Chiếc xe đò xộc xệch, tróc sơn nham nhở, khó nhọc di chuyển trên đường cái, lạc lõng giữa những đoàn xe nhà binh phóng như điên và bóp còi inh ỏi. Nhìn sắc phục và điệu bộ bọn lính chen chúc nhau trên những thùng xe không che bạt, người ta biết ngay, chứng thuộc các đơn vị Bảo hoàng hoặc com-măng-đô mới từ miền Bắc tràn vào năm ngoái.
Thỉnh thoảng chiếc xe đò lại bị những trạm gác dân vệ chặn lại. Hành khách nhẫn nhục chịu đựng những cuộc khám xét hết sức thô bỉ. Chỉ sau khi xe được phép lăn bánh, người tài xế mới lầu bầu chửi thề. Nhưng ngay lập tức, thấy không khí im lặng bao trùm trên xe, đám hành khách mặt lầm lì như nặn bằng sáp, những dấu hiệu đầy đe dọa, người tài xế vội lấm lét nhìn quanh và lảng sang chuyện khác. Hai bàn tay ông ta nhơm nhớp mồ hôi để lại trên lớp nhựa đen bóng bọc ngoài vô-lăng. Phi quan sát thái độ lo ngại của người tài xế và nhăn nhó mỉm cười bâng quơ.
Mười Lúa bồn chồn chờ đợi những bất trắc có thể xảy ra trong suốt cuộc hành trình. Chỉ có chú bé Phương bốn tuổi, khoái chí ngọ nguậy trong lòng mẹ. Lần đầu tiên chú được đi xe hơi. Cái gì đối với chú cũng mới lạ, chú hỏi mẹ luôn miệng. Mười Lúa sốt ruột, nhưng không dám nạt con.
Quãng đường gần ba mươi cây số sao mà dài lê thê. Phi mường tượng, chiếc xe cà khổ này chắc sẽ quỵ xuống trước khi lết tới được ngã tư Hà Lam.
Khung cảnh hai bên đường tiêu điều, xơ xác và trơ trụi. Dấu tích của cuộc chiến tranh vừa qua chưa kịp phai mờ, sự khốc liệt khác thường đang diễn ra trên mảnh đất này lại càng làm tăng trưởng mối bất an vốn đầy ắp trong tâm trí mọi người: Một cuộc chiến nữa đang ngấm ngầm bén lửa và bùng nổ.
Cuối cùng, chiếc xe cũng dừng lại, đổ khách xuống quận lị Thăng Bình. Hai dãy nhà lá ven đường che liếp kín mít, quán xá vắng hoe, chỉ có những tốp lính hoặc các toán dân sự bán vũ trang đi lại trong thị trấn. Không lẽ ngồi lì trên xe. Mười Lúa đưa mắt nhìn Phi. Cậu bỗng thấy hãnh diện khi trở thành người quan trọng đối với mẹ con cô Mười.
- Đi thôi, cô ạ!
Thế là tám năm sau, cậu đã quay lại trại Ba Thư. Liệu chị Hai và Út Hà còn ở đây hay phiêu bạt nơi nào rồi?
Những diễn biến dồn dập của cuộc chiến tranh khiến con đường ba mươi cây số trở nên xa xôi khắc khoải. Mạnh ai nấy lo, trôi dạt tứ tán, không biết mai mốt ra sao. Còn hiện tại, trước nhiệm vụ nặng nề chú Quyên giao, Phi không dám sơ sểnh. Và cậu buộc phải trở thành một người đàn ông dày dạn, can trường. Phải chi có một quán cơm bình dân, mình sẽ đưa mẹ con cô Mười vô đó, ăn uống và nấn ná chờ mặt trời lặn mới tới chỗ ông Ba Thư được. Đi loanh quanh trong thị xã dễ bị ngờ vực. Mình và thằng Phương, con nít không sợ chi, nhưng cô Mười… Biết đâu có kẻ nhận diện được vợ bí thư tỉnh ủy?
Thỉnh thoảng, thị trấn lại chìm trong bụi khói mịt mù và náo động khi một chiếc xe bọc thép nặng nề chạy qua. Phi quyết định gõ liếp chắn ngôi nhà lụp xụp nhất, nằm cuối thị trấn, vào lúc hoàn toàn tuyệt vọng, không có một hàng cơm nào chịu mở cửa.
Phi gọi nhỏ qua kẽ liếp:
- Có ai trong nhà không?
Im lìm, Phi đánh liều kêu to hơn:
- Có ai trong nhà không?
Phía trong có tiếng động nhỏ. Tiếng chân bước dè dặt, tấm liếp hơi động đậy và giọng một người già run run vọng ra:
- Ai hỏi chi rứa?
- Ngoại ơi, tụi con là khách qua đường, rủi có thằng em ngã bịnh. Ngoại cho vô nấu nhờ nhúm cháo!
Im lặng trở lại. Tiếng bước chân xa dần tấm liếp. Phi thất vọng đâm liều, kéo mạnh tấm liếp, lách người vào. Một bà lão sợ hãi, chới với dang tay như muốn ngăn Phi lại, thều thào:
- Không ra, tôi la làng chừ?
- Ngoại la con đành chịu, em con bịnh nặng…
Mười Lúa chứng kiến cảnh đôi co, bảo khẽ:
“Thôi cháu, ta qua nhà khác vậy!”
Phi nhăn nhó, bỏ đây đi thì biết tìm đâu nơi ẩn nấp, chờ đêm xuống?
Thấy Phi bước tới, bà lão càng rên rỉ, nằm vật xuống cái chõng tre trong góc tối om. Phi mừng rỡ kêu lên:
- Cô Mười đưa em Phương vô đi!
Mười Lúa dắt con bước vào. Bà lão rên khe khẽ:
“Trời đất, nó giết hết trơn rồi…”
Phải đứng giữa nhà một lúc, mắt Phi mới quen với bóng tối. Hình như bà lão nằm chung với một người nữa trên chõng. Người kia có lẽ đang ngủ say, tấm mền rách đắp hơ hửng từ thắt lưng trở xuống. Gương mặt của bà lão nhăn nhúm mỗi khi cúi xuống sát mặt người kia. Người kia vẫn nằm không cụ cựa. Bà lão đột nhiên lay vai, nắm tóc người kia mà la lên:
“Dậy, dậy đi Ba, mi ngủ miết, sình người lên chừ…”
Phi tiến đến gần bà lão và đưa tay sờ vào mép tấm mền. Cậu giật mình rụt tay lại, tấm mền cứng quèo, lạnh khô. Và bỗng nhiên, bà lão đứng thẳng người, giật tấm mền khỏi người đang ngủ. Mùi hôi thối sặc sụa xông lên, xộc thẳng vào mũi Phi. Cậu bật ho, vội vàng quay mặt đi tránh luồng hơi ngùn ngụt. Thằng Phương ré lên khóc, Mười Lúa lật đật dắt con chạy trở ra…
Họ quáng quàng chạy trốn ngôi nhà quái gở đó. Nỗi ám ảnh ghê rợn lấn át cả nỗi sợ bị địch phát hiện. Phi băn khoăn tự hỏi, không biết bà lão đã biết, người đang nằm ngủ trên chõng kia, chỉ còn là một cái xác đang sình thối không?
Đêm xuống, càng tới gần chợ Được, Phi càng cảm thấy mọi cái hình như không bình thường. Kể từ ánh trăng thượng tuần vốn nhợt nhạt, bỗng dưng phản chiếu xuống trảng cát mênh mông trắng xóa, lại loé sáng một cách kì dị, thành từng mảng hình thù mông lung, chen lẫn với bóng những khóm dương liễu đen thẫm. Gió biển cũng vậy, không hiu hiu hay lồng lộng như thường lệ mà lại rít lên từng hồi dài. Mỗi lúc âm thanh của biển đêm càng giống tiếng tru tréo của những con vật la hoảng khi bị săn đuổi. Đồng cát triền miên không một bóng nhà, một ánh đèn càng làm khung cảnh thêm hoang vắng.
Phi nắm chặt hai bàn tay, tự trấn an, giữ cho người mình khỏi run lên bần bật. Nhất định phải có cái gì đáng sợ lắm đã xảy ra nơi đây. Thật đáng ngại khi ta phải dấn thân vào một khoảng không gian hoàn toàn bí ẩn, chất chứa những tai họa bất ngờ.
Cái ấy là cái gì? Một đám phục kích? Một bẫy sập?
Tới chân cầu Bình Phục, Phi không kiên nhẫn nổi nữa, đột ngột dừng lại nói với Mười Lúa:
- Cô với em Phương ở đây, cháu phải xuống trước coi có chuyện chi không đã?
Phương vẫn đang ngủ gà gật trên lưng mẹ. Mười Lúa e ngại:
- Sắp tới nhà ông Ba chưa?
- Qua chợ Được rồi đi thêm ba cây nữa. – Phi chỉ tay về phía bên trái. – Cô và em núp sau bụi dương kia đợi cháu. Cháu sẽ quay lại đón. Nếu đến sáng không thấy cháu quay lại, cô đừng đợi nữa. Cô cứ việc đón xe đò trở lại Giáng La!
- Tầm bậy. – Mười Lúa gắt khẽ. – Liệu chừng khó hung thì luôn đêm ni, cô cháu mình trở lui, ức chi mà cực rứa?
Thất vọng và lo ngại, Mười Lúa nói vậy, nhưng thâm tâm chị hiểu, về Giáng La là nạp con trai chị cho những kẻ đói máu cộng sản!
Phi kiên quyết lắc đầu:
- Không, chú Quyên giao cho cháu đi chuyến này. Cô phải nghe cháu!
Mười Lúa ngẩn ngơ nhìn theo bóng cậu bé đang lủi thủi đi dưới ánh trăng rợn người. Mẹ con mình là gì của chú bé kia? Không bà con, không thân thuộc, không ơn nghĩa gì nhau đến nỗi buộc phải trả nghĩa, chỉ là người cùng làng Giáng La! Mình lấy quyền gì bắt buộc chú bé phải bỏ học, lặn lội đưa mình xuống vùng Đông nguy hiểm này?
Chị muốn lên tiếng gọi Phi quay lại, nhưng bóng chú bé chỉ còn ẩn hiện lờ mờ trong đêm gió hú…
Phi mừng thầm, trong chợ có ánh đèn. Vô lẽ dân chúng họp chợ đêm? Không phải ánh đèn rời rạc mà thắp thành từng dãy, dọc theo con đường xuyên qua chợ, xuống bến đò Bình Đào. Tới sát mép chợ, Phi nhìn những túp lều rõ hơn. Đó là khu dành riêng cho mấy bà hàng xén.
Chợ họp trật tự lạ lùng, im ắng và không có người qua, kẻ lại. Phi bắt đầu bối rối. Dù sao những ánh đèn cũng làm bóng trăng bớt lạnh lẽo. Phi bước mau hơn tới túp lều gần nhất. Cậu sững người, hình như có ai đang ngủ trên chiếc chõng tre đặt giữa lều chợ kia? Phải, người ấy nằm ngửa, đầu quay về phía ngọn đèn dầu đặt trên mấy hòn gạch chồng lên nhau, thành thử cậu không nhìn thấy rõ mặt.
Phi lạnh tê, đầu gối bủn rủn, hai tay bíu vội lấy cột chống lều chợ. Trời ơi, một xác người chết vàng ệch dưới ánh đèn lay lắt. Cậu dụi mắt lia lịa, tin sao được cảnh tượng hãi hùng kia là có thật? Chân chõng tre lại kê lên những chiếc mũ sắt lật ngược, đựng đầy nước, y như người ta kê chân những tủ đựng thức ăn để kiến khỏi bò lên…
Phi vùng chạy ra ngoài, mùi hôi thối bốc lên cuốn theo gió, bắt Phi trở về với cõi thực. Phi tiếp nhận thực tại phi lí ấy theo kiểu người mê sảng. Cậu tha thẩn chậm rãi ghé vào từng lều chợ, lều nào cũng chứa những xác chết đang thối rữa. Cậu nhòm mặt từng cái xác, đàn ông, đàn bà, người già, con nít… Đủ loại!
Phi quên bẵng mất, đây là đâu, cậu từ nơi nào đến, đến đây để làm gì, quên luôn mẹ con Mười Lúa đang đợi cậu dưới chân cầu Bình Phục. Cậu cũng không còn thấy ghê tởm mùi xác chết và ánh đèn vàng úa trên những hòn gạch vỡ nữa. Những người chết kia không lạ lẫm gì với cậu. Dường như cậu đã từng gặp họ ở Giáng La, dù đây là vùng đông Thăng Bình, cách Giáng La của cậu đến ba chục cây số. Cậu lẩm nhẩm, môi khô khốc. Má đang nằm cạnh thằng áp út kia. Trời ơi, Năm Thương và chú Bổn, ngực bị xăm nát, nằm úp mặt xuống chõng, bên cạnh đó là ông lão tóc bạc phơ bị thằng Đàm bắn chết, mái tóc bạc giờ đây đen xỉn lại vì bầy ruồi bu kín ăn máu đọng. Tự nhiên cậu nảy ra mối hi vọng mong manh. Rất có thể trong đống tử thi hỗn độn kia, có người chưa chết hẳn hay chỉ đang ngạt thở, nếu kịp thời kéo họ ra khỏi khu chợ chết hôi hám này, lấy nước tại bến đò Bình Đào rửa mặt cho họ, họ sẽ tỉnh lại.
À, đúng rồi, Phi chợt hiểu, con trai bà lão trong túp lều cuối thị trấn Hà Lam kia, may mắn hơn mọi người, anh kịp chạy về nhà, nằm vật ra mà chết trên chiếc chõng của mẹ mình!
Mười Lúa kinh hãi nhìn chú bé trở lại với bộ mặt của kẻ động kinh. Cậu vừa đi vừa lắc đầu dưới ánh trăng, miệng lảm nhảm:
- Cô Mười, dân Giáng La làm chi kéo xuống chợ Được, chết thối rữa trong những túp lều hàng xén. Mỗi xác chết có một cây đèn, cô có muốn nhìn xác chú Bổn không?
Mười Lúa không hiểu đầu đuôi câu chuyện cậu vừa thuật lại. Nhưng khi chị chạm tay Phi, cậu giật lại, kêu lên:
- Đừng, cháu van cô, người cháu toàn mùi xác chết…
Nói xong Phi âm thầm rời khỏi con đường đất. Chân cậu bước lào xào trên cát và tâm trí cậu vẫn không nguôi những ám tượng đen tối khởi nguồn từ ngôi chợ ma.
Khẽ xốc con lên vai, Mười Lúa hoang mang bước theo chú bé.
Nó đi mô rứa. Bãi cát trống trơn, gió lạnh tanh luồn qua những đụn cát mấp mô. Phi bình tĩnh hơn. Trời, mình đã nhớ lại rồi, đứng từ nhà ông Ba nhìn ra, cây đa dù có vòm lá cong vồng lên. Và những buổi trưa đầy nắng, lũ trẻ xúm xít quanh gốc đa đánh tam cúc ăn bắp rang. Nhưng sao nó run rẩy thế kia? Hẳn nó cũng đang lạnh và lả xuống mặt nước lấp lánh. Ước gì được nhảy xuống bầu sen kia, lặn ngụp thỏa thích, tẩy bằng hết mùi hôi thối ngấm vào da thịt!
Phía trước vẫn im ắng, Mười Lúa nghe tiếng chân mình chậm chạp lê trong cát. Phi đã trấn tĩnh hơn, chệnh choạng men theo mép bầu sen…
Từ bầu sen xuống bến đò, phải đi dọc theo đường mương, nơi mười năm trước, người ta chết la liệt khi tàu bay Pháp ném bom xưởng dệt Ba Thư…, rồi mới đến bầu Đôi, bầu Chiếc. Nhà ông Ba cạnh bầu Chiếc.
Phi quay lại nói như reo:
- Nhà ông Ba kia rồi, để cháu vô trước!
Phi thận trọng, lợi dụng bóng những cây dương để dịch chuyển. Càng tới gần ngôi nhà, Phi càng cúi lom khom, rồi ép mình sát mặt đất, trườn tới…
Ba Thư hiểu, kẻ thù đang siết chặt vòng vây. Không phải thứ kẻ thù giai cấp chung chung. Trong xương tủy, ý nghĩ, Võ Trắc đã biến mối thù giai cấp thành mối tử thù riêng đối với ông. Nghĩa là Trắc sẽ huy động toàn bộ sức lực, trí tuệ, sự nanh nọc và nỗi khao khát thỏa mãn lòng đố kị của mình, vào cuộc trả thù này. Một là, khi ông ngồi tù Hội An, con gái quan phủ Thang bỏ ông lấy Trắc và số phận trớ trêu lại khiến ông lập trại ngay trước mũi tình địch. Hai là, khi Pháp ném bom xưởng dệt, người ta nghi thằng con cả Võ Trắc làm chỉ điểm. Thằng này bị tống giam trên Tiên Hội, được hai năm, nó chết bởi chứng sốt rét ác tính. Ba là, năm 1952, với tư cách trưởng Ban Kinh tế huyện, ông trực tiếp chỉ đạo việc truy tô, truy thuế nông nghiệp một loạt địa chủ. Võ Trắc điên cuồng chống lại, ông xin luôn lệnh bắt giam, giải Võ Trắc lên Tiên Hội.
Sau 23 tháng 10 năm 1955, ngày Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại bằng bầu cử gian lận, con trai thứ hai của Võ Trắc được đưa lên giữ chức quận trưởng Thăng Bình.
Trong bữa tiệc chào mừng sự kiện này do một số hệ phái Quốc dân đảng cánh Nam tổ chúc, tân quận trưởng tuyên bố thẳng thừng:
“Tôi về đây cùng anh em lo diệt cộng. Những thằng nào, con nào trót theo cộng sản, biết sợ thì xin chính quyền cho phép chạy vô Quy Nhơn, bám tàu ra Bắc, hoặc muốn ở lại với quốc gia, thì phải ra đầu thú. Chớ còn chống lại, tôi ra lệnh cho anh em thẳng tay giết hết. Riêng với Ba Thư thì hơi khác, số phận cả nhà nó trong tay tôi, tôi sẽ tỉa từng đứa, Ba Thư hân hạnh được chết sau cùng!”
Lúc nghe các đồng chí thông báo nội dung sắt máu của bữa tiệc này, Ba Thư như thấy rõ mồn một trước mắt mình, nét mặt lạnh lùng của con trai Võ Trắc và nụ cười ngạo mạn của nó. Nhưng ông vẫn quyết định trụ lại. Trong trường hợp khác, ông có thể hành động do sĩ diện, tự ái. Nhưng trong trường hợp này, cả ông lẫn kẻ thù của ông, đều tính toán đường đi nước bước trên cơ sở phân tích tình thế một cách tàn nhẫn và khoa học, mọi khả năng, phương tiện tốt nhất đạt đến cái đích cuối cùng: Ai thắng ai? Và cả hai phía đều tối kị việc để cảm tính chi phối mọi quyết định của mình.
Cân nhắc như vậy, ông cho rằng, ông trụ lại, cha con Võ Trắc sẽ bu vào ông, các đồng chí của ông hoạt động sẽ dễ dàng và an toàn hơn. Nhưng ông cũng trù tính, khả năng xấu nhất có thể xảy ra với mọi người và lũ trẻ trong trại Ba Thư…
Và tai họa đầu tiên giáng lên những người trong gia đình cụ Hương Thự, là cái chết của bà Năm Nhã, con gái cụ.
Ngay khi Lê Đình Duyên cùng lũ lâu la Quốc dân đảng hạ sơn từ căn cứ Mĩ Sơn – Duy Xuyên xuống đồng bằng, cộng tác với tân chế độ, người ta thấy nhiều cán bộ, đảng viên cộng sản trong vùng Mã Châu – Trung Lương mất tích một cách bí hiểm. Đúng lúc đó, bà Năm Nhã lên cơn điên cố hữu của mình. Bình thường bà hiền lành nhu nhược, ít nói. Nhưng khi lên cơn, bà nói toàn chuyện lôi ruột, móc gan người khác. Và lần này, trong cơn điên của mình, bà nói toạc tên của kẻ giấu mặt trong bóng tối, chỉ điểm từng cán bộ, đảng viên cho tụi Lê Đình Duyên bí mật bắt cóc và thủ tiêu. Kẻ đó không ai khác, chính chồng bà. Bà không bao giờ tỉnh lại được nữa để lo sợ cho sự tiết lộ khủng khiếp của mình.
