Kẻ Tầm Da

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
39

❊ ❊ ❊

“Chúng là mô cấy.”

TT Gordon, nghệ sĩ xăm với những hình xăm siêu anh hùng trên người và một cái cằm quá sức kiểu cách đã quay lại phòng khách nhà Rhyme.

Đứng bên chiếc bàn giám định cạnh Mel Cooper, anh ta nhìn xuống thứ mà anh lính cứu hỏa đã thu được tại hiện trường bãi đỗ xe Chung cư Belvedere: những mẩu kim loại rời rạc trong một chiếc túi nhựa. Chúng không phải phần cứng như lúc đầu Sachs đã nghĩ, mà là các hình số và chữ cái. Bề mặt của chúng đã bị giũa thành các đường rãnh và một loại chất gì đó màu ngà đã bị nhét vào các kẽ.

h71t Mỗi hình cao khoảng ba phân, chúng được đặt trên một tấm Teflon đã được khử trùng.

“Và mô cấy là cái gì?” Rhyme hỏi lúc đẩy xe lại gần hơn.

Chàng trai gầy nhẳng xoa vào khuôn mặt Batman trên cánh tay khẳng khiu của mình. Rhyme có thể thấy một phần của một vị siêu anh hùng khác trên cánh tay kia. Sao lại là hai nhân vật hoạt hình ấy nhỉ? Anh thắc mắc.

Nhưng: sao lại không chứ?

“Mô cấy là một dạng xăm mình cực đoan. Anh rạch những đường trên da rồi nhét chúng vào đó. Dần dần lớp da ấy sẽ co rút lại và anh trông thấy hình dạng hay các chữ cái nổi lên. Anh không bắt gặp loại này nhiều lắm đâu. Nhưng ngày nay xăm mực không có gì là ghê gớm cả - như tôi đã nói ngày hôm qua. Giờ đây mọi nhân viên văn phòng, trợ lí quan hệ công chúng và luật sư đều có một hình xăm. Anh sẽ cần tới mô cấy và sẹo để trở nên khác biệt. Ai mà biết trong mười năm tới sẽ còn gì nữa. Thực ra, tôi không nghĩ là tôi muốn biết đâu.”

Sachs hỏi, “Điều đó có cho chúng ta biết thêm gì về nghi phạm không?”

“Xác nhận điều tôi đã nói trước đó. Chúng rất hiếm gặp ở đây. Tôi không biết có bất kì nghệ sĩ nào làm chúng trong khu vực này. Cô biết đấy, về mặt kỹ thuật, đây chính là một quy trình phẫu thuật và cô cần được đào tạo tử tế. Cô sẽ bắt gặp loại hình này chủ yếu ở miền Trung Tây và Appalachia, Tây Virginia, miền núi phía Bắc Carolina. Những con người muốn sống một cuộc đời khác. Ý tôi là, khác hơn tôi,” nghệ sĩ xăm kiêm nhà ngữ pháp học TT Gordon nói.

“Chắc hẳn các vị nghĩ làm mô cấy là kiểu của đàn ông, nhưng thực tế phụ nữ mới hay dùng đến chúng. Chúng khá là nguy hiểm. Chúng được làm từ các chất liệu không có nhiều khả năng bị đào thải nhưng vẫn còn vấn đề nhiễm trùng. Và tệ hơn nữa, chúng sẽ di chuyển. Khi ấy thì các vị sẽ gặp rắc rối thật.”

“Và,” Mel Cooper nói trong lúc nhìn vào một máy tính kết nối với máy quang phổ khí, “anh cũng sẽ gặp rắc rối nếu các mô cấy vô tình lại chứa một liều nicotine đặc biệt đậm đặc. Như những hình này.”

“Nicotine à,” Rhyme lẩm bẩm.

“Đó là chất độc sao?” Ron Pulaski hỏi.

