Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 119 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I Cơn Sốt
I Cơn Sốt

❊ ❊ ❊

Claude Frollo không còn ở trong nhà thờ, khi đứa con nuôi của ông đột nhiên chặt đứt nút thòng lòng định mệnh mà vị phó chủ giáo khốn nạn đã thòng vào cổ cô gái Ai Cập, đồng thời cũng tròng luôn vào cổ mình. Quay vào phòng thay áo lễ, ông cởi bộ bạch y, áo lễ và khăn quàng trút hết vào tay gã hầu lễ sững sờ, rồi theo cửa ngách tu viện ông lẻn ra ngoài, sai gã lái đò ở khu Terrain chở ông sang tả ngạn sông Seine, rồi đi sâu vào các phố dốc ở Khu đại học, cũng chẳng biết mình đi đâu, mỗi bước lại gặp lũ lượt từng đám đàn ông đàn bà vui vẻ kéo về phía cầu Saint-Michel, hy vọng vẫn còn tới kịp để xem treo cổ con phù thủy; ông phó chủ giáo mặt tái nhợt, ngơ ngác, còn bối rối, mù quáng và dữ tợn hơn cả con chim ăn đêm được thả ra và bị lũ trẻ đuổi bắt giữa ban ngày. Ông không còn biết mình đang ở đâu đang nghĩ gì hoặc đang mơ. Ông đi, ông bước, ông chạy, gặp phố nào sà vào phố đó, không lựa chọn, luôn luôn bị quảng trường Grève đẩy về phía trước, cái quảng trường Grève khủng khiếp mà ông mơ hồ cảm thấy sau lưng.

Cứ thế ông đi dọc quanh Sainte-Geneviève và cuối cùng theo cửa ô Saint-Victor ra khỏi thành phố. Ông tiếp tục chạy trốn, chừng nào quay lại còn trông thấy dãy tháp vây quanh Khu đại học và nhà cửa lác đác ở vùng ngoại ô; rồi cuối cùng, khi một dải đất đã che khuất toàn bộ cái đô thành Paris ghê tởm, khi tưởng mình đã ở ngoài xa trăm dặm, trên đồng ruộng, trên sa mạc, ông mới dừng lại và xem ra mới thở được.

Đầu óc ông lúc đó dồn dập bao ý nghĩ khủng khiếp. Ông nhìn thấy rõ tâm hồn mình và run sợ. Ông nhớ tới cô gái khốn khổ đã làm hại đời mình và bị mình làm hại lại. Ông đưa mắt ngơ ngác dõi theo con đường đôi khúc khuỷu của định mệnh đã buộc hai số phận họ phải đi theo, cho tới chỗ giao nhau, định mệnh liền xô đẩy chúng va nhau đổ vỡ tan tành. Ông nghĩ tới sự điên rồ của những nguyện cầu vĩnh cửu, sự hư danh của trinh bạch, khoa học, tôn giáo, đạo đức, sự vô ích của Chúa. Ông vui sướng đắm mình trong các tư tưởng đen tối, và lúc đi sâu vào, liền cảm thấy trong lòng bật lên tiếng cười của Satan.

Càng đào sâu tâm hồn như vậy, lúc nhận thấy tạo hóa dành sẵn vị trí quá lớn cho dục vọng, ông cười càng chua chát hơn. Ông khuấy đảo từ đáy lòng lên tất cả hằn thù, tất cả tàn ác của mình và nhận thấy, với con mắt lạnh lùng của thầy thuốc khám con bệnh, sự hằn thù, sự tàn ác đó chỉ là tình yêu đọa lạc; tình yêu, suối nguồn của mọi đức tính ở con người, sẽ biến thành thứ khủng khiếp trong trái tim tu sĩ, và một người được cấu tạo như ông, khi trở thành linh mục cũng trở thành quỷ sứ. Rồi ông cười ghê rợn và đột nhiên mặt tái xanh khi nhận xét khía cạnh bi thảm nhất của mối ham mê định mệnh, của tình yêu xói lở, mang nọc độc, hằn học, quyết liệt, chỉ dẫn tới đài treo cổ cho người này và địa ngục cho kẻ kia; cô gái bị xử tội, còn ông bị đày đọa.

