng đó, con đã chịu ơn bác và Kiếm nhiều lắm!

Thằng ni kín đáo hung, khi nó đã phải thốt lên như vậy, nghĩa là trong lòng nó day dứt ân nghĩa, sum họp, chia lìa. Ông nói bâng quơ như vừa nghĩ ra:

- Vậy chừ con đi xa, hành lý cần sửa soạn gì, sao không biểu em Hoan lo giùm?

Ý tứ đã rõ, ông muốn Phi gặp riêng Hoan, dặn dò hay thổ lộ chi đó. Phi càng khó nghĩ.

Tại Hội An, Phi dặn Nguyễn: Ban trù bị sẽ nhóm họp ba ngày trước đại hội, tại nhà bà Dự. Rồi chia tay nhau, Phi đón xe đò về Vĩnh Điện. Trời ơi, gia đình Hoan đối với anh chu đáo quá, anh biết lấy gì trả hết ơn nghĩa này? Bữa cơm lặng lẽ không vui, ai cũng muốn mau qua bữa để dành thời gian chia tay người sắp ra đi. Phi không nói trước sẽ xa Vĩnh Điện bao lâu, nhưng ai cũng cảm thấy như nhau, anh sẽ đi lâu, thiệt lâu nữa là khác…

Trở về phòng riêng, Phi kinh ngạc, hành lý của anh đã sắp xếp gọn gàng. Anh chỉ việc xách lên và đón xe đò ra Huế. Hoan thập thò ngoài cửa phòng, Phi kêu nhỏ:

- Vô đây, Hoan!

Hoan hồi hộp bước vào, Phi luống cuống chỉ tay xuống chiếc ghế:

- Ngồi đây, em!

Hoan ngoan ngoãn, ngồi xuống chiếc ghế anh vừa chỉ và rạo rực chờ đợi giây phút cô từng tưởng tượng trong những giấc mộng đẹp, êm đềm của cô. Nhìn mái tóc đen láng, thả dài xuống đôi vai thon thả của Hoan, cảm giác khác lạ khơi dậy trong Phi một niềm ước ao. Anh sẽ ôm thật chặt tấm thân son trẻ kia trong vòng tay, anh sẽ vuốt ve mái tóc mềm mại kia và môi anh sẽ thì thầm những lời hứa hẹn… Phi cắn răng chịu đựng nỗi khát khao đó, anh không cho mình cái quyền thổ lộ tự nhiên, những tình cảm tự nhiên của một chàng trai hai mươi mốt tuổi. Giữa anh và Hoan còn có thân thể bầm tím, rữa nát, tóc ướt sũng nước của Luyến. Anh dừng bước giữa căn phòng và cố lấy giọng bình thản:

- Mai anh đi sớm, rồi Hoan sẽ hiểu anh!

Chỉ có vậy thôi ư? Hoan thất vọng tê tái, mi mắt nặng trĩu và mọng nước. Cô bước vội ra khỏi cửa phòng trước khi òa khóc. Buổi sáng sau, biết ngôi nhà đã vắng bóng con người thương yêu, Hoan nằm úp mặt xuống gối nức nở… Lần đầu tiên, cô nghĩ tới mối tình thứ nhất của cô, nó giống như cơn bão hay cái gì nhỉ? Phi thì gọi nó là dòng sự kiện.

Một tiệc trà sinh viên, không hơn không kém!

Có người nào tình cờ nhìn vào khu vườn biệt thự đêm nay, buộc phải nghĩ thế. Năm người quây quần quanh chiếc bàn đá: Phi, chị Xuân Hòa, Lữ, Minh và Nguyễn. Hai chị em Nhi làm nhiệm vụ canh gác ngoài cổng. Bà Dự thắp hương trong am thờ Phật. Chính bà cũng không ngờ, giữa khu vườn yên tĩnh của bà, những thanh niên đang bàn bạc căng thẳng cho việc thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên – Sinh viên miền Trung…

Thời gian tạm lắng đã trôi qua!

Hai ngày sau, cũng buổi tối, Nhi và Tín xin phép mẹ đi tắm biển Thuận An với Phi. Bà đồng ý. Hè năm nay. Phướng Mai ở lại Sài Gòn đón chồng nghỉ hè bên Úc về. Ông Dự đã có vợ nhỏ, dĩ nhiên không hề nghĩ tới việc trở về cố đô với những kỉ niệm chua chát. Theo thư Trí viết về, Trí bận học thiệt gấp, cố thi lấy điểm cao để giành một suất du học. Trí sợ mẹ buồn nên không dám nói thật, Trí muốn dành mùa hè cuối cùng của thời sinh viên, cho một cô gái Sài Gòn dễ thương nào đó. Con cái bà khôn lớn, chúng sẽ bay khỏi vòng tay chật hẹp của bà… Chính bà, có lúc cũng đinh ninh đã vượt thoát được tâm trạng não nề và những phiền lụy để yên tâm sống đạo trong ngôi chùa yên tĩnh nơi ngã ba Nam Giao – Cầu Lim. Lúc đó, bà tưởng thêm, vào cuối chót đời bà, bỗng nhiên bà tìm thấy sự an lành của tâm hồn. Mỗi tuần một lần, bà đến bên ngôi mộ của giáo sư Huyễn (dù rằng điều này có vẻ như là phạm giới), để thong thả nhổ cỏ, thắp hương cầu nguyện cho người bạn thuở tóc xanh trong im lặng của ngàn thông.

Trừ thời gian Nhập hạ, các sư không ra khỏi chùa vì sợ giẫm phải côn trùng, sát hại sinh linh và ngày ba lượt tụng kinh: kinh sớm, kinh qua đường (trước bữa ăn trưa, thầy trụ trì cầm phương trượng đi quanh chánh điện và những người tu hành khác trong chùa, đi thành hàng theo sau, niệm A-di-đà) và kinh đêm (kinh kệ, gõ mõ, đánh chuông u minh, tiếng nhà Phật gọi những công việc đó là công phu).

Phần thời gian còn lại, bà cùng bốn, năm chục sư nữ trong chùa làm nhang (người trên Bảng Lảng mang gỗ trầm xuống, bán cho nhà chùa làm hương liệu), làm đậu khuôn (đôi khi bà được sư trụ trì sai xuống chợ Đông Ba mua đậu nành), làm bánh in bằng các loại bột, nếp, đậu xanh, bánh chưng chay, nếu không thì cũng lo chăm sóc các nương khoai, bắp, công việc từ thiện trong chùa hoặc bệnh viện…

Mỗi tháng hai lần, bà rời chùa xuống núi thăm nhà, lặng lẽ ngắm những chậu trà mi và thú vị nghe Ngọc Phương kể chuyện: chàng và thầy Đức Kính đang hoàn tất giai đoạn chót, công trình nghiên cứu về đức Phật và Nít-sơ.

Bà hiểu được rất ít ỏi những ý tưởng rắc rối của chàng, nhưng mỗi lần nghe chàng nói, bà lại cảm thấy như chính ông Huyễn đang nói chuyện với bà. Đôi khi bắt gặp ánh mắt lạ lùng bà dành cho mình, Ngọc Phương bỗng cảm thấy hơi ngượng ngùng, dừng lời.

Vâng, nếu không có tiếng súng tàn nhẫn từ chùa Từ Hiếu dội xuống, chắc chắn bà Dự đã không còn lý do gì để chấm dứt quãng đời tươi đẹp êm ả nhất của mình. Bà vẫn tự cho như thế và coi đó là cơ may cuối cùng cho người nặng nợ nghiệp chướng như bà!

Bữa đó, vào khoảng chín giờ sáng, bà đang cùng các đạo hữu của bà vác cuốc, chuẩn bị lên nương trỉa bắp và làm cỏ khoai. Bỗng nhiên, từng đoàn xe nhà binh từ Huế rú còi, vượt qua ngã ba, lao về hướng có tiếng súng nổ, mỗi lúc một dữ dội hơn, trong thung lũng dưới chân đồi Vọng Cảnh.

Mọi người sợ hãi nằm rạp xuống những luống khoai và đoán già đoán non chuyện gì đang xảy ra?

Tiếp theo là tiếng gầm rú của từng đoàn xe tăng, thiết giáp và tiếng ĐK nổ chát chúa, khiến mọi người đoán ra một cuộc chạm trán quy mô giữa quốc gia và phía bên kia. Khoảng bốn giờ chiều mới dứt tiếng súng. Những chiếc xe của quân y chạy xuống Huế chở theo thương binh và một chiếc Đốt dừng lại ngay xế cổng chùa Diệu Viên. Lính liệng xuống mươi xác chết trên sỏi đất. Đó là những cái xác đã nát bấy. Tuy nhiên, đám dân Huế hiếu kỳ đổ lên coi mặt cộng sản, cũng nhận diện được một nhà sư trong đám “phiến cộng” đó.

Cộng sản không có đuôi đã đành, mà dân chúng dễ dàng xác nhận rằng, tất cả những “phiến quân” kia đều quê quanh vùng Phú Vang hoặc Hương Thủy. Bà nhìn thấy em trai Ngọc Phương và hai người ngoại quốc nào đó, tìm cách quay phim (mặc dù cảnh sát và các viên chức nhà nước ngăn cản họ). Bà được hay rằng, không hiểu bằng cách nào, quân đội quốc gia phát hiện ra chín Việt cộng về nấp trong những hầm bí mật quanh chùa Từ Hiếu và một nhà sư trong chùa đã nuôi giấu họ (dĩ nhiên, bà không hay biết, chín người đó là tiểu đội võ trang tuyên truyền xuống vùng Nguyệt Biều, chuẩn bị cho đồng khởi). Quốc gia kêu hàng, họ nổ súng chống cự và chính nhà sư nuôi giấu họ cũng dùng cây súng của một đội viên đã hy sinh, bắn quyết liệt. Bốn trong mười Việt cộng (nếu kể cả nhà sư), tử thương tại trận, sáu người còn lại hết đạn, đã chờ quốc gia tới gần, giật những trái lựu đạn cuối cùng tự giết mình và giết kẻ thù.

Những tiếng súng vùng Nguyệt Biều làm Huế bàng hoàng, rung rinh ra sao, bà không rõ… Chỉ biết, bà và các sư nữ trong chùa Diệu Viên, thức trắng đêm, cầu kinh Quan Âm… Và khi bà tới gặp sư bà Diệu Không, ngỏ ý muốn được sư bà ủng hộ ý định chôn cất mười tử thi Việt cộng chết trên đất viện, sư bà Diệu Không đồng ý ngay. Chính quyền cũng không ngăn cản họ làm việc này. Chắc họ còn bận tổ chức mừng chiến thắng tại Phu Văn Lâu, nơi thiếu tướng Đỗ Cao Trí trao vòng hoa chiến thắng cho những quân nhân đã lập công trong vụ tiễu trừ phỉ cộng. Khán giả chứng kiến màn trình diễn này chỉ lèo tèo vài ba thành viên Đoàn Thanh niên thiện chí Huế của Lê Văn Nghĩa. Và nghe đâu, 13 cô gái nhân danh “nữ sinh Đồng Khánh” tới dâng hoa cho tướng Đỗ Cao Trí, thực ra chỉ mới được gọi lên từ những chiếc đò sông Hương!

