Vào năm Thiên Chúa 1482, nhà quý tộc Robert d’Estouteville quả là một nhân vật vô cùng sung sướng, ngài vốn thụ phong hiệp sĩ, tên gọi Beyne, nam tước của Yvri và Saint-Andry ở la Marche, cố vấn kiêm thị thần nhà vua, và là đô trưởng Paris. Đã gần bảy mươi năm qua, kể từ ngày mùng 7 tháng mười một năm 1465, năm có sao chổi* khi ông được nhà vua ban cho chức vụ hậu hĩnh là đô trưởng Paris, một chức vụ được tiếng về lãnh quyền hơn chức quyền, như Joannes Loemnoeu từng nói, dignitas quae cum non exigua potestate politiam concernente, atque praerogativis multis et juribus conjuncta est*.
VHugo chú thích: “Ngôi sao chổi này, mà Giáo hoàng Calixte, chú của Borgia, ra lệnh cầu nguyện công cộng, cũng là ngôi sao sẽ mọc lại vào năm 1835”.
chức tước có kèm theo quyền hành cảnh sát to lớn và nhiều quyền lợi cùng đặc quyền.
Thật là chuyện tuyệt vời vào năm 82 khi một quý tộc được nhà vua tín nhiệm, ông ta được sắc phong lâu rồi, từ hồi con gái riêng của vua Louis XI kết hôn với ngài con hoang họ Bourbon. Cùng ngày với Robert d’Estouteville thay thế Jacques de Villier làm đô trưởng Paris, ngài Jean Dauvet thay ngài Hélye de Thorrettes làm đệ nhất chánh án tòa án Jean Jouvenel des Ursins hất cẳng Pierre de Morvillier làm chưởng ấn Pháp quốc, Regnault des Dorman gạt Pierre Puy giành chức chủ sự văn phòng thỉnh cầu của hoàng cung. Nhưng kể từ ngày Robert d’Estouteville giữ chức đô trưởng Paris, các chức vụ chánh nhất, chưởng ấn, chủ sự đó đã qua tay bao người! Chiều theo sắc phong, chức vụ đô trưởng đã giao ông trị nhậm và tất nhiên, ông nắm nó thật chặt. Ông bám rịt, ông hòa mình, ông hóa thân vào chức vụ đó. Đến mức ông thoát khỏi cái tật thay đổi người xoành xoạch của Louis XI, một ông vua đa nghi, keo kiệt và siêng năng, chủ trương luôn luôn bổ nhiệm và thải hồi quan chức, để duy trì quyền binh mềm dẻo. Hơn thế nữa, vị hiệp sĩ can trường còn xin cho con trai được thừa kế chức vụ, cho nên từ hai năm nay, nhà quý tộc Jacques d’Estouteville, kỵ sĩ, đã có tên ghi cạnh tên bố đứng đầu số quân lương của tòa đô chính Paris! Thực là ân huệ hiếm có và đặc biệt! Quả tình Robert d’Estouteville là quân nhân tốt, đã công khai phất cờ chống lại Liên đoàn bảo vệ công ích* và đã cung tiến hoàng hậu một con nai vô cùng kỳ diệu bằng mứt kẹo, vào hôm lệnh bà tới Paris hồi năm 14... Ngoài ra, ông còn kết giao thân tình với Tristan l’Hermite, chưởng quản hiến binh tại hoàng cung. Quả thực cuộc sống của ông Robert rất dễ chịu, sung sướng. Trước hết, lương cao bổng hậu, lại còn đèo thêm, dính vào, như các chùm nho thừa bám vào cành nho, các lợi tức về mọi phòng lục sự hình và hộ thuộc tòa đô chính cộng thêm lợi tức hình và hộ tại tòa án Embas ở Châtelet, chưa kể vài món thuế lặt vặt về cầu ở Mantes và Corbeil, rồi lợi tức về thuế hái táo ở Paris, thuế củi, và thuế muối. Cộng thêm vào đó cái thú được trưng diện trong các cuộc thi ngựa qua phố phường, được khoe bộ giáp trụ đẹp đẽ phủ bên ngoài tấm áo nửa đỏ nửa nâu của thẩm phán quan và cảnh sát trưởng, mà hiện giờ chúng ta còn được ngắm nó khắc trên mộ ông tại tu viện Valmont ở Normandy và chiếc mũ sắt bẹp rúm ở Montlhéry. Hơn nữa, chẳng phải chuyện xoàng khi ông có toàn quyền đối với các cảnh vệ, viên gác cổng và tuần canh ở tòa Châtelet, hai thẩm phán ở tòa Châtelet, auditores Castelleti* mười sáu ông cẩm