Nhà Thờ Đức Bà Paris

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii Linh Mục Và Triết Gia Là Hai Người
Ii Linh Mục Và Triết Gia Là Hai Người

❊ ❊ ❊

Linh mục mà các cô gái thấy đứng trên tòa tháp phía bắc, đang cúi nhìn quảng trường và chăm chú theo dõi điệu múa cô Bohémienne, đúng là phó chủ giáo Claude Frollo.

Bạn đọc hẳn chưa quên căn phòng bí mật mà phó chủ giáo dành cho mình trong tòa tháp đó. (Nhân tiện cũng xin nói, tác giả không hiểu đó có phải là căn phòng hiện nay vẫn có thể nhìn thấy phía bên trong, qua khung cửa sổ nhỏ hình vuông, mở về hướng đông, cao ngang đầu người, trên sân thượng từ đó mọc vút lên các tháp: căn phòng chật hẹp giờ bỏ hoang, trống rỗng và hư nát, tường long lở hiện nay còn được trang trí đây đó vài tranh tồi tàn, úa vàng, vẽ mặt tiền các nhà thờ lớn. Tác giả đoán là đàn dơi và lũ nhện đang tranh nhau ở chỗ xó xỉnh này, do đó, bầy ruồi đang bị trải qua cùng lúc hai cuộc chiến tranh diệt chủng).

Hàng ngày, một giờ trước khi mặt trời lặn, phó chủ giáo leo cầu thang lên tháp, giam mình trong phòng, đôi khi ở đó suốt đêm. Hôm đó, khi tới trước khung cửa tháp nơi buồng xép, lúc tra vào ổ khóa chiếc chìa nhỏ hiểm hóc luôn đeo ở bên mình, trong cái túi lủng lẳng ngang sườn, ông bỗng nghe thấy tiếng trống, tiếng sênh tiền vẳng tới. Tiếng nhạc từ phía dưới quảng trường sân nhà thờ đưa lên. Như tác giả đã kể, căn phòng chỉ có độc chiếc cửa sổ trông ra mái nhà thờ. Claude Frollo vội rút chìa khóa ra và lát sau, đã đứng trên đỉnh tháp, thái độ u ám và trầm tư, như các cô gái đã thấy.

Ông ta đứng đó, nghiêm nghị, bất động, trầm ngâm ngắm nhìn và tư lự. Toàn thể Paris trải dưới chân, với vô vàn tháp nhọn của dinh thự và chân trời vòng quanh toàn ngọn đồi thấp, với dòng sông uốn khúc dưới cầu và dân chúng lượn nhấp nhô trên phố, với làn khí dày đặc như mây, với dãy mái nhà gợn sóng chen chúc quanh nhà thờ Đức Bà như tấm lưới đan mắt kép. Nhưng trước toàn cảnh thành phố này phó chủ giáo chỉ nhìn vào một khúc lòng đường: quảng trường sân nhà thờ; trước tất cả đám đông này, ông chỉ thấy có một khuôn mặt: cô Bohémienne.

Thật khó nói rõ cái nhìn ấy bộc lộ điều gì và ngọn lửa từ đó tóe ra do đâu mà có. Đó là cặp mắt chăm chú nhưng lại hết sức xốn xang, sôi động. Cứ nhìn vẻ bất động im lìm của toàn thân ông ta, thỉnh thoảng lại bất giác khẽ run lên, như thân cây trước gió, cứ nhìn vẻ cứng đơ của đôi khuỷu tay còn hóa đá hơn cả chiếc lan can ông ta đang tì lên, cứ nhìn nụ cười chết cứng đơ làm co rúm mặt mày, ta có thể nói ở Claude Frollo chỉ còn cặp mắt đang sống.

Cô Bohémienne đang nhảy múa. Cô xoay tròn chiếc trống trên đầu ngón tay, rồi tung lên trời khi nhảy điệu dân vũ saraband vùng Provençale; cô nhảy thật nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, vui tươi, và không biết tới sức nặng của cặp mắt ghê gớm đang rọi thẳng xuống đầu mình.

Đám đông bâu kín quanh cô, thỉnh thoảng, một người đàn ông, mặc áo chẽn vàng pha đỏ, đi nới rộng vòng người, rồi quay về ngồi xuống ghế cách cô gái múa rong vài bước, và đặt đầu con dê lên đầu gối mình. Người này có lẽ là đồng bọn với cô Bohémienne. Từ nơi cao đang đứng, Claude Frollo không nhìn rõ nét mặt hắn.