Rồi ông lại cười vang khi nghĩ tới Phoebus còn sống; dù sao viên đại úy vẫn sống, có vẻ hoạt bát và hớn hở, mặc bộ nhung phục càng đẹp đẽ hơn bao giờ, còn dẫn thêm cô nhân tình mới đến xem treo cổ cô cũ. Nụ cười gằn càng tăng thêm khi ông nghĩ, trong số người ông muốn cho chết, chỉ có cô gái Ai Cập, con người duy nhất không thoát khỏi tay ông.

Từ viên đại úy, ông nghĩ sang đám dân chúng và cảm thấy ghen tuông một cách lạ thường. Ông nghĩ cả đám dân chúng nữa, toàn thể dân chúng đã nhìn rõ người đàn bà ông yêu, gần như trần trụi trong tấm áo lót. Ông vặn vẹo cánh tay khi nghĩ người đàn bà đó, mà chỉ riêng ông thấp thoáng nhìn thấy bóng hình trong bóng tối cũng đủ tạo cho mình hạnh phúc tuyệt vời, nay bị phơi trần giữa ban ngày, ngay giữa trưa, cho tất cả dân chúng xem, ăn mặc như trong đêm hoan lạc. Ông tức điên muốn phát khóc trước mọi bí ẩn ái tình đó bị chà đạp, hoen ố, lột trần, hủy hoại mãi mãi. Ông tức điên muốn phát khóc khi hình dung bao con mắt bẩn thỉu đã được thỏa mãn nhìn qua chiếc áo lót tuột dải; cô gái xinh đẹp, bông huệ trinh tiết, cái cốc trong trắng và khoái cảm mà ông chỉ dám run run ghé môi, thế là biến thành cái bát công cộng, mà đám lê dân hạ tiện nhất Paris, bọn ăn cắp, ăn mày, đầy tớ, kéo đến uống chung niềm khoái lạc trơ trẽn, dơ bẩn và sa đọa.

Khi ông thử quan niệm về hạnh phúc mình có thể tìm thấy trên trái đất, nếu cô ta không phải gái Bohémienne, còn ông không là linh mục, nếu Phoebus không tồn tại và cô gái không yêu y; khi ông hình dung một cuộc đời yên ổn và yêu thương cũng có thể có với mình và giữa lúc này, ở đâu đó, trên trái đất, vẫn có những cặp sống sung sướng, mê mải trò chuyện dài lâu dưới gốc cam, bên con suối, trước ánh tà dương, dưới đêm sao; và nếu Chúa muốn vậy, ông cũng có thể cùng cô gái thành một cặp được hưởng phước lành, nghĩ vậy, trái tim ông liền chìm tan trong yêu thương và tuyệt vọng.

Ôi! Nàng! Chính nàng! Ý tưởng cố định đó luôn trở lại dày vò ông, cắn cấu cân não và xé nát ruột gan. Ông không luyến tiếc, không hối hận; tất cả những gì đã làm, ông sẵn sàng làm tiếp; ông thích thấy cô gái trong bàn tay đao phủ hơn trong cánh tay đại úy, nhưng ông đau khổ, ông đau khổ đến mức thỉnh thoảng lại bứt từng nắm tóc xem nó đã bạc chưa.

Có lúc ông lại chợt nghĩ phải chăng đây chính là cái phút mà sợi dây ghê tởm ông trông thấy sáng nay, đang thắt vòng nút thép quanh chiếc cổ hết sức ẻo lả và duyên dáng đó. Ý nghĩ này làm mồ hôi ông toát ra khắp lỗ chân lông.

Cũng có lúc, khi đang cười giễu quái gở chính bản thân mình, ông hình dung Esmeralda trong lần gặp đầu tiên, cô hoạt bát, vô tư, tươi cười, đỏm dáng, nhảy nhót, bay bổng, nhịp nhàng và cả Esmeralda trong ngày cuối cùng, cô mặc áo lót, thòng lọng quanh cổ, đi chân không, thong thả leo lên cầu thang cong queo của đài treo cổ, ông tưởng tượng hai cảnh tượng đó thế nào mà bỗng thét lên khủng khiếp.