ở mười sáu quận, viên giám mục ở Châtelet, bốn cảnh sát lão luyện; trăm hai mươi kỵ hiến binh, trăm hai mươi cảnh vệ mang roi, các thứ lính tuần canh khác đủ loại. Chẳng phải chuyện tầm thường khi ông có quyền thi hành đủ các bản án lớn hoặc nhỏ, có quyền thi hành nhục hình trên giàn bêu tù, giá treo cổ hoặc ngựa kéo lê, không kể quyền hành tối thiểu được xét xử trước tiên, in prima instantia* trên lãnh địa tử tước Paris như được ghi trong Pháp điển và được bày tòa án quý tộc thừa nhận sắc phong thái ấp. Còn gì thú vị bằng tưởng tượng cảnh ngài Robert d’Estouteville hằng ngày ngồi xét xử và tuyên án trong tòa Đại Châtelet, dưới vòm cung nhọn rộng và nặng nề của Philippe-Auguste! Rồi tối tối theo lệ thường, ông trở về ngôi nhà đẹp đẽ ở phố Galilée bên trong vòng rào hoàng cung Pale Roayan, ngôi nhà thủa hưởng bằng hồi môn của bà vợ, Ambroise de Loré phu nhân, để nghỉ ngơi sau bao khó nhọc vì đã tống cổ một kẻ khốn nạn nào đó đi ngủ đêm ở “căn nhà nhỏ bé trên phố Escorcherie, mà các đô trưởng và thẩm phán ở Paris muốn dùng làm nhà giam; căn nhà mười một bộ, rộng bảy bộ bốn tấc và cao mười một bộ”*.
Liên đoàn bảo vệ công ích: nhân danh “công ích”, vào cuối năm 1464, nhiều chư hầu liên minh với nhau để chống lại vua Louis XI. Nhà vua tạm thời chịu thua và ký hiệp ước Conflans, nhưng sau đó đã giành lại những thứ đã nhượng bộ.
thẩm phán tòa Châtelet
được xét xử trước tiên
VHugo chú thích: “Sổ điền địa, 1383”.
Không những ông Robert d’Estouteville có quyền xử án theo ý riêng với tư cách đô trưởng và tử tước Paris, mà còn có quyền để mắt và thò nanh vuốt vào các vụ án lớn của nhà vua. Không có cái đầu nào hơi cao cấp mà không qua tay ông trước khi rơi vào tay đao phủ. Chính ông đã tới ngục Bastille để tìm Saint-Antoine rồi giải ra Chợ, tìm ngài Nemour để giải ra quảng trường Grève, tìm ngài Saint-Paul giãy giụa kêu la, khiến ngài đô trưởng rất thích thú vì vốn không ưa quan nguyên soái.
Tất nhiên, mọi cái đó thừa thãi để tạo nên đời sống sung sướng và danh giá, để một ngày kia ngài xứng đáng lưu danh trên một trang quan trọng của cuốn sử thú vị về những đô trưởng Paris, trong đó còn đọc thấy Oudard de Villeneuve có ngôi nhà trên phố Hàng thịt; Guillaume de Hangest mua cả đại lẫn tiểu Savoie, Guillaume Thiboust ở cùng dãy nhà trên phố Clopin cho các nữ tu sĩ ở nhà thờ Sainte-Geneviève, Hugues Aubriot ngụ tại dinh Porc-épic, cùng nhiều chuyện gia đình khác.
Tuy nhiên, với rất nhiều lý do là cần kiên nhẫn và vui vẻ để sống ở đời, ông Robert d’Estouteville vẫn thức dậy rất bực bội và cau có vào sáng hôm mùng 7 tháng giêng năm 1482. Tại sao lại cau có bực bội? Chính ông cũng không hiểu nữa. Phải chăng vì trời u ám? Vì cái khóa thắt lưng cũ rích ở Montlhéry cài không chặt và bó lấy tấm thân phì nộn của đô trưởng một cách quá lính tráng chăng? Vì ngài trông thấy bọn đàng điếm đang kéo đi ngoài phố, ngay dưới cửa sổ nhà mình, mỗi tốp bốn đứa, áo dài mặc trần không áo lót, mũ không chóp, kè kè túi dết và chai rượu, còn làm bộ trêu chọc ông? Phải chăng vì mơ hồ linh cảm thấy ba trăm bảy mươi đồng livre mười sáu xu tám denier sang năm sẽ bị nhà vua tương lai Charles VIII cắt xén từ số lợi tức của tòa đô chính? Xin tùy bạn đọc lựa chọn nguyên nhân; còn tác giả nghiêng về phía tin rằng ông ta bực bội chỉ vì lý do đơn giản là ông ta bực bội.