Từ lúc trông thấy kẻ lạ mặt này, phó chủ giáo như phải chăm chú theo dõi cùng lúc cả cô gái lẫn hắn ta và nét mặt ông càng thêm u ám. Đột nhiên ông đứng thẳng người và toàn thân run lên:

- Hắn là ai nhỉ? - Ông lẩm bẩm, - lúc nào cũng chỉ thấy cô ta đi có một mình kia mà.

Thế là ông bước vào cái vòm quanh co của cầu thang cuốn và đi xuống. Đi ngang qua cửa phòng thỉnh chuông hé mở, ông lại thấy một cảnh tượng khiến ông kinh ngạc, ông thấy Quasimodo đang cúi qua chỗ khe hở ở dưới mái hiên đá đen trông giống những mảnh sành rất to, nó cũng đang nhìn xuống quảng trường. Nó say mê chăm chú thưởng ngoạn đến mức không còn biết cha nuôi vừa đi qua. Con mắt nó hoang dại ánh lên kỳ lạ. Đó là cái nhìn đắm đuối và hiền dịu.

- Thế này thì kỳ quặc thật! - Claude thầm nhủ. - Chẳng lẽ nó ngắm cô gái Ai Cập như vậy sao?

Ông tiếp tục đi xuống. Vài phút sau, phó chủ giáo đăm chiêu bước ra quảng trường bằng cửa dưới chân tháp.

- Con Bohémienne đi đâu rồi? - Ông hỏi, chen vào đám khán giả do tiếng trống đã tụ họp nhau lại.

- Không biết nữa, - một người đứng cạnh tháp canh đáp, - nó vừa bỏ đi. Chắc nó đi nhảy múa gì đó trong căn nhà trước mặt, họ vừa gọi nó tới.

Thay thế cho cô Ai Cập, cũng trên tấm thảm mà các hình thêu hồi nãy bị mờ khuất dưới điệu múa uốn lượn quay cuồng của cô ta, phó chủ giáo chỉ còn thấy gã đàn ông mặc áo đỏ pha vàng, đến lượt hắn cũng muốn kiếm vài xu, đang đi vòng quanh, khuỷu tay khép ngang hông, đầu ngửa lên, mặt đỏ nhừ, cổ vươn ra, hàm răng cắn lấy chiếc ghế. Trên ghế, hắn buộc con mèo vừa mượn được của một bà bên cạnh, con mèo hoảng sợ kêu the thé.

- Lạy Đức mẹ! Thầy Pierre Gringoire làm gì vậy? - Phó chủ giáo thốt lên, lúc gã làm xiếc, mồ hôi nhễ nhại, đi qua trước mặt ông với chiếc ghế và con mèo ngất nghểu.

Tiếng nói nghiêm nghị của phó chủ giáo làm gã khốn khổ giật thót người, hắn liền mất thăng bằng, đánh đổ luôn cả chồng đồ nghề, cả ghế lẫn mèo đều rơi lổng chổng lên đầu người xem, giữa tiếng kêu la inh ỏi.

Chắc hẳn vì thầy Pierre Gringoire (vì đúng anh ta) sẽ còn phải rắc rối mới thu xếp ổn thỏa được với bà có con mèo cùng mọi khuôn mặt tím bầm, xây xước đang vây quanh, nếu chàng không vội lợi dụng luôn lúc ồn ào lộn xộn để lẩn ngay vào nhà thờ, nơi Claude Frollo vừa ra hiệu cho chàng đi theo.

Bên trong nhà thờ đã tối và vắng. Hai gian bên đầy bóng đêm, các đèn trên bàn thờ sáng lóe như sao, vì vòm mái đã tối đen. Chỉ còn cửa sổ hoa thị lớn ngoài mặt tiền, óng ánh muôn màu tia nắng xiên khoai, vẫn chói sáng trong bóng tối như mớ kim cương và phản chiếu rực rỡ tới cuối gian giữa.

