Học Phí Trả Bằng Máu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nghĩa Trang Ngư Phủ
Nghĩa Trang Ngư Phủ

❊ ❊ ❊

Biển, biển, tất cả đều là biển!

V. HUY-GÔ

Hành khách say sóng nằm la liệt trong khoang tàu chật hẹp. Ba Đoát, chàng nông dân Giáng La, lần đầu tiên ra biển, kinh hoàng mỗi khi gió đổi chiều, con tàu lại kêu lên răng rắc như sắp vỡ toác đến nơi. Anh bỏ dở câu chuyện, để mặc ông già tài công ngồi sau lái, lần tới chỗ Phi trong khoang tối om.

Phi hỏi nhỏ:

- Ông già ấy là chủ tàu hả anh?

- Không, – Ba Đoát nhăn nhó trả lời, anh bắt đầu thấy cuống họng ngứa ngáy, chực nôn oẹ. – Làm mướn thôi, chú vợ ông Quyên đó. – Anh cố chống tay ngồi xổm cho khỏi nằm vật xuống sàn. – Sau khi nói chuyện với quận trưởng Lung đòi thả mi, ông Quyên ra lệnh cho tau vượt ngục và dẫn mi vô Sài Gòn, tìm một người Giáng La ở trỏng. Rồi tau sẽ kể cho mi nghe sau. Ổng còn cho tau địa chỉ ông già nớ. – Ba Đoát đưa tay chỉ về ông già cầm lái. – Phải chi mấy ổng đừng có chủ trương buông súng, tình thế không đến nỗi bi đát như ri. Chừ không cho đánh, tau cũng đánh, đánh rồi chịu kỉ luật cũng đánh. Có súng là xong hết trơn mọi chuyện!

Phi dửng dưng nghe Ba Đoát nói chuyện cầm súng giữa biển cả nổi sóng và con tàu dập dềnh. Cậu mải ngó ông già khoác áo tơi ngồi một mình sau lái. Mái tóc bạc phơ sũng nước mặn, mưa như những tia chớp điện lóe sáng, quất lên thân hình bất động của ông già. Ngó ông già cô đơn và tuyệt vọng. Nhưng số phận con tàu vỏ trấu lại nằm trong tay con người ấy. Chỉ cần ông già nóng nảy muốn con tàu cắt xéo qua sóng mà đi, cơn động biển kia sẽ vặn toác con tàu làm hai mảnh và chìm lỉm. Còn nếu thối lui, kết cục cũng tương tự. Vẫn cứ phải nhìn thẳng vào biển chết tìm lối sống, lựa tay lái khôn khéo dò theo. Lúc này trao cây súng cho Ba Đoát ích chi? Anh có bắn tan được cơn bão bằng cây súng của anh không?

Phi mỉm cười nhìn Ba Đoát nằm sóng soài, mắt nhắm nghiền thiểu não.

Nữ hành khách bên cạnh Phi bắt đầu sợ chết, ân hận vì đã chọn chuyến đi mạo hiểm này. Lúc mới xuống tàu, cô xinh tươi, hồn nhiên bao nhiêu thì bấy giờ cô phờ phạc, run rẩy bấy nhiêu. Và cô khóc rấm rứt.

Ba Đoát bực bội nói khẽ:

“Biểu con nhỏ kia thôi đi. Đàn bà khóc xui thấy mồ!”

Phi không để ý tới yêu cầu của Ba Đoát. Đối với cậu, giờ đây trên con tàu, chỉ duy nhất mối giao cảm giữa cậu và ông già cầm lái kia làm cậu quan tâm. Ông già có vẻ đang kiệt sức, người mỗi lúc rạp xuống cần lái sát hơn. Sóng ào qua, nước mặn tràn vào con tàu. Đám tài công tát nước không ngơi tay. Tàu chạy chậm hẳn lại…