Được các sư nữ và những người nông dân trong vùng giúp đỡ, bà đã mai táng những xác Việt cộng đó trên đám đất có nấm mộ ông Huyễn. Ngay cả sinh phần của bà (phần đất bà mua sẵn để chôn cất chính bà khi chết), bà cũng dành trọn cho những người vừa tử nạn, để gọi dậy trong tâm hồn bà, một tiếng vọng của cái lý tưởng mà xưa kia bà từng theo đuổi…

Bà rời chùa Diệu Viên, xuống Huế để vào đời. Vâng, bà đã xài đúng hai chữ “vào đời” khi kể Phi nghe, vì sao bà quyết định không đi tu nữa.

Phi nghiệm ra một điều sau câu chuyện của bà Dự, mỗi sự kiện bao giờ cũng gây ra những tác động theo các hướng khác nhau. Vụ Nguyệt Biều kéo bà Dự xuống núi, vào đời, thì lại đẩy Võ lên núi, trốn đời.

Phi hỏi Võ:

- Sao Võ, ý nghĩa vụ Nguyệt Biều đối với ông?

- Chiến tranh đã đến sát Huế!

Võ thở dài.

- Dù muốn dù không, cái mà ông gọi là cuộc chiến tranh đã về sát Huế, sẽ gõ cửa từng nhà, ông tính sao? Ông không mở cửa cho nó vô, nó cũng tông cửa vô hoặc lôi ông ra khỏi nhà và nếu ông lừng khừng, ông sẽ chết chìm trong bão tố của nó!

- Tôi chán ngán tất cả, tôi sẽ xuất gia tại một ngôi chùa hẻo lánh nào đó, nơi thâm sơn cùng cốc!

- Ông không ở lại lo lắng cho tổng thống Diệm của ông nữa sao?

- Đừng nói đến tên hắn nữa, tôi không ngờ hắn lại ra cái lệnh ngu xuẩn đến như vậy: Cấm treo cờ Phật giáo!

Võ cay đắng trả lời. Phi hiểu, ngoài lý do trên, còn một sự kiện khác khiến Võ không còn hăng hái bênh Diệm nữa. Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập Trường Quốc học (26/12), Võ dựng vở “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan. Trong vở có một lớp, một thiếu phụ xuất hiện, bồng con khóc, tố cáo tội ác của tên bạo chúa. Lớp này chỉ kéo dài không đầy hai phút trên sân khấu. Nhưng lựa mãi, không một nữ sinh Quốc học nào làm nổi. Cuối cùng, hoàn toàn bất ngờ, một nữ tu thuộc dòng “Chị em thăm viếng Phú Xuân” tình nguyện tham dự và đóng đạt nhất. Hình như cô ta có nỗi buồn u uẩn gì đó bên trong đời thực của mình, muốn nhân dịp này, đem những nỗi riêng tư ấy hoá thân thành nhân vật thiếu phụ trong vở kịch.

Võ và người nữ tu thương nhau từ đó, nhưng họ lại không được phép lấy nhau. Chàng và nàng là hai tín đồ của hai tôn giáo đối nghịch nhau dữ dội tại Huế. Nàng bị đày lên Đà Lạt. Và chàng hết muốn sống cuộc sống trống rỗng, vô nghĩa nơi trần gian, chỉ muốn tìm đến cõi Vô Dư Niết Bàn!

Trong lúc Võ thất tình định leo lên núi tìm Vô Dư Niết Bàn, Phan Trịnh lại tụt từ đỉnh núi xuống mặt đất nhớp nhúa bùn máu, với mưu đồ làm chính khách tỉnh lẻ.

Hơn ai hết, Sanh đánh hơi thấy rất nhanh, đây là lúc thuận tiện nhất để lái thi sĩ Phan Trịnh đang mất hướng, vào quỹ đạo ảnh hưởng của mình. Sanh đang cần gấp rút xây dựng một lực lượng riêng, đặc biệt chú trọng việc thu hút giới sinh viên và trí thức miền Trung. Tất cả những việc đó chỉ nhằm “tạo dáng” cho một Nguyễn Sanh – nhân vật đối lập có giá đang lăm le xuất hiện trên chính trường.

Cuộc đảo chính hụt ngày 11/11/1960 là thất bại cay đắng cho đám tướng lĩnh thân Pháp, thì lại gợi lên trong lòng phe đối lập tại miền Nam Việt Nam, niềm tin mỗi lúc một trở nên mạnh mẽ: Diệm không phải là thần thánh để không bị thất bại!

Những nỗi đau khổ, những ám tượng hoàng hôn từng giày vò tâm hồn thi sĩ Phan Trịnh, giờ đây lại trở thành vật trang sức cho tham vọng ngây thơ của chàng. Chàng có đầy đủ ý thức để biến mỗi chi tiết của đời mình, thành một huyền thoại trước những con mắt hiếu kỳ. Chàng có quá nhiều tự ái để phải chiến đấu với mọi thành kiến, trở ngại trong mối tình của chàng với Băng Sương.

Đó là sự phân tích lạnh lùng tàn nhân của Sanh trước khi quyết định làm bầu sô chính trị cho thi sĩ Phan Trịnh.

Phan Trịnh không hề mảy may nghi ngờ thiện chí của Nguyễn Sanh, khi Sanh hăng hái bảo trợ và ca tụng kế hoạch tổ chức cuộc hội thảo “Về dự phóng của chúng ta” của Phan Trịnh.

Phan Trịnh hăm hở viết thư cho hàng loạt bạn bè của anh, từ Quảng Trị đến Quy Nhơn. Trong thư, anh nói rõ dự định: Trại hội thảo sẽ kéo dài trong bốn ngày, có tranh luận về chính trị, thời cuộc, văn nghệ, triết lý. Các trại viên sẽ được đi thăm các di tích văn hóa, dự các cuộc pic-nic. Và mỗi người phải gởi trước 120 đồng bằng bưu phiếu cho Ban Tổ chức theo địa chỉ: ga-ra cuối đường Yên Báy, Đà Nẵng. Còn Phan Trịnh hẹn đón khách tại ga Đà Nẵng. Nhận được gần hai trăm thư phúc đáp. Chưa tới ngày hẹn, đã có lác đác khách đến dự hội thảo. Phan Trịnh dẫn khách ra ngủ tại bãi biển Thanh Bình nhìn sao, đọc thơ, tranh luận đủ thứ đề tài hoàn toàn do ngẫu hứng. Từ học thuyết đấu tranh giai cấp, tình trạng đất nước bị chia cắt, thuyết Nhân vị – Duy linh, Kinh Dịch, sự tiến bộ của Hồ Quý Ly so với thời đại của ông ta, Xanh Ếch-duy-pê-ri[1], đến “Li-bi-đô”[2] và giống…

Phan Trịnh trình bày một loạt luận cứ bênh vực Ca-muy[3]. Rằng Ca-muy đã thèm khát qua “Myth de Sisyphe”[4] thiết lập một trật tự hợp lý trong tình trạng phi lý. Và chúng ta phải chịu trách nhiệm! Đó chính là điều phân biệt giữa Ca-muy dấn thân với Xác-tơ-rơ nôn mửa. Sau đó, Phan Trịnh chuyển qua phân tích thái độ của hai vị thủ lĩnh trên của hai khuynh hướng hiện sinh khác nhau, trước vấn đề tự tử. Có nên thừa nhận sự tự tử như là một sự tự do tuyệt đối không?

Giáo sư Ngọc Phương gay gắt bác bỏ mọi lập luận của Phan Trịnh, viện dẫn một cách sùng kính Mu-ni-ê, Các Giát-spe, trong khi Phan Trịnh hâm mộ Kiếc-cơ-gaHai-đơ-gơ[5]. Kết thúc cuộc tranh luận nẩy lửa trên bãi biển Thanh Bình, họ rủ nhau kiếm cà-phê uống.

Họ đang nhấm nháp cà-phê trong một quán cóc tối om, một người đàn ông mặc thường phục, vui vẻ đến xin gặp riêng Phan Trịnh. Thi sĩ Phan Trịnh và người lạ mặt bước ra khỏi quán mươi bước chân. Người lạ mặt cười trong bóng tối và bảo thẳng Phan Trịnh:

- Vở kịch hề ba xu của anh hạ màn được rồi đó. Yên phận vào Vĩnh Điện mà dạy học và theo đuổi mối tình thơ mộng với Băng Sương, đỡ nguy hiểm hơn ở đây nhiều. Đừng để tôi phải gặp lại anh.

Phan Trịnh rã rời tứ chi, muốn khạc hụm cà-phê đắng nghét trong miệng ra ngoài.

Cửa biển Thuận An đến tận khuya vẫn tấp nập người. Mùa trăng, trăng biển mọc giữa khoảng không thoáng đãng và lộng gió, trở nên sáng lung linh. Những nữ sinh Huế tha thướt dẫn nhau đi dạo, bao quanh một đám đông người xúm xít cười nói, kể chuyện và ca hát om sòm. Hẳn là một đám sinh viên tổ chức pic-nic? Không ai bận tâm đến họ và những bài hát vô thưởng vô phạt của họ. Mọi người còn lo tận hưởng cái khoảnh khắc tạm thời, họ được thoát ra khỏi cảnh sống ngạt thở đầy rẫy những tin tức lo âu về những cuộc khủng hoảng chính trị, những cuộc khủng bố đẫm máu và những âm mưu này khác.

Trong đám nữ sinh tha thướt ấy có Tố Liên – cô gái xẹc-via tại khách sạn Phi ở trọ khi lần đầu tiên tới Huế, Ngọc Trà, Phương Nhi, những cơ sở bí mật đang lo bảo vệ cho Đại hội nhóm họp trên bãi biển…

Phi thay mặt Ban Trù bị, báo cáo chương trình Đại hội và trình bày phần đánh giá Phong trào Sinh viên – Học sinh miền Trung trong mấy năm qua…

Tiếng nói của anh không lớn, có lúc bị chìm trong làn gió biển… Nhưng 31 đại biểu đến từ 6 tỉnh thành, đô thị miền Trung, đều lắng nghe anh nói. Giữa bạn bè, đồng chí, Phi không có gì để khoa trương, đóng kịch. Mỗi điều anh nói, gắn với một sự thật cháy bỏng của đời sống đen tối, thời tố cộng của chế độ gia đình trị họ Ngô.