Trong cơn bão tố tuyệt vọng đang lay động, phá tan, giằng giật, dìm cong, bứt rễ hết trong tâm hồn, ông vẫn nhìn cảnh vật chung quanh. Dưới chân dăm con gà mái dùng mỏ tìm bới trong bụi cây, đàn bọ hung óng ánh chạy dưới nắng, trên đầu vài đám mây bông màu xám trôi trên nền trời xanh, cuối chân trời tháp chuông tu viện Saint-Victor chọc thủng đường cong của ngọn đồi bằng mái nhọn đá đen, còn gã thợ xay trên đồi Copeaux huýt sáo đứng ngắm các cánh cối xay cần cù quay. Toàn bộ cuộc sống linh hoạt, nền nếp, yên ổn, xảy ra chung quanh dưới muôn ngàn hình thức, làm ông khó chịu. Ông lại tiếp tục chạy trốn.

Ông chạy khắp cánh đồng như vậy cho đến tối. Cuộc trốn chạy khỏi thiên nhiên, đời sống, bản thân, mọi người, Chúa trời, khỏi tất cả, kéo dài suốt ngày. Thỉnh thoảng ông nằm úp mặt xuống đất và lấy móng tay cào bứt lúa non. Đôi lúc ông dừng lại trên một phố vắng trong làng và ý nghĩ day dứt chịu không nổi làm ông phải giơ tay ôm lấy đầu để gắng giật nó ra khỏi vai và đập nát trên nền đường.

Tới giờ mặt trời lặn, ông lại tự xem xét lần nữa và thấy mình sắp điên. Cơn bão tố kéo dài trong người từ lúc ông hết cả hy vọng lẫn ý muốn cứu cô gái Ai Cập, cơn bão đó không để sót lại trong lương tâm bất cứ một ý nghĩ còn lành mạnh, một tư tưởng còn đứng vững nào. Lý trí ông nằm chết gí, gần như hoàn toàn bị tiêu hủy. Trong óc chỉ còn lại hai hình ảnh rõ rệt: Esmeralda và cột treo cổ. Tất cả cái còn lại đều đen ngòm. Hai hình ảnh đó ráp lại và bày ra trước mắt một cảnh tượng ghê rợn, ông càng dồn hết chú ý và suy nghĩ còn sót lại vào đó, lại càng thấy chúng to lớn mãi lên theo một tiến trình kinh khủng, một hình ảnh càng thêm duyên dáng, quyến rũ, xinh đẹp, sáng ngời, còn hình ảnh kia càng thêm khủng khiếp; đến nỗi cuối cùng, ông thấy Esmeralda như ngôi sao, còn giá treo cổ như cánh tay khổng lồ trơ xương.

Một điều đáng chú ý, trong suốt thời gian bị dằn vặt, ông không hề có ý nghĩ nghiêm túc muốn chết. Gã khốn nạn vốn như vậy. Y bám chặt lấy sự sống. Có lẽ quả thực y vẫn nhìn thấy phía sau là địa ngục.

Trong khi đó, chiều cứ xuống dần. Con người còn sống bên trong mơ hồ nghĩ tới chuyện quay về. Ông tưởng đang ở cách xa Paris; nhưng xem lại phương hướng, ông chỉ thấy mình chỉ đi vòng quanh Khu đại học. Tháp nhọn nhà thờ Saint-Sulpice và ba tháp cao khác của nhà thờ Saint-Germain-des-Prés nhô lên ở trên đường chân trời phía bên phải. Ông đi về hướng đó. Khi nghe tiếng hô đứng lại của những lính canh của tu viện trưởng ở chung quanh dãy rào trổ răng cưa tại tu viện Saint-Germain, ông quay lại, bước vào con đường mòn trước mặt ở giữa cối xay của tu viện và trại hủi của thị trấn, rồi lát sau đi tới vùng ven Pré-aux-Clercs. Khu đồng cỏ này nổi tiếng ồn ào suốt ngày đêm; đó là con giao long của các hiệp sĩ tội nghiệp ở Saint-Germain, quod monachis Sancti-Germani pratensis hydra fuit, clericis nova semper dissidiorum capita suscitantibus*. Phó chủ giáo sợ gặp ai quen ở đó; ông ngại tất cả mọi người; ông vừa lẩn tránh khỏi Khu đại học, thị trấn Saint-Germain nay ông định chỉ quay về phố lúc thật khuya, ông đi dọc vùng Pré-aux-Clercs, bước vào con đường mòn vắng vẻ ngăn cách nó với khu Dieu-Neuf, rồi cuối cùng tới bờ sông. Tại đây, đức cha Claude kiếm được người lái đò, với vài denier tiền Paris, bằng lòng chở ông ngược dòng Seine lên tận mũi đất Khu thành cũ, và để ông ghé lên mỏm đất hoang này nối liền với khu vườn ngự uyển song song với cù lao Chú đưa bò qua sông.