Cho đến khi biển tối sầm. Bầu trời như sà xuống chạm phải những ngọn sóng hung dữ. Phi hình dung ra mức độ và kích thước của tai họa đang tới. Phi cũng không nghe thấy tiếng khóc thút thít của cô gái. Gió cuồn cuộn từ những khoảng không trống rỗng lao vào những vách đá dựng đứng và rít lên. Gió thổi mạnh khiến nước mắt giàn giụa trên má Phi. Cậu cố gắng lắng nghe, ngoài tiếng sóng gầm thét còn tiếng động gì nữa báo hiệu: sự hiện hữu chưa bị dìm xuống đáy biển? Phi ao ước nhóm được một đống lửa sưởi ấm cho ông già cầm lái khỏi tê cóng. Bất giác cậu nghiêng tai nghe, chỉ nghe thôi, may ra có tiếng gà gáy xôn xao. Một nỗi xao xuyến khiến Phi rời rã. Tất cả những gì thân thiết nhất đều nằm lại trên bờ, trong ngôi làng Giáng La. Còn dưới con tàu, chỉ mình ông già láng máng biết lai lịch của anh em cậu. Mà ông già cũng cô đơn âm thầm như Phi. Ông già không được chia sẻ với bất cứ ai cái gánh nặng: lèo lái con tàu ra khỏi cõi chết. Ông già cũng không có ai để bàn bạc, để xin một lời khuyên. Tự ông phải giải quyết tất cả trong khoảnh khắc. Giữa số hành khách, một người đàn bà cố ngóc đầu, tay lần chuỗi tràng hạt, miệng lầm rầm cầu nguyện. Có lẽ bà đang tụng kinh cầu an. Ngay cả trong ý nghĩ thầm kín, Phi cũng không nỡ chế giễu người đàn bà ấy.

Lòng cậu tràn ngập niềm thương hại. Đã hơn một lần, Quán Thế Âm Bồ tát đại từ, đại bi bỏ mặc không che chở cho cô gái mười tám tuổi khi cây sắt còng queo đỏ lựng, đâm thấu qua da thịt son trẻ của cô, trúng chỗ hiểm nhất.

Và bây giờ, cái bà Bồ tát ấy cũng sẽ bỏ mặc con tàu chìm lỉm giữa đại dương mênh mông này. Nhưng nếu con tàu cập bến bình yên nhờ sự can đảm, tận tụy của đám tài công, bà ta sẽ ló mặt ra tranh công cho mà coi. Thật dối trá và tàn nhẫn kinh khủng!

Phi lần theo be tàu đến bên ông già. Ông già khó nhọc mỉm cười với cậu. Những tài công chúi đầu lo tát nước, còn hành khách núp trong khoang tàu. Một mình ông già cảm thấy cô độc. Có Phi ông già đỡ tủi.

Bỗng nhiên Phi nhận thấy vẻ đẹp chất phác và cương nghị của ông già khi những loạt sóng hung hãn lừ lừ chạy tới, vặn thân tàu răng rắc. Con tàu lảo đảo. Ông già ghì chặt cần lái, dường như người ông mọc ra liền với nó.

Biển hắt lên mặt họ những giọt nước mặn chát, nóng hổi và tanh nồng, ông già không lạ chi hiện tượng đó. Nước biển nóng và tanh đột ngột, báo hiệu một cơn bão đang đến, gần lắm rồi. Sóng tràn qua, vài con cá giãy đành đạch trên sàn tàu. Những đàn chim biển dìu nhau về những cù lao xa mờ trốn bão. Chợt nhận ra con tàu nhỏ nhoi đang dập dờn trên sóng, có chú chim biển trông lầm thành nơi nương náu. Chú bèn tách khỏi đàn, sà xuống. Sóng đánh dạt con tàu, chú giật mình bay lên. Cả đàn đã bay xa tít, con chìm lìa đàn bay hoang mang giữa biển trông thật tội…

Mới lúc nãy bầu trời hãy còn nhuộm màu da cam, bây giờ đã chuyển sang màu đồng đỏ. Chân trời có một dải mây tối. Gió lặng đi đột ngột. Mưa dữ dội quất vào mặt hai ông cháu.

Bão đến.