Vả lại, hôm đó là hôm sau ngày hội, một ngày đáng chán với tất cả mọi người, nhất là với nhà chức trách có nhiệm vụ quét sạch mọi rác rưởi, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, của ngày hội ở Paris để lại. Hơn nữa, ông còn phải tới ngồi xử án tại tòa Đại Châtelet. Thế mà ta thường nhận thấy các vị thẩm phán bao giờ cũng tìm cách khiến ngày phiên tòa trùng với ngày cáu kỉnh, để luôn có sẵn một kẻ mà nhân danh nhà vua, cứ việc tiện lợi đổ hết luật lệ và công lý lên đầu.
Trong lúc đó, phiên tòa đã khai mạc không có ông ta. Theo thường lệ, các phụ tá về hình, về hộ và về việc tư cứ làm việc; và mới tám giờ sáng, dăm chục nam nữ thị dân đã chen chúc, xô đẩy trong góc tối tòa án Embas ở Châtelet, giữa hàng rào gỗ sồi vững chắc và bức tường, khoan khoái dự tấn trò khá xôm và vui vẻ xử án hình, án hộ, do thầy Florian Barbedienne, thẩm phán ở Châtelet, phụ tá ngài đô trưởng, xét xử khá lộn xộn và hoàn toàn tùy tiện.
Gian phòng nhỏ, thấp, trần vòm. Cuối phòng kê chiếc bàn chạm hoa huệ, cùng chiếc ghế bành lớn gỗ sồi có chạm trổ, dành cho đô trưởng và đang bỏ trống, bên trái là ghế đẩu của thẩm phán, thầy Florian. Viên lục sự đang ghi chép, ngồi ở phía dưới. Trước mặt là công chúng, trước cửa và trước bàn có rất đông cảnh vệ, mặc nhung phục lót lông thú màu tím thêu thập tự trắng. Hai cảnh vệ của tòa án Parloir-aux-Bourgeoi, mặc áo nâu kiểu Toussaint, nửa đỏ nửa xanh, đứng gác trước cửa nhỏ đóng kín, ở cuối phòng, sau bàn. Chiếc cửa sổ tò vò duy nhất, trổ hẹp trong bức tường dày, chiếu ánh sáng trắng bệch tháng giêng vào hai hình thù kỳ quặc, con quỷ quái dị bằng đá chạm trên đầu cột chống vòm mái và viên thẩm phán ngồi ở cuối phòng, trên nền hoa huệ.
Đúng thế, hãy hình dung thầy Florian Barbedienne, thẩm phán ở Châtelet, ngồi trước bàn xử án, giữa hai chồng hồ sơ, chống khuỷu tay, chân giẫm lên vạt áo dài bằng dạ nâu trơn, mặt khuất trong cổ áo lông cừu trắng, với cặp lông mày như sắp rời ra, một khuôn mặt đỏ nhừ, quàu quạu, mắt hấp him, hai má núng nính oai vệ đầy mỡ, chảy dài xuống dưới cằm.
Ông thẩm phán lại điếc nữa. Nhược điểm nhẹ đối với một thẩm phán. Không phải vì thế mà thầy Florian không xử thẳng tay và đâu vào đó. Chắc chắn một thẩm phán chỉ cần ra vẻ lắng nghe là đủ; thế mà ông thẩm phán đáng kính lại làm tròn đầy đủ nhiệm vụ đó, điều kiện cần thiết duy nhất để phán xử công minh, không một tiếng động nào có thể làm ông đãng trí.
Hơn nữa, trong tòa án, có một kẻ đang kiểm soát gắt gao mọi hành động, cử chỉ của quan thẩm phán, đó là anh bạn Jehan Frollo cối xay của chúng ta, cậu học trò bé nhỏ hôm trước, người bộ hành mà ai ai cũng luôn luôn chắc chắn bắt gặp khắp nơi ở Paris, trừ trước bàn giảng giáo sư.