Quod monachis Sancti-Germani... suscitantibus: Đối với các tu sĩ ở nhà thờ Saint-Germain-des-Prés, nó là con giao long, bọn giáo sinh luôn gây ra các vấn đề mới để tranh chấp.

Con thuyền chòng chành đều đặn và tiếng sóng vỗ làm cha Claude khốn khổ gần như đờ đẫn cả người. Khi người lái đò đã rời xa, ông đứng thẫn thờ trên bãi, nhìn ra phía trước và chỉ thấy cảnh vật qua những lay động phóng to. Khiến ông thấy tất cả đều trở thành quái dị. Sự mệt mỏi sau nỗi đau khổ lớn gây hậu quả đó trong tâm trí, vốn không phải chuyện hiếm.

Mặt trời khuất sau tòa tháp cao Nesle. Lúc này là hoàng hôn. Nền trời trắng bệch, nước sông cũng trắng bệch. Giữa hai khoảng trắng, bờ tả ngạn sông Seine ông đang chăm chú nhìn hiện lên sừng sững tối đen, rồi cứ nhỏ dần về xa, lao vào màn sương chân trời như mũi tên đen. Bờ sông san sát nhà cửa, hiện lên thành bóng dáng tối đen, nổi bật sẫm màu trên nền sáng của trời nước. Đây đó cửa sổ bắt đầu lóe sáng như miệng lò cháy đỏ. Cái tháp tưởng niệm đen bát ngát đó tách biệt giữa hai khoảng trắng của nền trời và mặt sông, khá rộng ở chỗ này, gây cho cha Claude một cảm giác kỳ lạ, giống cảm giác của người nằm ngửa trên mặt đất dưới chân tháp chuông nhà thờ Strasbourg, ngắm nhìn ngọn tháp nhọn khổng lồ ở trên đầu chọc thẳng vào buổi chạng vạng hoàng hôn. Duy có điều ở đây, Claude đang đứng còn cái tháp tưởng niệm lại nằm; nhưng vì dòng sông phản chiếu nền trời, kéo dài vực thẳm dưới chân ông, nên mỏm đất mênh mông tựa hồ cũng táo bạo lao vút vào khoảng không hệt như mọi tháp nhọn nhà thờ; và cảm giác cũng hệt như nhau. Cảm giác này cũng lại có vẻ gì thật kỳ lạ và sâu sắc hơn, tưởng như đây đúng là tháp chuông nhà thờ Strasbourg, nhưng tháp chuông nhà thờ Strasbourg cao hai dặm, một cái gì chưa từng có, vĩ đại, không ước lượng nổi, một tòa kiến trúc mắt người chưa từng thấy, một tháp Babel. Ống khói trên nóc nhà, lỗ châu mai trên tường thành, đầu hồi chạm trổ trên mái, tháp chuông nhà thờ dòng Augustins, tháp Nesle, mọi góc nhô cao làm sứt mẻ hình dáng trông nghiêng của tháp tưởng niệm đồ sộ, càng làm tăng ảo giác, trêu chọc kỳ quặc con mắt bằng đường nét lồi lõm của một công trình điêu khắc rậm rạp và kỳ ảo. Đang trải qua ảo ảnh, Claude tưởng nhìn thấy bằng cặp mắt thật, nhìn thấy lầu chuông địa ngục; trăm ngàn ánh sáng rải khắp chiều cao chiếc tháp hãi hùng, đối với ông cũng là từng ấy khung cửa của lò lửa mênh mông bên trong; tiếng nói, tiếng ồn từ đó vẳng ra cũng là từng ấy tiếng kêu la, rên rỉ. Thế rồi ông đâm sợ, ông lấy tay bịt tai để khỏi nghe thấy, quay lưng lại để khỏi nhìn thấy, rồi rảo bước tránh xa khỏi huyễn tượng hãi hùng.

Nhưng huyễn tượng ở ngay trong ông.