Anh biết rõ, mỗi người trong 31 đại biểu này, sẽ tự bổ sung những dẫn chứng cần thiết, bằng những mối thù cụ thể, những kinh nghiệm đau thương cụ thể và nhiệt tình cụ thể của họ. Họ đang hăm hở hướng tới việc hình thành một tổ chức, có phương hướng cụ thể, để hướng tuổi trẻ miền Trung vào cuộc đấu tranh. Nghĩa là họ sẽ họp nhau trong một đạo quân lớn, đứng dậy và hy vọng từ cõi chết!

Bình minh ngày tiếp theo, nắng rực rỡ như chưa bao giờ mặt trời tươi thắm đến thế. Biển rộng hơn và mỗi gương mặt người sáng sủa hơn. Từng tốp các đại biểu, bằng nhiều ngả khác nhau, kéo đến miếu thờ cá ông ngay trên cửa biển Thuận An, nhìn buổi sáng ấy bằng con mắt trẻ trung, hào phóng khác thường.

Dọc bờ biển miền Trung, du khách thường bắt gặp những miếu thờ cá ông. Tuỳ mỗi địa phương, người ta gọi thứ cá khổng lồ này bằng những cái tên khác nhau. Nhưng tựu trung, những ngư phủ miền duyên hải cho rằng, cá voi chính là hiện thân của các vị thần lương thiện, tốt bụng và họ có bổn phận tôn thờ cá voi. Họ không bao giờ đánh bắt cá voi đã đành, mỗi khi vớt được xác cá voi chết vì một tai nạn biển cả nào đấy, lập tức họ rước xác cá linh đình và lập miếu thờ. Miếu thờ cá ông trên cửa Thuận An ra đời vì lý do ấy…

Vẫn đám nữ sinh tha thướt canh gác bên ngoài, 31 đại biểu đứng chen nhau trong miếu thờ chật chội, tiến hành bỏ phiếu. Lá cờ Giải phóng chị Mây đã may sẵn, treo trên tường. Cửa miếu đóng kín, không khí ngột ngạt, mồ hôi đầm đìa trên mặt họ. Nhưng nghĩa lý gì, họ đứng lặng im, nghiêm trang chứng kiến cảnh tượng: 9 người vừa trúng Ban Chấp hành, tuyên thệ dưới cờ.

Cả đất nước, một hành trình đi tới độc lập, tự do, thống nhất. Tuy nửa miền Nam tạm thời còn phải xanh, màu tượng trưng cho thái độ trung lập, nhưng mỗi trái tim người đứng dưới cờ đều đỏ rực và mắt họ nhuộm hồng luôn nửa màu xanh ấy. 9 người bước tới trước, đứng ken thành một hàng: Phi, Nguyễn, Lệ, Hòa, Lữ, Minh, Mai, Ngoạn, Sơn.

Phi thay mặt Ban Chấp hành tuyên thệ nhậm chức. Lời anh sắt lại, từ Giáng La tới bãi biển Thuận An, riêng anh đi mất hăm hai năm!

Hai Chi ra Huế lần thứ hai, chuyển thư ông già áo xanh cho Phi:

“Về ngay, kể chuyện làm ăn sinh sống, đưa cả Nguyễn về!”

Được cùng Phi về Giáng La, Nguyễn mừng quýnh lên. Nghe Phi nói miết về Giáng La, dù Nguyễn ở Vĩnh Điện lạ chi Giáng La – Ái Mỹ… Ai ngờ Giáng La thành đất thánh cho một lần hành hương gặp ông già áo xanh.

Phi báo cáo tình hình tiến hành Đại hội. Nguyễn cứ nghĩ, chắc lãnh đạo lớn như ông phải ăn nói đanh thép oai vệ khác thường. Ai dè, ông chỉ kể chuyện thời cụ Huỳnh làm báo “Tiếng Dân” ở Huế, rồi dặn hai người:

- Hai em về ráng làm một tờ báo hợp pháp hoặc bán hợp pháp. Hoạt động trong phong trào sinh viên trí thức, báo chí lợi hại lắm. Thông qua nó, phát động phong trào yêu nước, thương nòi, phát hiện người tốt, tập hợp lực lượng!

Chỉ thị của ông sao dễ hiểu và dễ hình dung một cách thật giản dị! Nguyễn đánh liều, hỏi ông lúc ngưng chuyện công tác:

- Chắc chú phải làm chức to lắm trong phe cách mạng?

- Theo em, to tới mức mô?

Ông già áo xanh mỉm cười hỏi lại. Nguyễn luống cuống:

- Con không biết mới hỏi chú, chú nói thiệt đi!

Ông già áo xanh vẫn nụ cười đôn hậu:

- Rồi em sẽ hiểu, chức tôi to đến mức mô trong phe cách mạng! Và nếu tôi giao cho em làm thư ký Hội liên hiệp Sinh viên – Học sinh Quảng Nam – Đà Nẵng thì răng?

Nguyễn ngớ người:

- Trời đất, con làm răng nổi chú?

- Không, em sẽ làm được. Làm tốt nữa tê. Lúc nớ em sẽ hiểu, chức vụ trong phe cách mạng của tôi to tới mô.

“Mùa Vu Lan, mùa dành cho mỗi người nhớ lại ân tứ của cha mẹ, thầy giáo, bạn bè và nuôi dưỡng cái ý định đền đáp ân xưa. Chùa Non Nước vốn yên tĩnh bỗng tấp nập thiện nam tín nữ kéo về thiết lễ Vu Lan. Tuy nhiên đa số người không biết lễ Vu Lan là gì, nhưng cứ đến rằm tháng bảy, họ thấy có bổn phận phải đi chùa.

Vu Lan, đàn chẩn tế dành cho những linh hồn đã chết, lạc loài chốn U tì quốc. Còn tờ báo chúng ta sắp làm sẽ dẫn đường cho lớp trẻ đang sống mù lòa, ngắc ngoải trong cuộc sống địa ngục trần gian của anh em họ Ngô. Những kẻ kia lên chùa lo cho người chết. Còn chúng ta lên chùa lo cho người sống. Lịch sử đã ghi nhận rằng, trong những thời buổi rối ren nhất, khi con người gánh chịu những biến cố nhọc nhằn và đầy bất trắc, chính lúc ấy, một sức sống mới bừng lên và thiên chức lo cho những con người sống, đặt lên vai những chàng trai lãng mạn… Dĩ nhiên, không lãng mạn một cách khinh suất đến nỗi, bao nhiêu bí mật của tổ chức phun hết với người tình để rồi nàng bỏ rơi mình, cặp kè với kẻ khác, hoặc rủ một tên lên núi Ngự Bình để tuyên truyền Cương lĩnh Mặt trận, mà không hề biết tên đó là một thành viên Quốc dân đảng, may mà Nguyễn kịp thời trợn mắt: Ông muốn chết hả? Thằng nớ cu-dê-đê chính hiệu con nai vàng đó!”

Lữ và Xuân Hòa thích thú theo dõi bài diễn văn ứng khẩu của Trọng, về ý nghĩa lễ Vu Lan trên đường đến chùa Non Nước. Bỗng Trọng khơi lại vụ xì-căng-đan năm ngoái của Lữ, khiến Lữ ngây người chẳng biết nói sao.

Xuân Hòa chạy tội giúp Lữ:

- Trọng không quân tử chút mô hết. Chuyện đó cũ mèm, anh Lữ nhận tội rồi còn nhắc miết. Chính Trọng vừa kêu ý nghĩa của Vu Lan chủ yếu là xóa tội vong nhân kia mà? Vô lẽ chút xíu đó, Trọng không chịu buông tha anh Lữ?

- Đâu có, tôi chỉ nhắc lại bài học lịch sử cho những kẻ đa tình mà khoái làm cách mạng!

Trọng cười hề hề. Lữ đỏ mặt tía tai. Những chuyện Trọng vừa nhắc, hoàn toàn có thật. Lữ mất ăn mất ngủ hàng tháng vì nó, may mà mọi chuyện xuôi chèo mát mái. Trăm sự đều do Lữ cả tin. Anh nhìn ai cũng thấy tốt, cũng đáng tin. Nhất là người con gái đầu tiên mà anh đem lòng yêu dấu! Thất tình đã khổ, lo mình làm lộ cơ sở còn day dứt khổ hơn.

Lạy thánh mớ bái, nàng đã không học lại những bí mật ấy với bồ mới của nàng. Thằng Trọng nói rứa mà nhằm, vừa đa tình vừa làm cách mạng nguy hiểm lắm!

Ngay trong ý nghĩ, Lữ cũng lẫn lộn cả tiếng Quảng và tiếng Huế (Lữ thường nói giỡn, mình phải ghi trong lý lịch: nơi sinh, chóp đèo Hải Vân, Huế và Quảng Nam mỗi thứ chiếm một nửa trong tôi).

Ba người biết, trong đám người lũ lượt trẩy hội Vu Lan kia, có nhiều bạn bè của họ. Những người đó đi thành nhiều tốp, hẹn nhau dưới chân Vọng Hải Đài. Tụi công an Diệm sẽ không tưởng tượng nổi: Ban Chấp hành Sinh viên – Học sinh Giải phóng miền Trung, nhằm ngay lễ Vu Lan, nhóm họp, bàn chuyện làm tờ báo bí mật đầu tiên cho tuổi trẻ miền Trung.

Tuy có đôi chút khoa trương, Trọng nói gần đúng ý nghĩa tờ báo đó.

Đúng giờ hẹn, đã đủ mặt những người trong Ban chấp hành. Phi vào ngay việc quan trọng đầu tiên, đặt tên cho tờ báo. Trong khi mọi người phấn chấn, phác hoạ tương lai cho đứa con đầu lòng của mình, Phi lại rơi vào những ý nghĩ u uất…

Lần đầu tiên trong đời, Phi nhận ra một bức thiết cồn cào, phải giết một con người cụ thể vì một lý do cụ thể. Người phải bị giết đó là một thanh niên như anh, người đã mắc võng cạnh anh trên căn cứ, sôi nổi kể lại chuyện cha người ấy đã từng giúp Ba Đoát diệt gọn một mâm tề ác ôn, Quốc dân đảng ở Thanh Phong, như thế nào. Người ấy là con rể của ông Phước Mai, cựu Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hồi chống Pháp.

Người ấy là Thức!

Tội danh: Phản bội!

Sau này anh biết thêm một số chi tiết cụ thể, bổ sung cho câu chuyện Hai Chi kể tại Huế. Thức đã chỉ cho địch khui hầm bí mật bên bờ sông Đông Hồ (La Thọ). 12 người, trong đó có 4 huyện ủy viên, 1 phó bí thư và Luyến.