Một buổi sáng mờ sương, cả Mã Châu – Trung Lương bàng hoàng nghe tin: bà Năm Nhã treo cổ tự tử trong chuồng trâu nhà mình. Dân thường không dám đến tận nơi xem bà chết thê thảm ra sao. Nhưng họ hiểu ngay: bà Năm Nhã chết hai lần. Người ta bóp cổ bà trước khi treo cổ bà lên xà ngang chuồng trâu.
Cái chết của bà Năm Nhã làm cụ Hương Thự sụp đổ hoàn toàn. Người ta đồn rằng, từ khi ngã bệnh, cụ luôn luôn mê sảng và mỗi lần ánh mắt cụ chạm phải những trái cây đang đu đưa trên cành hiện ra, lọt qua khuôn cửa sổ, thì những trái cây ấy tự nhiên rớt xuống đất. Có lẽ những tia nhìn chứa chất sức mạnh căm hờn làm mắt cụ phồng lên và không bao giờ chịu nhắm lại nữa, ngay cả khi cụ tắt thở trên giường.
Một tuần lễ sau đám tang cụ Hương Thự (ông Ba Thư không thể về chịu tang cha), vào buổi hừng đông, ông choàng dậy nghe tiếng chó sủa loạn quanh nhà. Ông bước ra sân, thấy ngay bầy chó đang tranh nhau tha mấy cái đầu lâu. Chắc chúng đánh hơi ra những cái đầu bị vùi trong cát bỏng, bới cát, moi lên. Mặc dù đã bị giập nát, bùn đất bám đầy, gương mặt trên những cái đầu lâu đó vẫn làm ông kinh hãi cực độ. Đó là đầu các đồng chí trong chi bộ Bình Triều, kể cả bí thư chi bộ Nguyễn Văn Nhận.
Qua bữa sau, Lệnh, con trai lớn của ông, đi học trên Hà Lam, về theo ngã Ngọc Phô. Tới cầu Tràng An, chính Võ Trắc chặn nó lại, hỏi:
- Mi, con Ba Thư phải không?
Thằng bé mười ba tuổi sợ cứng hàm, không trả lời nổi. Trắc hét lên:
- Xoè tay ra!
Lệnh run rẩy đưa tay. Trắc cười gằn:
- Tau gởi cho cha mi một dấu hiệu. Muốn sống, cha mi phải đến nhà tau, quỳ trước mặt vợ chồng tau, tau tha chết cho!
Nói xong, Trắc rút dao, kê tay thằng bé lên thành cầu sắt sơn đen.
Cớp!
Lưỡi dao chém xuống nháng lửa, ngón tay trỏ thằng bé rơi xuống sông, máu túa ra. Bọn dân vệ đứng cạnh rùng mình, vội ngó lơ chỗ khác.
Tự nhiên, con trai Ba Thư trở nên lì lợm, cắn chặt môi không cho tiếng khóc bật ra, mặc dù nước mắt giàn giụa trên mặt nó. Còn mặt Võ Trắc trắng bệch, nhăn nhúm.
Bà mẹ khóc không ra tiếng. Ba Thư lặng lẽ buộc thuốc cho con. Lệnh nghiến răng:
- Cha ơi, ngón tay này có mọc ra được nữa không?
Ba Thư lắc đầu. Lệnh nghiêm trang nói tiếp:
- Vậy thì con không bao giờ quên mặt Võ Trắc!
Tưởng thế đã tàn khốc lắm rồi, vậy mà khi xảy ra sự kiện chợ Được, ông vẫn phải choáng váng trước mức độ hung hãn, mọi rợ của kẻ thù.
Dân ba xã ven biển Bình Dương, Bình Đào, Bình Giang kéo lên quận biểu tình, đòi thi hành các điều khoản trong hiệp định Giơ-ne-vơ. Vừa tới chợ Được thì gặp toán lính theo xe bọc thép từ Hà Lam tràn xuống. Con trai Võ Trắc đích thân ra lệnh cho lính Nùng và Bảo an đoàn bắn xối xả vào đám người tay không. Tổ chức Đảng bí mật vận động bà con đặt xác những người chết trong các lều chợ, để chờ phái đoàn của Uỷ ban quốc tế đến chứng kiến tận mắt…
Ông không ngờ, vụ chợ Được báo hiệu hàng loạt những Vĩnh Trinh, Cây Cốc, Chiên Đàn ngay sau đó. Kẻ thù đánh phủ đầu, còn chúng ta chôn súng và… đấu tranh hợp pháp!
Ba Thư cay đắng nghĩ. Vô lẽ ngồi im chờ chúng thít cổ mình? Còn lũ trẻ, chị em Út Hà nữa. Liệu bữa nay chặt ngón tay thằng Lệnh, ngày mai, ngày mốt, ngày tê… cha con Võ Trắc có tha không chặt đầu chúng không?
Lại một cuộc trường kì. Đến lượt những đứa con nhập cuộc rồi đây. Phải cứu lấy lũ trẻ!
Cho đến đêm ấy, trong lúc Phi và Mười Lúa đang dò dẫm qua trảng cát tìm đến nhà ông, Ba Thư vùng dậy, nhìn ra khoảng trời nhễ nhại ánh trăng. Cuối thu, sen đã tàn, chỉ còn trơ lại những đám lá vàng úa, bây giờ đang thẫm lại trong đêm trên Bầu Chiếc. Tuy vậy mùi sen vẫn còn thoảng đâu đây.
Ba Thư đánh thức vợ và nói:
- Chừ tôi đưa thằng Lệnh và chị em Út Hà đi. Bà ở lại ráng nuôi dạy con Thơm và thằng Cường. Dù chi cũng đừng để hai con rơi vô tay Võ Trắc!
Bà vợ khóc rấm rứt hỏi chồng:
- Răng ông đưa chị em Út Hà đi được mà lại để thằng Cường và con Thơm ở lại?
Ông hiểu vợ. Dù sao con mình đứt ruột đẻ ra vẫn phải xót thương hơn những giọt máu lạ. Ông không trách vợ, nhưng ông buồn. Trong hoàn cảnh sống chết này, làm chi còn con đẻ hay con nuôi, ông chỉ tính đứa nào cần hơn cho cuộc chiến đấu sắp tới. Hơn nữa, ít nhất cuộc này cũng gấp hai, ba lần cái chín năm. Dàn trận đánh vỗ mặt nhau đã đành, phần thắng còn thuộc về bên nào có những lưỡi dao bén nhọn, thọc vô hông bên kia nhiều hơn. Để làm những “lưỡi dao ngầm” đó, chị em Út Hà dễ che giấu lí lịch hơn con Thơm và thằng Cường…
Nhưng không phải là lúc nói chuyện lòng vòng, ông dùng thứ uy quyền độc đoán của người chồng, ra lệnh:
- Tôi tính toán đàng hơn lẽ thiệt rồi, má nó đừng có cản!
Vợ ông tủi thân, vừa sắp xếp quần áo cho mấy người sắp ra đi, vừa gạt nước mắt. Ba Thư không cho vợ đánh thức thằng Cường và con Thơm dậy, để cuộc chia tay được gọn gàng, êm ả. Chị em Út Hà nem nép làm theo mọi lệnh của ông Ba. Cuộc sống bất an lâu nay đã khiến chúng bình thản và nhận ra tình thế rất mau. Còn Lệnh lầm lì, tránh không nhìn mặt hai đứa em đang ngủ ngon lành.
Bốn người bước ra khỏi nhà. Bà mẹ nằm vật xuống bên hai đứa con còn lại, nức nở vì tuyệt vọng và giận chồng.
Khi Phi bò sát hàng hiên, cậu chỉ nghe thấy tiếng khóc của bà mẹ. Bỗng nhiên, Phi sợ hãi đoán nhận, hay là có người trong nhà Ba Thư chết giữa chợ Được mà mình không nhận ra xác họ?
Cùng ba đứa trẻ đặt chân lên quốc lộ 1, Ba Thư mừng rỡ, ngạc nhiên. Vô lẽ ta lại thoát khỏi vòng vây của Võ Trắc dễ dàng, kì cục vậy sao? Suốt lúc băng qua trảng cát trắng xóa, ông luôn chờ đợi những tiếng súng bất ngờ phát ra từ những bụi dương đen ngòm hay tiếng hét lảnh lói:
“Đứng lại!”
Nhưng tất cả im khô. Ông và lũ trẻ gặp hên, trốn đi đúng vào lúc tụi lính phục ngủ gà ngủ gật trong bụi cây chăng?
Nhằm một ngôi nhà sát bên lộ, ông hơi chậm bước. Đây là thời khắc cuối cùng thoát hiểm, mà cũng có thể là cạm bẫy cuối cùng dã giương sẵn đợi ông và lũ trẻ?
Ông tự hỏi mình lần nữa, ta quyết định đặt hết lòng tin vô Sáu Lung có đúng không? Chỉ có ba khả năng xảy ra.
Một, Sáu Lung vẫn nuôi mối hờn giận với kháng chiến, bây giờ mới có dịp trả thù, nộp ông và lũ trẻ cho cha con Võ Trắc. Ông biết, chính quyền Diệm đã đánh tiếng, mời Sáu Lung ra giữ chức quận trưởng Điện Bàn. Sáu Lung còn dùng dằng, chưa tỏ ý có nhận hay không. Dù sao, sự kiện ấy cũng tỏ rõ, tân chế độ đặc biệt chú ý đến vai trò của Sáu Lung trong công cuộc diệt cộng! Khả năng này không phải là ít, kinh nghiệm về sự phản trắc của chồng cô Năm Nhã khiến ông phải bận tâm.
Hai, Sáu Lung vẫn còn nghĩ đến tình máu mủ, thương chị gái, chưa đến nỗi táng tận, bán ông anh rể và lũ cháu mình, đặng mưu lợi công danh. Nhưng Sáu Lung lại không đủ can đảm, chấp nhận tai họa khi che giấu ông. Lúc đó, Sáu Lung có cả ngàn lí do để đuổi khéo ông ra khỏi nhà.
Ba, Sáu Lung đi vắng, vợ Sáu Lung, một người đàn bà nhỏ nhen, hay thù vặt, sẽ không chịu mở cửa.
Cả ba khả năng đều đáng ngại quá. Nhưng ông vẫn hy vọng mong manh, có thể Sáu Lung sẽ không bỏ mặc bố con ông trong hoạn nạn…
Trong mấy người em ruột của vợ ông, Sáu Lung đôn hậu, lanh lợi hơn cả. Trước khi rời Đà Nẵng về vùng tự do theo lời kêu gọi của anh rể, Sáu Lung đã kịp đỗ tú tài hai, rồi sau đó vào làm công chức trong Sở Vật liệu của Pháp với mức lương khá cao. Sáu Lung đã bỏ tất cả, tham gia kháng chiến hồn nhiên, nhiệt tình và rất a-ma-tơ. Rủi trong một vở kịch tự biên tự diễn, Sáu Lung cương thêm một câu rất ngây thơ về chính trị. Lúc ấy, Phan Quyên, một cán bộ tuyên huấn huyện Điện Bàn, bắt bẻ sao đó, Sáu Lung cãi liều được Quyên chụp ngay cho cái mũ “đệ tứ”[1]. Sáu Lung phải lãnh cái án: chín tháng cải tạo trong trại giam Tiến Hội. Lung viết thư cầu cứu ông. Hồi đó, chỉ cần ông đứng ra bảo lãnh, chắc chắn mọi chuyện sẽ qua đi một cách êm đẹp… Nhưng ông nổi máu cách mạng hão, không chịu can thiệp, dù trong thâm tâm ông hiểu rõ, Sáu Lung không phải là một kẻ chống đối cách mạng. Rằng đó chỉ là một hiện tượng bồng bột vô ý thức…
Hố ngăn cách nảy sinh giữa hai anh em từ đó. Chua chát làm sao, đúng vào ngày mọi người chào mừng chiến thắng Điện Biên, Sáu Lung mãn hạn, được phóng thích về lại Thăng Bình, ở với vợ trong ngôi nhà gạch sát lộ 1. Cơ ngơi này có được là nhờ vợ Sáu Lung buôn bán giữa vùng tự do với vùng tề. Sáu Lung nằm chết gí trong nhà, tránh mặt mọi người và nhất là tránh nhắc đến bất cứ thứ gì liên quan đến kháng chiến cùng ông anh rể. Khi vợ ông đến thăm, Sáu Lung chỉ nhắn một câu:
“Nhờ chị về nhắn với anh Ba, tôi tham gia kháng chiến chín năm, được trả công chín tháng tù. Công xá như vậy không đến nỗi nào, suốt đời tôi xin ghi ơn kháng chiến, ghi ơn anh Ba vì món tặng phẩm mỉa mai đó!”
Càng ngẫm nghĩ, ông càng thấy hi vọng của mình đặt vào Sáu Lung là vô căn cứ. Nhưng ông chẳng còn lựa chọn nào khác…
Mối lo âu, phấp phỏng khiến ông bước chậm hẳn lại. Lũ trẻ mệt bã người, gần như bước lê lết…
Ông ngần ngừ giây lát trước cánh cửa gỗ. Sau cùng, ông quyết định gõ cửa, những ngón tay ông rung rung. Có tiếng bước chân nặng trịch phía trong và cánh cửa hé mở, bóng một người đàn ông nhỏ nhắn hiện ra. Ba Thư mừng rỡ kêu khẽ:
- Cậu Sáu!
- Trời, anh Ba!
Sáu Lung lắp bắp và hoàn toàn mất tự chủ. Ông ta chỉ nghe phong thanh chuyện Võ Trắc hăm dọa sẽ làm cỏ trại Ba Thư. Nhưng Sáu Lung không ngờ đến việc, giữa đêm khuya Ba Thư phải liều mạng dẫn lũ trẻ chạy trốn. Mà lại chạy trốn đến nhà em vợ mình?
Trời đất, Ba Thư, con người nổi tiếng gan góc, mưu lược và kiêu hãnh, giờ phải khuất thân, gạt sĩ diện ra một bên, bấu víu vô mình, nghĩa là nguy khốn lắm rồi. Anh Ba lạ chi, vợ mình vốn hay chấp nhặt, lại căm ghét ảnh từ sau vụ ảnh không chịu cứu mình, chắc chắn mụ đâu có chịu chứa chấp ảnh và sắp nhỏ. Vậy thì ảnh chỉ biết trông cậy mình. Chậc, mình là con người chứ đâu phải con vật, người dưng nước lã gặp hoạn nạn cầu cứu, mình cũng không được quyền làm ngơ, huống chi anh rể và các cháu? Sao thì sao, cứ phải để họ vô nhà, rồi tính sau.
Ba Thư thấy em vợ đứng tần ngần, đoán được tâm trạng rối bời của chủ nhà, ông khẽ hắng giọng, như muốn bảo người em vợ: Tôi không phải không biết, cậu Sáu dính vô thì kẹt lắm. Nhưng tôi hết cách rồi, tuỳ cậu Sáu quyết định.
A, Sáu Lung không quay ngoắt đi hay đóng sập cửa ngay trước mũi cha con mình, nghĩa là cậu Sáu chưa đến nỗi nào. Ông lại khấp khởi mơ hồ…
Bỗng Sáu Lung la nhỏ:
- Ủa! Sao anh Ba không đưa các cháu vô nhà? Đâu còn có đó, lo chi, anh Ba!
Lũ trẻ líu ríu theo Ba Thư vào nhà. Chúng thèm được lăn ra ngủ ngay trên thềm xi-măng. Sáu Lung bật diêm châm vào tim đèn. Ánh lửa yếu ớt soi rõ gương mặt căng thẳng của Sáu Lung.
Chờ lũ trẻ vào hết nhà trong, Sáu Lung hỏi khẽ:
- Chừ anh Ba tính đi mô, anh Ba?
Ba Thư thẫn thờ. Ờ, chính ông cũng không biết đi đâu, nhắm hướng nào? Chỉ cần thoát bằng được vòng vây của cha con Võ Trắc. Lệnh và chị em Út Hà ngủ vùi trong góc nhà. Sáu Lung chế trà. Ba Thư ngồi trầm ngâm, giật mình nghe Sáu Lung hỏi:
- Anh Ba biết chuyện Sói Bồng Miêu chưa?
Ông ngơ ngác lắc đầu. Sáu Lung đẩy li trà nóng hổi đến trước mặt anh rể:
- Trong thời gian bị giam ở Tiên Hội, tôi có một anh bạn tù rất lạ lùng, tên là Sói. Hai đứa thân nhau, có chi đều kể hết với thằng kia. Sói người Bắc, bộ đội Nam tiến, tiếng tăm vang lừng một thời nhờ lòng dũng cảm và ngang ngạnh. Chính Sói đã rút súng bắn chết một công an viên Tam Kì, khi anh này ngang xương đòi kiểm tra giấy tờ của Sói. Xét công lao và tính khí Sói, cấp trên không bắt tội nặng, lại cho vô đội đặc nhiệm, chuyên áp tải vàng qua Lào, bán lấy tiền nuôi quân tình nguyện. Nhưng Sói ta ham nhậu nhẹt, kẹt tiền, liều ăn cắp một thỏi vàng để… nhậu. Việc bị phát giác, Sói ta bị tòa án binh xử tù và đưa về trại giam Tiên Hội… Trán Sói nhô ra một cái bướu trông rất dị hợm, không biết có phải vì thế mà người ta gọi anh là Sói không? Sau Giơ-ne-vơ, Sói thuộc diện được tập kết, quay về quê cha đất tổ. Nhưng Sói không chịu, xin ở lại Bồng Miêu, thề sẽ đãi bằng được gấp mười lần số vàng đã ăn cắp, để trả lại cho kháng chiến. Quốc dân đảng theo chân Diệm về hùng cứ vùng này, chiếm luôn mỏ vàng Bồng Miêu. Sói lập căn cứ chống lại quyết liệt. Tụi “quần dài đen” cho người đến thuyết hàng. Sói chửi, không chịu. Chúng bao vây, nổ súng. Sói chiến đấu tới viên đạn cuối cùng mới chịu bị bắn chết. Khi kéo xác Sói tới thị xã Tam Kì, người ta gắp được hàng chục đầu đạn găm đầy xương thịt anh. Sói Bồng Miêu đã trở thành huyền thoại. Sói chết, chính là cách Sói lấy máu mình “đãi vàng” trả nợ kháng chiến…
Câu chuyện kết thúc, hai người đàn ông im lặng đột ngột. Ba Thư nghĩ, phải chăng cậu Sáu mượn chuyện Sói Bồng Miêu để tỏ rõ chí mình và tự trấn an?
Thực ra, Sáu Lung cũng không biết phải làm gì trong giờ phút này, đành nói cho có chuyện. Lỡ anh Ba biểu mình nuôi giấu ảnh thì biết trả lời làm sao? Gật cũng dở mà lắc cũng dở. Vô lẽ mình lại hỏi: Bao giờ anh đi? Hỏi vậy khác chi đuổi khéo ảnh. Mà chờ đến sáng thì nguy hiểm lắm, nhất định chúng nó sẽ lần ra dấu vết của ảnh. Sớm mai vợ mình từ Đà Nẵng về, thấy ảnh và lũ trẻ trong nhà, mụ sẽ la lối um sùm thì kẹt hung…
Đang bần thần nghĩ ngợi, tiến thối lưỡng nan, Sáu Lung bỗng lạnh toát toàn thân khi nghe tiếng đập cửa và tiếng quát:
- Mở cửa!
Sáu Lung run rẩy định với tay tắt cây đèn hột vịt. Ba Thư ngăn lại:
- Đừng, cậu Sáu cứ ra mở cửa và khai thiệt, cậu không biết gì hết trơn, chính tôi tự tìm đến. Mọi chuyện để tôi lo!
Tiếng đập cửa mỗi lúc một gắt hơn. Đầu gối Sáu Lung muốn sụm xuống. Ba Thư mỉm cười:
- Cậu Sáu cứ bình tĩnh ra mở cửa, hổng răng đâu mà!
Sáu Lung thất thểu lê tới, nhấc thanh gỗ chặn ngang cửa. Cánh cửa bật mở, những mũi súng đen ngòm tua tủa chĩa vào. Một giọng rất đanh ra lệnh:
- Cha con Ba Thư ra đây. Trễ, tau đốt nhà!