Lúc quay vào phố, khách qua đường chen chúc trước quầng ánh sáng các quầy hàng, khiến ông có cảm tưởng chung quanh toàn những bóng ma đi đi lại lại bất tận. Tai ông ù lên các tiếng động kỳ quặc. Đầu óc hỗn loạn ý định ngông cuồng lạ lùng. Ông không thấy nhà cửa, đường phố, xe cộ, đàn ông đàn bà, mà chỉ thấy một mớ hổ lốn các vật thể bất định, chúng kề sát bên nhau để hòa tan lẫn lộn. Ở đầu phố Hàng thùng, có một cửa hàng thực phẩm mà theo tục lệ xưa, mái hiên được viền quanh bằng các vòng sắt tây có treo lủng lẳng một vòng tròn những cây nến gỗ, chúng va chạm vào nhau trước gió, kêu lách cách như tiếng sênh phách. Ông tưởng nghe thấy một bó bộ xương người ở giảo đài Montfaucon va chạm nhau trong bóng tối.

- Ôi! - Ông thì thầm, gió đêm xô đẩy chúng va chạm nhau, hòa lẫn tiếng xiềng với tiếng xương! - Cô ta có lẽ cũng ở đó, với bọn chúng.

Ông ngơ ngác không biết mình đang đi đâu. Được vài bước, ông tới cầu Saint-Michel. Có ánh đèn nơi cửa sổ tầng trệt một nhà. Ông lại gần. Qua cửa kính rạn vỡ, ông thấy căn phòng tồi tàn, gợi lên trong đầu một ký ức mơ hồ. Trong gian phòng lờ mờ ánh đèn leo lét, một thanh niên tóc hung tươi tắn, nét mặt vui vẻ, đang cười sằng sặc ôm hôn cô gái ăn mặc rất lõa lồ. Và cạnh ngọn đèn, mụ già ngồi quay chỉ, hát giọng thều thào. Vì tiếng cười chàng trai trẻ đứt quãng nên bài hát của mụ già lõm bõm vẳng tới tai linh mục. Lời ca thật tối nghĩa và ghê rợn.

Grève, sủa lên, Grève, sôi sục!

Quay đi, quay đi, guồng chỉ,

Bện dây thừng cho đao phủ

Dưới nhà ngang đang huýt gió

Grève, sủa lên, Grève, sôi sục.

Dây thừng gai thật là đẹp!

Từ Issy đến tận Vanvre

Không gieo lúa, chỉ gieo gai.

Thằng ăn cắp chẳng đánh cắp

Dây thừng gai thật là đẹp

Grève, sôi sục, Grève sủa lên!

Để ngắm con đĩ treo cổ

Trên đài treo cổ toét rử,

Con mắt là những cửa sổ

Grève, sôi sục, Grève sủa lên!

Tới đó chàng trai cười và vuốt ve cô gái. Bà già là mụ Falourdel; cô gái, đó là con đĩ; chàng trai, đó là Jehan, em trai ông.

Ông tiếp tục nhìn. Thà ngắm cảnh này còn hơn là cảnh khác.

Ông thấy Jehan tới cửa sổ cuối phòng, mở ra, nhìn phía bờ sông lấp lánh trăm nghìn cửa sổ sáng đèn xa xa và nghe thấy y nói lúc khép cửa lại:

- Ai ngờ thế mà tối rồi! Dân phố đã lên đèn còn Chúa ơn phước đã thắp sao.

Rồi Jehan quay lại với cô gái đĩ, đập vỡ cái chai đặt trên bàn, kêu lên:

- Mẹ kiếp! Cạn sạch rồi kia à! Anh hết nhẵn cả tiền! Isabeau, em yêu ơi, anh chỉ thích Jupiter khi nào ngài biến cặp vú trắng hếu của em thành hai chai rượu đen ngòm, để anh ngày đêm bú rượu nho vùng Beaune.

Câu pha trò thú vị làm cô gái đĩ cười vang, rồi Jehan đi ra.

Đức cha Claude chỉ kịp nằm nhoài ra mặt đất để khỏi bị chú em trông thấy, nhìn tận mặt và nhận ra. Cũng may phố xá tối om, còn cậu học trò đang say. Tuy nhiên y cũng trông thấy phó chủ giáo nằm trên mặt đường lầy bùn.

- Ô kìa! - Y nói, - cái lão này hôm nay chè chén thỏa thuê rồi.

Y lấy chân lay đức cha Claude đang cố nín thở.

- Say khướt rồi, - Jehan nói. - Chà, hắn bí tỉ rồi. Cứ như con đỉa nhả khỏi thùng rượu. Hắn lại hói đầu, - y cúi xuống nhìn và nói thêm: một lão già! Forturate senex!*

Lão già sung sướng thay!