“Ồ phải,” Cooper nói. “Tôi từng làm một vụ mấy năm trước. Nicotine từng được dùng làm thuốc trừ sâu. Cậu có thể mua được chúng dưới dạng thô, đậm đặc. Thủ phạm trong vụ đó kiếm được một ít loại này. Hắn ta muốn tống khứ bà mẹ để thừa kế, và vì bà ta hút thuốc, hắn nghĩ rắc nó vào trong thức ăn của bà ta là ý hay. Bà ta đã chết chỉ trong vòng nửa giờ sau khi ăn. Nếu hắn mà chia nhỏ ra từng liều thay vì chỉ một liều lớn duy nhất thì chắc đã thoát tội rồi. Chúng tôi phát hiện rằng lượng nicotine ấy nhiều như thể bà ta đã hút hết tám trăm điếu thuốc trong vòng một giờ và phủ kín cánh tay bằng mấy miếng dán cai thuốc* vậy.”

Những miếng cao dán có chứa hàm lượng nicotine nhất định có tác dụng ngăn cơn thèm thuốc lá.

“Công thức nào?” Rhyme hỏi.

“Parasympathomimetic alkaloid. Xuất phát từ một họ thực vật cây kì nam.”

Sachs nói, “Mấy mô cấy kia trông không lớn lắm. Liều lượng của chất độc thế nào?”

Theo khối phổ, Cooper đọc, “Cực lớn. Nếu hắn cấy những cái này vào hạ bì, nạn nhân sẽ chết trong vòng hai mươi phút, đó là dự đoán của tôi.”

“Chúa trời ơi.” Anh chàng siêu anh hùng thốt lên.

“Một cái chết đau đớn?” Sachs hỏi.

“Chắc chắn,” Rhyme nói, không mấy quan tâm đến khía cạnh đó. Anh quan tâm nhiều hơn tới nguồn gốc của chúng: “Hắn có thể kiếm mô cấy ở đâu?”

Gordon nhún vai. “Tôi không biết bất kì nguồn nào ở đây. Nếu anh muốn chúng, thì anh lên mạng thôi.”

“Không,” Rhyme lật lại, “một lần nữa, hắn đã mua chúng trong một cửa hàng vật lí. Và trả tiền mặt.”

Anh nhìn vào những mẩu kim loại ấy lần nữa. Anh nghĩ ý nghĩa của chúng rất hiển nhiên. Một sự tái sắp xếp đơn giản lại cho ra một con số nữa.

Số thứ tự “17th”.

Sachs đã đeo một chiếc mặt nạ và đi găng tay hai lớp. Cô đang xem xét một chữ cái kim loại. Số 7. “Chúng ta đã có những dấu ấn công cụ. Mặt giũa đặc trưng. Việc đó cũng đáng kể đấy.”

Họ đã có thể thiết lập mối liên hệ giữa những mô cấy có độc với một chiếc giũa kim loại trong đồ đạc của nghi phạm - tất nhiên với điều kiện là họ phải tìm được cái giũa ấy đã; không có hệ thống đăng kí toàn quốc nào cho các dấu công cụ như họ đã có với dấu vân tay, ADN và vỏ đạn cả.

“Nguồn chất độc?” Rhyme hỏi.

Sachs lên mạng tìm và báo cáo, “Việc này thú vị đây. Anh biết thuốc lá điện tử không?”

“Không.”

“Loại thuốc lá không khói. Chúng chạy bằng pin và có một cái ống mùi.

Kiểu như một loại tẩu thuốc vậy. Anh có thể mua nicotine thương mại, không mùi và có mùi để đổ vào trong những cái ống ấy. Nó ở dạng chất lỏng. Họ gọi nó là “sinh tố”.”

Con người làm gì với cơ thể của mình vậy, Rhyme trộm nghĩ. “Bao nhiêu nguồn?”

“Khoảng vài chục.” Mel Cooper nhìn qua máy tính. “Thứ bán trên thị trường có độc, đúng, nhưng không hề giống thế này. Nghi phạm đã chưng cất hoặc tự làm ra chúng.”