Cả hai đi được vài bước, đức cha Claude liền tựa lưng vào cột và đăm đăm nhìn Gringoire. Cái nhìn không làm chàng e sợ, trong lúc chàng đang hổ thẹn vì bị một nhân vật nghiêm trang và bác học bắt gặp trong bộ quần áo hề rong này. Con mắt linh mục nhìn không hề có vẻ chế nhạo và giễu cợt: nó nghiêm trang, lặng lẽ và soi mói. Phó chủ giáo lên tiếng trước:

- Lại đây, thầy Pierre. Có nhiều việc anh cần nói rõ cho tôi hiểu. Trước hết, tại sao từ hai tháng nay, không ai gặp anh ở đâu, thế rồi thình lình lại gặp anh ngay giữa ngã ba, mà ăn mặc quả thực mới đẹp đẽ làm sao, nửa vàng nửa đỏ, hệt như quả táo ở Caudebec?

- Thưa ông, - Gringoire thảm hại đáp, - quả là ăn mặc như thế này thì kỳ dị thật và ông cũng thấy tôi tiu nghỉu như mèo cụt tai. Tôi thừa hiểu mình rất bậy bạ, ai lại đi phơi bộ cánh này để cho một thầy cảnh binh nện vài gậy vào cẳng tay của một triết gia đệ tử của Pythago. Nhưng biết làm thế nào, thưa đức ông kính mến? Lỗi chỉ tại chiếc áo cũ đã hèn nhát bỏ rơi tôi hồi đầu mùa đông, mượn cớ nó đã rách tả tơi và cần được nghỉ ngơi trong sọt rác. Biết làm gì đây? Nền văn minh chưa tiến tới mức có thể đi lại trần truồng, theo ý muốn của vị tiền bối Diogénès. Hơn nữa, trời trở gió rất lạnh, và không phải giữa tháng giêng này mà có thể thành công trong việc khiến nhân loại thử bước thêm bước tiến mới đó. Chiếc áo này tự nhiên xuất hiện. Tôi liền vớ lấy và vứt lại cái áo choàng đen cũ, nó chẳng chịu khép thật kín đối với một kẻ theo khoa luyện đan như tôi. Thế là tôi đành mang bộ đồ hề rong này, như thánh Genest. Biết làm sao bây giờ? Đây là sự lẩn tránh. Thần Apollo cũng từng phải chăn cừu cho vua Admétès.

- Anh làm cái nghề hay hớm thật! - Phó chủ giáo lại nói.

- Bẩm thầy, tôi đồng ý, tốt hơn là nên triết lý và làm thơ, thổi ngọn lửa trong lò hoặc nhận nó từ trên trời chứ không nên suy tôn lũ mèo. Cho nên lúc ngài mắng nhiếc, tôi đành thộn mặt ra như con lừa trước lò nướng thịt. Nhưng thưa ông, biết làm thế nào? Hàng ngày tôi vẫn phải sống, các vần thơ đẹp nhất lại không bằng miếng pho mát vùng Brie lúc đưa vào miệng. Thực ra tôi cũng đã làm cho lệnh bà Marguerite de Flandre một bài chúc hôn thi tuyệt diệu mà ông đã biết. Nhưng đô thành lại không trả công tôi, vin cớ nó chưa xuất sắc, làm như chỉ cần trả bốn đồng écu là có ngay được một bi kịch của Sophoclès. Thế là tôi suýt chết đói. May thay, tôi cũng được cái khá khỏe về phương diện quai hàm, cho nên tôi mới bảo cái quai hàm đó rằng: - Mày hãy làm trò xiếc và trò thăng bằng, mà tự nuôi lấy thân. Ale te ipsam*. Một lũ đói rách trở thành bạn tốt của tôi, đã dạy tôi dăm chục trò biểu diễn sức khỏe và hiện nay mỗi tối, tôi cho hàm răng nhai miếng bánh mì mà chúng đã kiếm vào lúc ban ngày bằng mồ hôi trán đổ ra. Dù sao concedo* tôi vẫn thừa nhận đó là cách sử dụng đáng buồn các khả năng trí tuệ của mình, và con người sinh ra không phải để suốt đời đánh trống và cắn ghế. Nhưng, thưa thầy kính mến, không phải chỉ có mỗi chuyện là sống ở đời, mà còn phải kiếm sống nữa.

“Mày hãy tự nuôi thân!”

“Đồng ý như vậy!”

