Gần mười một giờ đêm Rhyme nghe tiếng Sachs đi vào sảnh trước, sự trở về của cô được báo hiệu bằng tiếng gió rít lên và lặng đi của cơn mưa tuyết.
“A, cuối cùng em cũng về.”
Cô bước vào phòng khách một phút sau đó, ôm theo một khay đựng sữa lớn có chứa hàng chục chiếc túi nhựa lẫn túi giấy. Cô gật đầu chào Mel Cooper, anh ta đang ngồi thừ ra vì mệt nhưng có vẻ vẫn sẵn sàng lao vào phân tích.
Rhyme hỏi ngay, “Sachs, em đã nói em nghĩ hắn có thể lảng vảng quanh hiện trường?”
“Đúng vậy.”
“Vụ đó sao rồi?”
“Không tìm được gì. Bo đã cử sáu chàng trai và cô gái của đội ESU
chạy theo hắn. Nhưng hắn đi mất. Và em không nhìn rõ được người đó. Có thể không phải hắn. Nhưng linh cảm của em nói rằng đó chính là hắn.” Cô bật một tấm bản đồ Hell’s Kitchen trên màn hình máy tính chính và chỉ vào nhà hàng, Provence2, chỉ vào góc tòa nhà văn phòng. “Hắn đã đi xuống đây nhưng, thấy không? Nó chỉ cách Quảng trường Thời đại có mấy dãy nhà thôi. Hắn biến mất trong đám đông. Không chắc đó là hắn nhưng sự trùng

hợp là quá lớn nên không thể bỏ qua hoàn toàn được. Hắn có vẻ tò mò về cuộc điều tra; rốt cuộc, thủ phạm đã quay lại phố Elizabeth và nhìn lén em qua nắp cống còn gì.”
Mắt đối mắt…
“Thôi được, chuyển sang vật chứng đi. Chúng ta có gì, Sachs?”
Thom Reston cứng rắn nói, “Tìm ra cô ấy có gì, nhưng phải nhanh lên.
Anh sắp phải đi ngủ, Lincoln. Hôm nay là một ngày dài.”
Rhyme cau mày. Nhưng anh cũng chấp nhận rằng công việc của người chăm sóc là giữ cho anh khỏe mạnh và còn sống. Người bị liệt tứ chi rất dễ gặp tổn thương với nhiều vấn đề đáng ngại, nguy hiểm nhất là tăng phản xạ tự phát - một sự gia tăng huyết áp do căng thẳng về thể chất. Người ta chưa biết rõ liệu sự kiệt sức có phải là nhân tố kích thích tình trạng đó không, nhưng Thom chưa bao giờ coi nhẹ bất kì điều gì.
“Rồi, rồi. Chỉ vài phút thôi.”
“Không có gì đặc biệt,” Sachs nói và hất cằm về phía thùng vật chứng.
Nhưng Rhyme nghĩ lại rằng hiếm khi nào họ có một khẩu súng pháo.
Công việc khám nghiệm hiện trường lúc nào cũng là tích tiểu thành đại. Và anh cảm thấy những phát hiện hiển nhiên lại thành đáng nghi một cách tự động; chúng có thể là những vật chứng bị cài cắm. Điều này hay xảy ra hơn người ta vẫn nghĩ.
Đầu tiên, Sachs bày những bức ảnh chụp hình xăm.
Bao quanh là hai đường viền hình vỏ sò mà TT Gordon bảo là rất đáng chú ý.
Điều này càng làm bản chất bí hiểm của dòng thông điệp thêm phần gây bực bội.
“Đầu tiên là ‘lần thứ hai’ rồi giờ lại là ‘bốn mươi’. Không có câu chữ gì sau chữ này nhưng một lần nữa, lại không có dấu má gì cả.”
Hắn đang nói cái quái gì nhỉ? Khoảng cách giữa hai và bốn mươi là ba mươi tám. Và tại sao lại chuyển từ số thứ tự sang số đếm? Rhyme ngẫm nghĩ, “Với tôi nghe như một nơi chốn, một dòng địa chỉ, GPS hoặc số kinh độ, vĩ độ vậy. Nhưng vẫn chưa đủ để đi tiếp.”
Anh thôi không đoán nữa mà trở lại với những bằng chứng cô thu thập được. Sachs chọn một cái túi và đưa nó cho Cooper. Anh ta lấy ra hai quả bóng bằng bông bên trong.
“Chất độc đấy,” Sachs nói. “Một mẫu đã được gửi tới văn phòng giám định pháp y nhưng tôi muốn biết trước. Đốt nó xem, Mel.”
Anh đưa vật liệu vào máy sắc phổ và vài phút sau đó đã có bảng khối phổ. “Nó là một hỗn hợp của atropine, hyoscyanmine và scopolamine.”