Chín Chữ bật hầm lên đánh, địch chết một mớ. Chín Chữ chạy tới nhà Bân thợ mộc, hỏi mượn Bân cái nón. Bân đang đóng đồ trong nhà, ngẩng lên thấy Chín Chữ, liệng ngay cái chàng vào nhượng ông. Đứt gân gót, ông không chạy được, đành bò ra ruộng. Địch tới, vây quanh. Ông còn khẩu côn-12 và trái lựu đạn. Ông giết thêm mấy thằng nữa rồi tự sát.

Sau vụ đó, Phước Mai ôm mối hận, nhục nhã vì con rể và thông gia, nhịn ăn uống, đúng nửa tháng thì chết. Mười Lúa bị bắt, địch đánh lên đánh xuống vì Thức tố cáo: Mười Lúa gởi con trai ra Bắc theo Ba Đoát. May có Oanh, công an Điện Bàn, chứng nhận, Mười Lúa được tạm tha, nhưng bí thư tỉnh uỷ lo ngại cho tính mạng của chị bị đe dọa, đã ra lệnh cho chị thoát ly.

Thức làm cả Điện Bàn điêu đứng…

Phải giết nó, giết ngay lập tức, không thương tiếc!

Nhưng anh không có quyền lao mình vào vụ đó, việc của anh là tờ báo và phong trào thanh niên thành phố. Anh khao khát trả thù cho Luyến, máu trong huyết quản anh sôi lên. Giết nó, về mặt đạo lý không khiến anh day dứt. Nhưng Ban An ninh huyện và nhiều đồng chí trong các đội công tác, đã bao phen tổ chức, rình rập mỗi bước đi của nó, vẫn chưa giết nổi nó, đành phải chờ cơ hội thuận tiện. Nghĩa là cần thời gian và sự điều nghiên công phu, cả hai thứ đó anh thiếu nhất hiện giờ. Tờ báo chưa ra đời đã thấy ngổn ngang bao chuyện phải giải quyết. Thực ra, có ai hạ lệnh cho anh giết nó đâu, nhưng anh biết, cơ hội giết thằng Thức nằm trong tay anh.

Vẫn giọng nửa Quảng nửa Huế, Lữ hào hứng kêu lên:

- Các mệ thống trị dân mình lâu ni, chừ “Vùng lên” là nhứt Huế rồi!

Trọng phản đối liền, tên đó lộ quá, anh ưng nhất cái tên “Con đường sáng”. Vừa văn chương vừa chính trị, có hình ảnh lại kín đáo. Chuyện đặt tên mỗi lúc một rôm rả, nào những: Lý tưởng, Chiến đấu, Cờ hồng, Hồn nước. Vân vân và vân vân…

Cần phải kiếm cái tên nào thật giản dị, gợi cảm, gợi suy nghĩ nhưng lại rất Quảng. Nguyễn, thư ký Hội liên hiệp, trầm tư ngó xuống đồng bằng. Anh nhớ có lần thầy Lưu bảo anh:

- Con sống trên quê hương này gần hai chục năm rồi, nhưng thầy hỏi con, con biết gì về Ngũ Hành Sơn?

Anh hăng hái tả lại cảnh động Huyền Không kỳ ảo trên đỉnh Non Nước. Không, nói chính xác, đấy là một cái máy điều hòa không khí hoàn hảo của thiên nhiên. Những vòm cây râm mát che kín miệng hang động, vừa đủ chỗ để ánh sáng lọt vào và nhiệt độ được giữ ở mức vừa phải. Bao giờ trong hang cũng mát mẻ và ánh sáng dìu dịu. Những bầy khỉ sống thảnh thơi, vui vẻ nhìn khách vãng lai viếng cảnh động Huyền Không. Còn đá cẩm thạch Ngũ Hành Sơn thật lý tưởng cho các nhà kiến tạo và tạc tượng.

Thầy buồn rầu mỉm cười:

- Bất cứ du khách nào đến Ngũ Hành Sơn lần đầu, cũng biết được những điều con vừa nói. Nhưng con là người Quảng Nam kia mà, con hiểu gì về quê hương con hơn những người vãng lai?

Nguyễn bối rối, cúi đầu. Chỉ còn biết chớp mắt, cảm động và xấu hổ.

- Muốn nhìn Ngũ Hành Sơn để nhận ra diện mạo đích thực của nó, con hãy chọn một buổi chiều đẹp trời, thong thả đi bộ vào phía trong cầu Đỏ một chút. Con hãy đứng ven lộ 1, quay mặt ra biển. Trong ráng chiều đỏ rực, con sẽ thấy Ngũ Hành Sơn lấp lánh năm sắc cầu vồng. Con sẽ hiểu, cha ông ta đặt tên núi Ngũ Hành Sơn đâu chỉ vì ở đấy quy tụ năm ngọn núi đá cẩm thạch, mà còn vì dáng núi, hồn núi, hội đủ 5 yếu tố chủ yếu cấu thành tự nhiên: Kim – mộc – thủy – hỏa – thổ! Tổ tiên của chúng ta đi ra khỏi rừng rậm, vừa đi dọc triền sông Thu Bồn bây giờ, vừa tạo nên lịch sử văn minh của mình. Khi giáp mặt với đại dương bao la, những người dân đất Quảng đầu tiên nảy sinh ý định làm chủ mối tương quan thiên – địa – nhân, bằng cách nắm bắt 5 yếu tố cơ bản nói trên, trong đại thế núi non và ý chí quật cường của mình. Và cũng chỉ lên tới Vọng Hải Đài, con người mới nhận ra toàn cảnh bên dưới, phóng tầm mắt xuống nhìn mà lại được mảnh đất lạ lùng kia nâng tâm hồn mình bay bổng tới khát vọng đại dương. Cù lao Chàm hiện diện như là nơi khởi đầu cho chuyến tàu khát vọng ấy ra khơi, hay chính nó, Cù lao Chàm là một đại chiến hạm lừng lững nhổ neo, bất khả chiến bại.

Mọi dòng sông đất Quảng đều gặp nhau tại sông Thu Bồn và Thu Bồn dù quanh co, khúc khuỷu, ghềnh thác mấy, vẫn hướng cuồn cuộn ra biển.

Nguyễn bất giác ngó xuống những nhánh sông chằng chịt, ngoằn ngoèo trên mảnh đất bao nhiêu biến cố, đau thương, căm thù và quật khởi. Lạ chưa, dù gì đi nữa những con sông ấy như thầy Lưu chỉ cho mình, đều hướng tìm ra biển, như sông Cẩm Lệ kia chẳng hạn. Mỗi khúc sông mang một tên riêng, để cuối cùng đọng lại vẫn một tên duy nhất: Thu Bồn. Nguyễn bật reo lên:

- Hãy đặt tên cho tờ báo của chúng ta là Hướng Sông!

Mọi người đang tranh cãi sôi nổi, những cái tên dự định quá nhiều, người nào cũng dư lý luận để bảo vệ cái tên mình đưa ra. Nhưng chợt mọi người lặng đi, vẻ giản dị, chân xác đến bất ngờ của hai chữ “Hướng Sông” chinh phục mọi người mau lẹ.

Phi dứt mình ra khỏi những suy nghĩ ưu uất: Mình có ra tay giết thằng Thức hay không giết?

- Hướng Sông, hay. Nhưng nghĩa hơi hẹp. “Hướng Sống” mới là cái cần nhất cho tuổi trẻ miền Trung!

Tất cả đồng ý ngay. Xong tên tờ báo, đến phần nội dung. Cả bọn cùng nghĩ đến việc tham khảo ý kiến thầy Lưu để viết bài tựa cho “Hướng Sống”. Nguyễn Đới hăng hái đòi vào Sài Gòn gặp ông cậu họ Dương, cựu nhạc sĩ kháng chiến, viết bản nhạc đăng “Hướng Sống”.

Phi không lo thiếu bài vở. Bao nhiêu điều chất chứa bấy lâu nay có dịp khơi dậy, chắc chắn vô số cộng tác viên tự nguyện sẽ đến với “Hướng Sống”. Cánh Hội An, trừ Nguyễn, lo gom góp bài vở. Cẩm Lệ, Huy Lai phụ trách ba hòm thư chết tại đường Quang Trung, ngã ba Hoàng Diệu – Trưng Nữ Vương và ngã ba Cây Lang. Cộng tác viên giấu tên, viết và gởi bài cho hòm thư chết đó. Phần trị sự, Sơn chịu trách nhiệm, Nguyễn nhận phần ấn loát. Coi như xong! Họ giải tán.

Bác cai trường đưa người cha ăn mặc bẩn thỉu, gương mặt hốc hác vào phòng giáo sư Phan Trịnh. Lũ học trò đang giờ ra chơi, tò mò theo dõi cảnh thi sĩ Phan Trịnh cau có đón tiếp cha mình.

- Cha vô đây làm chi?

Người cha khốn khổ, mặt cúi gầm, mấy ngón chân di di trên sàn nhà lát gạch bông.

- Mạ con trốn khỏi nhà thương, cha tìm miết không thấy. Chỉ sợ bả liều mình!

- Trời ơi, cha biết là tôi rất bận công chuyện chớ?

Người cha ngơ ngác gật đầu. Sách vở ngổn ngang trên bàn, tiếng tăm lừng lẫy, đâu còn là đứa con nhà nghèo thủa xưa ông thường bưng thau nước, đặt lên ghế rửa chân cho nó, mỗi lần nó mải học bài quá rồi ngủ gục? Lần ấy, nó thi đỗ tiểu học, ông quyết định khao nó bằng cách gọi bà bán đậu hũ vào nhà, cho phép nó và con út muốn ăn bao nhiêu thì ăn. Ăn được hai chén đậu hũ, cả hai anh em nó không chịu ăn nữa, dù nhìn mặt chúng, ông biết, chúng còn đang thèm. Chúng biết thương cha mẹ nghèo khó. Rứa mà bây chừ, khi ông hớt hải vào thẳng thị trấn Vĩnh Điện báo cho con hay: người mẹ điên đại của Phan Trịnh đã bỏ trốn khỏi nhà thương tâm thần Huế, đúng vào mùa báo hiếu, thì nó lại nạt nộ, bực bội và mắc cỡ vì sự có mặt của cha nó?

Ờ, lẽ ra mình không nên đến đây quấy rầy nó. Mình chỉ nên lẳng lặng đi tìm bà vợ điên sổng chuồng của mình mà thôi. Nghĩ vậy, ông lủi thủi quay ra.