Đắn đo bây giờ là chết. Tàu đi thật chậm, cố tìm hướng gió quay. Sống chết, cũng phải giữ được hướng ban đầu, bằng không, con tàu sẽ lạc vào giữa vùng tâm bão. Gió sẽ giật cực mạnh…

Cuồng phong quật vào mạn trái, tiếng rít của nó tan loãng trong tiếng sóng đánh chát chúa xuống sàn tàu. Biển sụp xuống những vực thẳm. Con tàu vẫn cố nhoi lên bám vào những triền sóng. Mải lo cho con tàu tránh khỏi bị một con sóng lừng bẻ gãy làm đôi, ông già không kịp đối phó với luồng gió giật bất ngờ, tàu quay mũi hẳn lại, ông già đập mặt vào cần lái. Choáng váng, ông già lơi tay lái. Con tàu mất lái, chúc xuống vật vã. Phi chồm lên, vít vội cần lái. Nhưng cậu luống cuống không biết phải lèo lái thế nào. Con tàu chùng chình giây lát, không chịu ăn lái. Phi gào lên, không ai nghe thấy tiếng báo động của cậu. Ông già vẫn mê man dưới chân cậu. Một tay giữ cần lái, một tay Phi vươn tới, lay vai ông già. Ông già mở choàng mắt, vội vã giật lại cần lái từ tay cậu. Chút xíu nữa thằng nhỏ này đưa con tàu vào đường bão di chuyển. Ông già giật chuông ra hiệu:

“Hết máy!”

Ông cố lái cho con tàu theo hướng gió chếch bên phải, ráng trở lại hướng ban đầu. Nhưng gió đập thốc hông bên phải rồi.

Ông già quyết định: Chạy ngược sóng!

Mặc dù ông dư biết, chạy như vậy là nguy hiểm, nhưng không còn cách nào khác. Chạy ngược sóng, ông già chấp nhận trụ lại, giằng co với biển chờ bão tan, nhưng sẽ không bị giạt quá xa với hướng ban đầu.

Như một con dơi bị nhét chặt hai lỗ tai bay trong khu rừng chằng chịt dây leo và vách đá, ông già cho con tàu chạy dò dẫm.

Bụng thót lại như có ai đang bào đi từng lớp ruột non của cậu. Không còn gì để nôn ra nữa…

Những kí ức mới nhất trước khi cậu đặt chân xuống con tàu này bỗng trở nên cũ kĩ. Tất cả có vẻ khó hiểu khi đối chiếu với hiện tại.

Nguy cơ đắm tàu đã cận kề, hành khách không giữ thái độ tụ thủ bàng quan nữa. Họ vớ lấy tất cả những gì có thể tát nước cứu tàu: mũ, nón, thùng đạn, thau, chậu hoặc chỉ là hai bàn tay chụm lại. Ngay cả bà già lần tràng hạt cũng thôi niệm Phật, bà ta đang tát nước chung với cô gái bằng một vành nón Huế. Cô gái vừa tát vừa khóc.

Trước khi xuống đây, mỗi người một toan tính, một số phận, phe phái, chia rẽ nhau khủng khiếp. Bây giờ vật lộn với biển, họ buộc phải xích lại gần nhau. Cơn bão thành kẻ thù chung của họ, bến bờ thành hi vọng chung của họ. Rất có thể khi cơn động bể chết đi ngoài đại dương, con tàu cập bến vô sự, mỗi người lại trở về với “cái tôi” quen thuộc của mình, nhưng ít nhất kinh nghiệm đắm tàu, kinh nghiệm vượt thoát cõi chết cũng bắt họ nhìn đời bằng đôi mắt khác trước.

Ông già tự nhủ: Té xuống chừ là đi đứt! Lẽ ra sau bốn chục năm vật lộn với biển và vô số những cơn bão, ông già có quyền nghỉ ngơi. Nhưng thiếu vắng những nỗi nguy hiểm, cực nhọc, đối với ông già, còn đáng sợ hơn cả cõi chết…

Ông già thầm nghĩ, nếu cho mình nằm xuống đây thì dù vật vã, quay cuồng mấy, mình vẫn sẽ ngáy ngon lành. Tuổi tác đã phản lại ông già, đầu gối lỏng lẻo, mỗi lần cất bước, lại phải dùng hai tay giữ chặt lấy nó.

Một ngọn sóng lừng lững cao hàng chục thước từ trên cao đổ ụp xuống. Con tàu oằn mình dưới sức nặng của ngọn sóng. Trước mặt ông già không còn vòm trời nào cả, nước đỏ ngầu, sủi lên như máu. Hay là mình đã chìm xuống biển, đá chọc thủng lưng, đau buốt nhói. Có ai đó gào bên tai ông:

“Nội ơi!”