Rhyme nhìn lên trần nhà. “Nó tới từ một loại cây nào đó… đúng rồi, đúng… Chết tiệt, tôi không nhớ là cây gì.”
Cooper gõ tập hợp nguyên liệu ấy vào dữ liệu chất độc và báo cáo lại sau một phút. “Kèn thiên thần: Brugmansia.”
“Đúng rồi,” Rhyme kêu lên. “Tất nhiên là nó rồi. Nhưng tôi không biết chi tiết.”
Cooper giải thích rằng nó là một loài cây Nam Mĩ, rất phổ biến trong giới tội phạm ở Colombia, bọn họ gọi nó là hơi thở của quỷ. Họ thổi nó vào mặt nạn nhân và chất độc gây mê, gây tê liệt ấy sẽ khiến kẻ đó bất tỉnh, hoặc nếu vẫn còn tỉnh thì không có khả năng kháng cự kẻ tấn công mình.
Với đúng liều lượng như với Samantha Levine, chất độc có thể gây ra cái chết trong vòng vài phút.
Trùng hợp thay, đúng lúc ấy chuông điện thoại bàn trong phòng khách reo vang: văn phòng pháp y.
Cooper nhướng một bên lông mày và nhìn sang chỗ Sachs. “Chắc là một đêm ít việc. Hoặc cô đã dọa cho họ phải ưu tiên chúng ta trước, Amelia.”
Rhyme biết câu trả lời là vế nào.
Nhân viên phòng khám nghiệm pháp y, qua điện thoại, đã xác nhận hơi thở của quỷ chính là chất độc đã được dùng trên bụng Samantha Levine trong thông điệp bằng hình xăm. Anh ta nói thêm rằng nó là phiên bản cô đặc của chất độc này. Và trong máu cô gái còn cả dư chất propofol. Cooper cảm ơn anh ta.
Sachs và kỹ thuật viên tiếp tục nghiên cứu các dấu vết khác cô đã thu được. Mặc dù lần này họ không tìm thấy điểm khác biệt với các mẫu so sánh, điều đó có nghĩa những vết tích tìm được trên cơ thể cô gái và nơi nghi phạm đã bước đi trong hiện trường tội ác không phải do hắn mang vào; tất cả chúng đều là những chất có sẵn trong bãi quây lò mổ cũ dưới lòng đất.
Đến lượt mình, nó có nghĩa rằng những chất ấy không dẫn tới nơi thủ phạm có thể từng đến.
“Cũng tức là* ,” Rhyme lẩm bẩm, “hoàn toàn vô dụng.”
Rhyme nói bằng tiếng La tinh.
Cuối cùng, Sachs cầm cái kẹp thức ăn để gắp lên chiếc túi có chứa vật mà Rhyme thấy giống như một chiếc túi của phụ nữ. “Lúc đầu em còn tưởng nó là chuột. Anh biết đấy, tại màu nâu. Còn cái quai đeo là đuôi. Cẩn thận nhé. Có một cái bẫy bên trong đó.” Một cái liếc mắt vào Cooper.
“Sao cơ?” Rhyme hỏi.
Cô giải thích, “Nó nằm yên một chỗ ở cách thi thể Samantha khoảng ba mét. Cảm giác có gì không đúng lắm ở đó. Em đã nhìn kĩ và trông thấy một mũi kim thò ra ngoài. Rất nhỏ. Em đã dùng phoóc-xép để thu lấy cái túi.”
Sachs nói thêm rằng cô đã cố tình để ý tìm bẫy nhờ nhà tâm lí học của NYPD, Terry Dobyns đã kể với họ có thể thủ phạm sẽ bắt đầu nhắm đến kẻ truy đuổi hắn.
“Xảo quyệt thật đấy,” Cooper nói trong lúc đeo một cái kính lúp vào để xem xét cây kim. “Kim dưới da. Tôi nghĩ là loại ba mươi gauge. Rất nhỏ.
Bên trong có chất gì màu trắng.”
Rhyme đẩy xe lại gần và nhìn vào; cặp mắt tinh tường của anh có thể nhận ra một đốm trắng nhỏ xíu móc gài.
Cooper chọn một cái kẹp cầm máu rồi cẩn thận nhấc cái túi ra khỏi túi đựng.
“Kiểm tra chất nổ ấy,” Rhyme nói. Nó không phải là phương thức của nghi phạm nhưng cẩn thận không bao giờ là thừa.
Bản phân tích báo âm tính sau đó. Tuy nhiên Cooper vẫn quyết định cho cái túi xách vào một hộp chứa và dùng cánh tay máy để mở nó ra, đề phòng khả năng nó còn giấu một cái bẫy nào đó có thể xịt sương độc vào người mở nó.