Nhưng từ lúc cha đi ra, bản thảo cuốn “Dâng cho mùa báo hiếu” chàng đang đọc dở, không còn làm chàng hứng thú nữa. Chàng lơ đãng để gió thổi tung, lật ngược trang sách về với dòng đề tựa:

“Để dâng Mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn Mẹ, tháng tám, 1962”

Cách đây nửa tháng, nhà sư N gửi bản thảo viết tay của ông ra Vĩnh Điện cho chàng, khẩn thiết yêu cầu chàng đọc, cho ông những nhận xét và hơn một niềm vui đối với ông, nếu chàng chịu viết dăm lời giới thiệu cho cuốn sách của ông sẽ xuất bản nay mai. Điều ấy là cả một sự kiện đối với chàng. Nhà sư N vốn thâm trầm, uyên bác, người đang có tham vọng hiện đại hóa nền Phật giáo Việt Nam. Lòng tự ái của chàng được vuốt ve thỏa mãn, chàng hăm hở đọc từng dòng. Vì vậy khi bị cha chàng làm rộn, chàng cau có bực bội.

“Con trẻ thiếu tình thương thì không thể lớn lên nổi. Người lớn thiếu tình thương thì không bé lại được, cằn cỗi héo mòn hết. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết nhật ký: Tai họa lớn nhất đã xảy ra cho tôi. Thủa xưa, khi mẹ còn sống, những khi đọc bài thơ “Mất mẹ”, tôi đã biết sợ sệt, lo âu cho một cái gì còn xa chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến!

Tây phương không có ngày Vu Lan, nhưng cũng có “Ngày Mẹ 10-5”. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy TA tới nhà sách ở khu Ginza – Đông Kinh. Nửa đường gặp mấy sinh viên Nhật Bản của thầy TA. Có một sinh viên hỏi thầy TA một câu, rồi lấy trong xắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng, cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng bỡ ngỡ, không biết cô làm vậy là có nghĩa gì? Sau họ đi rồi, thầy TA mới giảng cho tôi hay, hôm nay là “Ngày Mẹ”, anh sẽ được cài lên áo một bông hồng màu hồng, anh có quyền tự hào là anh còn mẹ. Còn ngược lại, anh có một bông hoa màu trắng. Tôi nhìn lại bông hoa màu trắng trên ngực mình mà bỗng thấy tủi thân: tôi là đứa trẻ mồ côi mẹ! Bạn có mồ côi như tôi không? Tình thương tràn đầy hay vơi kiệt nơi trái tim bạn? Hãy khơi dậy tình thương, cứu cánh của ta, cứu cánh của dân tộc ta…”

Chàng đọc, chàng khóc, chàng xót xa, chàng ân hận với bao ý nghĩ mạnh mẽ. Hối hận cả khi nhớ lại, có lúc chàng hăm hở đi tìm Giải phóng trong vùng được quốc gia gọi là mất an ninh, quanh ngôi trường yên tĩnh của chàng…

Nhà sư đã làm cho chàng hiểu rằng, chàng lầm, thay vì đi tìm tình thương, chàng lại đi tìm Giải phóng. Lẽ ra chàng không nên nghe, không nên thấy, bùn máu ngập ngụa quê hương chàng và chàng chỉ nên thấm thía một nỗi cô đơn: mất mẹ, sẽ mất mẹ vĩnh viễn. Không biết thầy Đức Kính ngoài Huế và thầy N tận Sài Gòn có bàn bạc gì với nhau không, mà sao họ phối hợp với nhau nhịp nhàng đến thế? Thầy Đức Kính tìm cách khơi dậy trong lòng Ngọc Phương nỗi thèm khát siêu nhân và thầy N muốn lấy nước mắt khóc cho thân phận mồ côi, dập tắt niềm căm hận đầy ứ sắp bùng cháy trong tâm hồn thi sĩ Phan Trịnh.

Nhưng khi cha chàng đi khỏi, chàng bỗng thấy hối hận. Chàng vội nhờ người dạy thay vài tiết Việt Văn để phóng ra xe đò, về Đà Nẵng.

Chàng biết chắc chắn, trong buổi chiều tà này, mẹ chàng đang đợi chàng ở đó, chỉ ở đó mà thôi!

Quả nhiên, khi nắng quái chiều hôm hầm hập, nơi ba-ri-e xe lửa rác rưởi, hơi bùn thối nồng nặc từ những lòng cống lộ thiên bốc lên, mẹ chàng đang quỳ bên đường rầy, chính chỗ chị Hai chàng bị bánh thép xe lửa cán làm hai khúc…

Ám tượng hoàng hôn chợt đau nhói tim chàng!

Nhìn họ sánh đôi trên bãi biển chiều tà, không thể nghĩ gì khác hơn là ghen tị với hạnh phúc của họ. Cô gái tóc thề, áo dài trắng tha thướt và chàng trai mảnh dẻ, tóc đen nhánh, dáng dấp nhanh nhẹn. Mỗi lần bị gió thổi tung, mái tóc cô gái lại quấn lấy chàng trai. Thỉnh thoảng họ dừng lại, cúi gập người xuống cát, phải chăng họ vừa nhận ra những vỏ ốc màu hồng nhạt bị sóng đánh, tấp vào bãi cùng với đám bọt biển, sủi ngầu bọt trắng? Và dường như họ vui vẻ thu lượm tặng vật của thiên nhiên dành cho những đôi lứa vô tư nhất trên đời này.

Sự thực, trí tưởng tượng thông thường đã làm chúng ta chưng hửng nếu chúng ta nghe được câu chuyện của họ trao đổi qua lại. Bãi biển hoang sơ và hương vị phảng phất mùa thu đượm buồn trong cánh rừng dương liễu xanh úa ven bờ, không liên quan gì đến cuộc dạo chơi của họ. Họ không nói chuyện yêu đương, hẹn ước, họ nói chuyện mưu sát.

- Em không tin được…?

- Em phải tin anh!

- Không thể như vậy, hắn hiền khô và dễ thương.

- Hắn giết người!

- Không, bàn tay búp măng và mắt hắn như mắt nai.

- Bàn tay hắn búp măng khi chỉ hầm bí mật cho Trần Quốc Thái, mắt hắn mắt nai khi tán tỉnh em.

- Hắn là một con người!

- Đúng, trước khi hắn phản bội, hắn là một con người. Bây giờ thì không!

- Em không biết bắn súng?

- Không đứa trẻ nào sinh ra đã biết bắn súng ngay, nó phải học bắn súng như học hát vậy.

Chàng trai không ngờ, chàng chỉ diễn đạt cách khác, những suy nghĩ về thứ “triết lý học phí máu” của Ba Đoát – Giáng La.

- Một lần học chữ, suốt đời hăm bốn chữ cái không quên, xoay đi lật lại, đảo lộn trước sau, thành ra văn chương, thơ phú, phong dao, ca từ. Nhắm mắt xuôi tay còn lẩm nhẩm nhớ lại bài hát thời con nít. Bây giờ học bắn súng, anh muốn em suốt đời phải cầm… súng sao?

- Chúng ta là những đứa con của một quê hương máu lửa, không cầm súng thì chết. Một đời chúng ta có hồi tưởng bài học bắn súng cũng không uổng.

- Tại sao phải giết nó? Máu chảy miết sao?

- Nó còn sống ngày nào, ngày đó nó còn giết người. Nó giết 12 người một lần, trong đó có một cô gái đang thời kỳ yêu đương mãnh liệt và hy vọng…

Chàng trai nói không thực lòng, cô gái bị nó giết ấy, chưa một lần được biết hương vị tình yêu của chiếc hôn ra sao.

- Hiện giờ, nhiều người đang bị nó đe doạ tính mạng!

- Về lý thuyết, em có thể hiểu được, cần phải giết nó, nó chống phá cách mạng. Nhưng tại sao lại là em chứ không ai khác, được lựa chọn cho công việc giết nó?

- Chính kẻ sát nhân chọn người giết nó!

- Em không hiểu, anh nói dễ sợ quá.

- Sau vụ phản bội, giúp tụi Điện Bàn giết anh em mình, nó đề phòng ghê gớm. Mấy lần bố trí giết nó không thành, lại có người hy sinh. Thằng Trần Quốc Thái đi đâu cũng tâng bốc nó, nó càng hiểu, mạng sống của nó đang bị đe dọa từng ngày, từng giờ. Nó cảnh giác với tất cả mọi người, mọi con đường, mọi dấu chân nó gặp trên đường. Nhưng chỉ với một con người, một cô gái, tình yêu sa đoạ đã khiến nó mất cảnh giác. Nó đánh đập hất hủi vợ con nó, nó chạy ra Đà Nẵng ăn chơi. Nó có bà cô, bà cô này có con gái học cùng lớp với cô gái ấy. Nó chỉ biết cô ấy đẹp, chứ không biết, trong máu cô ấy có chất cách mạng. Nó phóng lam-bret-ta đưa cô gái ấy đi chơi, cặp bồ với cô gái ấy…

- Trời ơi, em van anh bao nhiêu lần rồi, cô gái ấy ghê tởm nó, sợ hãi nó, không có tình yêu nào giữa nó và cô gái ấy. Cô ấy chỉ yêu thầm nhớ trộm một người con trai, nhưng người con trai ấy sắt máu quá!

- Không, phải đi đến cùng sự suy nghĩ khi hành động. Chỉ một mình cô gái ấy có khả năng tiếp cận nó mà không bị nó nghi ngờ, hay nói cách khác, chính nó lựa chọn cô gái ấy làm người thi hành án tử hình với nó.

- Vâng, em hiểu, em đã được anh tin cậy, giao phó nhiệm vụ giết nó! – Đột nhiên cô gái quả quyết. – Em sẽ làm điều đó cho anh hài lòng. Nào, anh nói kế hoạch thi hành án đi!

- Đầu tiên, anh sẽ dạy em cách sử dụng súng ngắn. Lúc nào thành thạo rồi, lựa một ngày chủ nhật đẹp trời, em rủ nó qua Non Nước. Chắc chắn nó sẽ mừng rú lên. Bọn anh ngồi sẵn bên dưới tiếp ứng cho em. Em và nó sẽ leo lên đỉnh đồi, đợi quá mười hai giờ một chút, lúc ấy sẽ vãn khách. Vô đúng lúc nó si mê em nhất, em hãy rút súng để sẵn trong bóp, bắn thẳng vào ngực nó và đi xuống, sẽ có người đón em bằng xe máy.