“Được rồi. Chúng ta còn có gì khác không?”

Sachs đã giải thích rằng việc lội trong tầng hầm bãi đỗ xe và đường hầm bên dưới không mang lại điều gì; nước đã chảy ra quá nhiều. Tuy nhiên, họ đã tìm được vài bằng chứng trên và bên trong chiếc túi có chứa mô cấy.

Chiếc túi là loại cất trữ thức ăn thông thường (và không thể lần theo).

Phần phía trên túi có một miếng dán bằng nhựa lì mặt để đầu bếp có thể viết trong túi chứa cái gì hay ngày cho nó vào tủ cấp đông. Dù nước đã gột sạch gần hết chữ viết của nghi phạm, vài chữ cái màu hồng nhạt vẫn còn lưu lại.

Thông điệp là No. 3 - dành cho cuộc tấn công thứ ba, Rhyme dự đoán.

“Không biết nó có ích gì không,” Rhyme làu bàu. “Nhưng cứ cho lên bảng.”

Cooper phân tích thêm vài mẫu vật khác. “Đây là một kết hợp giữa albumin ở người và natri clorua - tỉ lệ pha trộn khớp với các loại thuốc dùng trong phẫu thuật thẩm mĩ.”

“À, lại chuyện đó,” Rhyme nói. “Thủ phạm của chúng ta đã định sẵn trong đầu chuyện thay hình đổi dạng. Nhưng tôi không nghĩ là hắn chịu đụng dao kéo ngay đâu. Hắn còn quá bận rộn. Nhưng sau này, đó là một phần trong kế hoạch của hắn.”

Lon Sellitto gọi đến. Anh ta vẫn còn ở Belvedere để chỉ đạo cuộc thẩm vấn các nhân chứng. “Linc, không ai trông thấy gì cả. Anh biết đang có chuyện gì rồi, đúng không?”

“Khai sáng cho tôi đi.”

“Mọi người biết gã này dùng đường ngầm để lại gần các nạn nhân của hắn. Họ sợ nếu họ nói ra là đã trông thấy gì, hắn sẽ tìm đến họ trong nhà tắm hay phòng giặt hay gara.”

Rhyme không thể tranh cãi với thái độ đó. Còn điều gì đáng sợ hơn khi nghĩ bạn chỉ có một mình và được an toàn trong những tầng thấp hơn ở chính ngôi nhà hay văn phòng hay tòa nhà công cộng của bạn, rồi biết rằng bạn chẳng hề cô đơn chút nào; bạn có một kẻ đồng hành chết chóc. Như một con rết nhớp nháp, độc địa đang cuộn mình dưới tấm chăn trên giường của bạn trong lúc bạn ngủ.

Sachs đã mang tới cả quần áo của Braden Alexander. Cooper cẩn thận kiểm tra từng món một, nhưng nước đã làm sai lệch mọi dấu vết - ấy là nếu ngay từ đầu trên đó đã có chút gì, và điều này rất khó xảy ra, theo lời Sachs, bởi mối tiếp xúc giữa hai người đàn ông chỉ ở mức tối thiểu. Chiếc còng tay không cho thấy vết tích nào và như những chiếc còn lại, nó cũng chỉ là loại thường gặp.

Cooper phân tích thêm các mẫu bông thấm từ chiếc túi đựng mô cấy.

Hầu hết đều âm tính. Cuối cùng anh ta cũng có một thành tựu. Nhìn thông tin trên màn hình, anh đọc, “Axít hipoclorơ.”

Rhyme nhìn sang khối phổ ấy. “Lạ nhỉ. Nó tinh khiết. Chứ không bị pha loãng.”

“Đúng vậy.” Cooper thò tay xuống dưới mặt nạ và đẩy kính lên cao hơn trên mũi. Rhyme tự hỏi như mọi khi, vì sao anh ta còn chưa sửa cái gọng kính ấy đi.