Sáu Lung sợ phát đàn người, dựa lưng vào tường nhìn anh rể cầu cứu. Ba Thư sững sờ. Hèn nào… Tụi nó có thể bắn hạ ông và lũ trẻ ngay trên trảng cát, nhưng tụi nó thích chơi trò mèo vờn chuột, chờ ông lọt vô nhà Sáu Lung mới ập tới…
Ba Thư chợt dịu dàng nắm tay con trai mình:
- Đi, con.
- Đừng, anh Ba, để em nói với…
Sáu Lung mếu máo, sắp khóc. Ba Thư mỉm cười thông cảm:
- Cảm ơn cậu Sáu, không bao giờ tôi nghĩ xấu về cậu. Vĩnh biệt, đừng quên Sói Bồng Miêu!
Trong bóng tối góc nhà, ông xoa đầu chị em Út Hà, một thoáng nghẹn ngào:
“Chị em con vô trỏng nghe. Có gặp cậu Chín nhắn giùm, bác Ba gởi lời chào. Vĩnh biệt hai con!”
Nói xong, ông dắt tay Lệnh ra cửa. Thấy bọn lính chĩa súng, Lệnh chùn gối thụt lại. Ba Thư gắt khẽ:
- Đi, nắm chặt tay cha mà đi!
Một người tách ra khỏi đám lính sấn tới, ánh trăng lấp lóa không rõ mặt, nhưng giọng nói của người ấy khiến cha con ông nhận ngay ra Võ Trắc:
- Có vay có trả, cha con mi tưởng tau giỡn hả?
Trắc bật cười lạnh băng, kể tiếp:
- Thấy cha con mi lom khom băng qua bãi cát, tau bắt tức cười luôn. Nhưng tau muốn cha con mi hí hởn thêm chút nữa. Ráng chờ xíu xiu, hồi mô mặt trời mọc, ông đi qua bà đi lại, tau sẽ đãi cha con mi một trò thiệt xôm. Nhớ nghe, đồ chơi tốt nhứt hạng, cụ Ngô mới cấp cho Thăng Bình hồi hôm. Cha con mi là người đầu tiên được xài đồ chơi đó!
Ông kéo con trai nép sát vào mình. Nó run lên bần bật. Bàn tay ông rờ rẫm gương mặt đầm đìa nước mắt của con, dưới ánh trăng đang nhạt dần…
Đêm sắp qua. Chân trời phía biển hơi ửng đỏ. Thằng bé sợ cứng hàm khi thấy một đồ vật quái dị khác thường, đứng lênh khênh và từ trên cao, một lưỡi thép sáng loáng như chực lao xuống. Nó chưa biết cái vật đang chễm chệ ngự trị trên mặt đường nhựa, chính là cỗ máy chém, một phát minh khủng khiếp của nền tư pháp Tây phương. Và bây giờ, được anh em họ Ngô mang ra “đãi” đồng bào mình!
Nó sợ hãi đến nỗi đau hết cả mình mẩy, đầu óc nhức nhối, không dám nhìn cái lưỡi thép sáng loáng đang treo lơ lửng trên xà ngang, ánh mặt trời ban mai chiếu vào, làm lưỡi thép ấy đỏ tía lên… Kí ức về vụ bị chặt ngón tay trên thành cầu Tràng An sống lại trong tâm trí non nớt, nó khiếp hãi muốn vùng chạy. Nhưng cha nó ghìm cứng nó tại chỗ. Nỗi khiếp đảm cùng cực làm con chim của nó cương cứng lên, nước tiểu tóa ra, ướt sũng đũng quần của nó.
Ông hơi nhích lên, lấy thân mình che chắn cho đứa con.
Trời đã sáng rõ, dân chúng mấy xóm ven lộ kéo lên mặt đường, tò mò ngắm nghía cỗ máy lạ mắt.
Chính Ba Thư cũng chưa bao giờ biết thế nào là máy chém, dù trước đó, ông đã nghe nhiều về việc họ Ngô kéo lê những cỗ máy khủng khiếp này khắp các ngả đường miền Nam. Lần này đến lượt ông, người cộng sản Thăng Bình đầu tiên được Võ Trắc dành cho cái “vinh dự thử máy”!
Hai tên lính nắm chặt đôi tay gầy gò của Lệnh để cậu khỏi vùng vẫy. Sáu Lung bưng mặt, không dám nhìn cảnh tượng tụi lính đặt Ba Thư nằm ngửa trên một thanh gỗ và lấy dây trói, ràng ông vào đó.
Võ Trắc khoái trá, đặt hờ ngón tay trên chốt bấm. Ánh mặt trời càng phản chiếu sáng ngời trên thân máy chém được chế tạo toàn bằng thứ hợp kim không gỉ, sáng óng ánh…
Lệnh rú lên rồi ngất lịm. Chị em Út Hà gục mặt vào khe cửa chết lặng. Sáu Lung mềm nhũn người trên mặt đường nhựa.
Lưỡi máy chém loang loáng rớt từ trên cao xuống. Đầu Ba Thư bị cắt ngọt, lăn xuống chiếc giỏ đựng sẵn, máu chảy tràn xuống máng xối cũng bằng kim loại.
Võ Trắc đến gần Sáu Lung, nhẹ nhàng hỏi:
- Răng ông Sáu? Cái máy ni tốt chớ? Ngài tỉnh trưởng ra lệnh cho tôi hỏi thăm ông điều này. Ông nhận chức quận trưởng Điện Bàn, hay muốn thằng cháu gọi ông bằng cậu theo chân cha nó?
Hai tay Sáu Lung buông thõng, mắt thất thần, đầu ngọ nguậy trên cái cổ oặt oẹo.
Võ Trắc mỉm cười chế nhạo:
- Quận trưởng Điện Bàn cũng hay chớ, ông Sáu. Xin chúc mừng tân quận trưởng!
Sáu Lung đờ đẫn để mặc Võ Trắc vồ lấy tay mình mà lắc mà giật…
- Tục ngữ có câu: Trâu lành không ai mặc cả. Trâu ngã lắm kẻ cầm dao. Nay những người cộng sản đang thất thế, tân chế độ của cụ Ngô đang lên như diều gặp gió, lại được Huê Kì và thế giới Tự do yểm trợ tối đa, tôi có quay lại chửi kháng chiến, nói xấu cộng sản, cũng không ai khen tôi anh hùng. Nhất là trong hoàn cảnh, thắp đuốc giữa ban ngày cũng không tìm thấy tuyển cử và hiệp thương như một số người ngây thơ tin tưởng hão huyền. Nghĩa là vĩnh viễn, chẳng bao giờ người cộng sản có thể trở lại làm mưa làm gió trên mảnh đất miền Nam này. Vì vậy, càng không nên lựa gió trở cờ, lợi dụng khó khăn của người bên kia mà vạch áo cho thiên hạ xem lưng. Tục ngữ có câu: Xấu chàng hổ ai? Kháng chiến là những ai? Là toàn thể con em đất Việt cầm súng, đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập. Có người quốc gia, có người không theo ý thức hệ nào, có người cộng sản. Một ngày kia, lịch sử sẽ chiết tính chi ly “cái gì của Xê-da phải trả lại cho Xê-da”. Các em không nên lẫn lộn giữa hai khái niệm: kháng chiến và cộng sản. Kháng chiến là kháng chiến, cộng sản là cộng sản. Không phải chỉ có những người cộng sản mới theo kháng chiến và cũng không phải tất cả những người kháng chiến đều muốn thực thi lí tưởng cộng sản. Chính tôi cũng là đại đội trưởng Vệ quốc đoàn thời chín năm. Tôi ngu ngốc chi đến nỗi, quay lại chửi quá khứ oanh liệt đó của dân tộc, của chính mình. Nhưng thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người có nhân. Ông cha ta ăn nói có vẻ mộc mạc, nhưng thấu tình đạt lí dễ sợ. Phải trải nghiệm suốt đời, ta mới cay đắng nhận ra điều đó.
Nguyễn Hữu, giáo sư lịch sử, một trong những người cựu kháng chiến đã tham gia màn xé cờ đỏ, li khai cách mạng tại sân vận động Chi Lăng mấy tháng trước, vừa được mời về dạy giờ tại Diên Hồng, đưa mắt nhìn suốt đám học trò. Vừa lượng định tác dụng cân não của bài phi lộ công phu, kín miếng mà Hữu đã mất nhiều tâm huyết chuẩn bị, A, ta phải cố giữ vẻ khách quan của một nhân chứng lịch sử, Hữu nghĩ thầm, vừa nói chậm rãi.
Bầu không khi im lặng ngơ ngác bao trùm lớp học. Các nữ sinh ngồi hai, ba hàng ghế đầu, mắt đỏ hoe, chớp chớp, ngước nhìn gương mặt đầy cảm xúc của thầy.
- Bữa nay tôi muốn tâm sự với các em, chút não trạng của người đi trước gửi gắm lớp đàn em những hy vọng, thất vọng và cả những kinh nghiệm đau thương của cuộc đời này.
Hữu hạ thấp giọng thật trầm cho thích hợp với màu sắc bi cảm của bài “ai điếu gửi thế hệ trẻ hôm nay”.
- Sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần tại trường Bưởi, tôi vô miền Trung và nhập cuộc. Tôi yêu đất nước tôi, vì vậy tôi chiến đấu không mệt mỏi và hy vọng vào tương lai mà chủ nghĩa cộng sản sẽ mang lại cho xứ sở đã nếm quá nhiều tang tóc này. Tôi chưa bao giờ là cộng sản, nhưng bấy giờ, tôi coi cộng sản là những vị thánh sống. Với tư cách đại đội trưởng Vệ quốc, tôi có dịp tiếp xúc nhiều với các cấp lãnh đạo cộng sản. Tôi mơ hồ nhận ra nơi trái tim họ, một cái gì đó khắc khổ, tàn bạo, máy móc. Nhưng tôi vẫn tự bào chữa rằng, có lẽ do hạn chế nhận thức của một anh tiểu tư sản trí thức, tôi chưa đủ bản lĩnh để hiểu họ thật đúng… Cho đến một ngày kia, sự thật phũ phàng đã giáng đòn chí mạng, gây nên nơi tôi một não trạng tuyệt vọng về cộng sản. Thời ấy có một nhân vật huyền thoại của phong trào kháng chiến Khu 5, nhân vật ấy là Hoàng Ca. Tiếng tăm Hoàng Ca lừng lẫy, ông đã tham gia Đảng thuộc loại cựu trào, trước cả anh trai ông ta, một trong những nhân vật sau này trở thành lãnh đạo trứ danh của Khu ủy 5. Hoàng Ca làm tới chức Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam, Trưởng Ban Tuyên huấn, sáng tác nhiều bài thơ hàm súc và nổi danh hùng biện, thuộc không biết bao nhiêu kinh điển, lí luận Mác-xít. Nhân một lớp học chính trị, tôi được tham dự tại vùng tự do Tam Kì, lần đầu tiên tôi háo hức nghe Hoàng Ca lên lớp giảng bài “Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại”. Cùng mọi người, tôi lắng nghe và nuốt từng lời rao giảng của thầy Ca, có lẽ còn sùng kính hơn cả con chiên nghe giảng Phúc Âm, hay nghe Chúa tiên báo ngày tận thế. Bỗng nhiên Hoàng Ca lảo đảo, hộc máu đằng miệng và ngã nhào đầu. Té ra Hoàng Ca mắc chứng lao từ lâu, nhưng vẫn cố giấu. Người ta khiêng thầy Ca ra ngoài. Từ ấy thầy Ca bặt vô âm tín. Và cũng không một ai nhắc nhở tới nữa. Có lẽ mọi người đinh ninh, với một con người như vậy, chắc hẳn Đảng phải quan tâm chăm sóc và chữa trị cho đến khi bình phục hẳn. Không ngờ, một hôm anh bạn tôi thì thầm hỏi: “Anh có muốn đi thăm thầy Ca không?” Tôi giật mình hỏi lại: “Sao bảo thầy Ca được chữa trị tại một bệnh viện đặc biệt?” Anh bạn tôi cười như mếu: “Anh cứ theo tôi khắc biết, cái bệnh viện ấy tối tân và đặc biệt đến cỡ nào!” Anh bạn đưa tôi vượt qua một trảng cát nóng bỏng, rồi đến một cánh đồng lúa xơ xác, giữa cánh đồng có một ngôi miếu cũ kĩ, hoang vắng. Anh bạn chỉ tay vào ngôi miếu và nói: “Đấy, bệnh viện đặc biệt đấy. Không biết chúng ta có đến trễ quá không?” Tôi ngơ ngác không hiểu gì. Anh bạn buộc phải giải thích: “Tôi cũng như anh, hoàn toàn không biết gì về số phận của thầy Ca sau khi lâm trọng bệnh. Nhưng một bài thơ của thầy Ca, không biết bằng cách nào, lại lọt vào tay tôi. Tôi bàng hoàng đọc đi đọc lại, nhớ nhất hai câu:
Bạn ơi một tấm lòng son
Miếu con là mộ, hòm con là nhà…
Cùng vài người bạn tâm phúc, những đệ tử hết lòng tôn thờ thầy Ca, chúng tôi đoán: có lẽ nằm trong vòng cương tỏa khắc nghiệt của các đồng chí mình, thầy Ca thèm được người thăm viếng, nên phải làm thơ chỉ dẫn chỗ đặt “cái bệnh viện đặc biệt” mình đang điều trị, một cách kín đáo nhất. Nhờ vậy, chúng tôi chia nhau đi lùng những ngôi miếu trong vùng và cuối cùng, phát hiện ra chỗ này. Không thuốc men, không ai săn sóc, mỗi ngày người ta chỉ đổ cơm vào một chiếc mo cau, rồi đút qua khe cửa miếu bằng một chiếc gậy dài, cho thầy ăn. Cũng bằng cách ấy, người ta cung cấp nước uống cho thầy. Nhưng thôi, để anh gặp thầy Ca anh sẽ hiểu…”
Anh bạn rón rén mở cửa miếu. Trước mắt tôi hiện ra một bộ xương khô đét, đen sạm dựa hờ vào tường miếu nham nhở. Anh bạn lên tiếng, bộ xương hơi động đậy. Thì ra thầy Ca chưa chết! Hình như thầy Ca mừng rỡ, nói hình như, là vì trên gương mặt thầy Ca làm gì còn cơ bắp để biểu lộ sự vui buồn. Tôi run run nắm lấy bàn tay quắt queo của thầy Ca và hiểu rằng, chẳng bao lâu nữa, con người có số phận đau khổ, bi kịch đến như vậy, sẽ ra đi vĩnh viễn… Sau này tôi mới biết, trong bài thơ của thầy Ca được truyền tụng, còn hai câu này mới đáng sợ:
Chiến trường ai khóc chia phôi
Khải hoàn ai nhớ tới người hôm qua!
Trong đám học trò có đứa bật lên khóc. Hữu thở dài:
“C’est la vie. Đời là như vậy! Triết lí ấy thoạt đầu có vẻ rẻ tiền nhưng lại chính xác đến chết người!”
Mắt Kiếm long lên sòng sọc, hai bàn tay bấu chặt lấy mép bàn. Phi chưa kịp ngăn, Kiếm đứng bật dậy, giọng lạc hẳn đi:
- Tôi không tin thầy được!
Cả lớp hồi hộp chờ Hữu đập bàn, đuổi Kiếm ra khỏi lớp. Nhưng thầy chỉ khoan thai đến bên Kiếm, dịu dàng:
- Tôi hiểu em, kỉ niệm kháng chiến không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn chúng ta. Ai nói tới nó là xúc phạm đến trái tim của chúng ta. Khẩu thuyết vô bằng, tôi không có quyền bắt em phải tin ngay những điều tôi vừa kể. Nhưng em có thể về hỏi cha em. Nếu tôi nhớ không lầm, cha em là bác Hào, có xưởng gỗ khá lớn nằm ngay ở Bến Đá, dưới cầu Vĩnh Điện? Bác Hào sẽ cho em biết chuyện Hoàng Ca có thật vậy không?
Kiếm hoang mang, không còn cớ để gây sự với một ông thầy quá nhún nhường, mềm mỏng. Thấy Kiếm đứng đờ người, Hữu nhếch mép cười khan:
- Cha em cũng đã từng phục vụ trong quân giới Khu 5, hẳn cha em biết rõ lai lịch của đương kim quận trưởng Điện Bàn. Tên cúng cơm ổng là Sáu Lung, bạn chí cốt của tôi, người đã từng được cộng sản trả công chín tháng tù sau chín năm tham gia kháng chiến!
Cả lớp ồ lên thích thú và kinh ngạc. Thằng Công xây mặt qua Kiếm, nói móc họng:
- Hên cho mi đó, thầy Hữu không thèm để bụng thù một thằng ngu!
- Câm đi, đồ bợ đít!
Kiếm rít qua kẽ răng. Công ngao ngán trước thân hình võ sĩ của Kiếm, đành đấu dịu, nhưng nụ cười khinh khỉnh không chịu tắt trên đôi môi mỏng dính của nó.
Hữu tươi cười nói thêm:
- Nếu còn ai chưa tin, có thể hỏi thêm giáo sư Lưu. Giáo sư là một người rất cương trực, trọng sự thật, sẽ xác nhận câu chuyện này có thực bao nhiêu phần trăm?
Giữa lúc bất ngờ nhất, Phi điềm tĩnh lên tiếng:
- Thưa giáo sư, không cần phải hỏi thầy Lưu, em cũng biết câu chuyện thầy vừa kể, chỉ đúng một phần trăm mà thôi!
Giọng Phi khá lễ độ, nhưng Nguyễn Hữu như phải bỏng, mặt nhợt nhạt vì giận:
- Sao, trò kia nói gì?
- Thưa, giáo sư kể chuyện thầy Hoàng Ca ốm đau, thiếu thốn thuốc men. Chuyện ấy có thể có. Nhưng tại sao giáo sư không kể cho mọi người nghe: Thầy Ca ngã bịnh trong hoàn cảnh nào? Đó là năm 52, do giặc Pháp bao vây kinh tế, ném bom phá hoại sản xuất, vùng tự do lại bị mất mùa do hạn hán kéo dài chín tháng trong một năm. Bằng ấy thứ cộng lại, khiến hàng vạn người dân đói khủng khiếp. Toàn bộ sức lực, của cải, chính quyền kháng chiến phải dốc vô cứu đói cho dân. Vậy thì chuyện một người cộng sản như thầy Ca chịu hi sinh, kham khổ để lo cho dân trước, đâu phải chuyện kháng chiến vắt chanh bỏ vỏ như giáo sư vừa rêu rao!
Nguyễn Hữu gầm lên:
- Thôi, ngồi xuống… Muốn tôi kêu cảnh sát hả?
Phi cười gằn:
- Em nghĩ, chuyện thầy trò đối thoại tìm ra sự thật, đâu phải cần đến cảnh sát can thiệp?
Phi không cần biết Nguyễn Hữu đã hầm hầm đứng trước mặt mình, nỗi căm hờn dồn nén đã ứ đầy trước ngực đòi bật ra thành lời. Và Phi quyết định đi tới cùng, bất chấp mọi hậu quả.
- Các bạn có hiểu vì sao người ta cố tình cắt xén sự thật để bôi nhọ kháng chiến không? Một là để tâng công với chủ mới. Hai là muốn biện minh cho hành động phản phúc của mình!
Kiếm khoái trá vỗ tay độp độp. Nguyễn Hữu bất đồ xáng một bạt tai, khiến Phi ngã ngửa ra sau. Miệng Hữu hét, nước miếng bắn ra cả ngoài:
- Cút ngay, đồ mất dạy!
Cái tát nóng bỏng in trên má Phi, nhưng cậu không cảm thấy đau rát, mà chỉ giận tím mặt. Cả lớp im lặng chờ một cái gì đó bùng nổ.
Tan học, vừa bước ra ngoài lớp, Kiếm hấp tấp hỏi Phi:
- Răng, tính răng chừ, Phi? Mi chơi nó một vố sặc máu, nhứt định nó sẽ trả thù!
Phi lẳng lặng đạp xe trên con đường xuyên qua lòng tỉnh lị. Kiếm phổi bò nhưng nói đúng. Nguyễn Hữu sẽ không để mình yên. Cũng chẳng có gì đáng ân hận, chỉ tiếc không đánh trả được cái tát của tên gian manh. Phải chi chú Quyên chưa đổi vùng, chú sẽ bày cho mình cách đối phó!