Giờ đây cùng Sơn ngồi đợi tiếng súng, Phi cảm nhận được sai lầm của mình. Anh nhớ lại từng chi tiết, từng câu nói, từng diễn biến nét mặt và tâm lý của Mai Hạnh trong cuộc trò chuyện lần trước trên bãi biển Nam Ô. Lẽ ra anh chỉ nên phát động căm hờn và phát huy truyền thống một cách giản dị, rồi giao nhiệm vụ giết ác ôn cho Mai Hạnh, thì anh lại sa đà vào việc phân tích khía cạnh triết lý nhân bản và những ý niệm mơ hồ về “kẻ sát nhân lựa chọn người giết mình”. Hoặc, “không đứa trẻ nào sinh ra đã biết hát, học chữ”… Chính những lý lẽ ấy biến nhiệm vụ giết ác ôn thành một vụ chấn động tâm lý, thần kinh khác thường trong cô gái tiểu tư sản thành phố. Cô hoang mang chìm vào sự phân tích thân phận con người cùng những khía cạnh phi lý này khác. Anh chợt hiểu vì sao Ba Đoát sống, hành động và lựa chọn phương án tối ưu cho mình, nhưng không bao giờ để những ý nghĩ mơ hồ, vụn vặt gậm nhấm ý chí và mục tiêu hành động của mình.

Quá một giờ chiều, vẫn im re, nghĩa là công việc chắc thất bại. Một là súng hư, đạn thối hoặc thằng Thức phát hiện và bắt cô tại trận (nhưng nếu vậy, nó phải giải cô gái xuống núi, giao cho cảnh sát). Hai là, Mai Hạnh không dám ra tay vì một lý do nào đó.

Anh biết, Nguyễn cũng đang sốt ruột như anh. Nguyễn có nhiệm vụ dùng chiếc Bê-can chở Hạnh chạy thoát sau khi hành sự. Còn anh và Sơn thoát trên chiếc I-si-a. Anh nói nhỏ với Sơn:

- Em lên coi tình hình sao?

Một lúc sau, Sơn đi xuống, hậm hực:

- Bà Hạnh cà chớn thiệt, nó gối đầu trên bắp vế bả, biểu bả nhổ tóc ngứa cho nó. Ngon biết mấy, mà khi em lên, thấy anh chị dắt tay dạo cảnh. Điên máu muốn xáng cho bả một bạt tai!

Đêm ấy, Phi không trông thấy mặt biển lẫn gương mặt cô gái đang khóc, tiếng nói của cô đứt đoạn:

- Anh Phi ơi, tha tội cho em. Lúc Thức biểu em nhổ tóc ngứa cho nó, em nhủ thầm: Mình sẽ ra tay lúc thuận tiện nhất. Nhưng khi em đưa tay lật từng sợi tóc xanh của nó, bỗng em thương nó quá, em không đủ sức thò tay lấy khẩu súng ra nữa! Hiểu cho em, anh Phi ơi!

Anh không hoàn thành ước nguyện trả thù cho Luyến và tiêu diệt một tên phản bội, đó là lỗi của anh trước đã. Anh chỉ biết nói với Mai Hạnh:

- Hạnh, nghe anh nói đây, từ mai tuyệt đối em không được gặp thằng Thức nữa, cắt luôn mọi liên hệ với nó!

- Dạ! – Mai Hạnh âm thầm nói tiếp. – Em sẽ không gặp nó nữa, nhưng cắt đứt làm sao được, nó đang hiện diện trong em đến tận xương tủy. Em đã có bầu với nó!

Phi choáng váng như hụt bước, anh chỉ thều thào nói:

- Anh sẽ kiếm tiền cho em vô Sài Gòn phá thai!

Nửa tháng trời xoay xở, các nhà báo nghiệp dư trên đỉnh Non Nước vẫn vô kế khả thi. Thầy Lưu đã nhận viết tựa cho tờ báo. Bài vở qua hòm thư chết ùn lại một đống, hơn nghìn bài, hàng chục truyện ngắn. Riêng vụ giấy đã nan giải, bước vào tiệm hỏi mua từ năm ram trở lên, công an chìm theo dõi liền. Đành tính nước huy động nhiều người, mỗi người mua một ít gộp lại.

Bữa họp toà soạn lần đầu tiên, một loạt con số đưa ra làm cả lũ hoa mắt: 200 ram giấy rô-nê-ô, 30 ống mực. Nguyễn có thể mua một ít ở tiệm sách báo Bình Minh (Hội An), Phi góp một ít tiền. Còn phần lớn do Cẩm Lệ xin các mẹ, các chị tiểu thương chợ Cồn.

Trọng nói giỡn:

- Hay tụi mình làm đơn xin chính quyền cho phép mở một xưởng ấn loát và trương biển quảng cáo báo “Hướng Sống”. Tha hồ kêu nữ thư ký tới đánh máy thuê!

Lữ thật thà cãi liền:

- Lãng mạn dật dờ, nó hốt cả lũ cho vô ty Công an Gia Long!

Cả bọn cười ồ. Lữ biết mình hớ. Nhưng quả thật, việc đánh bản thảo trên giấy xtăng-xin cực quá. Nguyễn xách một mớ về Hội An, đóng cửa kín mít, ngồi mổ cò từng chữ. Kiếm nhét bản thảo vào túi du lịch, theo thằng bạn làm ở ty Canh nông Thừa Thiên, ra Huế, nhờ đánh đâu được ba chục trang. Hoàng Mai ở Quảng Ngãi ra, thấy tình hình ì ạch quá, cũng ôm một xấp về lo đánh máy.

Mấy bữa sau, Phi và Sơn đang ngồi bàn tính chọn địa điểm để in báo thì Nguyễn phóng xe máy, hớt hải tới ngã ba Thanh Khê, xộc ngay vào nhà bà Cứ. Thấy mặt Nguyễn nhợt nhạt, Phi linh tính có điều chi không lành. Quả nhiên, Nguyễn báo tin:

- Trần Châu, cơ sở của tôi và Đợi, xách bản thảo về nhà ở Cẩm Kim đánh máy. Không biết bản thảo để hớ hênh thế nào, nửa đêm thằng cạnh nhà nghe tiếng gõ lạch cạch, sinh nghi, đi báo. Tụi cảnh sát ập vô, hốt cả người lẫn bàn máy cùng bản thảo về ty Công an Quảng Nam, tính răng chừ, ông?

Phi lo quá, báo chưa ra đã gặp chuyện bắt bớ, khám xét.

- Báo động ngay cho anh em khác. Tạm thời cất giấu tài liệu, chờ coi Châu có khai báo gì không?

Nguyễn về rồi, Sơn biết Phi đang bối rối. Phi đi đi lại lại, điếu ru-by này chưa hết đã châm điếu khác. Những lúc đó, Sơn biết, hãy để cho Phi yên. Chợt Phi dừng lại ngay giữa nhà:

- Mặt đất trống quá!

Sơn ngơ ngác không hiểu Phi vừa nói gì.

Trống trải quá. Phi vừa nghĩ tới việc đào một công sự mật như ở Giáng La.

Công việc làm báo đình chỉ mất gần một tháng, cho đến khi tòa án Quảng Nam kết án Châu mười năm tù vì tội viết tài liệu phản nghịch. Ra tòa, Châu khai, tự Châu nghĩ ra những điều đó và tự đánh máy, phát không cho bạn bè đọc. Chưa kịp đưa cho ai thì bị bắt. Thương Châu quá, cái giá đầu tiên cho “Hướng Sống” là bản án mười năm tù cho một chàng trai mười tám tuổi.

Lại càng hăm hở làm tiếp, có thêm lý do buộc “Hướng Sống” ra đời sớm nhất có thể, để Trần Châu không thấy mình hy sinh vô ích.

Nhưng đó chưa phải là tai họa cuối cùng, số phận “Hướng Sống” ba chìm bảy nổi… tám chín cái lênh đênh! Đánh được khá nhiều xtăng-xin, còn lại một số, ôm hết về nhà Hai Chi ở Phong Thử, đánh máy tiếp.

Hai Chi ngồi bên bàn máy may, canh gác cho bốn chàng Nguyễn, Phi, Đợi, Sơn hí húi đánh xtăng-xin trong buồng riêng của cô. Đã dặn nhau trước, rút kinh nghiệm Trần Châu, không để bất cứ tài liệu nào ở ngoài. Tất cả gói gọn trong túi, có động dông luôn, khỏi mất thì giờ thu dọn chiến trường.

Ở đời ai học được chữ ngờ? Cũng tại chợ Phong Thử, ngoài tiệm may của Tám Hơn, còn tiệm may của em vợ thằng Sách (tức em ruột Chinh, gọi Mười Lúa bằng cô). Tiệm may Tám Hơn đông khách hơn. Gà ghét nhau tiếng gáy. Hồi chiều thấy nườm nượp ba, bốn xe máy phóng về Phong Thử, tấp vô tiệm may Tám Hơn, em vợ thằng Sách mật báo cho cảnh sát: tại tiệm may Tám Hơn đang có cuộc họp của Việt cộng.

Hai Chi mặt cắt không còn hột máu, chạy vào:

- Trung đội thằng Biên vô tới trước sân rồi!

Cả bọn ôm toàn bộ xtăng-xin vừa đánh xong, chạy ra ngả sau. May quá trời, chúng không chặn ngả này. Bốn đứa bu cứng lấy gốc tre, tuông người xuống nước.

Địch đang sục sạo, la lối trong nhà. Sơn cứ xuýt xoa:

- Anh Phi ơi, ngâm nước ri, xtăng-xin hư hết trơn.

Phi lấy cùi chỏ, thúc vào người Sơn, bắt im.

Thoát tay trung đội thằng Biên, nhưng phải đánh lại toàn bộ xtăng-xin. Mặt mũi bốn chàng ỉu xìu, kéo nhau về Đà Nẵng. Trên đường triệt thối khỏi Phong Thử, Phi toát mồ hôi lạnh: Trời đất, mình ngu quá, tụ bốn thằng một chỗ, chết chùm cả đám thì sao?

Thấy cả bọn xuống tinh thần, Nguyễn gồng người đọc thơ lấy đà:

Ai chiến thắng không hề chiến bại

Ai nên khôn chẳng dại đôi lần?

Và anh là người đầu tiên hì hục mổ cò trở lại. Loay hoay mãi đến mùa mưa dầm dề, mới đánh xong số xtăng-xin. Bắt tay vào chuyện in. Sau khi xổ một tràng tiếng Pháp, chưa ai kịp nghe ra chuyện gì, Nguyễn dõng dạc tuyên bố:

- Chú ý, nửa tháng nữa, anh em mình sẽ thấy một cú trời giáng!

Con người mệnh danh “kẻ không biết giỡn” đã tuyên bố như vậy, ai dám không tin? Khó khăn nhất vẫn là trách vụ của Nguyễn. Chế độ Diệm kiểm soát phương tiện in ấn hết sức gắt gao, đừng hòng mua nổi máy quay rô-nê-ô. Chẳng lẽ lại vào ty Công an Gia Long xin cảnh sát cấp giấy phép mua máy?