Đức cha Claude lẳng lặng đứng nghe. Bỗng nhiên, con mắt sâu của ông ánh lên vẻ linh lợi và sắc sảo, khiến Gringoire có cảm tưởng như bị cái nhìn đó moi móc tận đáy lòng.

- Tốt lắm, thầy Pierre ạ, nhưng tại sao bây giờ thầy lại đánh bạn với cô gái múa rong Ai Cập?

- Ồ! Đó là vợ tôi, còn tôi là chồng cô ta, - Gringoire đáp.

Con mắt tối sầm của linh mục liền rực lửa:

- Đồ khốn kiếp, mày dám làm thế ư? - Ông thét lên, giận dữ nắm lấy cánh tay Gringoire; - phải chăng mày đã bị Chúa bỏ rơi đến mức dám xâm phạm cả cô gái sao?

- Thưa đức ông, - Gringoire đáp, - run lẩy bẩy khắp tay chân, xin thề có trời có đất là tôi chưa hề đụng tới người cô ta, nếu quả thực ngài lo ngại đến chuyện đó.

- Thế sao mày lại nói đến chuyện vợ chồng? - Linh mục hỏi.

Gringoire vội kể lại hết sức tóm tắt những điều bạn đọc đã biết, từ vụ phiêu lưu ở Cung điện thần kỳ tới đám cưới đập vỡ vò của chàng. Vả lại vụ hôn nhân này hình như chưa đi tới kết quả nào hết và đêm đêm, cô Bohémienne vẫn đánh tráo mất đêm tân hôn của chàng hệt như ngày đầu. Chàng kết luận:

- Đó là chuyện khổ tâm, nhưng lý do chỉ vì tôi không may lấy phải gái trinh.

Phó chủ giáo nghe chuyện, đã nguôi dần cơn giận, hỏi:

- Anh nói sao?

- Thật khó giải thích, - nhà thơ đáp. - Đây là chuyện mê tín dị đoan. Theo lời một tên già đời trộm cướp mà chúng tôi gọi là quận công Ai Cập bảo riêng tôi, vợ tôi vốn là đứa trẻ vô thừa nhận, hoặc thất lạc cũng thế. Cô đeo ở cổ một túi bùa mà mọi người cam đoan nó sẽ giúp cô một ngày kia gặp lại cha mẹ, nhưng bùa sẽ mất thiêng nếu cô mất trinh. Cho nên thì thế, cả hai chúng tôi vẫn còn hết sức trong trắng.

- Thầy Pierre, - Claude hỏi, vầng trán mỗi lúc thêm rạng rỡ, - như vậy thầy tin là cô gái đó chưa hề gần gụi người đàn ông nào?

- Thưa đức cha Claude, người đàn ông nào chẳng bó tay trước mê tín dị đoan? Nó đã ăn sâu trong đầu cô ta. Tôi tin chắc sự giữ gìn nghiêm ngặt như nữ tu sĩ tự bảo vệ quyết liệt đó là việc rất hiếm có trong đám con gái Bohémienne vốn rất dễ quyến rũ. Nhưng để tự vệ, cô ta có ba thứ: quận công Ai Cập nhận che chở cho cô, chắc hẳn để chờ dịp bán cho vị tu viện trưởng nào đó; tất cả giới hành khất đều đặc biệt tôn thờ cô như Đức Bà; và con dao găm xinh xắn mà cô gái vui tính luôn giấu kín trong người bất chấp lệnh nghiêm cấm của ngài đô trưởng, và chỉ cần ôm ngang lưng cô ta là con dao đã xuất hiện trên tay. Đúng là một con ong kiêu hãnh, thưa cha!

Phó chủ giáo dồn dập chất vấn Gringoire.