Hai đứa chia tay nhau nặng nề. Phi chán nản đạp xe về chợ Phong Thử. Đang vụ lúa tháng ba, dân cấy trên những đám ruộng ven tỉnh lộ khá đông. Bỗng nhiên phía trước có đám người nhốn nháo chạy ngược lại. Loáng thoáng có tiếng la:
- Quốc gia về bắt người!
Vừa đạp xe tới đầu cầu Bình Long, Phi thấy ngay thằng Đàm mặt đỏ gay, tay vung vẩy cây hèo. Sau lưng hắn, một bầy lính dẫn chú Quyên bị trói cắp ké, dong trên đường. Một tên dân vệ đi sau, cầm sợi dây lòng thòng. Một đàn con nít vừa chạy vừa hò la. Chú Quyên mặc chiếc quần cụt màu đà, áo bà ba đen rách bươm, tóc bết trước trán, má bên phải sưng vều, trên trán còn ròng ròng vệt máu tươi chưa kịp khô.
Chú ngẩng lên, bắt gặp đúng lúc Phi đang rưng rưng nhìn chú. Chú mỉm cười. Quên bẵng câu chuyện đáng ngại trong lớp học, Phi nghĩ, chắc thằng Đàm giải chú lên quận.
Phi quay lại, đạp xe mải miết. Tới đầu cầu Vĩnh Điện, Phi dừng lại, dựa xe vào thành cầu xi-măng, ngó xuống dòng sông đang kiệt nước.
Buồn quá, nước mắt ứa ra, nghĩ thương chú Quyên và Luyến. Liệu chúng có bắt Luyến không? Chú Quyên có giận mình không hoàn thành nhiệm vụ liên lạc với ông Ba Thư, đưa mẹ con cô Mười vượt biển ra Bắc không? Sao bao nhiêu tai họa cứ đổ lên đầu dân Giáng La và bà con quanh chân núi Bồ Bồ thế này?
Khoảng nửa giờ sau, Đàm giải chú Quyên tới chỗ Phi đang chờ. Sợ tụi nó nghi ngờ, nhác thấy đoàn người sắp tới nơi, Phi vội vã lánh qua một bên. Dân thị trấn đã quá nhàm chán những cuộc bắt bớ, chỉ còn mình Phi lẽo đẽo đạp xe theo sau. Thằng Đàm đưa chú Quyên vào sân trụ sở quận. Phi bíu hàng rào sắt ngó vào.
Để đám dân vệ xúm xít quanh Phan Quyên ngoài thềm, Đàm nhún nhảy bước vào phòng quận trưởng. Hắn kinh ngạc, quận trưởng Lung đang ngồi ủ rũ, hai tay bưng mặt. Trên bàn chỉ có một chai rượu đang uống dở còn non nửa. Quận trưởng không buồn cất đầu, chỉ khẽ hỏi Đàm:
- Có việc chi hả?
- Trình quận trưởng, anh em khu Kì Lam vừa bắt được một tên cộng phỉ nằm vùng!
- Vậy hả? – Quận trưởng lơ đễnh. – Rồi sao nữa?
Đàm cụt hứng, thái độ thờ ơ của quận trưởng làm hắn từ lỡ bộ đến giận điên người.
“Bọn thư lại khốn kiếp! Tụi bay tưởng bắt cộng sản dễ như thò tay vô túi móc thùng diêm hả?”
- Chúng tôi vừa giải nó tới quận. Thằng này lì lợm, chuyên núp trong bóng tối, giựt dây những cuộc chống đối của dân Giáng La và quanh chân núi Bồ Bồ!
Quận trưởng Lung dường như không chịu đánh giá đúng tầm mức quan trọng của chiến tích này. Ngó bộ mặt đỏ như gà chọi của khu trưởng Kì Lam, suýt nữa Sáu Lung bật cười, mặc dù chính ông ta cũng đang trong tâm trạng u ám. Sáu Lung uể oải, nghiêng chai, rót rượu vào chiếc li và tợp một hớp trước mặt Đàm.
Hắn mím chặt môi chửi thầm:
“Tổ cha thằng trở cờ, tau không chịu để ai qua mặt đâu!”
- Nếu quận trưởng mắc công chuyện, tui sẽ chuyển nó qua Chi cảnh sát, nói chuyện phải quấy với nó?
Không để Đàm nói hết câu, quận trưởng khoát tay:
- Anh cứ ra kia đợi tôi!
Đàm hậm hực quay ra. Biết thế mình giải thẳng nó sang chỗ Ngô Tuyên Khánh. Thằng khốn này sao bữa nay tự nhiên giở quẻ, không biết đàng với nó?
Quận trưởng Lung tiếp tục gặm nhấm những ý nghĩ chua cay sau chuyến công du xuống khu Phù Kì.
Bọn chức việc địa phương lo ngại báo lên quận: tốc độ làm đường từ bến đò Phong Hồ xuống chợ Cầu chậm hẳn. Dân chống gắt máu. Con đường ấy phải đi qua vùng cát. Mỗi mùa lũ, cát lại trôi làm sạt lở đường sá. Chính quyền bắt dân đào đất ruộng từ nơi xa tới đắp. Có mù mới không thấy quốc gia bắt dân đắp đàng, không phải để đi cho êm chân. Quy mô của các chiến dịch tố cộng ngày càng bành trướng, cần phải có những con đường thật tốt để cơ động binh lính tới yểm trợ cho những toán bình định, thực thi chính sách tố cộng. Dĩ nhiên, dân chúng không thích thú gì với việc hoàn tất cái công trình sẽ mang lại cho họ chết chóc, bắt bớ, tan cửa nát nhà…
Quận trưởng miễn cưỡng xuống thị sát tình trạng trì trệ này. Chiếc xe jeep chở ông xuống kinh lí khu Phù Kì vì lẽ ấy.
Tưởng bọn ba đầu sáu tay nào xách động dân chúng cứng cổ! Ai ngờ chỉ bắt được ba lão già khú đế. Nghe tường trình của khu trưởng, Lung thấy thật là hài hước.
Lão Trần Thương tính khật khùng, giỏi chữ nho, đã từng đăng lính Pháp bảo vệ mẫu quốc khỏi họa Nazi, hồi hương với chức cai đội. Thấy thôn trưởng đôn đốc dân làng đắp đường, lão tới tận nơi, kêu tên cúng cơm của thôn trưởng ra la:
- Nè, thằng Toán, con nhà Xã Binh, mi làm chi chướng rứa? Răng mi bắt bà con bỏ việc nhà ra đây đắp đàng? Gieo gió gặt bão, tau biểu cho mi hay.
Chỉ thiếu nước lạy như rái lạy, thôn trưởng nhẫn nhục:
- Thôi, ông già vô chỗ mát mà nghỉ. Đây không phải là chỗ để ông xía ngang hông!
- A mi đuổi tau về. Nhưng tau ưng đọc thơ cho mọi người nghe đỡ buồn thúi ruột: Nực cười thầy bói soi gương. Thầy tu chải chí, cá mương hóa rồng. Người đi ngủ thì chó má, chuột rắn, cóc nhái ngóc đầu dậy. Sớm mai mặt trời mọc, tụi nó tấp chỗ mô cho khỏi chết.
Dân cười rộn. Bỏ mặc thôn trưởng giận no cành hông, lão thủng thẳng chống dù về làng. Lão già trời sợ này, đến mấy ông du kích thời khởi nghĩa cướp kho thóc Nhật còn ngán, huống chi hạng thôn trưởng thời nay.
Được đâu một vài ngày yên yên, lão lại gọi tới thôn trưởng, nói đía:
“Mấy ông ra lệnh cấm chó để mấy ông đêm hôm tiện bề theo dõi, bới lông tìm vết bà con tôi. Cả làng phải giết chó. Rứa mà hồi hôm, không biết hạng chó nào ỉa đầy chân đống rơm nhà tôi. Phiền ông thôn trưởng đến nhà tôi coi thử, đó là cứt chó hay là cứt của mấy ông đương thi hành phận sự…?”
Thôn trưởng làm thinh bỏ đi, lão được thể lấn lướt. Thấy thôn trưởng dẫn dân vệ đi xăm hầm bí mật quanh vườn nhà lão, lão chắp tay sau đít chửi đổng:
- Tổ cha ba cái con chột dột, bay có chằm có lót ổ kĩ mấy đi nữa, một cơn bão xô mạnh là rồi đời cha bay!
Hết chịu nổi, thôn trưởng sai dân vệ bắt nhốt lão Trần Thương. Xảy luôn chuyện Cửu Canh làm đám giỗ. Lão mời ráo cả thôn trưởng, hội đồng, cảnh sát tới ăn. Nhưng lão bắt mọi người phải đợi chóng cả mặt. Cửu Canh từng tuyên bố:
“Tổng thống Diệm ngó vậy chớ học lực thua thằng con tôi. Nó đỗ bác sĩ lận.”
An ninh ghi tên lão vào sổ đen. Chờ miết mới thấy Lê Sắc, anh họ Cửu Canh lò dò tới. Hai tay Lê Sắc xách theo hai cây đèn gió. Quan khách mừng quá, vừa định cầm chén đũa, Lê Sắc đứng giữa bàn tiệc nói dõng dạc:
- Chú thím mời thì tôi phải đến. Trước là cảm ơn chú thím, sau nữa cũng phải nói, tôi không phải hạng quạ đánh hơi người chết. Bạ chỗ mô cũng xoè mỏ kiếm ăn. Thôi, chào chú thím, tôi về.
Khác chi chửi cha các chức việc sở tại hám miếng ăn. Tụi này nổi đóa, bắt lão trói vào gốc cây cau cạnh nhà. Người ta xúm tới coi như hội. Lê Sắc la làng:
- Bớ thôn trưởng, con lão Xã Binh, bớ cảnh sát con lão Cửu Lâu, mau mau mở trói cho tau. Tổ cha con nhà Xã Cặc đang đái trong quần tau, tổ cha con nhà Cửu Đít đang ỉa trong quần tau!
Cảnh sát, thôn trưởng bỏ ăn chạy tới, đánh lão hai bạt tai. Cửu Canh ngăn lại:
- Răng mấy ông đánh người vô phép rứa? Ông anh tôi tới đây mang hai cây đèn gió như mấy ông quy định. Ổng không thích ăn thì ổng về, mắc chi mấy người đánh ổng, trói ổng. Ổng mắc đái, mắc ỉa chi kệ ổng, ổng la, đó là quyền của ổng. Răng mấy ông có quyền hành hung ông anh tôi? Tụi tui không phải cộng sản, nhưng thấy chế độ mấy ông thất đức mà lo cho mấy ông. Khỏi hô: Ngô tổng thống muôn năm nữa. Muôn năm răng được khi mất lòng dân? Chừ phải hô: Tổng thống hai năm! Cứ đà này, hai năm nữa hiệp thương tổng tuyển cử, chẳng ma mô dám bỏ phiếu cho tổng thống của mấy ông!
Bắt luôn Cửu Canh, trói một dây ba lão già, giải về trụ sở khu. Ba lão suốt ngày thay nhau chửi bới, ỉa đái vung vít trong trụ sở.
Quận trưởng Lung mỉm cười bảo khu trưởng đưa mình tới gặp ba tù nhân. Khu trưởng vừa mở cửa, Lung vội vàng bịt mũi. Cửu Canh lanh mắt nhận ra quận trưởng, túm lấy Lung nói to:
- Mời ông quận trưởng tới đây nói chuyện với tui chơi. Hình như ngài quận trưởng học sau thằng con tôi mười năm thì phải?
Lung hấp tấp trả lời:
“Dạ, đúng thế!”
Lại nghĩ bụng: Mình có biết thằng con lão mặt mũi ngang dọc ra sao đâu, ừ đại cho lão sướng.
Lê Sắc nhổm ngay dậy, hai tay giấu ra phía sau:
- Phiền ông quận trưởng xíu xiu. Lính ông quận đánh tôi bại xuội hai tay hết trơn. Đành phải nhờ ông quận trưởng cầm giùm cặc tôi… để tôi đái với!
Lung đỏ nhừ mặt chưa biết tính sao, Trần Thương bồi tiếp:
- Quận trưởng cũng là người biết chữ thánh hiền, chắc chắn quận trưởng phải hiểu đạo lí hơn mấy lão già thô lậu ni. Chó độc ỉa mặt bàn cờ, chớ đã là người thì không ai chửi cha mẹ, gốc gác của mình.
Lung tê tái đứng lặng, không khí trở nên ngạt thở. Ba ông già nhìn trừng trừng như xuyên thấu ruột gan kẻ vừa bị xóc óc. Lung không biết mình nói gì nữa, chỉ thấy cơ má bên trái giật giật khiến miệng méo xệch như mếu.
Sáu Lung bỏ ra ngoài, lẳng lặng bảo tài xế rú ga, phóng xe về quận đường…
Lung lảo đảo bước vào phòng, mở toang cánh cửa tủ, tìm chai rượu giấu sẵn. Ông muốn say để quên, nhưng càng uống, thứ men ma quái càng làm đầu óc ông sáng láng, nhớ như in từng chi tiết nhục nhã. Lung rối bời và buồn tủi.
Bên ngoài có tiếng ồn ào, tiếng người xô đẩy nhau. Sáu Lung ngần ngại dừng bước, nhưng khi nghe rõ tiếng Khánh, chi trưởng cảnh sát quận, theo bản năng, ông rảo chân nhanh hơn.
- Mi ăn ở mô, ở chỗ mô mà mập rứa?
Trời, Lung hoảng hốt nghĩ, hung thần đã qua, ắt máu sẽ lênh láng phun ra đất. Thêm vài bước, Lung đã nhìn thấy thân hình phì nộn của chi trưởng cảnh sát choán gần hết khuôn cửa và con béc-giê của hắn gầm gừ sau lưng chủ. Một tiếng nói bình thản cất lên:
- Nhân dân nuôi tau, tau ở trong dân!
Tự nhiên Sáu Lung lanh lẹ hẳn, giọng nói này quen thuộc quá. Bây giờ Lung đã có thể nhìn rõ tên “cộng phỉ nằm vùng” có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt nhẹ nhõm, mũi dọc dừa và mái tóc húi cao đen nhánh.
Lung bần thần. A, vẫn là anh cán bộ tuyên huấn hồi nào kết tội mình “đệ tứ” và đưa mình đi tù! Con tạo xoay vần, Lung nhếch mép cười ruồi, đúng là một tấn tuồng chua chát.
- Chờ đó rồi mi sẽ biết nhân dân của mi.
Khánh nheo mắt ngắm Phan Quyên và bất thần hét lên:
- Quỳ xuống!
Phan Quyên lắc đầu:
- Tau không biết quỳ!
Hừ, mình có thể mượn tay thằng Khánh dạy cho Quyên bài học nhân quả báo ứng, sau đó chính mình sẽ đích thân cứu Quyên. Lung thích thú với ý nghĩ vừa lóe lên trong óc.
Khánh vươn tay lấy chai rượu đặt sẵn trên bàn, đập xéo qua cằm Phan Quyên. Sáu Lung rùng mình nhắm mắt trong giây lát, chờ tiếng rú đau đớn của Quyên. Im lặng như tờ, máu chảy ròng ròng trên khuôn mặt Phan Quyên. Ông nhếch mép cười. Chính nụ cười ấy đã đẩy Khánh lùi lại, há hốc miệng và quận trưởng Lung kêu lên khàn khàn:
- Hượm!
Toàn thân nổi da gà, Lung bước trên nền gạch nhầy nhụa rượu pha máu và những mảnh thủy tinh vỡ tung toé. Nụ cười còn phảng phất trên gương mặt méo mó của Phan Quyên. Không ai ngó ngàng gì tới Lung, họ còn đang hoang mang. Tại sao Khánh chưa ra lệnh cho con béc-giê của hắn xông vào, rứt từng miếng thịt kẻ hỗn xược kia?
Lung nói khẽ với Đàm:
- Mở trói cho người ta!
Phải lúc khác, Đàm cự nự liền trước mệnh lệnh yếu xìu của quận trưởng. Nhưng trong bối cảnh ghê sợ này, Đàm vừa lẳng lặng mở trói cho Quyên một cách máy móc, vừa lấm lét nhìn người tù. Khánh làu bàu:
- Chờ đó, tau sẽ có cách!
Khánh quay ngoắt người bỏ đi, con béc-giê hồng hộc thè lưỡi chạy theo sau. Đối mặt Phan Quyên, Lung chào:
- Chào ông Phan Quyên!
Quyên gật đầu tỏ ý nhận ra. Tự tay Lung kéo chiếc ghế lại gần mình và nói:
- Mời ông ngồi nghỉ một lúc cho đỡ choáng. Tôi sẽ cho người đưa ông qua bệnh xá quận băng bó!
Quyên thản nhiên, không tỏ dấu hiệu cảm kích hay phản đối. Đầu óc Lung trống rỗng. Lạy trời, đừng bao giờ ta phải chứng kiến thêm một lần nữa, nụ cười khủng khiếp đó. Lung mường tượng, mình giống như một con chim mồi bị khâu kín hai mắt, ngơ ngác đi lại trong chiếc lồng hẹp và cất tiếng gáy thê thảm…
Một đám đông người nêm cứng xung quanh chiếc giếng nằm giữa ranh giới hai làng Giáng La và La Huân. Phi không chen vào nổi đành tức tưởi la:
- Cho tôi vô. Luyến đang chờ tôi!
Vòng người lơi ra đủ cho Phi lách tới sát giếng. Phi cúi mình, bụng tì lên thành xi-măng, mắt tối sầm, nhìn miệng giếng đen ngòm và gió từ đáy giếng thốc lên thành những tiếng rít đứt quãng. Phi cầm lấy đầu dây thừng nhẹ bỗng, thòng xuống giếng và rút dần. Cho đến lúc cậu hổn hển, người gập xuống, sợi dây bị trì kéo trở nên nặng kinh khủng. Gió vẫn rít lên và “phựt”, sợi dây bị đứt nửa chừng. Phi loạng choạng ngã dúi xuống nền đá lát quanh miệng giếng. Nhưng Luyến đã lừng lững nổi lên khỏi miệng giếng với gương mặt tím bầm, sưng vù và mớ tóc lượt thượt sau gáy. Thân thể Luyến thẳng đơ như cây gỗ, cứ lơ lửng trên miệng giếng, cặp môi vốn chúm chím đỏ tươi, bỗng mở hoác ra để lộ hai hàm răng lởm chởm. Phi hét lên và bỏ chạy…
Cha Phi vội vã nắm lấy tay Phi mà lay:
- Dậy, Phi, cô Mười tìm con!
Phi nhổm ngay dậy, giấc mộng quá thực, người cậu còn lạnh toát và tiếng gió rít trong lòng giếng còn ù ù bên tai. Làm gì có chuyện bóng đè?
Mười Lúa lo lắng báo tin:
- Phi, Lê Vân bị bắt sáng nay!
Phải một lúc sau, Phi mới tỉnh trí. Lê Vân là chú họ của Phi, đại diện Giáng La trong hội đồng hương chánh Điện Tiến. Tụi nó bắt ổng làm chi vậy?
- Cô không thể đi lại bây giờ được. Cháu phải báo ngay cho mấy người…
Phi dụi mắt nhìn ra sân. Cha cậu lo lắng ngó quanh quất, lưỡi dao sắc không bấm vào nan tre, mà cứa đứt da chảy máu. Ông xuýt xoa, kéo vạt áo chùi máu. Giọng nói thì thầm của Mười Lúa càng khiến cậu tin, giấc mộng đáy giếng hoàn toàn là sự thật.
Phi không hiểu nổi, vì sao cô Mười lại hoảng sợ một cách khác thường trước việc ông chú họ của Phi bị bắt? Có lẽ trong số cả chục ngàn người quanh chân núi Bồ Bồ này, chỉ có ba người là Phan Quyên, mẹ Cộng và Mười Lúa biết rõ tầm mức nguy hiểm của sự kiện này và tai họa đang xảy ra với ai?