Hắn khẽ nói với gã bạn Robin Poussepain đang cười cợt bên cạnh, trong khi hắn bình phẩm những cảnh xảy ra trước mắt:
- Này, Jehanneton bụi bậm kia kìa. Đứa con gái xinh đẹp của thằng cha đại lãn ngoài chợ Mới!
- Đây rồi xem, thế nào lão ta cũng trừng phạt con bé! Lão chẳng còn có tai mắt gì nữa. Mười lăm xu bốn denier tiền Paris, vì tội đeo những hai chuỗi hạt! Kể hơi đắt. Lex duri carminis* - Ai thế kia nhỉ? Robin Chief-de-Ville, thợ áo giáp chăng? - Đã từng dự thi và đỗ bằng thợ cả trong nghề ư? - Đó là tiền vào cửa của hắn ta. - Ồ kìa! Hai quý tộc giữa đám vô lại! Aiglet de Soins, Hutin de Mailly. Hai kỵ sĩ, corpus Christ*. Chà! Họ chơi xúc xắc. Bao giờ mới thấy mặt hiệu trưởng của chúng ta ở đây nhỉ. Một trăm đồng livre tiền Paris là tiền phạt nộp cho nhà vua! Lão Barbedienne nện bừa như thằng điếc - hắn chẳng điếc sẵn là gì! - Mình chỉ muốn thành ông phó chủ giáo, nếu việc đó cấm được mình đánh bạc, đánh bạc ban ngày, đánh bạc ban đêm, sống vì cờ bạc, chết vì cờ bạc, đem cả linh hồn ra đánh bạc sau khi đã gán cả áo lót! - Lạy Đức mẹ, sao lắm con gái thế! Hết con này đến con khác, hỡi bầy chiên của ta! Ambroise Lécuyère! Isabeau la Paynette! Bérarde Gironin! Lạy Chúa, mình quen hết tụi nó! Phạt! Cứ phạt! Có thế mới chừa cái tội đeo thắt lưng vàng! Phạt mười xu tiền Paris, này mấy ả làm dáng! - Ồ! Cái mõm già lão thẩm phán, hắn đã điếc lại ngu! Ồ! Florian đồ bị thịt! Ồ! Barbedienne con vạc! Kìa hắn ngồi vào bàn! Hắn ăn bên nguyên, hắn ăn vụ án, hắn chén, hắn nhai, hắn nhồi, hắn nhét, phạt vạ, di vật, phí tổn, án phí, tiền, thù lao, ngoại phụ, tiền bồi thường tổn thất, tra khảo, giam cầm, tù ngục và cộng thêm tụng phí, tất cả đối với lão chỉ là bánh ngọt Giáng sinh và bánh hạnh nhân ngày lễ Saint-Jean! Xem kìa con lợn! - Thôi được! Lại thêm một mụ đa tình nữa! Thibaut Thảm lông bò, không hơn không kém! - Vì tội đi ra từ phố Glatigny!
Văn bản luật pháp vốn nghiêm khắc.
“Mình của Chúa!”(tiếng rủa)
- Thằng nào thế kia? Gieffroy Mabonne, cung thủ hiến binh. - Nó réo gọi tên Chúa cha. - Phạt mụ Thảm lông bò! Phạt thằng Gieffroy! - Phạt cả hai đứa! Lão giả điếc! Có lẽ lão lẫn lộn hai việc mất rồi! Đánh cuộc mười ăn một là thế nào lão cũng phạt con đĩ về tội chửi đổng và phạt gã hiến binh về tội làm tình. Xem kìa, Robin Poussepain! Chúng sắp dẫn ai vào thế kia? Sao lắm cảnh vệ thế! Ôi Thượng đế! Cả bầy chó săn đều đủ mặt. Chắc là con mồi to nhất của cuộc săn. Một con lợn lòi. - Đúng là con lợn lòi, Robin, con lợn lòi thật! - Mà lại là con kếch xù nữa! Hercle*! Đúng là ông hoàng hôm qua, vị Cuồng đãng giáo hoàng, gã kéo chuông, tên chột, tên gù, cái mặt nhăn nhó của chúng ta! Đúng là Quasimodo.
“Ôi, Hercle!” (tiếng rủa)
Quả thật nó...