Axít hipoclorơ - một dạng của clorin - đã được thêm vào đường nước uống của thành phố New York, cũng như hầu hết các thành phố khác, nhằm mục đích lọc nước. Nhưng vì mẫu này là loại nguyên chất, nên không phải nó tới từ trận lụt đã phá hủy cả hiện trường bãi đỗ xe Belvedere. Đây là hóa chất ở dạng tinh khiết, trước khi nó được thêm vào hệ thống nước.

Rhyme trầm ngâm nói, “Nó là một axít yếu. Tôi cho là ở nồng độ cao hơn nó có thể gây chết người. Hay có lẽ hắn chỉ vô tình dính phải nó vì đã ở gần một trong mấy cái hộp đổ hóa chất vào nguồn nước ấy. Sachs, ở hiện trường thứ nhất hoặc thứ hai, trong đường ngầm ấy? Ở đó có ống nước đúng không?”

“Ống nước, và trong một nơi còn có cả ống nước thải.”

“Đầu vào và đầu ra,” Pulaski đùa. Làm mấy người cười. Tất cả mọi người trừ Rhyme.

“Còn ống nào khác không - có thể là một cái chuyển clorin vào trong đường nước chính?”

“Em không nhớ.”

“Tôi muốn tìm hiểu xem. Nếu clorin này tới từ chất tẩy nguồn nước thì nó chẳng có ích gì. Nếu nó tới từ một loại độc mà hắn định dùng thì chúng ta nên bắt đầu kiểm tra nguồn.” Rhyme gợi nhớ lại những bức ảnh chụp hai hiện trường đầu tiên. “Hãy cử ai đó quay lại hiện trường và tìm hiểu xem ở đó có đường ống dẫn hóa chất nào không.”

Sachs hỏi, “Anh có muốn đội Hiện trường kiểm tra không?”

“Không, chỉ cần một cảnh sát mặc đồng phục thôi,” Rhyme nói. “Ai cũng được. Nhưng sớm. Ngay bây giờ.

Sachs gọi tổng đài và cử xe tuần tra tới hai địa điểm trước đó, với lời chỉ dẫn phải tìm thứ gì.

Hai mươi phút sau điện thoại của Sachs reo vang. Cô nghe máy rồi chọn loa ngoài.

“Được rồi, cảnh sát, cậu đang nói chuyện với tôi và Lincoln Rhyme.”

“Tôi đang ở hiện trường phố Elizabeth, thưa thanh tra. Vụ án mạng Chloe Moore.”

“Chính xác cậu đang ở đâu?” Rhyme hỏi.

“Trong hầm, cạnh bên đèn hiện trường và ắc quy.”

Rhyme bảo cậu ta, “Tôi cần cậu tìm bất kì một cái ống hay hộp chứa nào có ghi “axít hipoclorơ” , “clorin” hoặc các chữ cái “Cl”. Chúng có một hình tứ giác cảnh báo nguy hiểm bên trên và có thể cả cảnh báo nguy hiểm khi tiếp xúc với da và mắt nữa.”

“Vâng, thưa anh. Tôi sẽ làm vậy.”

Cảnh sát tuần tra tiếp tục tường thuật trong lúc anh ta đi từ nơi đã tìm được xác nạn nhân, gần đường hầm gây chứng sợ chỗ kín, đến bức tường gạch cách đó một trăm mét.

Cuối cùng: “Không thấy gì, thưa anh. Chỉ có các chữ viết tắt là DS và DEP đóng dấu trên ống thôi.” Sở Vệ sinh và Sở Bảo vệ Môi trường, hai cơ quan giám sát nguồn nước của Thành phố New York.

“Và một loại hộp gì đấy đánh dấu IFON - không biết nó là gì. Nhưng không có gì liên quan đến hóa chất cả.”

Sachs cảm ơn cậu ta và cúp máy.

Không lâu sau thành viên của đội kia cũng gọi đến từ hiện trường bên dưới nhà hàng Provence2 - bãi mổ gia súc hình bát giác, nơi Samantha Levine đã chết.