Sau cái chết của Bùi Bổn, bí thư tỉnh ủy Quảng Nam, kẻ thù càng o ép và chủ động tổ chức tấn công trên địa bàn quan trọng nhất nhì miền Trung này. Quảng Nam được chọn làm trọng điểm đánh phá cộng sản và trong Quảng Nam, Điện Bàn được coi là trọng điểm số một. Trong Điện Bàn, vùng quanh chân núi Bồ Bồ, những Giáng La – Xuân Diệm – Sùng Công – Ái Mĩ – Chu Bái…, trở thành vùng tranh chấp ác liệt nhất.
Khu ủy 5 đặc biệt chú ý chỉ đạo và chi viện cho chiến trường Quảng Nam. Hồ Xuân được điều gấp từ cánh Nam ra, đảm nhiệm trọng trách bí thư tỉnh ủy. Trên đường trở về quê hương máu lửa, Hồ Xuân đóng vai một cố đạo đi theo thế hợp pháp. Còn Tư Hòa, một trong những đồng chí lãnh đạo Khu ủy 5, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, được Khu ủy phân công trực tiếp về Quảng Nam, chỉ đạo phong trào những năm đen tối này…
Hồ Xuân và Tư Hòa về đứng chân tại một đảng bộ trước kia có trên mười một ngàn đảng viên, nhưng lại quyết định chọn nhà mẹ Cộng, bên sông Chu Bái, làm địa điểm liên lạc đầu tiên. Mẹ chưa phải đảng viên, nhà nghèo nhất vùng, làm nghề đưa đò và mò cua bắt ốc nuôi hai con nhỏ.
Bữa gặp mặt Tư Hòa và Hồ Xuân, mẹ òa lên khóc:
- Tau đề tụi bay chết hết trơn rồi. Giờ tụi bay sống ri, Diệm làm chi nổi bà con mình!
Mẹ kể lể cho họ nghe tình hình địch tố cộng, rồi đột ngột mẹ hỏi:
- Tụi bay muốn ăn thịt gà không?
Họ biết mẹ vốn liếng chỉ còn lại một con gà mái duy nhất, với lại bụng dạ đâu mà lo chuyện ăn uống giữa lúc dầu sôi lửa bỏng thế này. Tư Hòa dặn mẹ cách thức liên lạc với Mười Lúa và Phan Quyên xong, rồi nói:
- Còn chuyện ăn thịt gà, bữa sau tụi tui về hãy hay!
Mẹ mừng rỡ về ngay Giáng La gặp Mười Lúa, còn Phan Quyên bị bắt ngay trước đó. Ít ngày sau, Tư Hòa, Hồ Xuân xuống núi với ba chiến sĩ vũ trang, đến bến đò Chu Bái vào buổi tối. Giữa nhà mẹ Cộng có chiếc chõng tre với mâm cơm đậy lồng bàn chờ sẵn. Tư Hòa giở lồng bàn thấy mấy món xào nấu với thịt gà, chưa kịp trách móc, mẹ đã cất giọng khản đặc thều thào kể lại:
- Tụi bay ăn đi! Ba bữa nay tau đi khắp xóm than khóc, la lối đứa mô tham ăn bắt đi con gà độc nhất của tau. Rứa là tụi bay yên tâm ăn đi. Tụi nó không còn nghi ngờ khi tới củ soát, thấy mất gà trong chuồng nhà tau!
Mấy người ngồi lặng bên mâm cơm, nước mắt mặn chát lăn trên những gương mặt trơ xương, sạm đen nắng gió. Mẹ moi trong đống giẻ rách lấy ra hai thỏi vàng đưa cho Tư Hòa, giọng nghèn nghẹn:
- Trước khi chết, thằng Bổn đưa cho tau hai thỏi vàng ni và biểu: “Tài sản của Đảng chỉ còn lại chừng nớ. Tui tin bà nên giao cho bà giữ. Rủi tui có hi sinh bà chỉ được giao lại cho người thay tui làm bí thư!” Từ dạo nớ, tụi bay đi biệt. Chừ tụi bay biết đứa mô làm bí thư tỉnh ủy thì biểu tau, tau giao lại cho nó giữ. Để lại đây, rủi tụi nhỏ không biết, tưởng đồ chơi đem ra nghịch làm mất thì vong linh thằng Bổn sẽ oán tau không lo tròn bổn phận với Đảng!
Tư Hòa, Hồ Xuân đưa mắt nhìn nhau, rất nhanh, rồi ngầm đi tới một quyết định khác thường: Với mẹ Cộng không có gì phải bí mật.
Hồ Xuân nghiêm trang nói:
- Thưa mẹ, tôi được Đảng giao nhiệm vụ về thay anh Bổn. Thay mặt tỉnh ủy, tôi giao nhiệm vụ cho mẹ tiếp tục gìn giữ vàng của Đảng!
Chưa nói xong nước mắt đã lưng tròng, Hồ Xuân sung sướng nghĩ thầm: Trên quê hương ta, Đảng đã hóa thân vào những cuộc đời thường của những người như mẹ Cộng; vì vậy Đảng là bất diệt!
Tình thế ngày càng bi đát, khốc liệt. Theo mức độ và nhịp điệu của các chiến dịch đánh phá cách mạng của địch, nhiều đảng bộ cơ sở báo cáo về, số đảng viên chao đảo mất phương hướng, muốn bỏ chạy theo địch hoặc rời bỏ hàng ngũ, ngày càng tăng lên. Hoặc mới nhất, trước khi xuống núi gặp mẹ Cộng, Hồ Xuân và Tư Hòa nghe một người trong thành ủy Đà Nẵng lên căn cứ, báo cáo về tình hình thành phố. Nếu không phải là người từng trải, lăn lộn từ những ngày khó khăn nhất của công tác Đảng, chắc chắn phải rút ra những kết luận như sau: Một là đồng chí cán bộ ấy đã cố ý tô vẽ bức tranh sai lạc đầy màu sắc bi quan thất bại và đổ lỗi cho sự lãnh đạo của cấp trên, hai là phải tin rằng, địch đã chiếm được thế áp đảo, còn Đảng đã hầu như biến mất khỏi thành phố.
Dĩ nhiên, sau khi kết luận như vậy, với tư cách bí thư tỉnh ủy, Hồ Xuân có thể đề xuất những cách giải quyết:
- Một là, lên án một cách gay gắt, chấn chỉnh ý chí chiến đấu cho cán bộ thành ủy ấy, rồi ra lệnh trở về, tung hết lực lượng còn lại vào những cuộc đọ sức phiêu lưu chỉ nhằm gây tiếng vang để Trung ương đánh giá cao đảng bộ Quảng Nam, bất chấp mọi hậu quả tai hại cho sự nghiệp của Đảng, của dân.
- Hai là, tuyên bố, đồng chí ấy đã mất ý chí chiến đấu, nếu để quay lại hoạt động trong lòng địch thì nhất định đồng chí ấy sẽ đầu hàng địch. Bởi vậy phải giữ đồng chí ấy ở lại căn cứ, thi hành kỉ luật nghiêm khắc, có dịp thuận lợi thì đưa đồng chí ấy ra Bắc. Nghĩa là kết án tử hình sinh mạng chính trị của một đồng chí, đồng thời làm rúng động những người ở lại. Và từ nay để đối phó với cách nhìn nhận và cách nghe (chỉ thích nhìn cái gì vừa mắt, chỉ thích nghe cái gì êm tai) của cấp trên, các cán bộ cơ sở khi báo cáo, sẽ lựa chọn những hình dung từ hay ho, đẹp đẽ nhất thay thế cho sự thật trần trụi, dữ dội.
- Ba là, tô thêm vào bức tranh vốn đã đen tối với Khu ủy, đề nghị cho rút toàn bộ đảng viên, cán bộ nòng cốt còn lại, lên núi xây dựng căn cứ biệt lập “trường kì mai phục” và “bàn giao đồng bằng cùng thành phố cho kẻ thù làm mưa làm gió!”
Nhưng Hồ Xuân có cách nhìn, cách nghe của mình, nên đã không kết luận, cũng không đề xuất như những giả thiết trên. Đây cũng chính là điểm phân biệt giữa ông với Hoàng Ca, em trai ông. Hoàng Ca xốc vác, linh hoạt, nhiều sáng kiến, có khả năng tập hợp quần chúng, dễ nổi bật trong một tập thể lãnh đạo, nhưng lại thiên về cảm tính cực đoan. Còn Hồ Xuân đằm thắm và điềm tĩnh. Chất Đảng đã thấm vào huyết quản, chiều sâu tâm hồn và tư duy trong con người ông. Đừng bao giờ đi tìm nơi ông những sáng kiến đột xuất, tân kì. Ông biết lắng nghe mọi người (kể cả “nghe” kẻ thù) từ nhiều góc độ khác nhau, nhiều động cơ khác nhau để lọc lấy tinh chất của sự kiện. Ông kiên quyết, khôn khéo trong đối sách chống kẻ thù, ôn hòa và tin cậy khơi dậy nơi trí óc và trái tim đồng chí ông những ý nghĩ, tình cảm chân thực, trong sáng, giàu tính anh hùng và trí tuệ. Ông mẫn cảm lạ lùng với cái mới, ông ghê sợ sự dối trá và khuôn sáo.
Sống với ông một năm, người ta thấy ông quá chậm chạp, thận trọng. Sống với ông từ ba năm trở lên, người ta tìm thấy nơi ông một chỗ dựa…
Chiến đấu lâu dài với ông, kinh qua cùng ông những thử thách sống còn, người ta nhìn xuyên qua con người nhỏ nhắn, nho nhã, bình thản đó, để thấy ngọn lửa mạnh mẽ tỏa lan từ thương yêu, hi vọng và căm thù sâu sắc…
Cứ thế, ông sống hòa đồng cùng phong trào, đồng chí mà chẳng bao giờ trở thành một hiện tượng nổi bật hay trội vượt.
Chính vì vậy, ông kiên trì lắng nghe đồng chí cán bộ thành ủy báo cáo (kể cả những lời than thở, đay nghiến người này, người nọ). Ông cảm nhận khá chính xác khuynh hướng ảm đạm trong báo cáo của người ấy. Ông quyết định không lẩn tránh sự thật tàn khốc về tổn thất của Đảng trong lòng Đà Nẵng, bằng cách khêu gợi người báo cáo, nhớ lại cả những chi tiết đau lòng, nhục nhã nữa. Các sự kiện tự nó xâu chuỗi thành những mắt xích liên tục và bỗng nhiên, ngay giữa dòng đen tối, bế tắc đó, lại lấp lánh những điểm sáng rải rác. Cái chính là, đánh giá cho đúng bản chất và triển vọng “đảo lộn thế cờ” của những điểm sáng đó. Chẳng hạn, ngay từ sự kiện đẫm máu ngày 1 tháng 8 năm 1954, địch khởi thế công quyết liệt và chủ động thật. Nhưng cạnh đó Đảng bộ Sông Đà lại trụ được sau thử thách này và tiếp tục hoạt động trong quần chúng ngư dân, những người sống bằng nghề chài lưới trên những khúc sông bao quanh Đà Nẵng. Sông nước không phải là một bàn đạp đứng chân sao? Trong khi hàng loạt bọn trở cờ, phản bội tập trung nhau tại sân vận động Chi Lăng xé cờ, chửi Đảng và thề thốt trung thành với gia đình họ Ngô – thì cái gì đang xảy ra ở xóm lao động Thạc Gián – Vĩnh Trung? Dường như đó là vùng tự do còn lại giữa lòng thành phố. Đêm ta, ngày địch. Tại đó vẫn tồn tại một chi bộ độc đảm với các đồng chí trung kiên nhất, âm thầm chiến đấu. Các em thiếu nhi vẫn tập hợp hát bài kháng chiến, đọc thơ Tố Hữu, chuyền tay sách toán của Hoàng Tụy (in rô-nê-ô từ vùng kháng chiến mang về thành). Trong khi địch triển khai rầm rộ các chiến dịch tố cộng, khiến cho gia đình, cha con, đồng chí, làng xóm tố giác nghi kị lẫn nhau, thì trên sạp hàng của các chị tiểu thương vẫn lưu truyền những tập sách tiến bộ “Tiếng nói dân nghèo”, ”Tiếng nói miền Trung” của nhóm trí thức Huế yêu nước… cần đánh giá khách quan xem đến nay, quần chúng đa số thiên về ai? Chẳng lẽ những cuộc bãi công của công nhân bốc vác Đà Nẵng và công nhân hỏa xa trong đề-pô xe lửa, đòi cải thiện đời sống và lương tháng mười ba, không cho ta một dấu hiệu để trả lời sao?
Cứ thế ông nghe, khêu gợi, rồi đặt những câu hỏi trực tiếp cho người cán bộ lãnh đạo thành ủy. Người ấy tự mình bơi vượt khỏi dòng đen tối, bế tắc lúc nào không hay trong khi làm việc với bí thư tỉnh ủy. Sau đó, cả chủ lẫn khách hào hứng bắt tay vào việc đúc kết tình hình và phác họa ra phương hướng đấu tranh của thành ủy trong thời gian tới. Đảng bị tổn thất nặng nề, nhưng không thể bị đánh bật ra khỏi thành phố. Địch đang ở cao trào tấn công ở những mũi chính diện, chúng ta phải tạm thời đưa lực lượng ra khỏi những luồng hỏa lực mạnh nhất của địch để tránh thương vong đến mức tối đa, phân tán một bộ phận vào các hoạt động của phật giáo, tranh thủ nắm lấy quần chúng, nghi trang cho mình, dĩ nhiên phải đề phòng thất thoát cán bộ do “lộng giả thành chơn”. Một bộ phận khác nếu có điều kiện ở những mức độ khác nhau, tham gia hoạt động chính trị, văn hóa, văn nghệ, xã hội hợp pháp, tranh thủ những nhân sĩ, trí thức yêu nước, có những tổ chức biến tướng thích hợp để tập hợp dưới ngọn cờ yêu nước và hòa bình… Phải nắm ngay lấy cán bộ, đảng viên do địch khủng bố phải tạm lánh vào phía trong, đặc biệt tại Sài Gòn, tiếp tục quản lí, giáo dục, biến họ thành những hạt giống tốt cho cao trào cách mạng tiếp theo thời kì đen tối. Nhưng động lực cuối cùng có tính chất quyết định, vẫn là duy trì và phát triển phong trào Đà Nẵng… Nghĩa là phải xác định địa bàn đứng chân của thành ủy Đà Nẵng trên các đất Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, đặc biệt Điện Bàn.
Tư Hòa theo dõi từ đầu tới cuối cuộc “chuyện trò thân mật” của bí thư tỉnh ủy với cán bộ của mình một cách đầy thích thú… Đôi khi ngước nhìn lên, bắt gặp nụ cười cởi mở, đôn hậu của lãnh đạo Khu ủy (răng hơi hô, miệng rộng thành ra Tư Hòa không bao giờ cười tủm tỉm, đã cười là cười thành tiếng thật vui), Hồ Xuân biết, Tư Hòa sẽ ủng hộ những quyết định của mình, bằng cách bổ sung, hoàn chỉnh vào đó những nhận xét sắc sảo, có tính tổng kết cao.
Giờ đây trước mặt bà mẹ giữ vàng cho Đảng, Hồ Xuân càng tin vào nhận xét và độ chính xác của sự suy nghĩ và quyết định của mình trên căn cứ. Đảng không bao giờ bị tiêu diệt trên mảnh đất có những bà mẹ như thế này!
Lê Vân bị bắt, Mười Lúa vô cùng lo lắng. Lê Vân dù không biết rõ ràng, đích xác việc Tư Hòa và Hồ Xuân đã về đứng chân ở Điện Bàn, nhưng ông ta cũng mang máng nghe nói, hoặc ai đó trong lúc chuyện trò với Lê Vân, đã vô ý nhắc đến tên hai người này. Lỡ Lê Vân chịu không nổi những đòn tra tấn của địch, khai báo lung tung thì sao?
Mười Lúa tự kiểm lại trong óc. Trong quá trình tiếp xúc, trao nhiệm vụ cho Lê Vân, đã bao giờ mình sơ hở để lộ cho Lê Vân biết về hai đồng chí lãnh đạo quan trọng này không? Có nên yêu cầu mẹ Cộng phát ám hiệu nguy hiểm, để các đồng chí đó tạm thời không dùng đường dây Chu Bái – Giáng La không? Bằng ấy câu hỏi rối bòng bong trong đầu Mười Lúa.
Khi Phan Quyên bị bắt, trong đầu chị không xuất hiện những nỗi lo sợ này, chị tuyệt đối tin vào sự trung thành của bí thư chi bộ Hoàng Cẩn.
Nhưng Lê Vân chỉ là một cơ sở tốt. Liệu ổng có chịu nổi những trận đòn khủng khiếp và lối hỏi cung nham hiểm của tụi thằng Đàm, thằng Khánh không? Nếu như ổng khai tùm lum…?
Mười Lúa rùng mình, không dám nghĩ tiếp…
Bóng tối chập choạng. Phi đi trên con đường làng nhấp nhô với tâm trạng mê hoặc. Chân đặt lên đất ướt lạnh sương đêm, Phi tự hỏi: Lê Vân bị bắt liên quan gì đến cô Mười? Thân hình Luyến như cây gỗ cứng đơ cứ ẩn hiện trước mặt cậu. Ủa, nhà bà Bát Lâm làm chi có ánh đèn loang loáng thế kia, rồi lại cả tiếng thất thanh:
- Tui có tội chi mà nửa đêm mấy ông đòi soát nhà bắt bớ?
Ánh đèn tắt phụt, lại im ắng, Phi ngơ ngác đứng lại. Cậu láng máng hiểu cái lí do khiến cô Mười hấp tấp đến tìm cậu… Phi không kịp che mắt, một chùm tia sáng sắc nhọn bất ngờ chĩa vào mặt cậu và tiếp theo, tiếng lên đạn lách cách. Cậu bàng hoàng chưa biết phải xử lí ra sao, một bóng người lao vút ra ngõ hét:
“Đứng lại!”
Phi giật mình vùng chạy, tiếng nổ chát chúa kéo giật cậu ngã sóng soài trên mặt đất…
Mười Lúa giật mình, ngưng đưa đẩy chiếc cào cỏ trên lớp bùn lệt sệt. Đàm dẫn bốn năm tên dân vệ xăm xăm băng qua các bờ ruộng, vừa tiến đến gần chị vừa hình thành một vòng vây. Đầu óc chị xáo trộn, trống ngực đập mạnh. Tụi nó dừng lại làm chi rứa? Đàm huơ huơ cây súng, tụi dân vệ khép chặt vòng vây và bốn phía những mũi súng hướng về phía chị. Chị đã trông thấy bộ mặt gà chọi và ngửi được hơi thở nồng nặc mùi rượu của thằng Đàm. Hắn gọi:
- Mười Lúa, lên đây!
Chị vác cào cỏ lên vai bước trên bùn, tiến đến gần chỗ Đàm đứng. Thằng này hất hàm:
“Bỏ cào cỏ xuống!”
Mười Lúa cố nén nụ cười chế giễu, súng ống tua tủa ri mà tụi bay còn ngán cái cào cỏ của tau hả? Chị ném cào cỏ xuống ruộng và bước lên bờ. Đàm vẫn lăm lăm chĩa súng vào ngực chị. Hai tên nhanh nhẹn trói quặt tay chị ra sau bằng một sợi dây ni-lông mềm nhũn. Cả bọn lầm lì áp giải Mười Lúa về trụ sở khu Kì Lam, đặt tại Phong Thử, sát bên trường trung học đệ nhất cấp Kì Châu.
Khi Đàm mở cửa trại giam, Mười Lúa muốn nhũn gối. Không một ai trong chi bộ Hoàng Cẩn kịp trốn thoát. Chưa ai bị đánh đập, nhưng thái độ lầm lì khó hiểu của tụi thằng Đàm làm mọi người e ngại nhìn nhau.
Cánh cửa trại giam lại được mở một lần nữa. Đàm dẫn tụi dân vệ ùa vào, trói sáu người thành hai xâu.
- Đi!
Đàm cộc lốc ra lệnh và lẳng lặng đi trước, mặt cúi gằm xuống giấu nụ cười mập mờ. Hốt cả mâm cộng sản Giáng La, khỏe xác quá trời. Tụi chi bộ Hoàng Cẩn vẫn đinh ninh Lê Vân chỉ bị bắt vu vơ. Càng tốt, biết ra tụi nó tha hồ tá hỏa tam tinh. Đàm cười dễ dãi với cả những người hai bên đường đang tò mò theo dõi cuộc “dạo chơi” của chi bộ giữa ban ngày.