Nguyễn qua Non Nước, vác một phiến đá về mài, in li-tô, thất bại thảm hại, mực không có! Chạy cùng, hỏi được cách in đông sương, nhoè nhoẹt, vừa đọc vừa đánh vần, vừa đoán chữ. Nằm bò ra trên đất, in thí nghiệm xtăng-xin trên kính, cũng thất bại. Nguyễn đâm cáu, khả năng kiên nhẫn của Nguyễn bị thách thức nghiêm trọng. Nguyễn làu bàu, càm ràm miết, khó tính như tinh, đụng hắn lúc đó dễ gánh cơn nổi quạu. Y hệt bà đau đẻ, rặn mãi không ra con. Nguyễn gầy rộc hẳn đi. Phi thương bạn lại buồn cười. Một anh chàng to con như gấu, vốn hào hoa, phóng khoáng có tiếng, phóng xe máy vù vù, áo blu-dông bó khít lấy thân thể cường tráng. Vậy mà bữa nay, nhốt mình trong phòng hàng tuần lễ, vắt óc suy nghĩ cách in báo “Hướng Sống”.

Cuối cùng, Nguyễn cúi gằm mặt, gặp Phi:

- Hết cách, ông kiếm người khác giao việc in ấn. Tôi hàng!

- Ông còn nhớ Lê-nin đã viết rằng: Người thợ máy có thể phá được tất cả và xây được tất cả. Chúng ta có thể phá tan cả chế độ này, vô lẽ lại không biết làm lấy một cái máy quay rô-nê-ô hay sao? Ông già ông làm thợ máy nổi tiếng, sao ông không về xưởng của ông ấy làm thử coi?

Nguyễn la lên, tay đấm đầu bình bịch:

- Phải đó, ông không nói tôi quên mất! Ông cứ yên tâm về Huế, tôi sẽ điện báo cho ông ăn mừng chiến thắng.

Phóng vù về Vĩnh Điện, xồng xộc vào ngay xưởng thợ, lục lọi đồ nghề của ông già. Ông Tám Đàn ngạc nhiên:

- Mi khùng hả?

- Đâu có, tôi cần làm đồ dùng dạy học sinh môn vật lý!

Một tuần sau, Phi đang giải toán cho Tín và Phương Nhi, bà Dự vào, đưa cho anh bức điện tín màu xanh, cười:

- Người đẹp mô mà giục Phi về gấp dữ vậy?

Đọc bức điện, vừa buồn cười vừa mừng:

“Về ngay, rất mong gặp cưng! Thương Thương”

Xe đò vừa dừng bánh tại bến xe An Lợi, đã thấy Nguyễn ghếch chân lên chiếc xe máy dựng bên đường, khoe luôn:

- Tìm ra châu Mỹ rồi, mi đi ngay với tau!

Mắt Nguyễn sáng rỡ, tay chân líu quýu thiệt tội, giục Phi lên xe. Phóng cái rầm về Vĩnh Điện, lôi Phi vào xưởng thợ. Thợ nghỉ trưa, xưởng vắng người, Nguyễn thao tác lanh lẹ, cái máy tự chế hoạt động tốt. Không biết khi Oát thí nghiệm thành công máy hơi nước đầu tiên, có sung sướng như Nguyễn không?

Đến lượt Kiếm sướng run, lấy chiếc Đơ Sơ-vô của ông già mình, chở ngay chiếc máy tự chế tạo của Nguyễn ra ngã ba Thanh Khê. Bà Cứ và cô con gái đã tắt đèn đi ngủ, để mặc đám khách khứa và Sơn rì rầm tiếp nhau. Lâu nay họ đã quen như vậy rồi, những chàng trai vô hại và tốt bụng!

Kiếm rón rén bê chiếc máy đặt vào phòng riêng của Sơn, rồi cả bọn bốn thằng ra quán cà-phê gần đó ngồi đến khuya. Gió xào xạc quanh lùm tre.

Nguyễn đấu dây điện vào mấy bình ắc-quy đem theo, che vừa đủ ánh sáng để quay rô-nê-ô. Căn phòng của Sơn trở thành xưởng in…

Mỗi lần quay xong một tờ, Sơn lại nâng niu, đưa lên sát mũi, hít hà cái mùi mực in thơm hắc.

Tội nghiệp, nó với Cẩm Lệ giận nhau mấy tháng nay. Vẫn chuyện ghen với thằng Phúc, nhất là từ khi Sơn nhìn thấy trên bàn viết của Lệ, một tập thơ của nhóm “Người đất Hàn”, trong đó có bài thơ của Trần Đình Phúc với lời đề tặng “Cô giáo thân yêu của tôi!”. Làm sao giải thích cho Sơn hiểu rằng, Phúc mê thơ Phan Trịnh, mê bắt chước luôn mối tình oái oăm thời con nít của thi sĩ với cô giáo Viễn Miên Trường. Nó học đòi thật, nhưng lâu nay, trong lòng nó, hình ảnh cô giáo – người chị Cẩm Lệ, vượt lên tất cả mọi thứ bê bối xấu xa của xã hội và gia đình nó, để nó tin yêu. Nó si mê một thần tượng vào tuổi đang khát khao khám phá, tìm hiểu và nhập cuộc.

Sơn khăng khăng không chịu hiểu. Sơn buồn, Cẩm Lệ buồn. Phi càng buồn. Cả hai đối với anh như hai đứa em ruột thịt. Giờ đây Sơn tìm vui trong công việc, Phi càng thương nó hơn.

“Hướng Sống” hiện dần lên qua mỗi trang giấy như bào thai hình thành qua năm tháng trong bụng mẹ…

Cầm số báo “Hướng Sống” đầu tiên ra lò, cảm động đưa tờ báo lên môi hôn, Phi mường tượng ra gương mặt của độc giả mai mốt. Phải gởi ngay số báo này lên cho ông già áo xanh.

Phi hồi hộp chờ thật khuya, đánh thức Hoan dậy, khoe tờ báo. Hoan dụi mắt ngơ ngác!

Qua bữa sau, ông Hào gọi Phi lên phòng riêng, hỏi:

- Bữa qua tau nghe đài Hà Nội được biết, miền Trung đã thành lập Hội liên hiệp Thanh niên… chi chi đó. Họ còn đọc luôn danh sách Ban chấp hành gồm chín người, toàn những cái tên lạ hoắc. Mi không hay chuyện động trời đó hả?

Phi lắc đầu, ông già thở hắt ra:

- Rứa mới gọi là cách mạng chớ, không biết tụi bây mần những chi nên dạng nào? Toàn rị mọ với cù lần trời ơi!

Phi mỉm cười, ông già thiệt tội nghiệp. Tầm ngầm nhưng hết sức để tâm tới chuyển biến thời cuộc. Ông thường lén nghe đài Hà Nội và đài Giải phóng. Phải chi mình được phép kể cho ông nghe: Chính mình đang nghĩ tới việc gởi “Hướng Sống” qua đường bưu điện cho những tên chóp bu vùng I chiến thuật, từ Nguyễn Chánh Thi, Hoàng Xuân Lãm, đến Võ Lương, giám đốc công an Trung nguyên Trung phần. Chắc lúc đó ông không thể chê mình rị mọ hay cù lần nữa.

Giáp mặt hàng ngày, Hoan vẫn viết thư cho Phi, bắt anh trai chuyển. Kiếm nhăn mặt quá trời.

- Cá mè một lứa miết không được nghen. Thằng Phi là bạn thân thiết của tau, nhưng bây giờ nó là thầy tau nữa nghe. Đó, năm ngoái nó về coi thi tại hội đồng thi Phan Châu Trinh, trúng luôn phòng tau thi. Nó mách tau làm bài, lại còn hẹn tau ghi kí hiệu chữ B hoa ngược trong bài, tau mới trúng tú tài 1. Hè ni, tau lên thi tiếp phần hai. Rủi mi cư xử không khéo làm thầy tau phật ý, thầy tau không giúp tau nữa là tau rớt cái chắc. Thôi, dẹp cái ngón thư huê tình đó đi, vô thẳng chỗ nó la rầm lên: Em yêu anh! Hoặc ngượng ngùng không dám nói tiếng Việt thì dùng tiếng Pháp hoặc tiếng Huê Kỳ: I love you! Thầy hiểu liền à!

Hoan lườm Kiếm. Kiếm kể hết cho Phi trước khi chuyển thư. Nàng viết vắn tắt:

“Em muốn theo anh làm cách mạng. H!”

Mừng, xao xuyến lẫn lộn. Hoan yêu người, yêu luôn con đường người ấy đi. Chấp nhận cho Hoan nhập cuộc từ vị thế này, Phi tự nhủ, mình phải giữ lòng mình cho ngay thẳng, nung nấu ngọn lửa say mê lý tưởng và kiềm chế luôn tình cảm tự nhiên, riêng tư nữa. Phi đã tự nhủ thầm như vậy và anh lẫn lộn giữa cái gọi là uy tín với nhu cầu tình cảm, trước con mắt đồng chí, cơ sở của anh.

Lần thứ nhất, Phi mời hai anh em Hoan xuống Hội An chơi. Trước đó, Hoan không lạ gì cái thành phố cổ này, Vĩnh Điện – Hội An mười cây số, bốn chục phút đạp xe đạp, mười phút xe máy… Nhưng bây giờ Hội An có Phi, cô đến với nó bằng niềm xúc động trẻ thơ, hồi hộp như lần đầu tiên gặp một xứ sở kỳ lạ. Cô chờ đợi ở chuyến viếng thăm này quá nhiều điều kỳ diệu. Bởi vậy, khi Phi giữ một bộ mặt bình thản, bàn bạc với anh em cô kế hoạch đưa cô ra Đà Nẵng, Hoan thấy hụt hẫng.

Phi nói:

- Kiếm sẽ bàn với gia đình đưa Hoan ra Đà Nẵng ăn học, hình như ngoài nớ, Hoan có một bà chị nuôi?

Hoạn lơ đãng trả lời:

- Dạ, chị Bông!

- Phải thuyết phục ông già mua một vạt đất, dựng nhà cho chị em Hoan ở. Sẽ đưa cơ sở ấn loát về đó. Hoan chịu trách nhiệm thu vén tài liệu, giấy tờ, cất giấu máy móc sau khi anh em in ấn. Như vậy được không Kiếm?

- Được.

Kiếm đáp lỏng chỏng. Mi vô tình quá Phi à, lắm lúc tau tự hỏi, liệu trái tim thằng Phi làm bằng thứ thép chi láng bóng, không thể bị dính nước vô? Có lẽ vì rứa, những giọt nước mắt khóc thầm vì mi của con Hoan đổ ra trên gối, không làm ướt nổi tim mi!

- Tau đã thăm dò, cuối đường Thanh Sơn có một vạt đất vừa đẹp, chủ đất cũng tính bán. Phải lẹ lên, không khéo người khác hớt tay trên, chung quanh đó toàn là người tốt, đỡ ngại bị dòm ngó!