Vậy ra mọi người còn sống và vẫn hi vọng vào tay lái của mình. Lúc trước đã tính buông xuôi, nhưng khi nhận ra sự thật trên, người đi biển già nua bỗng cảm thấy khỏe hơn đôi chút. Đúng lúc con tàu nằm trên đỉnh một ngọn sóng cao ngất ngưởng.

Rầm, nó bị quăng xuống một cách tàn nhẫn. Ông la lên uất ức:

“Giỡn hoài!”

Đầu đau nhức, lưng mỏi nhừ, ông già loạng choạng, cố đứng thẳng lên, nhìn biển. Nhờ vậy ông biết, gió lại đổi hướng một lần nữa. Chỉ cần cho tàu chạy theo nó, tàu sẽ lao đi vun vút êm ru… Nhưng làm vậy chính là giúp cho mọi người tự sát một cách nhanh nhất, bao nhiêu kẻ đi biển đã hành động ngu dại như vậy. Cơn gió ma quái ấy sẽ lôi cuốn họ đi, trong nháy mắt, xô đẩy họ vào kề tâm bão vì ngọn gió này xoáy quy tâm…

Biển chết lặng đi trong thời gian nhai giập bã trầu. Trời quang đãng. Gió chờn vờn nhẹ hẫng. Ông già kinh hoàng thét lên:

“Coi chừng!”

Đợt gió cuối cùng đáng sợ nhất chợt ập đến. Con tàu lên cơn co giật. Gió thổi thốc từ sau tới, men theo hai lườn tàu. Nó muốn xé con tàu thành hai mảnh dọc. Mất đà, Phi ngã chúi, cậu vội bám lấy be tàu. Thái độ bình thản của ông già khiến cậu hồi sức rất mau. Sóng đánh ào ào qua người cậu bỏng rát…

Trong đêm tối, biển câm lặng như chưa hề có cơn bão nào vừa hoành hành. Sóng tan ra lăn tăn dưới ánh trăng biển. Những ngọn gió lang thang, mách lẻo về chiến công tội lỗi của chúng. Con tàu lặng lẽ tiếp tục cuộc hành trình, đầu nó hơi chúc xuống. Trao tay lái cho một người trẻ hơn trong thủy thủ đoàn, ông già vịn vào tay Phi, loạng choạng đứng dậy.

Trải qua cơn bão, hai ông cháu tự nhiên thân thiết đến nỗi Phi có cảm tưởng, khi theo Ba Đoát xuống tàu, ông già cố ý đeo một tấm mặt nạ để Phi không nhận ra. Và sóng, gió, mưa cùng những tia chớp, đã xé toang tấm mặt nạ ấy để Phi nhận ra, đó là diện mạo ruột thịt của mình mà đã từ lâu lắm, cậu đánh mất trong quá vãng…

Mắt ông già vụt trở nên đờ đẫn và con ngươi chậm chạp khép nhỏ lại, đồng tử giãn ra. Phi chậm chạp dìu ông già vào trong khoang. Dưới ánh đèn bão, cậu thấy da mặt ông nhăn nheo và hơi thở yếu dần. Ông già ra hiệu cho Phi cúi sát mình, thều thào:

“Nước!”

Hai tay đưa li nước cho ông già, Phi hoảng sợ thấy đôi môi ông run run rồi cứng đờ, khiến nước tràn ra hai bên mép. Ông già đã biến hoá một lần nữa, để thành một con người khác hẳn. Dường như cuộc vật lộn với bão gió đã hút cạn đến giọt sinh lực cuối cùng của ông. Giờ đây, con người đang nằm kia, giống như một chiếc đồng hồ đã xả đến đoạn dây cót sau cùng.

Ông già nằm im, lắng nghe tiếng sóng vỗ hai bên mạn tàu, với nụ cười chua xót và mãn nguyện. Mình đã đi chuyến chót với lũ trẻ.

Một linh cảm hãi hùng loé lên trong Phi, cậu vội đưa ngón tay lên mũi ông. Cô gái quỳ xuống bên ông. Bộ mặt nhăn nheo kia không làm cô sợ sệt. Cô kính cẩn chia sẻ niềm chua xót với ông già, khi phải vĩnh biệt biển cả.