Cảnh sát này cũng báo cáo tương tự. Không có hệ thống DEP nào dẫn axít hipoclorơ vào nguồn nước cả.

Sau khi cúp máy, Rhyme nói, “Vậy là, có thể nó có chút liên hệ với nghi phạm. Hãy tìm xem ai đó có thể mua nó ở đâu, và nó được sản xuất như thế

index-333_1.jpg

nào. Ron?”

Nhưng một cuộc kiểm tra đã cho thấy điều Rhyme nghi ngại: Có cả chục công ty cung cấp hóa chất trong khu vực ba bang quanh đây. Và nghi phạm chắc đã mua từng liều nhỏ, vì hắn dùng tiền mặt. Thậm chí có thể hắn đã ăn trộm một hai can. Một đầu mối vô dụng.

Rhyme lăn xe đến bàn giám định, nhìn chằm chằm vào các mô cấy, tâm trí anh cân nhắc đến ý nghĩa của những con số này.

“Chúng ta có ‘lần thứ hai’, ‘bốn mươi’ và giờ là ‘lần thứ mười bảy’.

Hắn đang muốn nói cái quái quỷ gì nhỉ?” Rhyme lắc đầu. “Tôi vẫn thích cái ý tưởng hắn đang đưa chúng ta đến một nơi nào đấy. Nhưng nơi nào mới được?”

Sachs nói, “Không có đường viền hình vỏ sò như ở các chỗ khác.”

Nhưng TT Gordon chỉ ra, “Cái đó làm bằng kỹ thuật tạo sẹo, cô nhớ không? Nếu hắn định làm cả hình đó thì hắn sẽ phải dùng cùng loại dao mổ như khi cắt các miếng da để cấy mô. Chắc hắn định làm sau này, sau khi đã đặt xong mô rồi. Từ những gì tôi nghe được, có vẻ như các cô đã cắt ngang hắn trước khi hắn kịp làm gì nhiều.”

“À, hắn đã trốn thoát trước khi làm được gì nhiều,” Sachs lẩm bẩm.

Pulaski nói thêm, “Không có “the” trong số mười bảy à.”

“Có thể đó là câu trích dẫn chính xác, dù câu ấy có là gì đi nữa.”

“Mô cấy cũng mất thời gian nữa,” Gordon nhận xét.

“Nói đúng lắm. Hắn sẽ muốn làm thật nhanh.” Rhyme gật đầu với nghệ sĩ xăm mình. “Có thể thêm chữ “the” sẽ quá nhiều.”

Mắt của tất cả mọi người lại đổ dồn vào những con số.

Thông điệp quỷ quái của nghi phạm là gì? Hắn có thể muốn nói điều gì với họ, với thành phố, với thế giới đây?

Nếu hình mẫu của hắn là Kẻ tầm xương như vẻ bề ngoài, thì gần như chắc chắn thông điệp đó là về sự báo thù. Nhưng vì cái gì? “Lần thứ hai” , “bốn mươi” và giờ là “17th” thì có thể nói gì về một điều oan trái mà hắn muốn chứng minh kia chứ?

Kể cả chuyện người ta đặt một biệt danh khác cho Nghi can 11-5 là Kẻ tầm da cũng không đủ với Rhyme. Anh cảm nhận được còn điều đó gì hơn thế nữa trong mục đích của hắn, chứ không chỉ là một di sản của một tên sát nhân hàng loạt điên rồ từng rình rập trên những con phố của New York hơn mười năm trước.

TT Gordon phá tan sự im lặng, “Các anh còn cần gì khác ở tôi không?”

“Không,” Rhyme nói. “Cảm ơn vì sự giúp đỡ của cậu. Rất cảm kích.”

Điều đó làm một bên lông mày Amelia Sachs nhướng lên. Văn minh lịch sự không phải đức tính của Lincoln Rhyme. Nhưng anh lại thấy thích thú với chàng trai có bộ râu cầu kì và cách nói năng của Strunk và White trong cuốn The Elements of Style* này.