Đàm còn thích thú vì một lí do khác nữa. Xưa rày, công giáo chống cộng và Quốc dân đảng muốn tự tung tự tác ở đâu cũng mặc, nhưng đừng hòng nổi đình nổi đám trên đất Điện Bàn. Ngay cả những nhân vật Cu-dê-đê khét tiếng, gốc gác Điện Bàn như Lê Đình Duyên, cũng phải bật lên tây Duy Xuyên, hoặc Quế Sơn… Chừ, tới triều đại thằng Đàm ni, một trời một vực khác xưa. Mình sẽ đập nát Giáng La cộng sản thành Giáng La quốc gia, đâu phải chuyện nói dóc?
Rút kinh nghiệm lần giải Phan Quyên lên quận, Đàm đưa cả sáu người tù trong chi bộ Hoàng Cẩn lên thẳng trụ sở Đoàn bình định do Sách cầm đầu.
Cha này biết người, biết của hơn Sáu Lung nhiều. Đàm khinh bỉ nhớ tới viên quận trưởng bạc nhược. Tổng thống nhặt mi từ cống rãnh đặt lên ghế quận trưởng, tụi tau sẽ lôi mi từ đó, liệng xuống cống rãnh trở lại!
Tiếp Đàm không phải là Sách mà một người đàn ông chưa đầy bốn chục tuổi. Mười Lúa rợn người, đứng khựng lại khiến hai người bị trói cùng dây giật cục.
Trời đất, thằng Hàn!
Lông mày rậm luôn che kín cặp mắt sâu trũng và ánh lên những tia nhìn tinh quái, cánh mũi mỏng tang trắng nhợt, những sọc máu xanh xanh viền theo sống mũi.
Hàn đỡ hai người bị trói với chị dậy và mỉm cười:
- Ủa, chị Mười, cháu Phương mạnh thường chớ. Nghe tin ảnh hi sinh, tui cứ ân hận miết. Lẽ ra tui phải gặp ảnh sớm hơn, tâm tình với ảnh. Vô lẽ một quốc gia cứ chiến tranh, chém giết thù hận hoài sao? Người tài đức như anh Bổn phải đứng ra lãnh trọng trách, phục vụ công cuộc tái thiết đất nước, hàn gắn những vết thương của dân tộc… – Mắt Hàn đỏ hoe rất tự nhiên. – Nói thiệt, tôi cũng bất đắc dĩ có mặt trong cương vị hiện nay. Biết đâu có thể giảm thiểu nỗi tị hiềm, ngăn cách. Chị Mười phải hiểu và giúp tôi!
Đàm nhịn cười không xong, phải rút vội chiếc khăn tay bẩn thỉu, nhàu nát bưng miệng xỉ mũi và ho khùng khục. Tổ cha thằng xạo! Hơi sức mô sắm tuồng với cộng sản. Bắn cái rụp, rồi.
Mười Lúa thấy lờm lợm trong miệng, chị thèm được nhổ nước miếng vào mặt Hàn. Nó, nguyên cán bộ quân báo, đã từng giúp việc anh Bổn. Trước khi anh Bổn đi học, chị làm bữa mì Quảng tiễn anh, thằng Hàn là khách duy nhất của vợ chồng chị bữa đó. Đủ hiểu anh Bổn quý nó đến nhường nào. Giờ nó nắm chức phó đoàn bình định. Nó từng nằm trong gan, trong ruột mình, biết hết trơn bài bản, ngóc ngách, kể cả những uẩn khúc, thắc mắc của người này, người khác với kháng chiến, với Đảng, với đồng chí của mình. Nó nhằm những chỗ đó mà khoét sâu thêm…
Chị cố trấn tĩnh, ngó lơ qua chỗ khác. Hàn vẫn giữ nguyên giọng bùi ngùi, luyến tiếc:
- Phải chi được gặp các anh Tư Hòa, Hồ Xuân mà tâm sự…
Nỗi mừng rỡ khiến Mười Lúa hoàn toàn tỉnh táo. Như vậy là tụi nó không biết tí gì về sự có mặt của hai đồng chí ấy trên đất này!
Cánh cửa nặng nề sập lại. Từ ngoài nắng bước vào đang lóa mắt, mọi người chưa kịp thấy trong góc nhà tối tăm, ẩm ướt, Ba Đoát ngồi xổm, đưa tay rờ rẫm một chú bé nằm còng queo trên sàn xi-măng sần sùi. Miệng Ba Đoát lẩm bẩm:
- Tôi rờ thấy nó đang chết. Đồ dật dờ, đời mô tau oán mi không kịp đôi lựu đạn? Tại tau hết trơn, Phi ơi!
Quả Phi đang mấp mé tới cái chết. Hàm răng cứng ngắc, hơi thở đang lạnh dần, ngay cả cơn sốt do vết thương nhiễm trùng đang sưng tấy, cũng không làm người cậu nóng lên. Mầm sống trong cậu đang tắt lịm, chỉ còn lại mớ kí ức thỉnh thoảng chớp lóe trong cơn hôn mê dài dằng dặc.
Lúc mới quỳ, hơi ẩm từ đất xông lên khiến Phi lạnh tê. Bây giờ lại nóng hầm hập đến ngạt thở. Những hạt cát li ti rải trên nền xi-măng, chích vào hai đầu gối trơ xương, như hàng ngàn con kiến lửa cắn rát lớp da mỏng tang của Phi.
Mắt Phi hoa lên thấy hàng ngàn ánh đèn cầy đang lung linh dưới chân dung Ngô Đình Diệm. Gương mặt húp híp, bất động giữa ánh lửa ngùn ngụt. Nó xoi mói nhìn thẳng vào mặt cậu, cây thánh giá cũng động đậy, lòi ra hẳn khỏi áo chùng đen của họ Ngô. Viên đạn nằm lại trong bắp chân trái, vốn nhỏ xíu như đầu ngón tay út, bỗng nặng như tảng đá, ghim cứng người Phi xuống đất. Cậu định nhổm dậy chạy trốn kẻ gớm guốc trong bức hình kia, nhưng nửa dưới của cậu như bị chôn trong xi-măng cứng.
Ba Đoát quỳ sám hối ngay bên cạnh Phi, liếc mắt thấy cậu bé đang run rẩy, vai rùn hẳn xuống, con ngươi đảo tròng. Ba Đoát nghĩ thầm: “Nó té chừ. Một trận đòn nữa rồi đời thằng bé mất!”
Bọn bình định thay nhau lên nói. Nói chi kệ cố nội chúng, quỳ dưới đèn kiệt sức dễ sợ, đầu óc căng thẳng nữa, chắc phát điên… Nhưng tới phiên thằng Hàn nói, không ai cố tình làm ngơ mãi được. Mỗi lời của nó lách vào tim gan mọi người, chà xát nhức nhối, khoan riết vào óc người nghe, nó cứ nhẩn nha, nhắm đích từng đối tượng, nhả từng phát đạn bằng chữ, vào óc người nghe. Nó nói một cách điềm nhiên, ngay cả khi có người sùi bọt mép, lăn kềnh ra sàn xi-măng. Tụi lính xô vào, kéo lê người bất hạnh ra bên ngoài, đánh vùi dập cho tỉnh, giội thêm thùng nước lạnh, rồi lại xốc vào chỗ cũ, quỳ sám hối tiếp và nghe tiếp…
Phải đỡ đòn cho thằng Phi. Nghĩ và làm luôn, Ba Đoát đứng phắt dậy la lên:
- Tôi vô tội, tôi chẳng có gì phải sám hối cả!
Lập tức bọn lính xuất hiện, túm lấy Ba Đoát lôi ra. Nhân cơ hội nhốn nháo, nhiều người lăn nhào ra tranh thủ nghỉ ngơi và Phi ngất lịm. Cậu không nghe thấy cả tiếng la sằng sặc của Ba Đoát khi tụi lính bóp cổ anh…
Phi và Ba Đoát mê man, không phải chứng kiến cảnh tượng lên cơn tập thể của những người trong đêm. Không biết có phải do quận trưởng Lung can thiệp hay không, thằng Khánh hầu như không đụng vào người Phan Quyên sau trận đọ sức đầu tiên. Tình trạng sức khỏe tương đối tốt chỉ làm cho Phan Quyên lo ngại thêm, đau xót hơn vì những gì diễn ra trong trại giam mà anh không thể làm gì cải thiện được. Đầu tiên, một người tù vồ được một chú cóc trong trại. Người ấy giơ con cóc lên và tự hỏi:
- Gan cóc tía độc lắm hả?
Sau khi phá lên cười, người ấy đút con cóc vào miệng và nhai rau ráu, nuốt trôi xuống bụng, nọc độc của gan cóc trong bao tử người tù bắt đầu phát huy tác dụng. Người ấy vật vã, rền rĩ và chết. Một người khác ngó quanh quất, hết cóc rồi, lượm ngay mảnh chai vỡ, cứa rách bìu dái và nghiến răng nặn hai hòn dịch hoàn lòi ra ngoài. Nửa chừng đau quá người này la hét điên cuồng, máu chảy đầm đìa gần sáng mới chết.
Tang tảng sáng, khi ánh mặt trời le lói lọt qua khe cửa trại giam, Phi hơi tỉnh lại. Đến lượt người thứ ba. Anh ta chậm chạp nhìn xác hai người sóng soài trên nền xi-măng, nhếch mép cười khinh thường rồi lết tới chỗ sáng nhất. Anh ta ngồi xổm, đầu gối nhô hẳn lên, há miệng, thè lưỡi và khép thử hai hàm răng lại.
Phan Quyên nhảy bổ đến chỗ anh ta và hét lên:
- Đừng điên nữa!
Anh ta đang bất động, bỗng ngẩng đầu lên thật cao và bất thần, đập mạnh cằm xuống đầu gối.
Bốp!
Anh ta ngã dúi ngay trước mặt, lưỡi đứt đôi, máu phun ra phì phì. Phi chấn động toàn thân, cứng hàm trở lại…
Trong cơn mê, Phi lơ mơ nghe thấy tiếng mở khóa lách cách và tiếng gọi của một tên dân vệ nào đó vừa thò đầu vào trại:
- Phan Quyên, mời anh lên gặp quận trưởng!
Phan Quyên khẽ đặt tay lên cái trán nóng như lửa của Phi:
- Bình tĩnh nghe con. Rủi chú đi luôn, con với Ba Đoát ráng giữ sức và không được liều lĩnh. Chưa phải trận cuối cùng đâu!
Phi chới với đưa tay. Phan Quyên thở dài bước ra. Cánh cửa nhà giam sập lại sau lưng Phan Quyên. Ba Đoát tỉnh lại đúng lúc Phi lên cơn mê man. Anh không buồn để ý đến những xác chết, máu me vấy đầy mặt mũi, quần áo. Anh chỉ chăm chú săn sóc Phi. Nó chết tới thắt lưng rồi, anh thì thào một mình và loay hoay không biết làm cách nào giúp Phi.
Một lúc sau, Mười Lúa nhận ra Ba Đoát nhờ cái dáng đầu nghênh nghênh, bướng bỉnh của anh. Còn thân Ba Đoát nát bấy, lở loét, máu bết từng đám trên mặt. Chị gọi nhỏ:
- Cậu Ba!
Ngơ ngác quay lại, Ba Đoát để mặc nước mắt tuôn trào:
- Nó đang chết, chị Mười ơi!
Mùi da thịt thơm ngây ngất làm Phi dễ chịu, vành mắt không nặng trĩu và hai lá phổi có vẻ thoáng hơn. Cậu ngớp ngớp thở, có tiếng con gái reo khe khẽ:
- Anh Ba, ảnh tỉnh lại nè!
Và một cái gì đó mịn màng, mát rượi cọ vào da mặt cậu. Phi vội vàng nằm im. Cậu sợ giấc mơ tan biến mất.
Tiếp theo tiếng con gái, giọng Ba Đoát chắc nịch:
- Cho cái khăn ướt!
Nước lạnh dính tới đâu, Phi sống lại tới đấy. Cậu sung sướng tận hưởng cảm giác ngây dại chạy dọc sống lưng. Phi tỉnh hẳn, Luyến cười khúc khích:
- Răng giả chết cho người ta lo hoài?
Phi cảm nhận lời nói, tiếng cười của Luyến bằng mắt hơn là bằng tai. Hàm răng Luyến trắng ngà giữa phòng tối om.
- Tôi la dữ lắm phải không?
- Ủa, đau thì phải la chớ sao, mắc mớ chi hỏi!
Cho đến tận lúc ấy, Phi mới hay, cậu và Luyến bị xích chung một xiềng sắt. Hai người nằm ép sát vào nhau ít nhất cũng mấy giờ đồng hồ rồi. Không đứa nào cảm thấy mắc cỡ, mặc dù cả hai đã tới tuổi sẵn sàng tiếp nhận sự chung đụng thân xác với người khác giới. Nhưng hiện giờ, Phi và Luyến nói chuyện với nhau một cách tự nhiên như hai đứa trẻ dắt chung một đàn bò.
- Bị bắt hồi nào? Bị đánh chưa?
- Chưa, cũng chẳng có chi lạ. Nó sợ mình mới phải bắt mình, đánh mình.
Phi bật cười, đúng y chóc giọng Phan Quyên. Luyến ngơ ngác:
- Răng cười?
- Không, cứ kể nữa đi!
- Cha nhắn về làng, biểu phải sẵn sàng chịu trận với cha và anh Phi trên quận. Nè, nó đánh trước rồi bắt sám hối, hay sám hối ngán rồi mới đánh mình?
- Đánh, sám hối, đánh… không nhớ nữa. Tụi nó tính xích chung hai đứa cũng hay!
- Hay đồ yêu, lúc mắc tiểu dị òm!
- Thì đứa kia quay mặt ngó lơ.
Hai đứa cười khúc khích. Ba Đoát nạt liền:
“Tào lao vừa chớ, ngủ đi lấy sức cười với thằng Khánh!”
Im được một lúc. Thân thể kề bên nhau ấm áp. Tâm hồn cô gái xao xuyến một cảm giác mới lạ. Cô buộc phải lên tiếng để trấn áp cảm giác rạo rực mỗi lúc một lan tỏa trên các đầu ngón tay, ngón chân và nơi ngực cô, máu có vẻ dồn căng hơn trong mỗi nhịp tim:
- Anh… có muốn nghe chuyện mẹ Cộng không?
- Có chứ! – Phi hồi hộp, trả lời thì thầm. – Nhưng nói nhỏ thôi, để anh Ba ngủ!
- Tụi hội đồng hương chánh Điện Tiến kêu mẹ mấy lần, tra khảo trầy vi tróc vảy mỗi một câu: “Bà có biết cộng sản ở mô không?” Mẹ thản nhiên trả lời: “Biết chớ sao không?” Tụi nó sướng sảng, giục mẹ chỉ chỗ. Mẹ cười rồi biểu: “Thì tui là Cộng chớ ai vô đó. Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới chừ, tôi đã là Cộng rồi!” Rứa là tụi nó tức sặc máu, vẫn phải thả mẹ về…
Phi thiếp đi. Suốt từ ngày bị bắt tới giờ, lần thứ nhất giấc ngủ thực sự đến với cậu.
Sáng bửng, quên bẵng mọi chuyện. Phi vươn vai đứng dậy. Luyến nhăn nhó:
- Trời đất, trầy hết trơn cổ tay người ta chừ?
Phi giật mình, vội cúi xuống nhìn Luyến. Cô mở hé mắt, mặt đỏ lựng như chờ đợi một cử chỉ âu yếm, vuốt ve từ Phi. Phi hấp tấp đưa mắt ngó chỗ khác. Trời ơi, cô Mười, bà Bát Lâm, ông Phan Li và ba người nữa cùng làng, họp mặt hết trơn trong trại giam. Không ai cười nổi khi nhận ra người làng.
Bọn lính mở khóa. Đàm xuất hiện. Linh tính cho hay, bữa nay căng hung rồi. Đây là trại giam của quận, mắc mớ chi đích thân khu trưởng Kì Lam lên giải tù? Đàm ngó hết lượt, vai lệch hẳn đi, giọng bình thản:
- Mời quý bạn Giáng La theo tôi!
Sáu người trong chi bộ được trói thành ba xâu, còn lại Ba Đoát bị trói chung với Luyến và Phi. Chín người Giáng La lặng lẽ theo sau Đàm. Bọn lính kèm hai bên và chặn hậu. Tiền hô hậu ủng chẳng kém gì khi bảo vệ quận trưởng đi kinh lí. Đàm rẽ vào quốc lộ 1 để bước xuống con đường lầy bùn và dẫn mọi người vào một khu nhà lớn nhưng thấp. Nguyên đó là nhà kho thời Pháp, mới được quét sơn xám xịt và rào quanh bằng những cuộn kẽm gai mới tinh.
Dường như trong khu kho, bọn lính đã chờ sẵn. Nhác thấy bóng Đàm, chúng hò nhau đẩy cánh cổng nặng nề cho đoàn người Giáng La bước vào sân. Khánh chờ sẵn bên trong. Hắn ngồi sau một chiếc bàn đặt trên nền đất. Một chai rượu trắng và một chiếc li để lổng chổng trên bàn. Thấy đám người Giáng La lục tục bước vào, hắn vẫn ngồi im nốc rượu.
Trong nhà kho, ánh sáng nhàn nhạt, mọi người chỉ thấy mặt Khánh và nghe rõ tiếng gầm gừ của con béc-giê trong góc nhà. Đàm ra lệnh, mọi người đứng quây quanh chỗ Khánh ngồi và cách xa chừng năm bước chân.
Nhờ đến gần Khánh, Phi mới nhận ra, đám lính đứng sau lưng Khánh, lăm lăm súng ống chĩa về phía đám người Giáng La.
Khánh đang ngồi khép chân dưới gầm bàn bỗng dạng háng, kêu lên:
- Ngó coi. Vui không?
Mọi người sởn gai ốc. Một cái hố đào ngay dưới gầm bàn và một cái đầu người nhô lên khỏi miệng hố, mặt hướng về những người Giáng La. Một cái đầu tóc tai bù xù, hai mắt mở thao láo, mặt mũi quắt lại như một trái thu đủ phơi héo. Khánh bật cười khanh khách khiến khung cảnh rùng rợn thêm. Không thèm cúi người, Khánh lấy mũi giày thúc vào mang tai người dưới hố, hỏi:
- Mày có nhận ra những ai không?
- Dạ, có!
Cái đầu lắc lư lên tiếng. Luyến sợ hãi nép vào người Phi.
- Tốt, con tê, mi nhận ra ai không?
Khánh xoi mói chiếu tướng Mười Lúa.
Đoán theo tình thế, giọng nói, chị đoán ngay ra Lê Vân. Nhưng chị lắc đầu.
Khánh cau có:
- Rồi tau giúp tụi bay nhận ra nhau. Lê Vân nghe hỏi đây?
- Dạ!
Lê Vân giọng đều đều, mắt nhắm nghiền.
- Ai cấp giấy chứng nhận cho thằng Phạm Tâm xuống vùng cát hoạt động?
- Dạ, chính con!
Sáu người trong chi bộ Hoàng Cẩn hiểu ngay, địch không bắt vu vơ. Phạm Tâm hi sinh, địch tìm thấy trong người anh giấy tờ hợp pháp, bèn truy ra Lê Vân, cơ sở của ta gài trong hội đồng hương chánh Điện Tiến. Chính với tư cách đó, Lê Vân đã cấp khá nhiều giấy tờ hợp pháp cho các đồng chí ta hoạt động.
- Ai sai mày làm điều đó?
- Dạ, Mười Lúa, vợ Bổn, cựu bí thư tỉnh ủy Quảng Nam. Ngoài ra đôi ba lần, Phan Li, Bát Lâm trực tiếp đến nhờ con…
Lê Vân khai chậm rãi, đầu ông ta ngọ nguậy trông dị dạng. Phi có cảm giác, nó mọc thẳng lên từ đất đen. Mười Lúa từ lo sợ đến giận dữ, khinh bỉ. Lão bị đòn dữ quá, khai hết trơn. Ba Đoát nhổ nước miếng trúng vào mặt Lê Vân.
Khánh làm ngơ như không thấy, bụng nghĩ: Tau giết Lê Vân đau một, tụi bây xâu xé giết nhau, đau gấp mười!
- Răng, con tê chịu không?