Theo nhận xét của Gringoire, Esmeralda là con người vô hại và dễ thương, xinh đẹp, trừ đặc điểm hay bĩu môi; một cô gái ngây thơ và đam mê, chưa biết gì hết và ham thích mọi thứ; hiện chưa hiểu thế nào là sự khác biệt giữa đàn bà với đàn ông, ngay cả trong mơ; sinh ra như vậy đó; mê nhất là nhảy múa, sự ồn ào, thoáng rộng; một thứ đàn bà - ong, có đôi cánh vô hình dưới chân, và sống trong gió lốc. Cô mang bản chất đó vì bấy lâu vẫn sống cuộc đời lang thang. Gringoire được biết từ bé tí, cô đã đi ngang qua Tây Ban Nha và xứ Catalogne, tới tận đảo Sicile, chàng còn tin cô ta, vốn là thành viên đoàn Bohémienne, đã được dẫn tới cả vương quốc Alger, một xứ thuộc vùng Achaïe, vùng Achaïe này một phía giáp ranh với nước Albanie bé nhỏ và nước Hy Lạp, phía kia với biển Sicile, trên đường đi Constantinople. Theo lời Gringoire, bọn Bohémienne là chư hầu của vua xứ Alger, mang tư cách lãnh tụ dân tộc của người momerie trắng. Có điều chắc chắn Esmeralda từ Hung tới Pháp hồi còn rất nhỏ. Từ những lúc đó, cô gái mang theo các mẫu thổ ngữ kỳ lạ, các bài hát và ý tưởng ngoại lai, khiến ngôn ngữ của cô ta có vẻ sặc sỡ như bộ quần áo của Paris nửa Phi châu. Tóm lại, dân chúng những khu phố cô thường lui tới, đều yêu cô về tính vui vẻ, dễ thương, điệu bộ nhanh nhẹn cùng lời ca, điệu múa của cô. Khắp thành phố, cô nghĩ chỉ có hai người ghét mình, mà cô thường sợ hãi nhắc tới: bà tu dòng Túi ở tháp Roland, một bà tu kín xấu xa không hiểu sao rất thù ghét các mụ Ai Cập, lần nào cũng nguyền rủa cô gái múa rong lúc cô đi ngang qua cửa sổ phòng bà ta; và một linh mục hễ gặp là nhìn cô và nói năng đến phát sợ. Trường hợp sau làm phó chủ giáo rất bối rối, nhưng Gringoire không hề để ý tới thái độ này, chỉ cần hai tháng qua đi đủ để nhà thơ vô tâm quên hết các chi tiết lạ lùng vào cái đêm chàng gặp cô gái Ai Cập cùng sự có mặt của phó chủ giáo trong mọi chuyện đó. Thực ra, cô gái múa rong chẳng sợ gì hết; cô không xem bói, như vậy tránh được các vụ án ma thuật thường đem ra để xét xử bọn Bohémienne. Vả lại, cô đã có Gringoire đóng vai ông anh, nếu không phải là chồng. Dù sao, triết gia rất kiên nhẫn chịu đựng loại hôn nhân tinh khiết này. Vẫn chỉ là chuyện kiếm lấy nơi ăn chốn ở. Sáng sáng, chàng từ khu ăn mày ra đi, thường cùng đi với cô gái Ai Cập, giúp cô tới các ngã tư thâu lượm mớ tiền lẻ; tối tối, chàng cùng cô trở về ở chung một mái nhà, để mặc cô khóa kín căn buồng nhỏ rồi đánh một giấc ngon lành. Chàng cho đó là cuộc sống khá êm ấm, thực dễ chịu và rất thích hợp cho sự mơ mộng. Vả lại, trong thâm tâm, thực tình triết gia không lấy gì làm chắc mình đã yêu say mê cô gái. Chàng yêu con dê cũng không kém. Con vật thật đáng yêu, hiền lành, thông minh, hóm hỉnh, một con dê tinh khôn. Vào thời trung cổ, thường hay có những con vật tinh khôn như vậy, khiến mọi người kinh ngạc và hay dẫn kẻ nuôi dạy chúng tới dàn hỏa thiêu. Tuy nhiên trò ma thuật của con dê bốn chân vàng chỉ là những trò hết sức vô tội. Gringoire giải thích cho phó chủ giáo về những chi tiết đó mà xem ra ông rất quan tâm. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần giơ cái trống cho con dê theo cách nào đó, là đủ sai nó làm trò theo ý muốn, nó được cô Bohémienne dạy cho như vậy, cô có biệt tài hiếm hoi bày những trò tinh tế, nên chỉ cần hai tháng đủ dạy con dê dùng các chữ rồi ghép thành từ Phoebus.

- Phoebus? - Linh mục hỏi, - tại sao lại Phoebus?

- Tôi cũng không biết, - Gringoire đáp. - Có lẽ đó là một từ mà cô gái tin có phép nhiệm màu bí mật nào đó. Cô thường khẽ nhắc tới khi có một mình.