Sách hướng dẫn quy tắc viết trong tiếng Anh-Mĩ của hai tác giả William Strunk, Jrvà E. R. White.

Gordon mặc chiếc áo vest tuxedo của mình vào. Một lần nữa Rhyme lại nghĩ, dường như với một thân hình mỏng manh thế kia trong một ngày thời tiết xấu mù, xám xịt như thế này thì chiếc áo đó thật quá mỏng để có thể giữ ấm. “Chúc may mắn.” Cậu ta dừng bước trước mặt Rhyme, nhìn xuống anh. “Này, trông anh cứ như một người trong chúng tôi vậy, anh bạn.”

Rhyme nhìn lên. “Một trong những ai cơ?”

“Anh là người đã được biến cải.”

“Thế là thế nào?”

Cậu ta chỉ vào cánh tay Rhyme, nơi lộ rõ những vết sẹo từ cuộc phẫu thuật khôi phục chức năng cử động cho cánh tay và bàn tay phải của anh.

“Trông như Đỉnh Everest, những vết sẹo ở đó. Của anh thì úp ngược.”

Kì lạ thay, vết sẹo hình tam giác đúng thật là giống ngọn núi nổi tiếng.

“Nếu anh muốn đổ màu cho nó thì bảo tôi nhé. Hoặc tôi có thể làm một thứ khác. Ô, anh bạn, tôi biết rồi. Tôi có thể thêm vào một chú chim.” Cậu ta hất cằm về phía cửa sổ. “Một trong những chú diều hâu hay chim gì đó ngoài kia. Đang bay ngang đỉnh núi.”

Rhyme cười phá lên. Một ý nghĩ điên rồ làm sao. Rồi mắt anh lạc tới chỗ bầy chim cắt. Đúng là ý tưởng ấy cũng có chút kích thích.

“Tổn thương trên da là điều cấm kị đối với một người ở trong tình trạng của anh ấy.” Thom đang đứng trên ngưỡng cửa, hai cánh tay khoanh lại.

Gordon gật đầu. “Tôi đoán như thế có nghĩa là không.”

“Không.”

Cậu ta nhìn quanh phòng. “Ồ, còn ai khác không?”

“Mẹ tôi sẽ giết tôi mất,” Mel Cooper suýt chạm tuổi trung niên nói.

“Vợ tôi,” Pulaski nói.

Còn Amelia Sachs chỉ lắc đầu.

Thom bảo, “Tôi chỉ trung thành với cái tôi đã có thôi.”

“Cái gì cơ?” Sachs vừa hỏi vừa cười. Nhưng trợ tá không nói gì thêm nữa.

“Được rồi, nhưng mọi người có số của tôi rồi đấy. Chúc may mắn, các bạn.”

Rồi anh chàng bỏ đi mất.

Cả đội nhìn vào những bức ảnh chụp hình xăm một lần nữa. Lon Sellitto không nghe máy nên Sachs gọi cho Đội trọng án và bảo đội ở trụ sở thêm “17th” vào dãy số họ cần tìm kiếm.

Ngay khi cô vừa cúp máy, điện thoại của cô lại rung lần nữa và cô trả lời. Rhyme lập tức thấy người cô cứng lại. Cô hỏi thều thào, “Sao cơ? Anh đã cử ai đến đó chưa?”

Cô bấm mạnh nút tắt máy và nhìn sang Rhyme, mắt mở lớn. “Một trung úy ở đội Tám tư. Một người hàng xóm vừa gọi chín một một, có kẻ đột nhập bên ngoài căn hộ của Pam. Nam da trắng đội mũ trùm và mặc áo khoác ngắn màu xám. Có vẻ như còn đeo mặt nạ. Màu vàng. Chúa ơi.”

Sachs mở điện thoại và bấm nút gọi nhanh.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.