Phi thoáng nghĩ, cạnh đó là Tôn Thất Tích, một giáo sư dạy trường Bồ Đề, anh móc nối qua giáo sư Trương Văn Thơ. Giáo sư Thơ nguyên là cựu chiến sĩ đại đội Vệ quốc đoàn của ông Dự. Sinh thời, giáo sư Huyễn có kể cho Phi nghe về Thơ và hy vọng, Thơ vẫn còn nhiệt tình với kháng chiến. Giáo sư Thơ dạy toán có tiếng ở trường Phan Thanh Giản. Sẽ bố trí ông Tích vào ban biên tập “Hướng Sống”, hai nhà liền nhau tạo thế liên hoàn rất tiện, đề phòng địch lục soát.

Trời ơi, răng mi không ngó thấy con Hoan đang chớp mắt chực khóc. Mi mời nó xuống đây thăm mi. Rồi sẽ bàn công chuyện cách mạng, nó sẽ sẵn sàng, hân hoan chết vì mi. Nhưng ít nhất mi phải nói với nó vài lời an ủi, âu yếm. Một ánh mắt thiết tha của mi dành cho nó, cũng khiến cho nó tràn trề hạnh phúc. Sao mi không làm những điều mà bất cứ thằng đàn ông mô có trái tim bình thường, cũng làm được. Mi ác rứa, Phi?

Kiếm buồn rầu và thất vọng, dằn mạnh muỗng cà-phê xuống miệng li sứ, rồi đột ngột phanh nút áo ngực:

- Ngột hung, sắp bão tề!

Thái độ đột ngột của Kiếm khiến những ý nghĩ rời rạc, tản mạn của Phi và Hoan giao thoa lẫn nhau. Họ sững sờ nhìn vào đáy mắt nhau trong khoảnh khắc đó.

Hoan thở dài, ảnh không thể làm khác. Dù sao, ảnh cũng không thể nào quên ngay cái chết bi thảm của chị Luyến! Phi ơi, em hiểu anh, em sẵn sàng chờ anh, chừng mô vết thương ấy lành dần trong anh.

Lệ tự nhủ, nhất định lộ rồi. Nếu mình nấn ná ngồi lại trên xe, họ sẽ kêu cảnh sát tới bắt mình. Lệ cứng người, hai hàm răng run lập cập và bắt đầu thấy khó thở. Cô không dám cựa quậy, mặt đuỗn ra, dường như hành khách trên xe đều chĩa vào cô những cái nhìn xoi mói. Họ đang xì xầm về mình. Thấy mọi người ngừng chuyện trò, cô cũng nghĩ, tại sao họ làm thinh một cách ghê rợn thế kia?

Lần đầu tiên Phi giao cho cô nhiệm vụ chuyển tờ “Hướng Sống” số một về Giáng La. Cô nói với bà vợ ông trưởng ga, mẹ cô ốm, cô cho Phúc nghỉ hai buổi học, rồi tất tưởi đạp xe về nhà lấy tờ “Hướng Sống” giấu trên bàn thờ, xếp vào giỏ xách, bên dưới những trái cam chín vàng. Nhưng khi bước chân lên xe đò Đà Nẵng – Phong Thử, cô bỗng hồi hộp, tin chắc mọi người đã biết rõ mục đích chuyến đi của cô. Và ai cũng biết trong giỏ xách kia chứa một tờ báo bí mật. Trên quãng đường ngót hai chục cây số, cô nơm nớp chờ đợi cảnh sát ách xe lại, khám xét và phát hiện ra cô. Chính vì nỗi ám ảnh này, mấy lần cô nảy ra ý định, kêu bác tài thắng xe lại. Cô sẽ bước xuống và tìm cách huỷ tờ “Hướng Sống” trước khi quay về Đà Nẵng, thú thật với Phi tội hèn nhát của mình. Nhưng không hiểu lí do nào khiến cô chần chừ, chưa thực hiện điều ấy?

Cho đến ngã ba cầu Vĩnh Điện, một ngã đi thẳng theo lộ 1, một ngã rẽ xuống Phong Thử, cô run bắn người khi thấy một chiếc xe gíp đậu ngay bên đường và lố nhố những cảnh sát áo trắng đi lại.

Bác tài thắng xe, đám cảnh sát ùa đến, vây quanh hai cửa lên xuống. Cô quyết định sẽ vùng chạy… Nhưng chân cô lại cứng đơ và thân thể cô bất động. Cảnh sát bắt đầu khám xét từ hàng ghế đầu, cô ngồi giữa.

Khoảnh khắc chậm rãi đến ghê sợ. Trễ rồi, không trốn nấp vào đâu được nữa, cô suýt òa lên khóc vì sợ hãi. Bỗng nhiên, ai đó chạm nhẹ vào tay cô và thản nhiên:

- Chị cho em xin cái giỏ xách!

Lệ run rẩy quay lại, trời ơi thằng Phúc! Như một cái máy, cô trao giỏ cho nó. Phúc thản nhiên để giỏ xách ngay trên một ghế ngồi và vui vẻ huýt sáo. Đám cảnh sát áo trắng tiến gần đến nó. Lệ không dám ngẩng lên.

Phúc thản nhiên hất hàm:

- Xin chào thượng sĩ. Tôi biết ngay là thượng sĩ quên tôi rồi mà! – Mặc cho gã cảnh sát mặt rỗ chằng rỗ chịt ngạc nhiên, Phúc tỉnh rụi chìa gói Cô-táp cho hắn. – Bồ mau quên thiệt, bữa đó bồ đến nhà ông cậu tui, thiếu tá Bửu Chủ đó!

Đến lượt gã thượng sĩ vui vẻ bắt chuyện:

- Giỡn hoài, quên thế nào được. Bồ đi đâu về đây, vùng này an ninh lộn xộn lắm!

- Mắc chi tới tôi! Mai mốt bồ ra Đà Nẵng, nhớ ghé qua chỗ tôi nghe!

Hành khách xuống hết. Phúc trao lại cái giỏ cho Cẩm Lệ và nói nhỏ:

- Mặt chị xanh rờn, hên tụi nó mải bắt chuyện với em không để ý! – Rồi Phúc chép miệng như người lớn. – Nghe bà già biểu má chị đau, em tính tới thăm bác. Nhưng em vừa tới quẹo Độc Lập – Phan Thanh Giản, đã thấy chị ngồi trên xích-lô, em bám theo coi chị đi mô. Hóa ra thấy chị nhằm bến xe Chợ Cồn. Em quyết định đi theo hộ tống chị. Chị để tờ báo cộng sản “Hướng Sống” trong giỏ xách phải không?

Lệ trợn tròn mắt hỏi:

- Răng em biết?

- Sợ người ta biết thì đừng làm! – Phúc cười khoái chí. – Mấy người đồng chí của chị ghê thiệt, đã làm báo bí mật còn ngang nhiên gởi qua bưu điện, cho mấy ông tướng vùng và công an. Ông cậu em làm thiếu tá an ninh cũng nhận được một tờ. Rứa là ổng cho em coi và khen: Tụi này gan lớn hung. Nhất định cậu sẽ tìm ra chỗ ấn loát bí mật!

Lệ giật thót người, tụi mình đứa mô cũng khoái sáng kiến của anh Phi, gửi “Hướng Sống” đến tụi địch chóp bu, ai ngờ việc ấy lại thách thức tụi nó.

- Hồi nãy em hỏi đại chị, ai ngờ Việt Cộng thiệt thà. Nhưng thôi, chị khỏi lo. Chị có lựa chọn của chị, em có lựa chọn của em, mỗi người một con đường. Dù sao, em vẫn mãi mãi là người đứng ra bảo vệ chị, vì em…

Tự nhiên chú bé đỏ bừng mặt, không dám nói tiếp. Cẩm Lệ thầm mong chú bé đừng đi đến cùng ý nghĩ nguy hiểm của chú. Cô nói nhỏ:

- Dù răng cũng cảm ơn em!

Và vội vã quay đi, trên bến xe vắng ngắt chỉ còn mình Phúc đứng ngơ ngác.

Cẩm Lệ không ngờ được gặp ông già áo xanh và cả nhà thơ Thu Bồn ngay giữa Giáng La. Ba người ngồi nói chuyện dưới ánh sáng cây đèn hột vịt. Ông già áo xanh săm soi từng dòng chữ in đậm nhạt, vụng về, một cách trang trọng:

- Nhờ cháu về nói với anh em ngoài nớ, các chú, các anh trong này rất mừng thấy “Hướng Sống” ra đời được như thế này. Cháu nhắc giùm, số sau ráng mỏng hơn, bài viết gọn hơn.

Còn Thu Bồn rơm rớm nước mắt:

- Mấy anh em trong đó, khó khăn nhiều mà còn làm được, bọn anh ngoài ni mà không viết được cái gì ra hồn, mắc cỡ hung!

Thu Bồn chìa tay bắt, Lệ bồi hồi để nguyên tay mình trong bàn tay nóng rực của nhà thơ.

- Bọn anh sẽ chuyển những bài thơ, bản nhạc, truyện ngắn ni cho Đài phát thanh Giải phóng sử dụng. Cần phải để cả nước và thế giới nghe được hơi thở của cuộc chiến đấu kỳ diệu của tuổi trẻ miền Trung!

Thu Bồn hào hứng nói. Tự nhiên Cẩm Lệ kể chuyện cô run như thế nào và chú bé “thiên thần hộ mệnh bất đắc dĩ” trên xe đã giúp cô thoát nạn ra sao. Dĩ nhiên cô giấu biến chuyện… Sơn ghen với chú bé ấy.

Ông già áo xanh và Thu Bồn tỏ vẻ thông cảm với cô. Lúc chia tay, ông già áo xanh gọi riêng cô ra một chỗ, dặn dò ân cần, giọng khoan thai nhưng không giấu nổi vẻ trách móc:

- Cháu về nói với Phi và anh em khác, hoạt động cách mạng không được tài tử như vậy. Cái cần mới làm, cái gì phù phiếm, giỡn cợt gạt ra ngoài. Nhất là phải nhớ nguyên tắc hoạt động bí mật!

❀ ❀ ❀

[1] Nhà văn, phi công Pháp.

[2] Một khái niệm trong Phân tâm học.

[3] Nhà văn, nhà viết kịch người Pháp, nổi tiếng trong văn chương và triết học hiện sinh.

[4] Huyền thoại về Xi-díp, tên một tác phẩm nổi tiếng của Mi-sen Ca-muy.

[5] Tên của các triết gia mà những người tôn sùng “chủ nghĩa hiện sinh” hay nhắc tới hoặc viện dẫn.

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.