Rồi đức cha thấy hắn bỏ đi và nói:

- Cũng thế thôi, lý trí là điều tốt đẹp, còn ông anh phó chủ giáo của mình thật sung sướng được làm nhà hiền triết và lắm tiền.

Rồi phó chủ giáo đứng dậy và chạy một mạch về phía nhà thờ Đức Bà mà ông thấy dãy tháp đồ sộ nổi lên trong bóng đêm, phía trên mái nhà.

Vừa lúc hớt hải chạy tới quảng trường Sait nhà thờ, ông lùi lại và không dám ngước nhìn tòa nhà bi thảm. Ông khẽ kêu lên:

- Ôi! Có thật một chuyện như vậy đã xảy ra ở đây, hôm nay, ngay buổi sáng này.

Tuy nhiên, ông vẫn lén nhìn nhà thờ. Mặt tiền tối om. Nền trời phía sau lấp lánh sao. Vành trăng lưỡi liềm, vừa bay lên khỏi chân trời, lúc đó dừng lại trên đĩnh tháp bên phải, và tựa con chim chói sáng, nó tới đậu lên dãy lan can nổi hình lá tam diệp đen.

Cổng tu viện đóng kín. Nhưng phó chủ giáo lúc nào cũng mang theo chìa khóa cửa tòa tháp có đặt phòng thí nghiệm của ông. Ông dùng chìa khóa đó để vào nhà thờ.

Ông thấy bên trong tối om và lặng ngắt như dưới hang. Thấy từng khối lớn bóng đen buông phủ khắp nơi thành mảng rộng, ông nhận ra các bức rèm của buổi lễ ban sáng chưa được cất đi. Chiếc thánh giá lớn thêu chỉ bạc lấp lánh ở phía xa tối om, rải rác vải chấm sáng, như dòng ngân hà trong đêm tối nhà mồ. Dãy cửa sổ dài gian hát thánh ca để lộ góc trên hình cung nhọn ở phía trên tấm rèm đen mà các khung kính màu, để lọt ánh trăng, chỉ còn lại màu sắc mơ hồ của ban đêm, thứ màu tím, màu trắng và màu xanh chỉ thấy trên sắc mặt người chết. Nhìn thấy khắp chung quanh gian hát thánh ca toàn những chỏm nhọn tò vò tái nhợt đó, phó chủ giáo tưởng trông thấy các mũ lễ của những giám mục bị tội đọa đày. Ông nhắm mắt và lúc mở mắt ra, tưởng như có một vòng tròn những bộ mặt tái nhợt đang nhìn mình.

Ông liền chạy trốn khắp nhà thờ. Thế là tòa nhà tựa hồ cũng chuyển động, ngọ nguậy, sống dậy, hoạt động, mỗi cột lớn liền biến thành cẳng chân to tướng đang giậm thình thịch bằng chân cột đá to bản, tòa nhà thờ đồ sộ chỉ còn là loài voi kỳ dị hít thở và bước đi với dãy cột làm chân, với hai tháp làm vòi và tấm màn treo mênh mông màu đen làm chăn phủ lưng.

Như vậy, cơn sốt và cơn điên đã đạt tới cường độ ghê gớm, thế giới bên ngoài, đối với kẻ xấu số, chỉ còn là thứ u ẩn mịt mùng trông thấy, sờ thấy, ghê rợn.

Ông thấy dịu bớt trong chốc lát. Bước xuống ngăn xép cạnh gian nhà hát kinh, ông chợt thấy ánh lửa đỏ sau hàng cột. Ông chạy đến như tới một ngôi sao. Đó là ngọn đèn tù mù ngày đêm soi sáng cuốn sách kinh công cộng của nhà thờ Đức Bà dưới tấm lưới sắt. Ông vồ lấy cuốn thánh kinh, hi vọng tìm thấy niềm an ủi hoặc khuyến khích nào đó. Cuốn sách mở ra vào đoạn Job, khiến ông chăm chú đọc: - “Rồi một linh hồn lướt qua trước mặt và ta nghe thấy một hơi thở nhẹ, thế là khắp người ta nổi gai”.