Đúng là Quasimodo bị cột kỹ, buộc ghì, trói gô, thít chặt và canh gác cẩn mật. Toán cảnh vệ giải nó do chính vị hiệp sĩ đội trưởng chỉ huy, mặc áo thêu huy hiệu Pháp quốc trên ngực và thêu huy hiệu thành phố trên lưng. Trừ sự tàn tật, Quasimodo chẳng còn gì trong người để biện minh cho những gươm giáo, súng ống tua tủa như vậy. Nó ủ rủ, lặng lẽ và bình tĩnh. Chỉ thỉnh thoảng nó mới thâm hiểm và tức tối liếc con mắt độc nhất nhìn mớ dây trói chằng chịt trên người.
Nó nhìn chung quanh cũng bằng con mắt đó nhưng ngầu đục và lờ mờ, đến nỗi bọn đàn bả cũng chỉ trỏ cho nhau xem để cười.
Trong khi đó, quan thẩm phán Florian chăm chú giở tập hồ sơ tố giác Quasimodo, do viên lục sự đưa lên, lão xem qua rồi ra vẻ suy nghĩ một lát. Nhờ sự thận trọng này đã thành thói quen, mỗi lần sắp hỏi cung, lão biết trước tên tuổi, nghề nghiệp, tội trạng của bị can, đáp lại bằng câu định sẵn về lời khai định sẵn và thoát khỏi mọi rắc rối của cuộc hỏi cung, mà không để lộ mình điếc. Hồ sơ vụ án đối với lão cũng giống con chó đối với người mù. Nếu tình cờ tật điếc thỉnh thoảng có lộ ra bằng cái câu chất vấn khó hiểu hoặc câu hỏi lí nhí, có người cho là sâu sắc, có kẻ lại nghĩ là ngu xuẩn. Trong cả hai trường hợp, danh dự tòa án đều không hề tổn thất; vì một thẩm phán thà được tiếng ngu xuẩn hoặc sâu sắc, còn hơn điếc. Cho nên, lão tìm mọi cách che giấu tật điếc trước mắt mọi người, thường thường lão thành công đến mức chính mình cũng có ảo tưởng không điếc. Điều đó thật ra cũng dễ hơn ta tưởng. Mọi anh gù đều vươn cổ lên, mọi anh ngọng đều ba hoa, mọi anh điếc đều nói nhỏ. Còn về phần lão, lão chỉ thấy tai mình hơi nghễnh ngãng. Đó là nhượng bộ duy nhất lão có thể chấp nhận trước dư luận công chúng, vào những lúc thành khẩn và tự vấn lương tâm.
Sau khi nghiền ngẫm kỹ vụ Quasimodo, lão ngả đầu ra ghế và lim dim đôi mắt, cho có vẻ thêm oai nghiêm và vô tư, thành ra lúc đó lão vừa điếc lại vừa mù. Nếu không có hai điều kiện này, lão đã chẳng thành một thẩm phán hoàn hảo. Với thái độ oai vệ đó, lão bắt đầu thẩm vấn:
- Họ tên?
Nhưng đây là trường hợp chưa được “pháp luật quy định”, trường hợp một người điếc thẩm vấn một người điếc.
Không có gì báo trước cho Quasimodo biết câu hỏi đó nhằm vào mình, nên hắn cứ tiếp tục nhìn chằm chằm ông thẩm phán. Ông này, cũng điếc và không gì báo trước cho biết là can phạm điếc, tưởng hắn đã trả lời, như mọi can phạm thường làm như vậy, nên hỏi tiếp đầy vẻ đĩnh đạc máy móc và ngớ ngẩn:
- Tốt lắm! Bao nhiêu tuổi?
Quasimodo cũng chẳng trả lời câu hỏi đó. Ông thẩm phán tưởng hắn đã trả lời, lại hỏi tiếp:
- Bây giờ tới nghề nghiệp?
Vẫn im lặng như thường. Nhưng cử tọa bắt đầu xì xào và nhìn nhau.