Nhưng không, mũi kim là cái bẫy duy nhất. Những thứ đựng trong túi rất tầm thường, dù có đáng buồn, chúng là bằng chứng của một sinh mạng giờ đây đã vụt tắt: một thẻ thành viên câu lạc bộ sức khỏe, một bức thư cảm ơn vì đã quyên góp cho chương trình ung thư vú, một thẻ giảm giá của nhà hàng ở Midtown. Ảnh trẻ con - có vẻ như các cháu trai, cháu gái.
Còn về cái bẫy treo, Cooper cẩn trọng lôi cái kim ra.
“Nó rất nhỏ,” Rhyme nói. “Chúng ta có thể suy được gì từ đó?”
Cooper nói, “Có thể dùng để truyền insulin nhưng loại này hầu hết là cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ.”
Rhyme nhắc lại, “Hắn cũng có propofol đấy. Một chất gây mê nói chung. Có thể là hắn đang dự định làm phẫu thuật thẩm mĩ như một phần của kế hoạch thoát thân. Dù cũng có thể hắn chỉ đột nhập vào một nhà kho y tế và ăn cắp những thứ mình cần. Sachs, em kiểm tra xem có báo cáo nào liên quan trong tháng trước hoặc quanh khu vực không.” Cô bước đi để gọi xuống trung tâm, yêu cầu kiểm tra NCIC. Rhyme nói tiếp, “Nhưng nói thêm vào trọng điểm - xin lỗi vì cách dùng từ - cụ thể cây kim đó như thế nào? Có gì trong món quà nhỏ của hắn dành cho chúng ta? Lại thêm kèn thiên thần à?”
Cooper cho chạy mẫu vật. Một lát sau anh ta đọc kết quả. “Không. Nó còn tệ hơn. Tôi không nên nói tệ hơn. Đó là một phán đoán định tính. Tôi sẽ chỉ nói rằng nó còn hiệu quả hơn.”
“Nghĩa là chết chóc hơn à?” Rhyme hỏi.
“Hơn nhiều. Strychnine.” Cooper giải thích: Chất độc có trong Strychnos, một chi thực vật và bụi dây leo. Chất này được dùng phổ biến làm thuốc diệt sâu bọ. Nó đã từng là loại vũ khí giết người thường thấy từ một thế kỉ trước nhưng giờ thì ít hơn bởi nó rất dễ bị lần ra. Strychnine là loại độc tố gây ra đau đớn mạnh nhất trong tất cả các loại độc.
“Chỗ này không đủ để giết một người trưởng thành,” Cooper nói.
“Nhưng nó sẽ làm nạn nhân nằm liệt giường nhiều tuần liền và có thể gây tổn thương não.”
Mặc dù vậy, mặt tích cực trên phương diện điều tra là chất độc này vẫn được buôn bán thông thường như một loại thuốc diệt sâu bọ. Rhyme nhắc điều này với Sachs và Cooper.
“Tôi sẽ xem chúng ta có thể tìm được nhà cung cấp thương mại nào không,” kỹ thuật viên nói. “Họ phải giữ lại hồ sơ bán hàng của chất độc.”
Cooper nhìn vào máy tính và cau mày. “Có hàng chục nguồn. Các cửa hàng vật lí. Và tất cả những gì hắn cần chỉ là một cái chứng minh thư giả.
Trả tiền mặt. Không có dấu vết.”
Trong thế giới khoa học pháp y, quá nhiều lựa chọn cũng bằng với quá ít.
Sachs nhận được một cuộc gọi sau một hồi lắng nghe, cô cảm ơn người bên kia đầu dây và cúp máy. “Không có báo cáo trộm cắp thuốc hay các vật phẩm y tế hay nguồn cung nào trong khu vực trong vòng ba mươi ngày vừa qua, trừ mấy gã chơi đá hay điên khùng cướp cửa hàng thuốc; tất cả bọn họ đều đã bị bắt. Không có propofol bị mất.”
Thom xuất hiện trên ngưỡng cửa.
“Ai chà, mặt mũi cau có thế.”
“Sắp nửa đêm rồi, Lincoln. Anh phải đi ngủ.”
“Được rồi, anh bạn, được rồi.” Rồi Rhyme quay sang nói với Cooper, “Cẩn thận đấy, Mel. Không có lí do gì để hắn biết anh đang tham gia vụ này, nhưng vẫn nên cẩn thận. Sachs, nhắn cho Lon và Pulaski và bảo họ như vậy nhé.” Một cái liếc mắt vào bảng khối phổ strychnine. “Giờ chúng ta đã là mục tiêu rồi. Hắn đã tuyên bố khai chiến.”
Cô gửi tin nhắn cho hai cảnh sát rồi bước sang một tấm bảng trắng trơn, viết lên đó những bằng chứng cũng như thông tin mà cô và Lon Sellitto đã biết về nạn nhân.