Đọc đoạn văn rùng rợn này, ông có cảm giác của người mù bị cái gậy vừa nhặt lên đâm trúng mình. Hai đầu gối rụng rời, ông khuỵu xuống nền đá lát, nghĩ tới cô gái đã chết hồi ban ngày. Ông cảm thấy bao luồng khói quái dị trôi qua và ập vào đầu óc, tưởng như đầu mình hóa thành ống khói địa ngục. Hình như ông nằm đó rất lâu, không nghĩ ngợi gì, suy sụp và thụ động dưới bàn tay ác quỷ. Mãi sau mới hơi lại sức, ông định tới náu mình trong tòa tháp, cạnh gã Quasimodo thân tín. Ông nhổm dậy và vì sợ, nên cầm lấy cây đèn nơi cuốn sách kinh, để soi đường. Làm thế là phạm tội báng bổ; nhưng ông không để ý tới chuyện vặt đó nữa.

Ông thong thả leo cầu thang lên tháp, trong lòng thầm run sợ là ánh đèn bí hiểm giữa đêm khuya, thấp thoáng qua từng lỗ châu mai lên tới đỉnh tháp chuông, có thể ló ra cho khách qua đường hiếm hoi trên sân trước nhà thờ nhìn thấy.

Đột nhiên ông cảm thấy mát rượi trên mặt và đã lên tới trước cửa dãy hành lang cao nhất. Không khí mát lạnh; mây vần vũ trên nền trời, từng đám lớn trắng bệch nổi trôi, đè lên nhau, xóa mờ góc cạnh và giống băng trôi trên sông mùa đông, vầng trăng lưỡi liềm sa vào giữa đám mây như con thuyền thiên giới mắc kẹt trong các tảng băng không trung.

Ông nhìn xuống và đứng ngắm một lát, giữa hàng rào những cột con nối liền hai tháp, xa xa qua tấm màn the sương khói, đám đông lặng lẽ các mái nhà Paris, nhọn hoắt, hằng hà sa số, san sát và nhỏ bé như các đợt sóng trên biển lặng đêm hè.

Ánh trăng chiếu yếu ớt khiến trời đất đều nhuốm màu tro.

Vừa lúc đó chuông đồng hồ cất giọng nhỏ và rè. Đúng nửa đêm. Linh mục nhớ tới lúc giữa trưa. Đó là mười hai giờ đang trở lại. Ông thầm nói:

- Ôi! Giờ đây cô gái chắc lạnh cứng rồi.

Đột nhiên, cơn gió thổi tắt đèn và gần như cùng lúc, ông thấy xuất hiện ở góc tháp trước mặt một cái bóng, một hình trắng, một dáng người, một đàn bà. Ông rùng mình. Cạnh người đàn bà là con dê nhỏ kêu be be hòa cùng tiếng rên rỉ cuối cùng của chuông đồng hồ.

Ông trấn tĩnh nhìn. Đúng cô gái.

Cô mặt tái xám, người tối sầm. Tóc xõa xuống vai như hồi sáng. Nhưng không còn sợi thừng nơi cổ, tay không bị trói. Cô được tự do, cô đã chết.

Cô mặc áo trắng, đầu phủ khăn trắng.

Cô bước lại phía ông, thong thả ngước nhìn trời. Con dê siêu phàm theo sau. Ông thấy mình như hóa đá, nặng trĩu đến không chạy trốn nổi. Mỗi bước cô tiến lên, ông lùi lại mỗi bước, cứ như vậy. Thế rồi ông tựa lưng vào trong vòm cầu thang tối om. Ông lạnh toát người khi nghĩ có thể cô cũng đi theo vào; nếu cô bước vào, ông sẽ sợ đến chết ngất.

Quả nhiên cô tới trước cửa cầu thang, dừng lại giây lát, đăm đăm nhìn vào bóng tối, nhưng không tỏ ra trông thấy linh mục, rồi đi thẳng. Ông thấy cô cao hơn lúc sống; ông nhìn thấy ánh trăng qua tấm áo dải trắng; ông nghe thấy hơi thở cô gái.

Cô gái đi rồi, ông mới xuống cầu thang, thong thả như dáng điệu của bóng ma, tưởng chính mình cũng là bóng ma, ngơ ngác, tóc dựng đứng, tay vẫn cầm chiếc đèn tắt ngóm; vừa bước xuống bậc thang xoáy ốc, ông nghe rõ ràng bên tai một giọng nói đang cười và nhắc lại:

“... Một linh hồn lướt qua trước mặt và ta nghe thấy một hơi thở nhẹ, thế là khắp người ta nổi gai”.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.