Khi một người trong thủy thủ đoàn reo lên:

“Hòn Tre kia rồi, tôi đã nhìn thấy nó!”

Ông già trút hơi thở cuối cùng trên tay Phi. Cô gái òa khóc.

Cùng lúc ấy, ngọn đèn biển trước mặt con tàu bừng sáng khác thường…

Con tàu vừa cập bến sự sống, nhưng lại mang trong lòng nó một xác chết!

Cô gái và Phi ngồi im bên thi hài còn ấm nóng của ông già. Không biết sức mạnh của ông già bắt nguồn từ đâu? Và con tàu đã vượt thắng cơn bão cuồng nộ là nhờ sức mạnh siêu nhiên nhập vào người ông già cầm lái, hay là vì có những người như ông già này, mà nhân loại hình dung ra những Như Lai và Giê-su?

Cơn động biển nằm lại sau lưng mọi người, như những kỉ niệm tàn khốc. Thủy thủ đoàn quyết định mai táng ông già tại nghĩa trang ngư phủ, trên đảo Hòn Tre – Nha Trang…

Mọi việc diễn ra sau đó và trên đó, đơn giản và trật tự đến nỗi, không cần một ai đứng ra điều hành hoặc hạ lệnh. Mọi người cũng không ai có vẻ vội vã mặc dù mặt trời đang trên đà lặn xuống chân biển. Bởi họ biết, trên đại dương, cuộc chia tay giữa ánh sáng và bóng đêm dùng dằng hơn những nơi khác. Khoảng không gian bao la không có ranh giới, khiến ngày và đêm giao hòa nhau êm ái và biết điều hơn. Có thể kiểm chứng điều đó ngay trên núi Đồng Bò đứng sững bên bờ biển Nha Trang…

Đó là một khối đá vạm vỡ, vững chãi có bề mặt bằng phẳng rộng rãi, nơi mặt trời dừng chân mỗi hoàng hôn bịn rịn, từ giã cánh đồng Diên Khánh để trở về lòng biển…

Một tốp người đổ bộ lên đảo, đào sẵn huyệt và thương lượng với dân chài ở đó, nhượng lại những mảnh ván để đóng quan tài cho ông lão. Những người ở lại con tàu lo khâm liệm.

Người đàn bà lại lầm rầm niệm Phật, tay lần tràng hạt trong khi người ta tháo bỏ khỏi người ông lão bộ đồ đã bạc trắng. Trong ánh sáng tím của chiều tà, thân thể trần trụi của ông lão hiện lên như pho tượng gỗ nâu thẫm, rắn rỏi với những nét phác giản dị và tinh khiết. Cô gái âu yếm và khéo léo mặc bộ đồ mới nhất cho ông già, một bộ đồ bà ba còn thơm phức mùi nắng được tìm thấy dưới đáy rương của ông lão…

Tốp người từ đảo quay lại, mang theo cỗ quan tài ghép bằng những ván gỗ để mộc, xù xì. Mọi người nâng ông già lên và nhẹ nhàng đặt vào hòm. Trước khi đóng đanh ghim ván thiên, người ta cố thu thập những vật dụng ông già quen dùng, cho vào cạnh thi hài ông. Nhưng tuyệt nhiên, con người ấy không sở hữu cho riêng mình một vật gì, ngoài hai bộ đồ vẫn mặc thay đổi. Con người ấy sinh ra trần trụi thế nào, ra đi cũng trần trụi như vậy, thanh thản và minh bạch đến lạ lùng.

Phi thầm nghĩ, vật ông lão quen dùng nhất có lẽ là cái bánh lái kia. Nhưng ông đã gửi lại nó cho mọi người chống chọi với bão gió!

Bãi biển cạn, lởm chởm những khối đá ngầm, con tàu không thể cập sát bờ. Mọi người nhảy xuống, nước ngập ngang đầu gối. Chiếc quan tài rập rờn trên vai họ. Men theo sườn đảo, những ngôi mộ xếp bằng đá hộc nhấp nhô bên nhau như những chiếc thuyền nằm nghỉ ngơi trên bãi cát chờ một ngày kia ra khơi trở lại. Một chỗ nghỉ ngơi như vậy trên mỏm núi nhô hẳn ra biển đang chờ ông già Quảng Nam.