- Thế là đủ, ông thẩm phán cho là can phạm trả lời xong câu hỏi thứ ba, cứ nghiễm nhiên nói tiếp: “Can phạm bị buộc tội trước tòa: thứ nhất, làm náo động ban đêm; thứ nhì, có hành động bất chính với một người đàn bà điên, in praejudictum meretricis*, thứ ba, chống đối và gian manh đối với các cung thủ ngự lâm quân. Can phạm hãy giải thích mọi việc đó. - Lục sự, ông đã ghi đầy đủ những lời can phạm cung khai từ nãy đến giờ chưa?”
làm thiệt hại cho một gái giang hồ
Nghe câu hỏi bất ngờ đó, cử tọa phá lên cười, từ lục sự tới công chúng, cười ầm ĩ, điên cuồng, lan tràn, đồng loạt, làm cả hai gã điếc cũng phải nhận thấy. Quasimodo nhô cái bướu lên, quay lại, nét mặt khinh khỉnh, còn thầy Florian, cũng ngạc nhiên không kém và cho rằng can phạm đã trả lời hỗn láo làm cho mọi người cười, cứ xem nó nhún vai thế kia đủ rõ, liền tức giận tra hỏi:
- Anh hề kia, anh vừa trả lời một câu hỏi đáng tội treo cổ đấy. Anh có biết anh đang nói với ai không?
Câu hỏi cáu kỉnh càng không làm trận cười chung giảm bớt. Mọi người thấy câu hỏi quá ngô nghê và vớ vẩn, trận cười lây sang cả hai cảnh vệ tòa án Parloir-aux-Bourgeoi, loại quân hầu đầy tớ ngu độn như nhau. Riêng có Quasimodo vẫn giữ vẻ nghiêm trang, vì lẽ nó chẳng hiểu gì về mọi chuyện đang xảy ra chung quanh. Ông thẩm phán, càng tức tối hơn, tưởng mình phải tiếp tục theo giọng điệu cũ, hy vọng làm can phạm run sợ, do đó tác động tới cử tọa và kéo họ trở lại trang nghiêm như cũ.
- Tên lưu manh trộm cướp kia, như thế là ngươi dám xúc phạm tới vị thẩm phán tòa Châtelet, vị pháp quan phụ trách cảnh sát nhân dân địa hạt Paris, có nhiệm vụ điều tra về hình sự, thường sự và mọi vụ phạm pháp, kiểm soát mọi ngành nghề và ngăn cấm đầu cơ độc quyền, duy trì đường sá, cấm chỉ buôn bán lẻ gà vịt nhà nuôi hay gà vịt rừng, kiểm tra đo lường củi đốt và các loại gỗ khác, tẩy uế thành phố sạch bùn rác, tẩy uế không khí sạch bệnh truyền nhiễm, luôn luôn chăm nom mọi lợi ích công cộng, tóm lại một câu là không có lương bổng, cũng chẳng hy vọng thù lao gì! Ngươi có biết ta tên là Florian Barbedienne, phụ tá chính thức của ngài đô trưởng, hơn nữa còn kiêm chánh cẩm, điều tra viên, kiểm soát viên và thanh tra viên với quyền hạn ngang nhau ở tòa đô chính, tòa án, quản thủ và chung thẩm!...
Chẳng có lý do gì khiến người điếc nói với một người điếc phải ngừng lời. Có trời mà biết Florian đang khua mái chèo cao đàm hùng biện, sẽ ghé bến vào lúc nào và ở đâu, nếu cánh cửa nhỏ ở cuối phòng không đột nhiên mở ra để đích thân ngài đô trưởng bước vào.
Thấy đô trưởng tới, thầy Florian không hề lúng túng ngừng lời, mà quay gót nửa vòng, đột nhiên hướng về đô trưởng những lời biện thuyết vừa mới giáng xuống đầu Quasimodo trước đó:
- Bẩm đức ông, - lão nói, - tôi trân trọng yêu cầu tòa kết án can phạm có mặt tại đây, vì tội xúc phạm nặng và kỳ quặc đối với tòa.
Rồi lão hổn hển ngồi xuống, lau mô hôi rỏ từng giọt lớn như nước mắt trên trán, làm ướt cả tập hồ sơ trải trước mặt. Robert d’Estouteville cau mày rồi giơ tay đe Quasimodo thật oai nghiêm và đầy ý nghĩa, làm gã điếc cũng hiểu đôi chút.
Ông đô trưởng nghiêm khắc hỏi:
- Tên vô lại kia, mày phạm tội gì mà phải giải tới đây?
Gã khốn nạn cho rằng đô trưởng hỏi tên nó bèn phá vỡ thói quen im lặng và trả lời bằng giọng khàn khàn từ trong cổ họng:
- Quasimodo.
Câu trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi làm mọi người cười ầm lên, khiến ông Robert tức đỏ mặt, thét lên:
- Đồ mặt dày mày dạn, mày dám trêu cả tao nữa ư?