Khánh mỉm cười, nhấc li rượu lên. Đàm hiểu ám hiệu, bảo bọn lính đẩy mọi người lui lại, rồi tháo còng cho Phan Li, Mười Lúa rời nhau. Xong xuôi, chúng bẻ quặt hai tay Mười Lúa ra sau để Đàm đích thân lột truồng chị.
Mười Lúa giãy giụa, nhưng không cưỡng nổi. Mọi người không nỡ nhìn thân thể loã lồ của chị, quay mặt đi. Đàm quỳ xuống chân bàn, túm tóc Lê Vân lôi lên. Phi há hốc miệng, ông chú họ của Phi cũng trần truồng như nhộng. Trông ông ta thật quái dị, người đen nhẻm bụi đất và hôi hám. Ông ta ngoan ngoãn để mặc Đàm kéo tới, xô lui. Khánh hất hàm bảo Lê Vân:
- Tau cho mày chơi con tê trước mặt chi bộ Hoàng Cẩn. Chơi cho đúng điệu, tau tha!
Lê Vân đờ đẫn trong giây lát, rồi bất thần nhảy xổ vào Mười Lúa. Mười Lúa hoảng hốt nhảy lùi lại, miệng la to:
- Tỉnh lại đi, cậu Vân, cháu đây mà!
Tức trào nước mắt, cổ họng thắt lại, Mười Lúa không ngờ Lê Vân lựa đà xông tới lần nữa. Chị vớ ngay chiếc quần đen vất trên đất che khoảng ngực và lùi lại, giận dữ quát:
- Dừng lại, tôi đánh chết chừ!
Vừa nói, chị vừa quất túi bụi hai ống quần vào mặt Lê Vân. Lê Vân đưa hai tay lên đỡ, miệng thở hồng hộc và hơi né ra. Khánh thét:
- Nhào vô!
Lê Vân lấy hết sức lực còn lại, nhảy chồm chồm. Mười Lúa liệng chiếc quần đen xuống đất, chờ Lê Vân đến sát, chị dang tay tát thẳng cánh. Phi cúi gằm mặt, chết điếng.
Cái tát khiến Lê Vân xính vính và kiệt sức, ngã dụi xuống bàn. Lê Vân ôm lấy chân bàn, òa lên khóc nức nở. Cả căn phòng rộng rãi chết lặng, Khánh cười gằn:
- Cho Lê Vân ra. Còn con tê, mày chê lão già, tau cho chó xài!
Khánh dứt lời, con béc-giê trong góc nhà lao vút vào chị như một xẹt lửa. Mười Lúa chỉ kịp thấy cánh tay lạnh tê đã ngã ngoài. Ba Đoát bấm khẽ vào tay Phi và Luyến. Hai đứa hiểu ngay, anh muốn cứu chị Mười Lúa. Cùng lúc, ba người xông ngay tới chỗ con chó. Chỉ còn hai cánh tay của Phi và Ba Đoát tự do ôm lấy lưng con chó. Còn Luyến nằm đè trên lưng nó.
Khánh chưa kịp hiểu ra sao, con béc-giê đã xé toang một vành tai Phi. Ba Đoát ngoạm vào cổ con vật và nghiến răng cắn…
Bọn lính xô vào kéo được ba người ra. Con béc-giê tru tréo bỏ chạy, máu xối từ cổ nó ra thành vũng, ngay cạnh chỗ Mười Lúa đang nằm ngất lịm…
- Mày bao nhiêu tuổi?
- Mười tám.
- Mày làm văn thư đánh máy trong văn phòng huyện ủy Điện Bàn?
- Phải.
- Mày biết cơ quan bí mật của huyện ủy ở đâu chớ?
- Biết.
- Ở đâu?
- Ngoài gò mả.
- Đừng giỡn.
- Tôi không giỡn, ra gò mả tìm khắc thấy.
- Có bàn máy chữ không?
- Có.
- Giấu ở đâu?
- Ngoài bụi tre, ra nớ mà tìm.
Khánh không kiên nhẫn nổi nữa, hắn rời chỗ ngồi, chắp tay sau đít. Luyến mỉm cười nghĩ thầm. Mi giết được tau, nhưng tau chọc giận được mi. Ai thắng ai hả?
Bất ngờ Khánh rít lên:
- Mày không khai, tau giết cha mày chết tươi chừ!
- Cha có phận làm cha, con có phận làm con, – Luyến bình thản trả lời. – Mấy ông giết cha tôi, càng làm tôi phải sống đúng phận người con có hiếu.
- Cha mày hứa gả mày cho thằng Phi phải không?
Khánh quyết định thay đổi chiến thuật. Luyến choáng váng. Đến chuyện nớ mi cũng khai, Lê Vân, mi là con vật chớ không phải là người nữa!
- Phải. Nhưng ảnh không liên quan gì tới cha con tôi!
Vì quá thương Phi nên Luyến nói thêm nửa sau. Khánh mừng rỡ, tau biết chỗ hiểm nhất trên người mày rồi, tau sẽ đánh vô đó.
- Mày thương thằng Phi lắm phải không?
Phi không dám nhìn Luyến nữa. Cô gái mười tám tuổi ớn lạnh toàn thân. Thực thì chẳng đứa mô dám nghĩ đến chuyện còn sống để mà cưới nhau. Nhưng mình thương ảnh, mình muốn chết thay ảnh, ảnh phải sống để lo chuyện trả thù cho mọi người. Luyến lặng lẽ gật đầu.
Khánh tấn luôn:
- Răng mày không khai thiệt, tau cho hai đứa tụi bay cưới nhau liền?
- Tôi khai thiệt hoàn toàn. Văn phòng huyện uỷ ngoài gò mả, máy chữ giấu trong bụi tre.
Luyến nhắc lại một hơi. Khánh phì cười:
- Mày còn con nít lắm, con ạ, qua mặt răng được với tau! Tổ cha nòi cộng sản Giáng La, trăm đứa như một. Biết thứ chi đây không?
Khánh lượm thanh sắt cong queo từ dưới sàn nhà lên, dứ dứ trước mặt Luyến. Cô cười mỉm:
- Đồ yêu, gậy sắt chớ chi?
- Phi, lại đây!
Khánh túm lấy vai Phi, kéo cậu lại gần Luyến:
- Mày hãy nói cho vợ chưa cưới của mày hiểu, đây là lần cuối cùng tau hỏi. Không khai, tau nung đỏ thanh sắt ni và thọc lút qua chỗ tê tề…
Hắn phác một cử chỉ khả ố. Bỗng nhiên kết quả giội ngược lại điều hắn hi vọng, Phi và Luyến đang hoang mang cùng cực, nhưng khi thấy hắn bộc lộ bản tính thú vật đến trần truồng, cả hai người gượng lại được và bình tĩnh hơn.
- Mày sẽ thành một con đàn bà vô sinh, tuyệt đường con cái… khi tau cho cái ni đâm thấu qua!
Vuốt ve mớ tóc rối bù, khô bết lại từng đám máu của Luyến, Phi khóc nức nở:
- Luyến ơi, tôi thương Luyến quá. Không bao giờ tôi phụ bạc Luyến để thương người khác đâu Luyến ơi, coi như tụi mình đã cưới nhau rồi. Mai mốt thống nhất, tôi đưa Luyến ra Hà Nội chữa bệnh… Trời ơi, chỗ đó còn rỉ máu không Luyến? Tôi van Luyến, đừng đòi uống nước nữa. Luyến đòi, tôi không chịu nổi, sẽ đưa cho Luyến uống thỏa thích. Nhưng người mất máu nhiều, uống nước dễ chết lắm…
Phi nói liên miên không dám dừng lại, cậu sợ dừng lại sẽ làm Luyến nhớ lại câu chuyện khủng khiếp với cây gậy sắt và thằng Khánh.
Bụng dưới của Luyến sưng trướng lên, cậu không biết làm gì cứu chữa. Chỉ có hai đứa với nhau trong phòng biệt giam. Hôm qua, lúc sẩm tối, thấy Luyến nằm im, cậu tưởng Luyến chết, nên ôm chầm lấy cô òa khóc. Luyến giật mình, khẽ đẩy Phi ra và mỉm cười:
- Dị òm!
Bây giờ Luyến đang khóc vùi mặt trong lòng bàn tay Phi. Trong bóng tối, cậu không nghe, không thấy gì ngoài cái sống thoi thóp của Luyến. Chúng ta sẽ vượt tuyến ra Bắc, nghe Luyến. Luyến để mặc thân thể run rẩy trong vòng tay Phi.
- Thằng Phi mô, đi!
Phi làm ngơ không nghe thấy tiếng gọi của tên lính. Cậu đang quỳ gối bên Luyến. Máu từ cửa mình cô tiếp tục chảy và chen thêm chất nước vàng nhờ. Cô lên cơn sốt nặng, chiếc khăn tay ướt đẫm đắp trên trán Luyến, ít phút sau đã khô kiệt. Tên lính cáu kỉnh xô vào, kéo Phi đứng dậy:
- Tổ cha mày, điếc hả?
Phi trừng mắt. Tên lính sực nhớ, chân hai người xích chung một xiềng. Nó chạy trở ra một lúc, rồi quay lại hí hoáy mở xiềng cho Phi. Luyến đang thiêm thiếp. Phi không thể nói một lời từ biệt. Cậu gạt nước mắt theo tên lính. Tới quốc lộ 1, tự nhiên tên lính nói cộc lốc:
- Cút mẹ mày đi!
Nói xong, nó lật đật quay lại. Phi ngơ ngác chạy theo tên lính hỏi:
- Không, tôi không đi đâu hết. Sao anh phỉnh tôi?
Tên lính đang loay hoay đóng cổng, nghe Phi kêu, phì cười:
- Trời ơi, được thả thì dọt lẹ, còn kêu nỗi chi nữa, hả trời?
Phi sững sờ trên quốc lộ, không hiểu mô tê chi về cuộc phóng thích quái gở này. Nhưng chủ yếu, Phi nghĩ đến Luyến. Ai sẽ săn sóc, chuyện trò với Luyến? Nếu như vào tù là một bất hạnh, thì lần này ra khỏi tù là một bất hạnh còn lớn hơn đối với Phi. Cậu đập cổng nhà giam, la lối van vỉ. Tụi lính bên trong giương mắt ngơ ngác nhìn cậu. Chính chúng cũng không hiểu, vì sao thằng bé kia lại tha thiết ngồi tù đến như vậy?
Trước kia, mỗi lần đi học, Phi chỉ cắm cúi đạp xe không buồn ngó ngàng chi hai bên thị trấn Vĩnh Điện. Sau khi bị tống ra khỏi trại giam, lếch thếch đi bộ dọc thị trấn, Phi quan sát nó với thái độ khó chịu đượm chút thù địch và kinh ngạc. Thị trấn sầm uất hơn cậu tưởng nhiều. Nhà cửa mọc lên san sát và xuất hiện nhiều nhà lầu hai, ba tầng. Phần lớn mặt tiền những ngôi nhà ấy phủ đá gra-ni-tô và trên sân thượng, những cốt thép nhô lên tua tủa, báo hiệu rằng chủ nhân chúng còn dự định xây chúng cao thêm nữa. Những cửa hiệu đầy ắp hàng hóa, kể cả những mặt hàng ngoại quốc như vải vóc, xà-bông thơm, mĩ phẩm, đồ chơi con nít, đồ dùng bằng điện… Những cô gái bán hàng ăn mặc theo các mốt thời trang, phấn son diêm dúa, nước hoa thơm phức, ngồi sau các quầy gỗ, đon đả chào khách. Đó là các chi tiết hoàn toàn mới so với một thị trấn quê mùa miền Trung. Trên đường lác đác có những thanh niên cưỡi xe máy phóng vù vù. Khu vực bến xe thay đổi nhiều hơn cả. Những chiếc xe ca của các hãng vận tải Phi Long, Tiến Lực đậu thành nhiều dãy ngay ngắn. Những chú lơ xe nháo nhác, tranh nhau đón khách… Lưu lượng xe ra vào tấp nập. Rõ ràng Vĩnh Điện đã trở thành một đầu mối giao thông lớn. Họa hoằn mới thấy sót lại vài chiếc xe cũ kĩ, ậm ạch chạy các tuyến đường phụ Vĩnh Điện – Ái Nghĩa, Vĩnh Điện – Phong Thử. Còn hầu hết là xe mới, mang mác của Mĩ, Tây Đức, Nhật…
Phi nghĩ thầm, dân thị trấn nhởn nhơ thế kia, làm sao còn thì giờ để chú ý đến cái trại giam khủng khiếp nằm ngay giữa thị trấn của họ? Trời đất, cô gái mặt bự phấn kia có biết rằng, cách cô ta vài trăm mét, có một cô gái Giáng La đang quằn quại với vết thương rỉ máu nơi bộ phận thiết yếu nhất của người phụ nữ không? Cả một thanh sắt cong queo như một cây ma-ni-ven đỏ rực, đâm lút vào da thịt trinh trắng, non tơ của một thôn nữ dễ thương!
Với tâm trạng ấy, Phi chán ghét tất cả những gương mặt đang tươi tỉnh, thản nhiên của người qua, kẻ lại.
Lúc đầu, Phi có ý định ghé qua nhà Kiếm, nhờ Kiếm lấy xe đạp chở mình về Giáng La. Tự dưng bây giờ Phi tần ngần đứng nhìn Bến Đá, nơi những chiếc ghe chở đá chẻ từ Quế Sơn xuống bán cho dân Vĩnh Điện, đang đậu san sát.
Ngay bên cạnh nhà Kiếm, một xưởng cưa lớn mọc lên. Hồi trước, Phi không thấy xưởng cưa này, vậy là nó mới mọc lên trong lúc cậu ngồi tù. Không biết xưởng cưa của ai? Phi tò mò nhìn đám thợ đang làm việc trong xưởng. Bỗng cậu thấy cha Kiếm đi lại tất bật, hình như ông đang ra những mệnh lệnh nào đấy và đám thợ răm rắp thi hành. Trông gương mặt ông có vẻ mãn nguyện, đúng điệu một ông chủ mới.
Phi cười mỉa mai một mình. Trong lúc dân Giáng La chết chóc, ngồi tù, người ta đã kịp kiếm biết bao nhiêu lời lãi nhờ bợ đỡ tân chế độ. Cứ đà này, mai mốt dân Giáng La sẽ bị quét sạch khỏi mặt đất, còn những người như ông Hào, cha Kiếm, sẽ có đủ thời giờ và vốn liếng dựng cả những lâu đài. Khi đã ngồi trong lâu đài rồi, họ chỉ thích nhìn những cảnh ngoạn mục… Và bởi vậy, họ sẽ cấp tiền cho chính phủ xây cất những nhà tù dưới hầm sâu để khỏi vướng mắt họ!
Phi quyết định bỏ đi. Không nên bắt con ông chủ nhà máy cưa đèo một tên tù, kẻ thù của cái chế độ, mà nhờ nó, gia đình Kiếm thành gia đình ông chủ. Phi cay đắng thầm nghĩ và lết đi dưới ánh nắng gay gắt, chói chang của mùa hè…
- Nè Phi, anh em mình trên nớ răng?
Lê Vân gần như quỳ lết phía cuối chân giường. Phi vẫn nằm quay mặt vào vách. Mắt ông ta lấm lét vô hồn. Lúc nghe cha khinh miệt báo tin Lê Vân tới thăm, cậu định bảo cha đuổi ông chú họ ra khỏi nhà. Nhưng ông ta đã ngồi thụp xuống đất, ôm lấy chân Phi mà nghẹn ngào, Phi không đành lòng…
Cậu miễn cưỡng quay lại. Trời ơi, Lê Vân vẫn giữ nguyên bộ dạng lúc thằng Khánh túm tóc ông lôi lên khỏi miệng hố. Chỉ khác một chút, ông ta mặc chiếc quần đùi cũn cỡn, che không hết nổi đôi bắp vế đen đúa, gầy nhom.
- Đằng mô chú cũng chết. Chết trần ai, bằm giặp, Phi ơi. Nội hai ống quần đen của Mười Lúa quất lên mặt chú, cũng đủ giết chú rồi. Sống thù, chết bạn, Phi ơi. Chết là hết, cả thù lẫn ơn, cả tiểu nhơn, anh hùng lẫn con chó. Chuyện ri kể không ai tin. Quận trưởng Lung mời chú lên nói chuyện. Ổng hỏi: “Ông còn gì để khai với cảnh sát và đoàn bình định nữa không?” Chú biểu. “Hết trơn rồi. Tôi đã khai tới chuyện Phan Quyên hứa gả con gái cho thằng cháu họ tôi rồi mà.” Ông Sáu thở dài. “Vậy thì ông sẽ chết.” Chú cười hắt ra. “Dạ. Thằng Khánh sẽ giết tôi!” Sáu Lung lắc đầu. “Không, tôi hiểu thằng Khánh hơn ông.” Quận trưởng cười như mếu. “Với lại, tôi nghiệm từ tôi ra, hạng người như chúng ta thường do nỗi hối hận, giày vò mà chết!” A, hạng người phản trắc không phải chỉ có một mình chú đâu nghe, Phi.
Lê Vân cười man rợ, đắc chí. Mặt ông ta nhăn híu vì chính nụ cười ấy và ông ta kể tiếp:
- Quận trưởng thở dài: “Thực ra không phải mình ông xông vô người đàn bà trần trụi ấy theo lệnh thằng Khánh mà chính cả tôi nữa, ông Lê Vân ạ! Người ta ra lệnh cho chúng ta xông vô cắn xé, hiếp dâm bà con, anh em mình như những con chó. Chúng ta không theo đạo Thiên Chúa nên không có đức cha rửa tội. Nhưng chúng ta cũng có thể rửa tội nhờ những con người vốn cũng trần tục như chúng ta, nhưng niềm kiêu hãnh, lí tưởng của họ đã nâng họ lên thành vị thánh!”
Cái lối kể chuyên miên man mà lại khúc chiết ấy của Lê Vân, khiến Phi có cảm giác ngờ ngợ.
Ông ta đang trong tình trạng hấp hối. Phải, kẻ hấp hối bừng tỉnh trong giây lát, nhớ lại tất cả những gì cần nhớ nhất, những ấn tượng u ám hoặc những hạnh phúc một đi không trở lại.
- Lính hầu đẩy một người đàn ông lảo đảo bước vào phòng. Tôi nhòm qua khe cửa nhận ra Phan Quyên ngay. Người ông Quyên nẫu nuột như một trái chuối chín ủng, duy đôi mắt còn sáng ngời ngời. Quận trưởng mời Phan Quyên, rồi nói luôn một hơi:
“Bữa nay chúng ta gặp nhau lần cuối cùng. Ông sẽ bị giết mà tôi cũng bị cách chức. Xin ông nghe tôi. Lúc mới ngồi tù trên Tiên Hội, tôi oán hận ông biết là chừng nào. Nhưng việc đó không liên quan đến việc tôi chịu nhận chức vụ hiện nay. Chủ yếu, tôi không muốn làm một lưỡi dao để người khác nắm chuôi và tôi không muốn trở thành kẻ đối đầu trực tiếp với ông anh rể tôi, ông biết ông Ba Thư chớ?” Phan Quyên im lặng gật đầu. Quận trưởng lén đưa tay chùi nước mắt. “Anh Ba bị chặt đầu trên máy chém và tính mạng thằng con ảnh bị đe doạ, buộc tôi cắn răng chịu nhận chức quận trưởng Điện Bàn để cứu nó.” Quận trưởng bưng mặt khóc tức tưởi. “Tôi cứu được một đứa cháu ruột thì tôi lại nhúng tay vào máu của bao nhiêu kẻ khác, trong đó có máu của ông và con gái ông! Vết nhơ này chẳng bao giờ rửa sạch. Sau này, giả dụ tôi lập công to mấy với các ông, các ông có thể tha thứ cho tôi, nhưng lương tâm tôi đã trót mang án tử. Nỗi oán hận ông trở nên quá nhỏ bé so với mặc cảm tội lỗi của tôi. Tôi sẽ làm tất cả những gì thuộc sức tôi, trước khi tôi bị đuổi khỏi quận này. Dĩ nhiên tôi không đủ quyền kí lệnh thả ông, xin ông hiểu giùm tôi. Còn bí mật thả ông, cả nhà tôi sẽ bị giết…”
Các vai tuồng lộn xộn quá trời! Quận trưởng thì van nài, Phan Quyên thì an ủi ông ta:
“Tôi hiểu ông. Nhưng không có chuyện mặc cả ở đây. Chính nghĩa nhất định thắng, phi nghĩa nhất định thua. Đối với cá nhân tôi, việc sống chết không có gì lạ. Nhưng tôi biết có nhiều người bị các ông giam giữ trái phép. Ông phải thả họ ra. Chẳng hạn chú bé Phi, mười sáu tuổi, học sinh, đang đi trong làng, lính các ông vô cớ bắn cậu ta bị thương, rồi bắt nhốt mấy tháng nay.” Quận trưởng mừng rỡ kêu lên: “Dạ, tôi biết trường hợp này. Tôi sẽ kí lệnh thả cậu bé ấy!”