Mỏm núi không đồ sộ, nhưng địa thế khiến nó nổi hẳn lên. Người ta lách qua những bụi dứa dại phía dưới chân mỏm núi, đưa ông già băng qua một vạt bông trang nở rộ hoa trắng đang được hoàng hôn pha màu kì ảo thành lấp lánh tím…

Mọi người đứng lặng quanh ngôi mộ ông lão, nơi mỏm núi lộng gió. Ông già Quảng Nam đã trở về sum họp với đồng nghiệp tứ xứ của mình trong quê hương vĩnh hằng: Vẻ Đẹp!

Gió biển đã thổi tắt những nén nhang mỏng manh mọi người thắp trên mộ ông. Một mùi hương hoang dã ngan ngát hòa trong gió, có lẽ những vạt bông trang đã phả hương cho gió xoa dịu nỗi xót xa của con người!

Nhìn đám hành khách lăng xăng thu xếp đồ đạc, hành lí, tranh giành, cãi lộn nhau vì người nào cũng muốn tìm cho mình chỗ tốt nhất, khô ráo nhất trên tàu, Phi và cô gái đưa mắt nhìn nhau như cùng chia sẻ ý nghĩ trách móc. Con người kì cục thiệt. Vừa đứng quây quần quanh ông già trên mỏm núi, giờ sao họ đã quên mau thế? Từ lúc đưa ma ông già đi biển, đồng hương của mình, Ba Đoát đâm ra tư lự.

Cô gái tránh mặt Ba Đoát, nhưng lại tỏ ra thân thiện với Phi:

- Các anh người ở mô? Tính vô trỏng làm chi? Anh nớ có phải là anh trai của anh không?

Giọng Huế của cô gái ngọt ngào quá. Phi không thể tiếp tục ậm ừ, thủ khẩu như bình như Ba Đoát dặn. Tuy vậy, cậu còn ngại anh la, nên chưa bắt chuyện mặn mà ngay với cô gái.

Tàu dừng lại Nha Trang lấy thêm dầu và thực phẩm, bổ sung vào cái kho đã vơi của mình.

Cô gái rủ anh em Phi lên bờ dạo chơi và kiếm một tiệm cà-phê. Ba Đoát không ra mặt phản đối, Phi vội vã theo cô gái bước lên cầu cảng. Cậu chỉ sợ Ba Đoát làm cậu lỡ cơ hội làm quen với cô gái xứ Huế mơ mộng.

Sau cơn động biển, bầu trời trong vắt. Những đám mây trắng tinh, xốp nhẹ trôi la đà trên đỉnh núi Đồng Bò, nơi dựa lưng của bến cảng Cầu Đá và những công trình xây dựng lân cận. Khởi từ đó hắt ngược lên thành phố, bãi biển cong vút như một lưỡi liềm bằng pha-lê. Cát lóng lánh, ngời sáng. Những dải rừng dương ven biển dịu dàng, gió ve vuốt lướt trên những gương mặt du khách niềm êm ái. Trong khi đó, những lưỡi sóng nghịch ngợm chờm qua mép cát bắn bọt trắng xóa, sủi ngầu lên như bọt của một thùng bia khổng lồ màu ngọc bích.

Nếu không có cảnh mấy chiếc tàu chiến đậu chình ình giữa vịnh thì không thể mong đâu hơn một khung cảnh thơ mộng thế này, để ngồi nhấm nháp li cà-phê sau cơn cuồng phong vật vã.

Ngay đến Ba Đoát, người nằm mơ cũng chỉ thấy chuyện súng ống, cũng phải ngơ ngẩn thừa nhận:

- Nha Trang đẹp thiệt!

Gương mặt anh hiền hẳn đi. Cô gái mỉm cười, chỉ tay lên ngọn đồi trước mặt tiệm cà-phê nói với âm điệu vuốt ve thính giác của người nghe:

- Hai anh có thấy ngôi nhà trên ngọn đồi kia không?

- Có.