- Anh có tin chắc đó chỉ là một từ, chứ không phải tên người không? - Claude hỏi, mắt nhìn soi mói.

- Tên ai mới được chứ? - Nhà thơ hỏi.

- Nào tôi biết đâu đấy! - Linh mục đáp.

- Thưa ông, tôi thì tôi nghĩ thế này. Bọn Bohémienne ít nhiều đều theo ma thuật Ba Tư và thờ mặt trời. Do đó mới có chữ Phoebus.

- Thầy Pierre ạ, tôi thấy có lẽ không hẳn đúng như thầy nghĩ.

- Dù sao tôi cũng chẳng cần. Mặc cho cô ta cứ việc lẩm bẩm cái từ Phoebus đó. Có điều chắc chắn Djali yêu tôi cũng gần bằng yêu cô ta.

- Djali là gì?

- Là con dê.

Phó chủ giáo đưa tay nâng cằm và có vẻ mơ mộng hồi lâu. Bỗng ông quay phắt lại nhìn Gringoire:

- Anh có dám thề với tôi anh chưa hề mảy may đụng chạm tới nó không?

- Đụng tới gì? Con dê ư? - Gringoire hỏi.

- Không, đụng tới cô gái.

- Vợ tôi? Tôi xin thề rằng chưa.

- Thế anh thường ở một mình cùng cô ta?

- Tối nào cũng vậy, khoảng một giờ.

Đức cha Claude cau mày.

- Ố! Ồ! Solus cum sola non cogitabuntur orare Pater noster*.

Một mình hắn với cô ta, khó mà tin rằng hai đứa cùng đọc kinh Lạy cha.

- Thật tình tôi có thể đọc kinh Pater, rồi kinh Ave Maria rồi kinh Credo in Decum patrem omnipotentem* mà cô ta cũng chẳng thèm để ý hơn con gà mái để ý tới ngôi nhà thờ.

Pater: Đức Chúa cha.

Ave Maria: Lạy Đức bà Maria.

Credo in Decum patrem omnipotentem: Tôi tin ở Chúa, Đức Chúa cha quyền uy tuyệt đối.

- Anh hãy lấy bụng mẹ anh ra mà thề với tôi là anh chưa hề đụng nửa đầu ngón tay tới cô ta, - phó chủ giáo hung hăng nhắc lại.

- Tôi xin đem đầu bố tôi ra mà thề như vậy. Nhưng thưa thầy kính mến, đến lượt tôi xin phép được hỏi lại một câu.

- Xin mời ông cứ hỏi.

- Tại sao thầy lại quan tâm đến việc đó ?

Khuôn mặt tái xanh của phó chủ giáo đỏ bừng như má cô gái. Ông nín lặng một lát không đáp rồi nói, bối rối ra mặt:

- Thầy Pierre Gringoire, hãy nghe đây. Theo tôi biết, anh chưa phạm tội. Tôi quan tâm tới anh và muốn điều hay cho anh. Nhưng chỉ cần đụng chạm một chút tới con Ai Cập quỷ sứ đó, anh sẽ thành tôi mọi quỷ Satan. Anh thừa biết thân xác bao giờ cũng làm hại linh hồn. Sẽ tai họa cho anh nếu anh đụng chạm tới con đàn bà đó! Có thế thôi.

- Tôi đã thử một lần rồi, - Gringoire gãi tai nói. - Đó là hôm đầu tiên, nhưng tôi đã bị ong châm.

- Thầy Pierre, thầy đã cả gan như vậy sao?

Và vầng trán linh mục tối sầm lại.

- Một lần khác, - nhà thơ tươi cười nói tiếp, - trước khi đi ngủ, tôi đã nhòm qua lỗ khóa và nhìn thấy rõ người đàn bà ngon lành nhất mặc đồ lót, cô ta làm cọt kẹt nan giường dưới bàn chân trần.

- Thôi cút ngay đi! - Linh mục nhìn hằm hằm, quát lên và nắm hai vai Gringoire sững sờ đẩy đi, rồi ông rảo bước đi vào dưới vòm cột âm u nhất của tòa nhà thờ.

Ca —★— Nhà Thờ Đức Bà Paris Văn học Kinh điển ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà Xuất Bản Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh 2000
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.