Phi sực hiểu lí do của việc mình được phóng thích một cách bí ẩn.
Vẫn giọng đều đều, Lê Vân kể tiếp:
- Quận trưởng ghi chép chi đó vô một cuốn sổ đặt trên bàn, rồi quay lại nói với ông Quyên: “Cũng xin nói để ông rõ, người thay thế tôi là một nhân vật có hạng trong Trung ương Cần lao – Nhân vị, hình như có họ hàng gì đó với bà cố vấn. Điện Bàn được người ta chú ý lắm. Tôi nói vậy, chắc ông hiểu!” Rứa là hai người chia tay nhau.
Lê Vân nuốt nước miếng ừng ực, ngưng kể. Ông ta cầm li nước lên uống một hơi, rồi đặt li xuống chõng:
- Còn chú về làng, tới đầu chợ Phong Thử, người quen kẻ thuộc thấy chú như không thấy, ngó lơ chỗ khác. Còn lũ trẻ chăn trâu thấy chú lò dò trên đàng, bèn hò la chạy xung quanh chú: Đi mô thì đi, không cho vô làng nữa! Rồi chúng ném gạch đá, xua đuổi chú. Giáng La có quyền cấm cửa một thằng khốn nạn như chú, nhưng thằng khốn nạn đó lại không có quyền chết trên đất lạ. Thôi, chú nói chừng nớ phỉ rồi. Mai mốt chú chết, xin cháu thương tình thắp cho chú một nén nhang, nghe Phi. Một nén nhang độc nhất của Giáng La trên mộ Lê Vân!
Lê Vân lủi thủi đứng dậy, không chào hỏi, không nhìn ai, đầu cúi gập xuống bước đi.
Sau đó mấy bữa, có người Giáng La lên thị trấn về kể lại: Tân quận trưởng Điện Bàn, Trần Quốc Thái trói Phan Quyên dưới trụ cờ trong sân quận đường, phơi nắng.
Lê Vân nhịn ăn, lẳng lặng ra cuối chợ Phong Thử, cũng tự trói mình phơi nắng. Dân đổ xô lên quặn đau xót nhìn Phan Quyên trơ trơ dưới nắng. Không ai buồn để ý đến Lê Vân đang khô quắt đi.
Đàm không can thiệp, bỏ mặc Lê Vân tự sát chậm rãi. Âu cũng là bài học cho tụi mô muốn tập tễnh tiếp tay cho cộng phỉ. Đàm nghĩ thế và nó là kẻ duy nhất đến chỗ Lê Vân phơi nắng. Không biết nó nói gì với Lê Vân, chỉ thấy ông ta mắt nhắm nghiền, tóc xơ xác dựng đứng lên như đám cỏ lau bạc trắng…
Cùng ngày Phan Quyên hi sinh dưới nắng, Lê Vân rũ xuống chết.
- Quận trưởng ngu dễ sợ mi ơi, tưởng phơi nắng Phan Quyên để nhát dân Vĩnh Điện. Ai ngờ người ta kéo về coi mặt ổng, đông cách chi, ổng gan dễ sợ, mỗi ngày một khô héo, đen sạm, nhưng đôi mắt ổng sáng trưng. Dân tấm tắc kể chuyện ổng, vừa thương vừa trọng: Cộng sản ri, sức mấy quốc gia thắng nổi họ. Đến thằng Sanh nhát như thỏ đế, cũng bắt tau dẫn lên Vĩnh Điện ngó ông Quyên. Còn chuyện mi bị bắt, cả lớp xôn xao. Thầy Lưu thương mi, cũng chỉ biết thở dài. Thằng Công nói oang oang: “Ngó nước da thằng nớ, tôi biết ngay, cộng phỉ nằm vùng chớ chi!” Tau gây sự tính đánh nó, thằng Sanh dật dờ không cho. Tau giận quá biểu Sanh: “Mi ức lấy con Băng Sương, em thằng Công lắm hả?” Sanh giận tau luôn, không thì nó đã cùng tau đến thăm mi bữa nay. Buồn quá, có lẽ mai mốt phải thỏa hiệp với thằng Sanh… A, Nguyễn Hữu cút khỏi Hội An rồi, lão được phong chức chi to lắm ở Huế, có xe hơi Huê Kì lận… Nè, em gái út thầy Lưu mới lấy chồng, thằng Hàn đó!
Phi lơ đãng theo dõi câu chuyện huyên thuyên của Kiếm. Tâm trí cậu còn vướng bận mối lo sợ cho Luyến. Không biết vết thương hiểm nghèo đó đã lành chưa? Liệu tụi nó có bí mật thủ tiêu Luyến không? Biết ai mà hỏi bây giờ? Nằm tù hết trơn, cô Mười, anh Ba, bà Bát Lâm, ông Phan Li… Chú Quyên chết rồi.
Thầy Lưu trở nên xa lạ với cậu. Phi không hiểu những gì Kiếm nói với cậu nữa. Nhất là khi cậu nghe tin thằng Hàn, phó trưởng đoàn bình định đã trở thành em rể thầy Lưu. Tự nhiên Phi thấy ghê sợ cả thầy Lưu…
Chớm đông. Mùa đông thứ ba chết chóc, lạnh lẽo. Hàng tre gai bao quanh Cồn Mả rụng lá xơ xác. Lần này chắc xa Giáng La lâu lắm. Phi lựa chỗ ngồi bên hông xe đò để có thể nhìn tất cả mà từ giã.
Tôi thương Luyến quá Luyến ơi. Tôi sẽ không bao giờ phụ bạc Luyến, đem lòng thương một người con gái khác đâu…
Phi thầm nhắc lại lời ấy. Số phận bao nhiêu con người trôi giạt trong làn sóng khủng bố trắng. Bao nhiêu nấm mồ vô danh mọc lên, bao nhiêu người chết bờ, chết bụi, chết đau đớn trong những trại giam trá hình. Bao nhiêu người lên xanh, bao nhiêu người vượt tuyến ra Bắc. Không biết, rối bời, mờ mịt như những lớp sương mù đục trắng, dăng dăng dưới chân núi Bồ Bồ và xa hơn chút nữa, Gò Nổi hiện lên lờ mờ những biển dâu tàn úa…
Đêm qua, quá gà gáy, Ba Đoát lết vào tận chỗ Phi đang thao thức. Choàng dậy như trong giấc mơ:
- Trời, anh Ba!
- Khoan hỏi. Xế chiều mai mi phải có mặt tại Đà Nẵng!
Phi véo mạnh vào cánh tay để biết chắc không mơ. Ba Đoát hiện về từ chỗ nào vậy? Từ địa ngục hay âm ti?
Ba Đoát bình thản hỏi:
- Mi biết chỗ mấy cái nhà ngói lụp xụp dưới chân bồn nước Ngã Năm chớ?
Gật đầu, ai dám tin, cái miệng của con người kia đã từng cắn đứt cổ họng một con chó béc-giê.
- Nhớ mang theo một số cơm vắt. Tỉnh rụi đừng để ai nghi ngờ.
Ba Đoát đột ngột đi như đột ngột đến.
Gần sáng, Phi thức dậy, nói với cha và dì:
- Dì vắt cơm cho con, chừ con ra Đà Nẵng kiếm việc làm!
Cha và dì luýnh quýnh chuẩn bị cho con đi…
Đi giữa Đà Nẵng, qua những quầy hàng lắp kính, Phi đi chậm lại một chút, tự ngắm mình. Áo rách bươm, túi vải đeo bên hông đựng vài vắt cơm, quần cụt để lộ ra đôi chân đầy thẹo. Ngang qua biệt thự Mô-ranh, nhớ anh Li lạ lùng… Giá được gặp anh Li? Giờ này chắc thằng Hải đã trở thành một tên biệt kích, hoặc một Thanh niên Cộng hòa dữ dằn, hung hăng và khát máu.
Từ thời Pháp, Đà Nẵng đã có vẻ một trại lính hơn là một thành phố. Đâu đâu cũng đông nghẹt lính tráng, đủ mọi sắc phục loang lổ. Xe nhà binh chạy như điên, còi hú inh ỏi như cháy nhà.
Bỗng cảnh sát chặn ngay ngã tư Quang Trung – Phan Châu Trinh, bắt mọi người phải rẽ xuống phía sông Hàn. Đám đông ùn lại bàn tán xôn xao. Phi chen vào giữa, nghe câu được câu mất:
- Họ bắt ông thầy này có vẻ gì mờ ám quá!
- Chắc lại cộng sản nằm vùng?
- Thời buổi chi kì lạ, hễ ai nói chi trái tai đều ghép vào tội “cộng sản nằm vùng”. Ông là con cựu tỉnh trưởng Hoàng chớ ai vô đó, mà cộng sản với không cộng sản?
- Trước khi về dạy trường Phan Châu Trinh, hình như ổng đứng bán hàng trong phạc-ma-xi Đà Nẵng. Ổng đàng hoàng, tử tế chớ không như mấy người khác, thấy dân nhà quê ra bịp họ, chém họ phải biết!
- Nè, có người bảo ổng bị bắt vì tội là gián điệp cho Hà Nội?
- Tam sao thất bổn, biết đâu mà tin!
- Dân Hội An còn đồn, anh trai ổng giả đò chết đuối, bà mẹ đóng kịch thuê dò tìm xác con. Thực ra người này vượt tuyến ra Bắc!
- Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an. Chớ như ổng, cương quá khắc gãy. Đó, em trai ổng, biết thân biết phận ra khai thiệt hết với quốc gia, lại chịu đứng giữa hội trường Trưng Vương, tuyên bố li khai Đảng. Quốc gia đâu có hẹp lượng.
- Đứng ngoài thì dễ ăn dễ nói lắm. Phải là người trong cuộc kia. Em trai ổng đau tim mới yếu đuối nhu nhược như vậy chớ…
- Nè, ăn nói giữ gìn một chút nghe, cha nội.
- Không biết cụ dân biểu Hoàng đã hay tin này chưa?
Càng nghe Phi càng hoang mang, không lẽ người ta đang nói chuyện thầy Lưu. Mà thầy Lưu đâu có bán hàng thuốc tây. Không lẽ, thầy Vi…?
Bỗng nhiên đám người càng nhốn nháo, khi một bà cụ tóc bạc phơ lăn ra giữa đường nhựa khóc thảm thiết:
- Con tôi chết oan ức quá, trời ơi!
Mấy gã cảnh sát hấp tấp vây quanh cụ và kêu một chiếc xích-lô. Chúng định dìu bà cụ lên xe. Bà cụ vùng vẫy càng la lớn:
- Mấy ông giết con thì cũng phải để mẹ khóc con chớ? Trời cao đất dày, con tôi chết oan lắm, bà con ơi!
Có người nào đó nói sát tai Phi:
- Mẹ đẻ ổng đó, còn cha ổng sống với bà nhỏ ở Hội An.
Cuối cùng cảnh sát cũng bồng được bà cụ lên xe. Bà cụ lả đi, mồ hôi ướt đầm vầng trán nhăn nheo.
Phi không có cách nào hỏi cho rõ chuyện, hơn nữa, đã tới giờ hẹn gặp Ba Đoát, cậu đi quành xuống đại lộ dọc sông Hàn.
Giáo sư Lưu đã mấy lần xin nhân viên bưu điện cho mẫu điện tín in sẵn. Chưa kịp viết xong nội dung bức điện gửi cho cha đang họp quốc hội tại Sài Gòn, nước mắt giáo sư Lưu đã làm nhoè hết dòng chữ:
“Vi arrêté, mort injuste!”[2]
Dồn dập trong mấy tháng, bao nhiêu thảm kịch trút lên mấy anh em ông. Cô út (với sự yểm trợ tích cực của cựu tỉnh trưởng Hoàng) đòi lấy bằng được một cán bộ “cựu kháng chiến” nay đã về đầu hàng, làm tới chức phó đoàn bình định quận Điện Bàn. Người đàn ông phản trắc này mua thù, chuốc oán với bao nhiêu người đã đành, nhưng cái chính, mấy anh trai cô út không chấp nhận cuộc hôn nhân này là vì lí do khác. Họ sợ nhất việc thiên hạ dị nghị: mấy đứa con cựu tỉnh trưởng Hoàng ham sống sợ chết, gả em gái cho một thằng phản bội kháng chiến để chiếm lòng tin của quốc gia. Chưa xong nỗi nhục đó, thì Quang, em trai kề ông, mắc chứng đau tim nặng, bản chất vốn yếu đuối, cầu an, chịu khuất thân đầu thú chính quyền. Và trong cuộc mít-tinh giữa hội trường Trưng Vương, Quang đứng ra li khai Đảng.
Tiếp theo là cái chết kì dị, đột ngột của Thắng, anh kề Vi (chính ông cũng không biết rõ, Thắng chết thật hay chỉ đóng kịch để vượt tuyến). Đã lâu, mỗi người một hoàn cảnh, nên mấy anh em ông không hề gặp nhau. Gia đình tan tác như bầy kiến sau một cơn bão lớn…
Ông đặc biệt bàng hoàng khi nghe tin Vi bị bắt và bị công an giải ngay ra Huế. Trong mấy anh em, ông nể trọng nhất chú Vi. Chú sống rất tình cảm, nhưng cũng rất cứng rắn. Chính chú Vi mềm mỏng, thuyết phục cha thành khẩn với cách mạng khi cách mạng bắt cựu tỉnh trưởng Hoàng lên Tiên Hội. Chính chú Vi thường xuyên tới lui thăm cha, khi ông ngồi tù. Nhưng cũng chính chú Vi, từ chối mọi sự dựa dẫm vào uy thế dân biểu của cha để kiếm công ăn việc làm và sống yên thân với những chiến dịch tố cộng. Còn ông, ông công phẫn, đòi dứt bỏ tình cha con ngay khi tỉnh trưởng Hoàng, cha ông, bị bắt, nhưng chính ông lại muối mặt nhờ cha che chở để trở về Hội An dạy học… Đó là lí do khiến sau này ông ngại gặp mặt chú Vi. Nhưng ông vẫn luôn theo dõi những dấu hiệu không lành về chú Vi trong trường Phan Châu Trinh.
Vi thường xuyên tổ chức những buổi phát thanh đặc biệt, ca ngợi kháng chiến, ca ngợi Cụ Hồ. Không những từ chối hợp tác với bọn “Mùa lúa mới”, Vi còn viết báo chửi bọn Võ Phiến trở cờ… Vi quyên tiền giúp đỡ những gia đình cựu kháng chiến gặp khó khăn. Và giảng giải tác phẩm “Lục súc tranh công” theo lối: Kêu gọi đoàn kết chống kẻ thù, chia rẽ là tự sát. Không những thế, Vi còn lên án thái độ chạy trốn hèn nhát của các trí thức kiểu Tú Uyên trong “Bích Câu kì ngộ”…
Chỉ cần những điều đó cũng đủ làm bọn Cần lao – Nhân vị muốn thanh toán chú ấy rồi. Bởi vậy, khi Quang ra Huế nhận xác Vi, về thuật lại: Bọn cai ngục trong lao Thừa Phủ vu cho chú Vi thắt cổ tự sát, xem kỹ lại thấy phòng giam chú Vi chỉ có bốn bức tường bê-tông nhẵn thín, không có lấy một ô cửa sổ, chú móc dây vào đâu mà treo cổ? Hơn nữa người chết vì thắt cổ, lưỡi phải thè ra chứ, đằng này miệng chú Vi gãy hết răng cửa, người đầy thương tích, bầm tím… Rồi bọn nó tính bắt chôn xác chú Vi ngay dưới chân Ngự Bình, chứ không cho mang về Quảng. Rõ ràng chú Vi bị giết!
Giáo sư Lưu như lên cơn sốt. Thương em và nhục nhã, đó là hai tình cảm trái ngược, giày vò tâm hồn ông. Ông não nề rời khỏi nhà bưu điện thành phố…
- Thầy!
Giáo sư Lưu không nhận ra ngay Phi. Ông thẫn thờ đưa chân theo thói quen, lết dọc bờ sông Hàn. Phi nắm tay ông thật nhẹ, giọng hổn hển:
- Thầy tha lỗi cho con. Vĩnh biệt thầy!
Ông đứng sững lại, mắt nhòa lệ:
- Chú Vi chết rồi, con ơi, con cứ đi đi. Chúc con mạnh giỏi!
Và gần như ông chạy trốn đứa học trò yêu nhất của ông…
Trên đường về với bà mẹ già, ông lảm nhảm một mình không rõ tiếng. Ta đánh điện cho cha ta làm gì nhỉ? Để ông ta thương hại, hay để ông ta bênh vực chú Vi? Nếu ông ta thương hại thì thật là xúc phạm vong linh chú Vi. Còn bênh vực ư, không bao giờ có chuyện hão huyền đó. Nghĩ cho cùng, ông ta và anh em ta đã theo hai con đường khác nhau. Cựu tỉnh trưởng thời Pháp, dân biểu thời Diệm, rõ lắm rồi, ông ta luôn luôn chọn vị trí đối lập với anh em ta. Có chăng với chút tình cha con còn sót lại, ông ta sẽ nhỏ vài giọt nước mắt khóc chú Vi. Nhưng người trả thù cho chú Vi phải là ta, chứ không phải là ông ta.
Bỗng nhiên, giáo sư Lưu muốn tức khắc quay lại nhà bưu điện, yêu cầu họ hủy ngay bức điện ông vừa gửi vào Sài Gòn. Và chắc chắn nhất điều này, chính cái chết oan khuất của người em trai đã mở cho giáo sư Lưu một lối thoát. Ông lẳng lặng bước vào ngôi nhà mẹ đẻ của ông, nơi chú Vi sống trước khi bị giết.
Bà mẹ khóc nhiều đã khản tiếng, nằm vật trên giường, quay mặt vào vách. Ông lẳng lặng bước tới bài vị em thắp ba nén hương rồi khấn thầm:
- Anh sẽ trả thù cho em!
Ba Đoát chờ sẵn dưới tháp nước. Thấy Phi, Ba Đoát cau mày:
- Răng trễ rứa?
Phi không trả lời. Ba Đoát lầm lũi khắc khổ quá. Tránh những lối chính, hai anh em đi loanh quanh một thôi tới bến cá Thanh Bồ. Phi ngạc nhiên. Khu công giáo di cư khét tiếng chống cộng. Tới đây làm chi?
Tiếng chuông ngân nga trong buổi chiều tà kéo dài cái âm hưởng lê thê não nùng của nó. Trời đất, Ba Đoát leo lên cái ván cầu bắc ngang qua con tàu gỗ nhỏ làm chi? Phi đứng tần ngần nhìn xuống, Ba Đoát giơ tay ra hiệu, Phi đành đặt chân lên ván gỗ bập bềnh. Dưới tàu có sẵn mươi lăm hành khách. Ba Đoát dẫn Phi về sau lái, nơi một ông già khắc khổ đang ngồi trầm ngâm hút thuốc. Ông già ngắm nghía Phi một lúc, rồi thở dài:
- Hai anh em vô trỏng nghỉ. Ra ngoài kia hãy kể chuyện cha con Phan Quyên.
Nửa đêm tàu nhổ neo. Vừa ra khỏi vùng biển Liên Chiểu đã gặp sóng to. Con tàu nhỏ khi trồi, khi sụt giữa sóng gió đại dương. Ba Đoát đứng sừng sững trước mũi tàu quay mặt về phía bờ, nói như khóc:
- Xa Giáng La rồi Phi ơi, biết hồi mô trở về?
❀ ❀ ❀
[1] Cách gọi tắt chủ nghĩa Trotsky.
[2] Vi bị bắt, chết oan ức (tiếng Pháp).