Phi trả lời háo hức. Cái chết của ông già đồng hương chưa nguôi ngoai trong tâm trí cậu. Cậu nhớ, có lần cậu được nghe một nhà sư bảo: Quê hương ta một bên núi cao, một bên biển thẳm, miền Trung không tranh đấu thì không hiện hữu. Nhưng khi đã mai táng ông già hào hùng trên mỏm núi trong nghĩa trang ngư phủ, Phi chợt hiểu xa thêm. Hiện hữu chưa phải là mục tiêu tối hậu. Hiện hữu quật cường, bình tĩnh và cùng kì chi lí như ông già cầm lái để trút hơi thở cuối cùng trên con tàu bị thương, giữa những người cùng cảnh ngộ với mình, mới làm dâng trong lòng những người sống sót niềm cảm xúc êm đềm pha lẫn chút tôn kính thần thoại đối với cuộc sống. Chứ không phải thứ hiện hữu vô điều kiện, trần truồng, thú vật và cuối cùng cũng kết thúc đời mình trong vị thế bị kết án chung thân, bị xua đuổi khỏi cõi người. Hiện hữu để vượt thắng, chứ không phải hiện hữu để tàn lụi!

Chính vì vậy, sẵn luồng tâm trạng đó, Phi khơi mở thêm những ý tưởng bất ngờ khi cô gái lên tiếng.

- Biệt thự Nghinh Phong đó hai anh, nguyên là hành cung mùa hè của cựu hoàng Bảo Đại. – Vẫn giọng Huế não nùng. – Chủ cũ lâu đài đã ra đi, chủ mới chiếm lãnh. Bất cứ một đồ vật nào khi đã ở quá lâu bên người, được mắt người thường xuyên ngó tới, được tay người thường xuyên vuốt ve, được hồn người thường xuyên cảm nhận, từng nỗi đổ vỡ, sinh thành, vật bỗng nhiễm phải hơi người. Người bỏ đi, vật trở thành hoang phế. Người ta đang tính tân trang lại lâu đài để nó phụng sự tân chủ nhân, nhưng vĩnh viễn lâu đài đã chết, trống vắng trong cái vỏ còn nguyên vẹn. Bà Huyện Thanh Quan hơn ai hết ý thức được cái điều có thực ấy:

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Ba Đoát lạnh nhạt nghe, toàn chuyện bá vơ bá xàm. Anh ngó đăm đăm xuống cảng, cái chết của ông già chú vợ Phan Quyên bắt anh suy nghĩ mông lung (việc hiếm lạ đối với con người quen hành động hơn là day dứt tâm hồn mình):

“Mình vô trỏng làm chi? Mà tìm được ông Chín, cậu thằng Phi, hay không, có thay đổi gì quyết định của mình? Răng không về hỏi ngay mỗi gia đình Giáng La, bao nhiêu con em họ đã bị giết chỉ vì chúng ta bắt họ chôn súng? Kẻ thù giết ta, mỗi nấm mồ chôn ta phải thành một kho súng và chất chứa căm thù thành hy vọng thắng lợi. Phải trở về!”

- Lạ lùng thiệt, có khi cách nhau chỉ một con đèo mà tính cách hai phía chân đèo khác nhau như nước với lửa. Một sầu mộng, một cứng cỏi. Một sống cho quá vãng vàng son, một sống cho tức thời máu lửa. Một lụi tàn, thoái thác hành động, một dấn thân đến kì cùng kiệt sức. Một đổ thừa, một nhận lãnh. Một toàn vẹn bất biến ngưng đọng như luật thơ Đường, một dào dạt thủy triều thất thường. Một an nghỉ và chết cách nhau không bao xa, một không ngừng lên đường để cuối cùng cũng chết. Một sống thở than, chết mỉm cười. Một sống cực khổ và vật lộn, chết luôn luôn hối hận chưa làm xong việc…

Cô gái cứ nói như với chính mình niềm luyến nhớ mất mát, vô duyên cớ và mỗi lời cô nói đều mang một ẩn dụ buồn bã. Phi lại cảm nhận những lời tâm tình đó theo lối khúc xạ. Nó bắt cậu nhớ tới nỗi ám ảnh ghê sợ. Sao có thể nung đỏ một thanh sắt thọc lút vào da thịt con người?