- Kéo chuông ở nhà thờ Đức Bà, - Quasimodo đáp, tưởng thẩm phán hỏi nó làm nghề gì.
- Kéo chuông à! - Ông đô trưởng từ sáng dậy đã cáu kỉnh sẵn, như đã kể ở trên, cho nên chẳng cần những câu trả lời kỳ quặc như vậy chọc tức thêm. - Kéo chuông hả? Tao sẽ cho gậy gộc nó rung chuông ngay trên lưng mày giữa ngã tư thành phố. Đồ vô lại, mày hiểu chưa?
- Nếu tòa muốn biết tuổi tôi, - Quasimodo đáp, - hình như tôi được hai mươi tuổi vào ngày lễ Saint-Martin này.
Thế này thì quá lắm, ông đô trưởng không chịu đựng nổi nữa.
- A, thằng khốn nạn! Mày dám nhạo báng cả tòa. Cảnh vệ cầm roi, hãy điệu tên này tới giàn bêu tù ở quảng trường Grève, đánh cho nó một trận rồi quay cho nó một giờ. Lạy Chúa! Cho nó biết tay ta và ta truyền bản án này phải được đi rao, cùng bốn lính kèn kèm theo, tại bảy khu vực lãnh địa thuộc đất đai tử tước Paris.
Viên lục sự liền thảo luôn bản án.
- Lạy Chúa chết tiệt! Xử với xiếc hay thật! - Gã học trò nhỏ Jehan Frollo cối xay đứng trong đó thốt lên.
Ông đô trưởng quay lại, cặp mắt nảy lửa hằm hằm nhìn Quasimodo:
- Hình như thằng khốn kiếp còn rủa Chúa chết tiệt nữa! Lục sự, phạt thêm mười hai denier tiền Paris vì tội chửi rủa và chia cho xưởng Saint-Eustache một nửa số tiền đó. Ta đặc biệt tôn sùng thánh Eustache.
Vài phút sau, bản án thảo xong. Nội dung thật giản dị và ngắn. Thủ tục tại tòa đô chính và lãnh địa tử tước Paris hồi đó chưa được chánh án Thibaut Baillet và luật sư hoàng gia Roger Barmne nghiên cứu. Khi đó, thủ tục chưa bị ngăn cản bởi một rừng rậm các mánh khóe và lề thói mà hai nhà luật học đó dựng lên từ đầu thế kỷ mười sáu. Mọi cái lúc bấy giờ còn rõ ràng, minh bạch. Người ta đi thẳng tới đích và lập tức thấy ngay bánh xe quay tù, đài treo cổ hoặc giàn bêu tù ở cuối mỗi con đường không bụi rậm, chẳng ngả rẽ. Ít nhất cũng biết mình đi đâu.
Lục sự trình bản án cho đô trưởng, ông này áp triện rồi đi ra, tiếp tục tới các công cán tại các tòa khác, với tâm trạng, khiến hôm đó, khắp các nhà tù ở Paris phải chật ních tội nhân, Jehan Frollo và Robin Poussepain cùng che miệng cười. Quasimodo nhìn mọi việc, thái độ vừa thản nhiên vừa kinh ngạc.
Trong khi đó, vào lúc thầy Florian Barbedienne đến lượt mình phải đọc bản án để ký tên, viên lục sự thấy thương hại gã tội nhân khốn khổ và hy vọng xin giảm nhẹ cho nó, nên ghé sát tận tai viên thẩm phán rồi chỉ Quasimodo và bảo:
- Anh ta bị điếc.
Y hy vọng cảnh đồng bệnh tương liên sẽ khiến thầy Florian quan tâm cứu giúp tội nhân. Nhưng trước hết, chúng ta đã nhận thấy thầy Florian không muốn người ta biết mình điếc. Sau nữa, ông nặng tai đến nỗi không nghe thấy một lời nào của viên lục sự nói với mình; nhưng ông ta ra vẻ nghe rõ và đáp:
- Ra thế à! Nếu vậy lại khác. Nào tôi có biết đâu. Trong trường hợp này, phạt thêm nó một giờ bêu tù nữa.
Rồi lập ký bản án được sửa đổi như vậy.
Robin Poussepain vốn thù ghét Quasimodo, bảo:
- Hay lắm, thế cho nó chừa cái thói hung bạo với mọi người.