614 phố 54 T.
• Nạn nhân: Samantha Levine, 32
– Làm việc cho Mạng lưới Cáp quang Quốc tế – Có thể không có liên hệ gì với Nghi can – Không bị tấn công tình dục, nhưng bị chạm vào da • Nghi can 11-5
– Xem chi tiết từ các vụ án trước – Có thể đã quay lại hiện trường • Không ai trông thấy – Không có dấu vân tay – Không dấu giày • COD: Đầu độc bằng Brugmansia, tiêm vào cơ thể qua hình xăm – Kèn thiên thần, hơi thở của quỷ – Atropine, hyoscyamine, scopolamine • Hình xăm:
– “bốn mươi” viền bằng hai đường hình vỏ sò – Tại sao lại là số đếm?
• Bị khống chế bằng propofol – Có được bằng cách nào? Tiếp cận với nguồn cung y tế? (Không có vụ trộm cắp nào trong khu vực)
• Địa điểm – Bị bắt cóc từ phòng vệ sinh trong nhà hàng Provence2, dưới tầng hầm – Địa điểm giết người là bên dưới nhà vệ sinh, trong khu vực bãi quây của lò mổ ngầm dưới lòng đất có từ thế kỉ 19
– Cơ sở hạ tầng tương tự hiện trường trước đó:
• IFON
• ConEd router • Đường điện một chiều của Sở điều hành giao thông đô thị • Ống của Sở bảo vệ môi trường.
• Đèn pin – Loại thường, không tra được rõ nguồn • Còng tay – Loại thường, không tra được rõ nguồn • Băng dính – Loại thường, không tra được rõ nguồn • Không có dấu vết • Chiếc túi xách bị bỏ lại để làm bẫy – Kim dưới da dùng trong phẫu thuật thẩm mĩ – Strychnine trong mũi tiêm • Không xác định được nguồn • Có thể không đủ lượng giết người Rhyme nhìn lên từng dòng rồi nhún vai. “Nó cũng bí hiểm chẳng kém gì thông điệp hắn đang truyền tải.”
Thom nói, “Muộn lắm rồi.”
“Được rồi, cậu thắng.”
Cooper mặc áo khoác vào và nói tạm biệt.
“Sachs?” Rhyme hỏi. “Em có lên gác không?”
Cô quay sang từ tấm bảng và đang nhìn chăm chú vào những cành cây gầy guộc, phủ băng tuyết ngoài cửa sổ đang oằn mình dưới cơn gió không ngừng nghỉ.
“Sao cơ?” có vẻ như cô không nghe.
“Em có đi ngủ không?”
“Mấy phút nữa em lên.”
Thom trèo lên gác còn Rhyme đẩy xe đến chỗ chiếc thang máy sẽ mang anh lên tầng hai. Khi đã lên gác, anh đẩy xe vào phòng ngủ. Mặc dù vậy anh vẫn nghiêng đầu lắng nghe. Sachs đang gọi điện, cô nói khẽ nhưng anh vẫn có thể nghe được lời cô nói.
“Pam, chào, chị đây… Hi vọng em có kiểm tra lời nhắn. Chị rất muốn nói chuyện. Gọi điện cho chị nhé. Được rồi, yêu em. Tạm biệt.”
Rhyme tin rằng đó đã là cuộc gọi lần thứ ba trong hôm nay.
Nghe tiếng bàn chân cô đặt lên cầu thang anh lập tức đẩy xe vào phòng ngủ và bắt chuyện với Thom - việc này chắc hẳn là điều kinh ngạc với viên trợ tá, nhất là khi Rhyme lại không tập trung gì vào lời mình; anh chỉ đơn giản muốn Sachs không biết mình vừa nghe được lời cầu xin của cô với Pam Willoughby.
Sachs đã lên đến đỉnh cầu thang và đi vào phòng ngủ. Rhyme đang nghĩ khi những người là tâm điểm trong cuộc sống chúng ta bỗng trở nên dễ bị tổn thương thì ta sẽ lo lắng nhường nào. Và tệ hơn thế nữa khi họ giấu nó dưới những nụ cười cứng ngắc, như Sachs đang làm lúc này.
Cô nhìn thấy ánh mắt anh và hỏi, “Sao thế?”
Rhyme ứng biến. “Chỉ đang nghĩ thôi. Anh đang có cảm tưởng ngày mai chúng ta sẽ bắt được hắn.”
Anh chờ đợi cô tỏ ra khó tin và nói điều gì đó đại loại như, “Anh ư? Có cảm tưởng ư?”
Nhưng thay vào đó cô chỉ liếc nhanh màn hình điện thoại của mình, nhét nó vào túi và nói trong lúc mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ. “Có thể chứ, Rhyme. Có thể lắm.”