Hoàng hôn Nha Trang, cái thành phố ngay tên gọi cũng chứa đựng một sự bí ẩn, mơ hồ, khiến ba người vừa thoát chết dưới biển lên, ngồi sát bên nhau quanh bàn cà-phê nhưng lại theo đuổi ba luồng ý nghĩ khác nhau. Mỗi ý nghĩ của họ là một ốc đảo trong sa mạc, nó chỉ giúp cho bản thân họ, chứ không kết họ thành một khối. Câu chuyện được diễn đạt bằng giọng Huế của cô gái trở nên xa lắc, xa lơ.

Khách ra vào tiệm không khỏi ngạc nhiên, khi thấy ba người khác nhau lại ngồi quanh một chiếc bàn đặt xế bên cửa sổ tiệm, nhìn xuống cảng và viện Hải dương học Nha Trang. Hai người đàn ông quê mùa và cô gái yểu điệu với chiếc áo bà ba màu tím nổi tiếng của xứ cô…

- Tôi tên là Phương Mai, ba má tôi ở Huế. Tôi và một đứa em trai vô Sài Gòn với ông cậu, em ruột má tôi để đi học. Ổng là giáo viên kháng chiến cũ, có lẽ ổng hiểu xứ Quảng mấy anh hơn…

Dường như cô gái sợ hai người bạn đồng hành mỗi lúc một dang ra xa hơn khi con tàu nhổ neo tiếp tục lên đường. Cô cố níu kéo họ lại gần, mặc dù cô biết rõ, cái đích cuối cùng của cô và họ khác xa nhau lắm. Phi nhận ra ý tứ ấy của Phương Mai với tâm trạng buồn vui lẫn lộn.

Đột nhiên con tàu nhỏ của họ rúc một hồi còi nhỏ đủ báo cho hành khách trở lại tàu. Phi chợt tỉnh giấc mộng. Mình phải trở về con tàu đã vắng bóng ông già cầm lái. Còn ông phải nằm lại nghĩa trang ngư phủ, cách xứ Quảng Nam của ông cả năm trăm cây số mịt mờ. Mặt Ba Đoát tự nhiên nhăn nhúm. Trong khi Phương Mai tiến đến bên quầy trả tiền cà-phê cho ba người, Ba Đoát nói với Phi:

- Mi vô trỏng tìm cậu Chín, tau về Giáng La!

Phi choáng váng nghe mệnh lệnh của Ba Đoát. Ba Đoát nói tiếp như thể Phi ra đi một mình là điều hiển nhiên, không có gì phải đôi co:

- Phan Quyên nói, cậu Chín mi nhất định còn sống và hoạt động ở trỏng. Mi vô trỏng nhất định phải tìm tới ổng ngay tức khắc. Rồi đây, mi sẽ đi nhiều, thấy nhiều thứ khác xa Giáng La mình. Nhưng mi phải nhớ, mi là con của Giáng La. Nhớ nội điều đó đủ sống và chết một đời rồi.

Phải chăng, khi con người đã trả học phí bằng máu, họ sẽ tiếp cận những sự thật tàn khốc mau hơn, chính xác hơn những người khác? Phi chưa hiểu ngay những điều nhận xét trên, ít nhất cậu cũng thấy Ba Đoát ăn nói dứt dạc và đanh thép hơn trước nhiều. Cô gái Huế lại tiếp nhận tin Ba Đoát ở lại, để quay về Quảng, với một tâm trạng nhẹ nhõm. Cô luôn chờn chợn trước con người này. Nhưng cô vẫn giữ kín những ý nghĩ về Ba Đoát để tỏ vẻ bình thản…

- Gặp cậu Chín rồi tìm cách trở về Giáng La nghe, em!

Giọng Ba Đoát trang trọng vang lên. Phi tê tái bước xuống con tàu. Đám tài công hò nhau kéo neo. Mỏ neo sũng nước và dây chút bùn. Con tàu run rẩy quay mũi.

Bóng Ba Đoát mờ dần trên bến cảng xa lạ.

- Vĩnh biệt Giáng La!

Phi chực khóc, cô đơn đến khủng khiếp…

mươi, gương mặt sáng sủa nhưng buồn bã. Lão chủ bảo anh thử đánh máy, viết thảo giấy tờ. Lão tỏ vẻ hài lòng. Người ta để anh ngủ trên cái ghế bố xơ xác, với cái mùng toàn mùi gián và cứt chuột. Ngoài việc thảo giấy tờ, giao thiệp với các th
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.